1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích và bình luận quy định tại điều 177 Luật thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý

15 490 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 37,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại lý thương mại là một hình thức trung gian thương mại khá phổ biến hiện nay. Trong hoạt động đại lý thương mại, các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ pháp lý được pháp luật thương mại quy định tương đối cụ thể và rõ ràng, một trong những quyền cơ bản được quy định trong luật là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I – Khái quát chung về đại lý thương mại 2

1 Khái niệm, đặc điểm của đại lý thương mại : 2

a Khái niệm : 2

b Đặc điểm : 3

2 Các hình thức đại lý thương mại : 4

3 Thời hạn đại lý : 5

II – Phân tích và bình luận quy định tại điều 177 Luật thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý 6

1 Chủ thể và điều kiện thực hiện việc chấm dứt thời hạn đại lý 6

2 Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt thời hạn đại lý : 7

3 Một số điểm tích cực, hạn chế trong quy định về thời hạn đại lý : 10

a Điểm tích cực : 10

b Điểm hạn chế : 10

4 Kiến nghị hoàn thiện một số quy định tại Điều 177 Luật thương mại 2005 về thời hạn đại lý : 12

KẾT LUẬN 14

PHỤ LỤC 15

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong hoạt động thương mại, bên trung gian thực hiện các dịch vụ nhằm tạo điều kiện để bên có nhu cầu bán hàng, cung ứng dịch vụ… thiết lập quan hệ với bên có nhu cầu mua hàng, sử dụng dịch vụ… hoặc thông qua bên này mà hàng hoá, dịch vụ sẽ đến được với bên thứ ba Ngay từ thế kỷ 19, luật pháp của nhiều nước trên thế giới (như Pháp, Đức, Ý, Nhật) đã quan tâm điều chỉnh các hoạt động thương mại qua trung gian Ở nước ta, Luật Thương mại năm 2005 cũng đã đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại Giao dịch trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua, cung ứng dịch vụ và người bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ và việc xác định các điều kiện giao dịch phải thong qua một người trung gian Theo quy định trong Luật thương mại năm 2005, hoạt động trung gian thương mại được xác định là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định Trong đó, hoạt động trung gian thương mại bao gồm : Đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại

Đại lý thương mại là một hình thức trung gian thương mại khá phổ biến hiện nay Trong hoạt động đại lý thương mại, các bên tham gia có các quyền và nghĩa

vụ pháp lý được pháp luật thương mại quy định tương đối cụ thể và rõ ràng, một trong những quyền cơ bản được quy định trong luật là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng Để làm rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn cho mình đề bài số 3 :

“Phân tích và bình luận quy định tại điều 177 Luật thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý.” làm nội dung bài tập học kỳ.

NỘI DUNG

I – Khái quát chung về đại lý thương mại

1 Khái niệm, đặc điểm của đại lý thương mại :

a Khái niệm :

Điều 166 Luật thương mại 2005 quy định: “ Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên địa lý nhân

Trang 3

danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao ”

b Đặc điểm :

Theo quy định của Luật thương mại Việt Nam hiện hành, đại lý thương mại

có những đặc điểm cơ bản sau :

Thứ nhất, về bản chất :

Đại lý thương mại là quan hệ trung gian thương mại, mua bán hộ để hưởng thù lao Theo đó, bên giao đại lý thực hiện công việc, hoặc là mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý, hoặc là cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng Bên giao đại lý thanh toán thù lao cho bên đại lý Bên đại lý không phải là người mua hàng mà chỉ là người nhận hàng từ bên giao đại lý rồi tiếp tục bán cho bên thứ ba Khi hàng hóa được bán, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên giao đại lý cho bên thứ ba

Thứ hai, về chủ thể : bao gồm hai bên :

- Bên giao đại lý : là thương nhân giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền cho đại lý mua hoặc ủy quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ

- Bên đại lý : là thương nhân nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc nhận ủy quyền cung ứng dịch vụ

Theo quy định tại Điều 167 Luật thương mại 2005, bên đại lý và bên giao đại lý đều phải là thương nhân

Ngoài ra, trong một số lĩnh vực đặc thù, pháp luật chuyên ngành có quy định khác về chủ thể trong quan hệ đại lý, cụ thể :

- Một số ngành nghề không bắt buộc bên đại lý phải là thương nhân như : đại lý bảo hiểm, bên đại lý có thể là tổ chức, cá nhân và không buộc phải đăng ký kinh doanh

- Dịch vụ đại lý liên quan đến ngành nghề hạn chế kinh doanh, kinh doanh

có điều kiện, các bên tham gia còn phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện

Trang 4

khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành, ví dụ đại lý kinh doanh xăng dầu, đại lý internet, bán buôn – bán lẻ thuốc lá,

Thứ ba, về tư cách pháp lý trong giao dịch với người thứ ba :

Khác với quan hệ đại diện cho thương nhân, trong quan hệ giữa bên đại lý và khách hàng, bên đại lý nhân danh chính mình chứ không nhân danh bên giao đại lý Trong quan hệ đại lý thương mại bên giao đại lý và bên đại lý đều nhân danh chính mình trong các giao dịch kinh tế, pháp lý

Việc giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo hợp đồng đại lý, bên đại lý tự do lựa chọn bên thứ ba để ký kết hợp đồng

Thứ tư, về cơ sở pháp lý của quan hệ đại lý thương mại :

Quan hệ đại lý thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồng Hợp đồng đại lý được giao kết giữa thương nhân đại lý và thương nhân giao đại lý Điều 168 Luật

thương mại 2005 quy định: “ Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Các hình thức có giá trị

tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Thứ năm, về nội dung của hợp đồng đại lý:

Nội dung của hợp đồng đại lý bao gồm việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý giữa bên giao đại lý và bên đại lý và giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý với bên thứ ba theo yêu cầu của bên giao đại lý

Để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý được quyền tự do lựa chọn bên thứ

ba để giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ theo những quy định cụ thể trong hợp đồng đại lý Khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ với bên thứ ba, bên đại lý nhân danh chính mình và nghĩa vụ phát sinh từ hợp dồng với bên thứ ba ràng buộc bên đại lý với bên thứ ba Sau đó, bên đại lí trực tiếp thực hiện hợp đồng mua bán hang hóa hoặc cung ứng dịch vụ với bên thứ ba

2 Các hình thức đại lý thương mại :

Trang 5

Hình thức đại lý là cách thức mà các bên tham gia quan hệ đại lý lựa chọn để thực hiện hợp đồng đại lý Hình thức đại lý có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể Từ hình thức đại lý có thể xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên Theo Điều 169 LTM năm 2005, đại lý bao gồm các hình thức sau:

• Đại lý bao tiêu: là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý Trong hình thức đại lý này, bên giao đại lý ấn định giá giao đại lý, bên đại lý quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng, do đó, thù lao mà bên đại lý được hưởng là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán thực tế so với giá mua, giá bán do bên giao đại lý quyết định

• Đại lý độc quyền: là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua bán hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một số loại dịch vụ nhất định

• Tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ: là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý Tổng đại lý là đối tác trực tiếp của bên giao đại lý Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý

• Các hình thức đại lý khác mà các bên đã thỏa thuận : trên thực tế hiện nay có những hình thức đại lý dù không được quy định trong LTM nhưng vẫn tồn tại theo thỏa thuận hợp pháp của bên giao đại lý và bên đại lý như đại lý hoa hồng, đại lý bảo đảm thanh toán, Việc LTM 2005 mở rộng các hình thức đại lý thương mại đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân trong hoạt động kinh doanh của mình

3 Thời hạn đại lý :

Điều 149 Bộ luật dân sự quy định: “ Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.”

Trang 6

Như vậy, thời hạn đại lý là một khoản thời gian xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác mà trong thời gian đấy, các bên trong quan hệ hợp đồng đại lý phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận tại hợp đồng

II – Phân tích và bình luận quy định tại điều 177 Luật thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý.

1 Chủ thể và điều kiện thực hiện việc chấm dứt thời hạn đại lý.

Trong quan hệ đại lý thương mại, pháp luật quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ cho các bên đối với bên còn lại Cụ thể : quyền và nghĩa vụ của bên đại lý đối với bên giao đại lý quy định tại Điều 174 và Điều 175 Luật thương mại 2005; quyền và nghĩa vụ của bên giao đại lý đối với bên đại lý được quy định tại điều 173 Luật thương mại 2005 Một trong những quyền cơ bản trong quan hệ đại lý thương mại là quyền chấm dứt hợp đồng đại lý được quy định tại điều 177 về thời hạn đại lý, nội dung như sau :

“ 1 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý.

2 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó; Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý

3 Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý

4 Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại

lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian

mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý”.

- Về chủ thể : chủ thể có quyền chấm dứt thời hạn đại lý thương mại là bên đại lý và bên giao đại lý Theo điều 167 Luật thương mại 2005, bên đại lý và bên giao

đại lý đều phải là thương nhân, tức là “ Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp,

Trang 7

cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.”

- Về điều kiện: Theo như Khoản 1 Điều 177 quy định nếu không có thỏa thuận khác thì các bên có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý và chỉ cần thông báo cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý trong thời hạn quy định là sáu mươi ngày Và việc thông báo chấm dứt hợp đồng đại lý phải được thể hiện bằng hình thức văn bản

Như vậy, thời hạn đại lý chấm dứt được xem xét khi đáp một trong hai điều kiện sau :

Thứ nhất, theo thỏa thuận giữa các bên:

Nếu như các bên có thỏa thuận hợp đồng đại lý chấm dứt tại một thời điểm nhất định, hoặc nếu xảy ra một sự kiện, hành vi nhất định… thì khi đó, thời hạn đại lý kết thúc và hai bên chấm dứt hợp đồng đại lý

Ví dụ : Trong hợp đồng đại lý giữa bên đại lý A và bên giao đại lý B có điều khoản quy định: “Hợp đồng đại lý có hiệu lực từ ngày 09/03/2016 đến ngày 09/03/2018 Trong thời gian này, nếu bên đại lý và bên giao đại lý vi phạm một trong các nghĩa vụ đã quy định trong hợp đồng trên thì bên còn lại có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý tại thời điểm pháp hiện vi phạm.” Như vậy, thời hạn đại lý này do hai bên thỏa thuận và chấm dứt khi hợp đồng hết hạn hoặc khi một trong các bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và bên còn lại đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý

Thứ hai, theo quy định của pháp luật : Các bên có quyền chấm dứt thời hạn

sau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý

2 Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt thời hạn đại lý :

Khi chấm dứt thời hạn đại lý, quyền và nghĩa vụ các bên sẽ được thực hiện theo thỏa thuận Nếu không có thỏa thuận, hậu quả pháp lý khi chấm dứt thời hạn

Trang 8

được thực hiện theo khoản 2 và khoản 3 Điều 177 Luật thương mại 2005 Theo như quy định tại điều luật này, có thể chia thành hai trường hợp :

Trường hợp bên giao đại lý thông báo chấm dứt thời hạn đại lý, trong trường hợp này bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó :

- Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý

- Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý

Trường hợp bên đại lý yêu cầu chấm dứt hợp đồng đại lý thì bên đại lý không

có quyền yêu cầu bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý

Có thể xem xét một tình huống cụ thể để làm rõ vấn đề này :

Ví dụ : Tháng 01 năm 2015, giám đốc Công ty cổ phần S ký hợp đồng đại lý

mua bán hàng hóa với giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn M Theo hợp đồng, công ty S phải thực hiện việc bán nước cam ép do công ty M sản xuất với giá thành sản phẩm được công ty M ấn định Thời hạn đại lý là 3 năm từ ngày hợp đồng có hiệu lực Đầu năm 2016, công ty S nhận được đề nghị giao kết hợp đồng đại lý mua bán nước ép từ công ty nước giải khát V Vì vậy, công ty S quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty M và yêu cầu công ty M bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty S đã làm đại lý cho công ty M Yêu cầu bồi thường của công ty S sẽ giải quyết như thế nào?

Có thể thấy hành vi trên của công ty S, trong trường thuộc nội dung thỏa thuận của hai bên, thì hợp pháp; nếu không thuộc nội dung thỏa thuận của hai bên, là trái với quy định của pháp luật

Thứ nhất là việc công ty S quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý

với công ty M Theo hợp đồng đã ký thì công ty S sẽ làm đại lý cho công ty M trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực Để đảm bảo cho các bên

tự do, chủ động hơn trong quan hệ đại lý pháp luật vẫn cho phép các bên đơn

Trang 9

phương chấm dứt hợp đồng đại lý, cụ thể được quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 177 Luật Thương mại năm 2005 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 177 Luật

Thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý thì “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thời hạn đại lý sẽ chấm dứt sau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia

về việc chấm dứt hợp đồng đại lý”.Như vậy cả bên đại lý và bên giao đại lý đều

có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý và chỉ cần thông báo cho bên kia trong một khoảng thời gian hợp lí (không sớm hơn 60 ngày) Do vậy việc công ty

S đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty M là phù hợp với quy định của pháp luật

Thứ hai là việc công ty S yêu cầu công ty M bồi thường 50 triệu cho khoảng

thời gian công ty S làm đại lý cho công ty M Theo quy định tại Khoản 2 Điều

177 LTM 2005 thì vấn đề bồi thường trong quan hệ đại lý chỉ đặt ra đối với bên

giao đại lý khi bên giao đại lý thông báo về việc chấm dứt hợp đồng đại lý: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại

lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó” , còn trường hợp hợp đồng đại lý chấm dứt do yêu cầu của bên đại lý thì không đặt ra vấn đề bồi thường Cụ thể, Khoản 3 Điều 177 quy định: “Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại

lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý” Như vậy, trong trường hợp này công ty S với tư

cách là bên đại lý đã đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty M, công

ty S không có quyền yêu cầu công ty M bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty S làm đại lý và công ty M cũng không có nghĩa vụ phải bồi thường cho công ty S

Tuy nhiên, vấn đề bồi thường có thể đặt ra đối với bên đại lý, tức công ty S Bởi, hợp đồng ký kết giữa các bên là hợp đồng đại lý có thời hạn 3 năm Nếu hết thời hạn này, công ty S chấm dứt hợp đồng thì sẽ không phải bồi thường Trong trường hợp chưa hết thời hạn 3 năm, công ty S đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý, trong hợp đồng mà có quy định phạt vi phạm về vấn đề này thì sẽ giải quyết theo hợp đồng (“mức phạt không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị

Trang 10

vi phạm” – Điều 301 Luật Thương mại) Còn nếu trong hợp đồng không có quy định về phạt vi phạm, hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng của công ty S mà gây thiệt hại cho công ty M thì sẽ phải bồi thường phần tổn thất này

3 Một số điểm tích cực, hạn chế trong quy định về thời hạn đại lý :

a Điểm tích cực :

Thứ nhất, quy định về đơn phương chấm dứt thời hạn đại lý trong quan hệ đại

lí thương mại trong LTM 2005 có nhiều điểm tiến bộ so với quy định trong LTM

1997 Điều 126 LTM 1997 quy định về các trường hợp được chấm dứt hợp đồng

đại lý, trong đó, “một bên có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng khi việc vi phạm hợp đồng của bên kia là điều kiện để đình chỉ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận” Hay nói cách khác, theo quy định của LTM 1997, các bên chỉ có quyền

chấm dứt thời hạn đại lý khi bên kia không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật Nhưng trong LTM 2005 đã quy định rộng hơn các trường hợp chấm dứt thời hạn đại lý của các bên, nếu không có thỏa thuận gì khác thì các bên

có quyền chấm dứt thời hạn hợp đại lý bất cứ khi nào nhưng phải thông báo bằng văn bản trước một khoảng thời gian ít nhất là sáu mươi ngày

Thứ hai, so với quy định của Bộ Luật dân sự 2005 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ thì quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý được quy định tại Luật thương mại 2005 cũng có sự mở rộng về các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng

b Điểm hạn chế :

Mặc dù có những điểm tiến bộ hơn so với Luật thương mại 1997, nhưng sau

10 năm tồn tại, quy định về thời hạn đại lý tại điều 177 đã bộc lộ nhiều hạn chế

Cụ thể như sau :

Thứ nhất, về các trường hợp chấm dứt thời hạn đại lý thương mại LTM 2005

quy định mở rộng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại Theo đó, trong trường hợp không có thỏa thuận khác, các bên có quyền chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại mà chỉ cần thông báo cho bên kia bằng văn bản trong thời hạn quy định Cụ thể, pháp luật quy định thời hạn báo trước việc đơn

Ngày đăng: 25/08/2017, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w