1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa (tt)

17 508 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 750,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chế định hợp đồng trở thành mộ

Trang 1

TÓM TẮT

Đề tài: Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Thời gian thực hiện: 06 tháng (từ ngày 5 tháng 3 năm 2016 đến 5 tháng 9 năm 2016)

Quyền tự do thỏa thuận giữa các bên là yếu tố được đề cao trong hai hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và mua bán tài sản trong dân sự Việc phân biệt hai hợp đồng này dựa vào mục đích sinh lợi

Thế nhưng, Luật thương mại 2005 điều chỉnh cả hoạt động thương mại không

vì mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân, dẫn đến sự chồng chéo nội dung điều chỉnh Luật thương mại chỉ cần điều chỉnh hợp đồng có mục đích sinh lời là đủ

Bên cạnh đó Luật Thương mại 2005, lại giới hạn quyền thỏa thuận của các bên như phạt vi phạm, tiền lãi chậm trả đã ảnh hưởng đến quyền lợi của bên bị vi phạm Cho nên, cần hoàn thiện các quy định trên cho phù hợp với thực tế, nhằm bảo vệ bên

bị vi phạm, phòng ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp

Trong các tranh chấp kinh tế phát sinh tại Tòa án, các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa chiếm số lượng lớn Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán chồng chéo hoặc thiếu rõ ràng nên việc giải quyết của các cấp Tòa án thiếu thống nhất

Luận văn chỉ ra những bất cập của pháp luật hợp đồng thông qua việc phân tích một số vụ án cụ thể từ đó làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật hợp đồng tốt hơn

Trang 2

ABSTRACT

Theme title: Rights and obligations of parties to Contracts for purchase and sale of goods

Implementation period: 06 months (from March 5, 2016 to September 5, 2016) The right to freely agree between the parties is highly elements of the two Contracts for purchase and sale of goods and Contracts for property sale and purchase The distinction is based on two contracts for profit

However, Commercial law in 2005 is governing commercial activities not for profit purposes conducted by a party in its transactions with traders, resulting

overlapped of content governing Commercial law governing the contract for profit purposes conducted by a party

Besides, Commercial law in 2005, the right to freely agree between the parties was limited fine level, interest on delayed payment have affected of aggrieved parties So, to complete the above provisions to suit the reality in order to protected the aggrieved parties, risk prevention, disputes mitigate

Among the economic disputes arising at the courts, the number of contracts for purchase and sale of goods is considerably big However, the related resolutions are not made in the same way by the courts of various levels due to the fact that the current regulations and laws about contracts for purchase and sale of goods are either overlapped or ambiguous

This dissertation points out the issue by analyzing a specific cases, thereby showing the necessity to improve them to adapt well

Trang 3

MỤC LỤC

Trang tựa

Quyết định giao đề tài

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Giới hạn đề tài 2

4 Mục đích nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Bố cục của luận văn 4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5

1.1 Những vấn đề chung về hợp đồng mua bán hàng hóa 5

1.1.1 Khái quát chung về hàng hóa 5

1.1.2 Khái quát về mua bán hàng hóa 9

1.1.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa 10

1.1.3.1 Định nghĩa 10

1.1.3.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 11

1.2 Các nguồn quy tắc điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 19

1.2.1 Áp dụng pháp luật điều chỉnh 19

1.2.2 Áp dụng tập quán 20

1.2.3 Áp dụng án lệ 21

CHƯƠNG 2: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 22

Trang 4

2.1 Quyền và nghĩa vụ các bên trong giao kết hợp đồng 22

2.1.1 Quyền và nghĩa vụ các bên trong đề nghị giao kết hợp đồng 22

2.1.2 Quyền chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 24

2.1.3 Thời điểm giao kết hợp đồng 26

2.2 Quyền thỏa thuận hình thức hợp đồng 27

2.3 Quyền thỏa thuận nội dung hợp đồng 30

2.4 Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hang hóa 32

2.4.1 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên bán 32

2.4.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua 40

2.4.3 Quyền thỏa thuận chuyển rủi ro đối với hàng hóa 44

2.4.4 Quyền thỏa thuận khi phát sinh vi phạm hợp đồng 46

2.4.4.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 47

2.4.4.2 Phạt vi phạm 48

2.4.4.3 Bồi thường thiệt hại 49

2.4.4.4 Quyền thỏa thuận giảm giá 50

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG NƯỚC VÀ KIẾN NGHỊ 53

3.1 Thực trạng về tranh chấp trong kinh doanh thương mại 53

3.2 Những tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa 54

3.2.1 Hình thức hợp đồng 54

3.2.2 Nội dung hợp đồng 57

3.2.2.1 Về chất lượng hàng hóa 57

3.2.2.2 Thời điểm giao hàng của bên bán 59

3.2.2.3 Về phương thức thanh toán và tiền lãi trên số tiền chậm trả 62

3.2.2.4 Phạt vi phạm hợp đồng 67

3.2.2.5 Nghĩa vụ bảo hành 70

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ chức thực hiện việc thỏa thuận, trao đổi lợi ích với nhau Hợp đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành nền kinh tế, vì nó là hình thức pháp lý cơ bản của sự trao đổi hàng hóa trong xã hội [20, tr.10] Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chế định hợp đồng trở thành một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam, trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa là một trong những loại hợp đồng được giao kết, xác lập phổ biến nhất hiện nay

Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản [52, tr.15] trong dân sự và do tính chất đặc trưng của hợp đồng này mà nó được quy định trong Luật Thương mại, bởi mục đích sinh lợi là yếu tố mà một trong các bên hướng tới trong qua trình giao kết, thực hiện hợp đồng Do đề cao mục đích sinh lợi, nên khi ký kết hợp đồng các bên thường xem xét cẩn thận trong quá trình thỏa thuận hợp đồng Tuy nhiên, không phải lúc nào sự thỏa thuận cũng được các bên tuân thủ một cách chặt chẽ, nhất là về quyền và nghĩa vụ các bên

Thực tiễn cho thấy, trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì chủ thể hợp đồng không chỉ có bên mua, bên bán mà còn có bên thứ ba tham gia tạo nên chuỗi liên hoàn trong các giao dịch mua bán Do đó nếu việc thỏa thuận giao kết không rõ ràng, thiếu chặt chẽ thì rất dễ dẫn đến tranh chấp khi thực hiện hợp đồng, hậu quả mà các bên có thể phải gánh chịu có khi rất lớn, đó là thời gian, lòng tin giảm sút, thiệt hại

về tài chính,… và kéo theo nhiều hệ lụy cho các giao dịch mua bán tiếp theo, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi các bên, một khi các bên phải dành thời gian quá nhiều thời gian cho việc giải quyết tranh chấp và phục hồi uy tín

Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa trên thực tế chủ yếu là tranh chấp

về nội dung hợp đồng mà cụ thể ở đây là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên, bởi các điều khoản chủ yếu xoay quanh việc các bên thỏa thuận quyền và nghĩa

Trang 6

vụ như thế nào, thực hiện ra sao và trách nhiệm pháp lý sau khi có bên không thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận Do đó, việc nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam là cần thiết để hạn chế tranh chấp, góp phần giảm áp lực cho các Tòa án nói riêng và ổn định kinh tế - xã hội nói chung Từ những lý do đó tác giả đã chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa” để viết luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý về quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng

có một số công trình nghiên cứu như: T.S Lê Minh Hùng về “Hình thức của hợp đồng”, “Hiệu lực của hợp đồng”, 2015; T.S Lê Minh Toàn chủ biên về “Luật kinh doanh Việt Nam”, 2009; ThS Nguyễn Văn Hùng – ThS Lữ Lâm Uyên về “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo phán quyết của Tòa án”, 2015, ngoài

ra có các cuốn sách có liên quan như: “Giáo trình Luật kinh tế” của Khoa Luật kinh

tế, Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh, 2007; “Giáo trình Luật thương mại” tập

2 của Đại học Luật Hà Nội, 2006 Các nghiên cứu khoa học trên đã đề cập đến nhiều nội dung với khía cạnh khác nhau về hợp đồng, trong đó cũng có đề cập đến quyền

và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Nhìn tổng thể, các nghiên cứu trên còn ở phạm vi chung hoặc ở những khía cạnh khác nhau liên quan đến quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng đi sâu và liên hệ thực tiễn Do đó thông qua việc tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhằm đưa ra những pháp thích hợp

Đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình đã được đưa ra nhằm nghiên cứu một cách chọn lọc vấn đề này trong lý luận và thực tiễn

3 Giới hạn đề tài

Nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá

là một vấn đề khá rộng, liên quan đến nhiều yếu tố, chủ thể tham gia đa dạng, phức tạp Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về quyền và nghĩa

Trang 7

vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án Từ đó có những phân tích về thực trạng những tranh chấp quyền và nghĩa vụ chủ yếu nào? Luật đã dự liệu hết quyền và nghĩa vụ của các bên chưa? Để từ đó có những đánh giá, phân tích trên cơ sở thực

tiễn đặt ra và đưa ra những kiến nghị thích hợp

4 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những quy định pháp luật và thực tiễn tranh chấp về quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa, qua

đó làm rõ những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại của pháp luật Việt Nam hiện hành

về hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước

Bên cạnh đó, hiện nay Bộ luật dân sự 2015 đã được Quốc hội thông qua thay thế Bộ luật dân sự 2005, nhưng Luật thương mại 2005 chưa thay thế Tác giả cũng mong muốn tìm hiểu về thực trạng pháp luật trong lĩnh vực này để góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng và Luật thương mại nói chung; qua đó đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung làm rõ:

- Tiếp cận những quy định hiện hành về hợp đồng mua bán hàng hóa, quyền

và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa;

- Tiếp cận các dạng tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa;

- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa

6 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên đây, việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, kết hợp với việc

Trang 8

sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được thực hiện theo

cơ cấu 3 chương:

Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 2: Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa Chương 3: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước

và kiến nghị

Trang 9

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1.1 Những vấn đề chung về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái quát chung về hàng hóa

Hàng hóa, đây là hai từ xuất hiện khi con người biết dùng sản phẩm của mình làm ra trao đổi hoặc mua bán bằng một vật ngang giá, từ đó khái niệm về hàng hóa

ra đời Trong lịch sử thoạt đầu người ta trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng Khi sản xuất càng phát triển, hàng hóa sản xuất ra càng nhiều, nhu cầu sử dụng của con người cũng

đi kèm theo Việc trao đổi hàng lấy hàng gặp nhiều khó khăn Ví dụ người sản xuất

ra lúa thì cần cái rìu (cuốc) để cuốc đất nhưng người có rìu không cần lúa mà cần vải, việc này buộc người có lúa phải đổi lấy vải và sau đó dùng vải để đổi lấy rìu Nhu cầu trao đổi càng nhiều hàng hóa thì quá trình trao đổi lòng vòng đó càng phức tạp hơn Chính vì vậy, người ta đã nghĩ ra tìm những vật làm trung gian cho các cuộc trao đổi đó, đây là vật ngang giá

Vật ngang giá đó là vật gọn nhẹ, có thể di chuyển và mang theo có thể cầm nắm

dễ dàng và thuận tiện người ta đã dùng “tiền” để làm vật ngang giá trong mua bán hoặc trao đổi hàng hóa Theo Mác tiền tệ là sản phẩm tự phát, tự nhiên của sản xuất và lưu thông hàng hóa Khi nghiên cứu về tiền Mác viết: “Tiền là một vật được kết tinh, hình thành một cách tự nhiên trong trao đổi” [10, tr.3] Như vậy tiền đề cho sự ra đời và phát triển của tiền tệ chính là sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá

Bên cạnh việc thừa nhận hàng hóa là sản phẩm của con người làm ra, nhằm mục đích trao đổi hoặc mua bán đáp ứng nhu cầu của xã hội, thì hàng hóa còn nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của chính người làm ra nó Cũng chính sự phát triển của

xã hội đã thúc đẩy con người làm ra hàng hóa ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn

để không chỉ phục vụ cho bản thân mà còn dùng để trao đổi, mua bán Trong thương mại thì hàng hóa được xem là “đối tượng có thể lưu thông” và “có tính thương mại” bao gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình Điều này được thể hiện tại khoản

Trang 10

2, Điều 3 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa: “Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị”

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa, cũng là tài sản trong mua bán dân sự Theo Điều 163, Bộ luật dân sự năm 2005 thì tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Cũng theo Điều 174 thì vật gồm có động sản

và bất động sản Theo đó bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định (ví dụ: các công trình xây dựng ở thềm lục địa, hải đảo…) Ngược lại động sản là những tài sản không phải là bất động sản có thể kể tên như: tiền, ti vi, tủ lạnh, giấy tờ có giá…có thể trao đổi, mua bán được

Tuy nhiên cũng cần xem xét, nếu đối tượng mua bán là vật thì vật đó phải được xác định rõ Cụ thể ở đây là vật như thế nào? Đặc điểm vật là vật cùng loại, vật đặc

định, vật đồng bộ (Điều 179 Bộ luật dân sự 2005); kích thước, màu sắc, số lượng,

trọng lượng, thể tích của vật….để làm cơ sở khi ký kết hợp đồng và là cơ sở quan trọng hạn chế tranh chấp

Thông thường, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự thường là vật đặc định hay vật cùng loại đã được đặc định hóa Chẳng hạn khi một người đến cửa hàng lựa chọn mua một chai nước suối hiệu “Lavie” trong số rất nhiều chai nước suối “Lavie” thì chai nước suối chọn đã được đặc định hóa, trong khi đó đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là vật cùng loại, hoặc có thể là vật đặc định

Bên cạnh đó, Điều 181 của Bộ luật dân sự năm 2005 cũng nhấn mạnh tới một loại hàng hóa đặc biệt đó là quyền tài sản Đây là quyền trị giá được bằng tiền

và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ Quyền tài sản bao gồm:

- Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả như: Quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm; quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính…

Ngày đăng: 25/08/2017, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w