1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Tiểu luận: Xu Hướng ODA trên thế giới hiện nay

41 424 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 520,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Xu Hướng ODA trên thế giới hiện nay trình bày các nội dung chính như: Tổng quan về ODA, biến động và xu hướng ODA trên thế giới hiện nay, tác động của nguồn vốn oda đến nước cấpnhận nguồn vốn,...Mời các bạn cùng tham khảo

Trang 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

*********

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

Môn: Đầu tư quốc tê

Trang 3

Tên Bảng,

Biểu đồ

trang Biểu đồ

Kết quả đánh giá hoạt động trên cơ sở cấp quốc gia trên cơ sở

hoàn thành dự án (PCR) giai đoạn 2005-2014

26

Bảng 4.3 Tỷ trọng vốn ODA và vốn vay ưu đãi so với GDP, Tổng vốn

đầu tư toàn xã hội và Tổng vốn đầu tư từ NSNN thời kỳ 2011

Nhu cầu huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các Bộ,

ngành và địa phương thời kỳ 2016 - 2020

36

Mục Lục

LỜI MỞ ĐẦU 1

Trang 4

1.1 Khái niệm 2

1.2 Phân loại 2

1.3 Đặc điểm 3

CHƯƠNG II: BIẾN ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG ODA TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY 5

2.1 Biến động của ODA 5

2.1.1 Sự biến động trong lượng vốn 5

2.1.2 Sự biến động theo tỉ lệ ODA và GNI 6

2.1.3 Sự biến động trong cơ cấu ODA 7

2.2 Xu hướng ODA hiện nay 10

CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐẾN NƯỚC CẤP/NHẬN NGUỒN VỐN 14

3.1 Tác động đối với nước nhận viện trợ 14

3.1.1 Tác động tích cực 14

3.1.2 Tác động tiêu cực 16

3.2 Tác động với nước cấp viện trợ 17

3.2.1 Tác động tích cực 17

3.2.2 Tác động tiêu cực 18

CHƯƠNG IV: LIÊN HỆ TÌNH HÌNH VỐN ODA Ở VIỆT NAM 20

4.1 Thu hút vốn ODA ở Việt Nam 20

4.1.1 Sự thay đổi về môi trường và chính sách hợp tác phát triển 20

4.1.2 Đánh giá tình hình thu hút ODA ở Việt Nam 22

4.1.3 Dự báo nhu cầu thu hút và giải ngân vốn ODA 35

4.2 Nỗ lực sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả 37

KẾT LUẬN 40

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU Đối với các nước đang phát triển, vốn có vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết

để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội khác Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, vốnODA ra đời nhằm giúp các nước nghèo giải quyết tình trạng thiếu vốn Nguồn vốnnày chủ yếu được đầu tư vào những lĩnh vực giữ vai trò đầu tàu của nền kinh tế, từ đókéo theo sự phát triển mạnh của các ngành khác Trên thực tế vai trò của ODA hết sứcquan trọng Có thể minh chứng điều đó qua thực tế ở Châu Âu sau chiến tranh thế giớithứ hai, nhờ vào nguồn vốn viện trợ của Mỹ mà EU đạt được sự tăng trưởng ngoạnmục, trở về thời thịnh vượng như trước chiến tranh, thậm chí còn phát triển hơn trước.Nhật Bản và Hàn Quốc cũng là hai nước nhận được nhiều viện trợ của Mỹ Kết quảsau một thời gian nhất định, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế sau Mỹ; còn HànQuốc cũng vươn lên thuộc nhóm các nước công nghiệp mới – NICs Trong quá trìnhđổi mới, tình trạng thiếu vốn cho phát triển đã được giải quyết một phần đáng kể khiViệt Nam bắt đầu nhận viện trợ ODA từ năm 1993 Đây là nguồn vốn bổ sung quantrọng: trung bình đóng góp 11% tổng vốn đầu tư cho toàn xã hội, trong giai đoạn2006-2010 Các nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Đài Loan nhờ vào nguồnvốn ODA và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này đã tạo ra một nền kinh tế pháttriển cao và ngày nay bắt đầu trở thành nước cung cấp viện trợ cho các nước khác.Ngoài ra, viện trợ ODA cũng đóng góp một phần tỷ lệ đáng kể vào tăng trưởng GDPcủa các nước đang phát triển, bình quân 1-2%/năm Như vậy, có thể thấy viện trợODA sẽ giúp giải quyết phần nào “cơn khát vốn” này và mang lại luồng sinh khí mớicho các nước đang phát triển và sẽ làm “thay da đổi thịt” cho nhiều nền kinh tế nếuODA được sử dụng một cách hiệu quả

Trang 6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ODA 1.1 Khái niệm

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về ODA nhưng nói

chung những quan điểm ấy đều dẫn chung đến một bản chất Theo cách hiểu chung nhất thì ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với những điều kiện ưu đãi của các cơ quan tài chính thuộc các tổ chức Quốc tế các nước, các tổ chức Phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước khác (không tính đến các khoản viện trợ cho mục đích thuần tuý quân sự ) Nghị định 87-CP của chính phủ Việt Nam quy định về nguồn vốn ODA là sự hợp tác phát triển giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều Quốc gia, tổ chức Quốc tế Hình thức của sự hợp tác có thể là hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ theo chương trình, hỗ trợ theo kỹ thuật hoặc theo dự án.

1.2 Phân loại

 Phân loại theo nước nhận: theo phân loại này thì ODA có 2 loại:

- ODA thông thường: hỗ trợ cho các nước có thu nhập bình quân đầungười thấp

- ODA đặc biệt: hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho vayngắn, lãi suất cao hơn

 Phân loại theo nguồn cung cấp: bao gồm

- ODA song phương: là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này tới nướckhác thông qua việc ký kết giữa chính phủ hai nước

- ODA đa phương: Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF,WB1 ) hay tổ chức khu vực (ADB, EU, ) hoặc của một chính phủ củamột nước dành cho chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể đượcthực hiện thông qua các tổ chức đa phương như chương trình phát triểnLiên hiệp quốc ( UNDP ), quĩ nhi đồng Liên Hiệp quốc ( UNICEF ) cũng có thể không

 Phân loại ODA theo tính chất nguồn vốn

- Viện trợ không hoàn lại: bên nước ngoài cung cấp viện trợ ( mà bênnhận viện trợ không phải thanh toán lại ) để bên nhận có thể thực hiện

Trang 7

các chương trình, dự án đã được thỏa thuận giữa hai bên như: hỗ trợ kỹthuật ( thực hiện việc chuyển giao công nghệ cho nước nhận việc trợ ),bằng hiện vật ( lương thực, thuốc chữa bênh, …).

- Viện trợ có hoàn loại: nhà tài trợ cung cấp cho nước cần vốn một khoảntiền ( tùy theo quy mô và mục đích đầu tư ) với mức lãi suất ưu đãi vàthời gian hoàn trả thích hợp, các ưu đãi thường là: lãi suất thấp, thờigian vay dài ( 20-30 năm ),…

- ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODAkhông hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của

tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển mạnh hơn cả về đời sống kinh tế xãhội

1.3 Đặc điểm

 ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi: vì bao giờ cũng có phần khônghoàn lại là chủ yếu, còn phần cho vay chủ yếu là cho vay ưu đãi với lãi suấtthấp hơn lãi suất ngân hàng rất nhiều ( thường dưới 3% một năm ) nhưngthời gian sử dụng vốn rất dài ( thường là 20-50 năm )

 ODA luôn bị ràng buộc trực tiếp hoặc gián tiếp: Đi kèm với ODA bao giờcũng có những ràng buộc nhất định về kinh tế , chính trị Bao gồm: nướcviện trợ phải đáp ứng yêu cầu cho bên cấp viện trợ như việc thay đổi chínhsách đối ngoại, chính sách kinh tế, thể chế chính trị,… cho phù hợp với mụcđích của bên cấp viện trợ

 Khả năng gây nợ cho nước nhận đầu từ của ODA: Khi tiếp nhận và sử dụngnguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuấthiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăngtrưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần dokhông có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năngđầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lạidựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch định chính sách sửdụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh

tế và khả năng xuất khẩu

Trang 8

CHƯƠNG II: BIẾN ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG ODA TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY2.1 Biến động của ODA

2.1.1 Sự biến động trong lượng vốn

Biểu đồ 2.1 Lượng vốn ODA ròng năm 1980-2015 tính theo tỉ giá hiện tại

(Đơn vị: Tỷ USD) (Nguồn: http://data.worldbank.org)

Giai đoạn 1980-1990: Hỗ trợ phát triển chính thức tăng tương đối đều, tỉ trọngODA nằm trong khoảng 29,06 tỷ USD đến 58,234 tỷ USD Từ những năm 1990, giátrị ODA có sự giảm nhẹ do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đầu những năm

1990 tác động đến nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, từ những năm 2000, dòng vốnODA có dấu hiệu khởi sắc khi tăng tương đối đều với tốc độ cao Cụ thể, trong giaiđoạn 2000-2005, tổng giá trị vốn đã tăng hơn gấp đôi từ 49,831 tỷ USD lên 108,2 tỷUSD Tuy vào năm 2008 có khủng hoảng tài chính, lượng vốn vẫn chỉ giảm nhẹ trongnăm đó và tiếp tục tăng những năm sau Từ đó đến hiện tại, tốc độ tăng trưởng củamức vốn ODA tương đối bền vững

Trang 9

Nhìn chung, lượng vốn ODA tăng qua các năm, tuy nhiên mức độ tăng không

ổn định, tuỳ thuộc vào tình hình thế giới nói chung và các quyết định trong việc việntrợ nói riêng

Trong tổng số vốn viện trợ song phương, phần lớn vốn được cấp bởi các nước OECD/DAC, cụ thể năm 2015 là 131.555 tỷ USD ( theo số liệu của data.oecd.org) trên tổng152,513 tỷ USD của toàn thế giới (tương đương 86,26%) DAC là các nước thuộc tổchức OECD cam kết thường xuyên cung cấp vốn ODA, hiện nay gồm 30 thành viên.Ngoài ra, vốn viện trợ song phương còn được đóng góp một phần nhỏ từ các nướckhông thuộc DAC Bên cạnh đó tồn tại ODA đa phương, là nguồn vốn từ các định chếtài chính và tổ chức quốc tế, cụ thể như: các cơ quan của UN, WB, IMF, ADB, AfDB,

2.1.2 Sự biến động theo tỉ lệ ODA và GNI

Biểu đồ 2.2.ODA ròng theo % GNI của DAC và một số nước 2000-2016 (nguồn

data.worldbank.org) (đơn vị %)

Tuy tỉ trọng vốn ODA có xu hướng tăng, nhưng khi so tỉ lệ với tổng thu nhậpquốc dân của các nước tài trợ lại có xu hướng không đổi Khái niệm 0,7% ODA/GNIlần đầu được chấp nhận vào năm 1970 và được nhấn mạnh tầm quan trọng nhiều lầntại các hội nghị viện trợ và phát triển quốc tế Cho đến nay, mục tiêu quốc tế nổi bậtnhất trong lĩnh vực viện trợ là nâng cao vốn phát triển chính thức (ODA) bằng 0,7%thu nhập quốc dân của các nhà tài trợ Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chỉ có

Trang 10

một vài nước đã chạm và duy trì được chỉ tiêu này (bao gồm Na Uy,Thuỵ Điển, HàLan, Lúc-xăm-bua, Đan Mạch, UAE) Đặc biệt, các tiểu vương quốc Ả Rập Thốngnhất, tuy mới gia nhập DAC vào năm 2014, nhưng dựa vào chỉ số ODA/GNI đã chothấy UAE xứng đáng được công nhận là một nhà tài trợ tầm cỡ thế giới.

2.1.3 Sự biến động trong cơ cấu ODA

2.1.3.1 Sự biến động trong lượng vốn đổ vô các ngành

2005 2015

Biểu đồ 2.3 Tỉ trọng các ngành sử dụng nguồn vốn ODA từ các nước DAC

Nguồn ODA có mặt ở hầu hết các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội.Các chương trình, dự án ODA đã góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo

và cải thiện đời sống của nhân dân Cơ cấu ODA ký kết vào các lĩnh vực như biểu đồtrên, trong đó, có thể thấy phát triển cơ sở hạ tầng và sản xuất vẫn luôn chiếm một vịtrí trọng tâm trong tổng vốn ODA, bởi nó là nền móng thúc đẩy một nền kinh tế đilên Đặc biệt, cơ sở hạ tầng kinh tế (giao thông, liên lạc, mạng lưới phân phối, địnhchế tài chính và cung cấp năng lượng) tăng tỉ trọng mạnh qua các năm Đa số cácnước nhận ODA đang trong giai đoạn kinh tế phát triển nên việc xây dựng hệ thốngkết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lạinền kinh tế, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế Ngoài ra, viện trợ nhân

Trang 11

đạo cũng có cơ cấu tăng, chứng tỏ các quốc gia ngày càng quan tâm đến các vấn đềphúc lợi xã hội.

2.1.3.2 Tỉ trọng ODA dành cho các khu vực

Trang 12

Trên là tổng hợp danh sách cách quốc giai nhận được ODA giai đoạn 2012 – 2013 Vàtheo như bảng thống kê thì Afghanistan chính là nước nhận được ODA nhiều nhất,theo sau chủ yếu là các nước thuộc Châu Phi như Algeria, Kenya, Algeria,… và đôngđảo các quốc gia thuộc khu vực có thu nhập thấp và trung bình thấp Lượng vốn ODAdành cho các quốc gia này rất mạnh, và nó chủ yếu đến từ Mỹ và Nhật Bản Chínhđều này cũng cho thấy cả Mỹ và Nhật Bản đều muốn khẳng định tầm ảnh hưởng củamình tại đây Ngoài ra, World Bank cũng tang hỗ trợ ODA cho các nước nhằm xóa bỏ

tỷ lệ đói nghèo cũng như xây dựng các cơ sở hạ tầng, chương trình giáo dục giúp nângcao đời sống kinh tế, xã hội của các quốc gia

2.2 Xu hướng ODA hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số đặc điểm quan trọng sau:

Thứ nhất

Tỉ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương có xu thếgiảm đi Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế hội nhập đã tạođiều kiện cho các quan hệ kinh tế, chính trị giữa các quốc gia ngày càng được đẩymạnh và tăng cường Hoạt động của một số tổ chức đa phương tỏ ra kém hiệu quảlàm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức này Điều đó lànguyên nhân chính tạo nên sự chuyển dịch, tỉ trọng ODA song phương có xu thếtăng lên, ODA đa phương có xu hướng giảm đi Điều đó đã được chứng minh trênthực tế là trong các năm 1980 - 1994 trong tổng số ODA của thế giới, tỉ trọng ODAsong phương từ 67% tăng lên 69% trong khi đó tỉ trọng ODA đa phương giảm từ33% xuống 31%

(Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư)

Thứ hai

Sự cạnh tranh ngày càng tăng trong quá trình thu hút ODA

Trên thế giới, một số nước mới giành được độc lập hoặc mới tách ra từ các nhà nước liên bang tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA Một số nước công hoà thuộc Nam Tư cũ và một số nước Châu Phi bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh sắc tộc đang cần đến sự hỗ trợ quốc tế ở Châu á, Trung Quốc, các nước Đông Dương,

Myanmar cũng đang cần đến nguồn ODA lớn để xây dựng kinh tế, phát triển xã hội

Số nước có nhu cầu tiếp nhận ODA là rất lớn vì vậy sự cạnh tranh giữa

các nước ngày càng trở nên gay gắt Các vấn đề mà các nước cung cấp ODA

Trang 13

quan tâm đến tạo nên sự cạnh tranh giữa các nước tiếp nhận là năng lực kinh tế củaquốc gia tiếp nhận, các triển vọng phát triển, ngoài ra còn chịu nhiều tác động củacác yếu tố khác như: Nhãn quan chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi, dựa trên

sự quan tâm nhân đạo và hiểu biết về sự cần thiết đóng góp vào ổn định kinh tế - xãhội quốc tế Cùng mối quan hệ truyền thống với các nước thế giới thứ ba của cácnước phát triển, hay tầm quan trọng của các nước đang phát triển với tư cách là bạnhàng (thị trường, nơi cung cấp nguyên liệu, lao động) Mặt khác, chính sách đốingoại, an ninh và lợi ích chiến lược, trách nhiệm toàn cầu hay cá biệt cũng là nhân

tố tạo nên xu hướng phân bổ ODA trên thế giới theo vùng Ngoài ra còn có thêm lý

do đó là sự chuẩn bị đáp ứng nhu cầu riêng biệt về thủ tục, quy chế, chiến lược, việntrợ khác nhau của các nhà tài trợ trên thế giới cũng tạo nên sự chênh lệch trongquá trình thu hút và sử dụng ODA giữa các quốc gia hấp thụ nguồn vốn này Chính

sự cạnh tranh gay gắt đã tạo nên sự tăng giảm trong tiếp nhận viện trợ của các nướcđang phát triển Kể từ năm 1970, ODA chủ yếu hướng vào Tiểu vùng Sahara vàTrung Đông kể cả Ai Cập Bên cạnh đó, Trung Mỹ là vùng nhận được tỷ trọng việntrợ tăng lên chút ít, tỷ trọng này đã thực sự bị cắt giảm mạnh đối với các vùng Nam

Á (đặc biệt là Ấn Độ) và Địa Trung Hải trong vòng 10 năm, từ tài khoá 1983/1984đến 1993/1994, tỷ trọng thu hút ODA thế giới của tiểu vùng Sahara đã tăng từ29,6% lên 36,7%, của Nam và Trung á khác và Châu Đại Dương từ 20,3% lên22,9%; Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê từ 12% lên 14% (nguồn: Bộ Kế hoạch -Đầu tư)

Thứ ba

Sự phân phối ODA theo khu vực nghèo của thế giới không đồng đều

Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt như vậy có thể có rất nhiều lý giải khác nhau, cóthể là do những mong muốn của các quốc gia đi viện trợ như mở rộng quan hệ hợptác về chính trị hay kinh tế, mục đích xã hội, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào ýmuốn chủ quan của nhà tài trợ Lúc đầu họ chỉ quan tâm đến việc thiết lập các mốiquan hệ với các nước láng giềng của mình, nhưng sau họ lại nhận thấy rằng cầnthiết lập các quan hệ với các nước khác trên thế giới để tìm kiếm thị trường trao đổibuôn bán hay đầu tư mà việc đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao bằng cách việntrợ ODA Mặt khác chính những yếu tố trong nội bộ của quốc gia cũng tạo nênnhững khác biệt lớn trong quá trình nhận viện trợ như các mối quan hệ với các nước

Trang 14

phát triển, hay những thành tích trong phát triển đất nước hay cũng có thể là do nhucầu hết sức cần thiết như chiến tranh, thiên tai

Thứ tư

Triển vọng gia tăng nguồn vốn ODA ít lạc quan

Mặc dù Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã khuyến nghị dành 1% GNP của các nướcphát triển để cung cấp ODA cho các nước nghèo Nhưng nước có khối lượng ODAlớn như Nhật Bản, Mỹ thì tỷ lệ này mới chỉ đạt ở mức trên dưới 0,3% trong nhiềunăm qua Tuy có một số nước như Thụy Điển, Na uy, Phần Lan, Đan Mạch đã có

tỷ lệ ODA chiếm hơn 1% GNP, song khối lượng ODA tuyệt đối của các nước nàykhông lớn Thêm vào đó tình hình kinh tế phục hồi chậm chạp ở các nước đang pháttriển cũng là một trở ngại gia tăng ODA Ngoài ra, hàng năm các nước cung cấpODA dựa vào kết quả hoạt động của nền kinh tế của mình để xem xét khối lượngODA có thể cung cấp được Nhưng hiện nay các nước phát triển đang có những dấuhiệu đáng lo ngại trong nền kinh tế của mình như khủng hoảng kinh tế hay hàng loạtcác vấn đề xã hội trong nước, chịu sức ép của dư luận đòi giảm viện trợ để tập trunggiải quyết các vấn đề trong nước

Tuy nhiên, ở các nước phát triển, kinh tế tăng bình quân 6%/năm trong cácnăm 1991 - 1994 (4%/năm trong thập kỷ 80) Đời sống nhân dân đang được cảithiện rõ rệt Do sự phục hồi kinh tế ở các nước phát triển, nguồn vốn chuyển dịchvào các nước đang phát triển có thể sẽ giảm sút trong các năm tới, ODA là mộtkhoản vốn mà các nước phát triển hỗ trợ cho các nước đang phát triển nó được thựchiện từ rất lâu, qua các giai đoạn nhất định, có những xu thế vận động riêng, nhìnchung lại, xu hướng vận động hiện nay hàm chứa cả các yếu tố thuận lợi lẫn khókhăn cho một số nước đang phát triển như nước ta đang tìm kiếm nguồn hỗ trợ pháttriển chính thức, tuy nhiên các yếu tố thuận lợi là cơ bản Xét trên phạm vi quốc tế,ODA có thể huy động được lại tuỳ thuộc voà chính sách đối ngoại khôn khéo vàkhả năng hấp thụ vốn nước ngoài của chính nền kinh tế nước đó Qua đó ta có thểthấy rõ được những đặc điểm riêng biệt của ODA so với các nguồn vốn khác

Trang 15

CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐẾN NƯỚC CẤP/NHẬN

NGUỒN VỐN

3.1 Tác động đối với nước nhận viện trợ

3.1.1 Tác động tích cực

 Nguồn bổ sung vốn quan trọng cho các nước đang phát triển

Tất cả các quốc gia khi thực hiện Công nghệ hoá - Hiện đại hoá đều cần đến mộtlượng vốn đầu tư rất lớn và đây là thách thức đối với các nước đang phát triển Với nội lựccòn hạn chế thì vốn trong nước không thể đáp ứng được nhu cầu về vốn đầu tư, do đó việchuy động vốn từ nước ngoài trở nên tất yếu Đặc biệt, nguồn ODA tập trung đầu tư cho cáclĩnh vực cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển là một giải pháp hữu hiệu để khắc phục sựthiếu vốn Tại Việt Nam, năm 2016, tổng vốn ODA đạt 142,6 tỷ USD, trong đó khoảng80% lượng vốn ODA được dành cho đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, số vốn này chiếmkhoảng 40% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội cho cơ sở hạ tầng (Theo Tổng cục Thống kêViệt Nam)

 Tiếp cận với thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và phát triển nguồn nhân lựca/ Thành tựu khoa học tiên tiến

Thông qua hình thức viện trợ kèm theo ràng buộc phải sử dụng dịch vụ hay hàng hoácủa nhà tài trợ, nước nhận đầu tư có cơ hội được tiếp cận với những công nghệ sản xuất hayquản lý tiên tiến

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ: dự án ODA về công nghệ cao, tiên tiến trongcác lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ xâydựng Dự án phát triển hạ tầng khu công nghệ cao và Trung tâm vũ trụ Việt Nam tại khuCông nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội do Nhật Bản tài trợ là một thí dụ điển hình

b/ Phát triển nguồn nhân lực

Nhận thấy vai trò then chốt của phát triển nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế củamột quốc gia nên các nhà tài trợ rất chú trọng ưu tiên cho lĩnh vực này Đào tạo nguồn nhânlực có thể được thực hiện ở trong và ngoài nước nhận đầu tư Đặc biệt, các nhà tài trợthường quan tâm đến việc đào tạo cho nhóm nhân sự tham gia vào quản lý nhà nước nhằm

Trang 16

nâng cao năng lực quản lý cho họ Đầu tư cho nguồn nhân lực mang lại hiệu quả lâu dàitrong quá trình phát triển

 Góp phần phát triển kinh tế địa phương va xoá đói giảm nghèo

ODA còn tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và vùnglãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: nguồn vốn này trực tiếp giúp cải thiện điều kiện về

vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường Đồng thời nguồn ODA cũng góp phầntích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển lưới điện nông thôn, pháttriển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo Trong năm 2014 Tổng công ty Điện lực miền Trung(EVN CPC) đã nhận hơn 236 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới (chiếm 60% trong tổng sốhơn 300 triệu USD vốn ODA), để thực hiện các dự án điện khí hóa nông thôn và phát triểnlưới điện khu vực miền Trung - Tây Nguyên Hay với 2 triệu EURO (tương đương khoảng

40 tỷ đồng) kinh phí của Dự án xây dựng Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc(tỉnh Vĩnh Phúc) từ Chính phủ CHLB Đức, đã mang lại cho các trường nghề một lượngtrang thiết bị tương đối đầy đủ, hiện đại, chất lượng tốt, đáp ứng xu hướng hiện đại hóatrong đào tạo nghề (Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư)

 Góp phần thu hút FDI và các nguồn vốn đầu tư khác

Trong năm 2015 Tổng vốn theo Hiệp định đã kí kết của 10 chương trình, dự án hơn7.180 tỷ đồng (trong đó, vốn ODA không hoàn lại: gần 342 tỷ đồng, ODA vay: hơn 7.109

tỷ đồng) Nhu cầu vốn cho các dự án chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông vận tải, pháttriển đô thị, nông nghiệp và phát triển nông thôn, môi trường, giáo dục và đào tạo, y tế,khoa học và công nghệ (Theo thống kê của Bộ Tài Chính)

Đối với các nước đang phát triển thì nguồn vốn ODA được sử dụng chủ yếu vào cáclĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội Đây là lĩnh vực có nhu cầu vốn đầu tưlớn song khả năng sinh lời lại thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.Với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ quan tâm đếnnhững nước có môi trường đầu tư thuận lợi nhằm giảm chi phí Vì vậy, cơ sở hạ tầng kỹthuật yếu kém, môi trường chính sách không thông thoáng, không ổn định sẽ làm nản lòngcác nhà đầu tư

Một quốc gia đang phát triển nhận được nhiều và sử dụng có hiệu quả vốn ODA gópphần vào việc xây dựng được môi trường đầu tư thuận lợi và sẽ tạo điều kiện cho các nguồnvốn khác như vốn FDI và vốn đầu tư trong nước phát huy hiệu quả

Trang 17

và Philippines, dẫn đến gia tăng nợ công và đặc biệt là nợ nước ngoài

 Nước nhận đầu tư dễ rơi vào tình trạng phụ thuộc Sự phụ thuộc được thể hiện trênnhiều cấp độ như phụ thuộc về vốn (khi dòng vốn đầu tư nước ngoài bị rút nhanh thì sẽ gây

ra tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế), từ phụ thuộc về vốn dễ dẫn tới phụ thuộc kinh tế(thị trường tiêu thụ sản phẩm) và có thể dẫn tới phụ thuộc về chính trị Ví dụ điển hình là dự

án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông phải mua tàu và chọn nhà thầu chính Trung Quốc

mà không được chọn nhà thầu hay hợp tác bất kì nào hết Mối quan hệ giữa nước ta vàTrung Quốc từ lâu đã không thực sự tốt như bên ngoài Vì vậy khi dự án được nhà thầuTrung Quốc thực hiện đã gây ra không ít sự tranh cãi, nhất là về vấn đề chính trị

 Nước nhận đầu tư phải chia sẻ lợi ích quyền lợi Như trong lĩnh vực khai thác dầuthô, tuy tài nguyên là của Việt Nam nhưng khi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thì ViệtNam phải chia một phần lợi nhuận cho việc họ phân bổ tỷ lệ lợi nhuận theo vốn đầu tư củahọ

 Nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng phát triển lệch lạc, mất cân đối Sự mất cân đối thểhiện về mất cân đối cơ cấu ngành cũng như mất cân đối về cơ cấu lãnh thổ Như ở ViệtNam các nhà đầu tư chỉ quan tâm tới những ngành có lợi nhuận cao trong khi đó các ngànhnhư trồng rừng hoặc như nông nghiệp v.v… thu hút được rất ít vốn đầu tư Cơ cấu lãnh thổthu hút đầu tư rất mất cân đối ví dụ như ở Việt Nam chỉ có một vài tỉnh và thành phố lớn là

có thể thu hút được các nhà đầu tư như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai

Ngoài ra, thực tế đã xảy ra trên cùng một địa bàn thôn, xã có nhiều công trình tậptrung vào việc phát triển mạng lưới điện và năng lượng và không nhắm vào phát triển cơ sở

hạ tầng và an sinh xã hội, cùng với đó là chính quyền địa phương không đủ năng lực quản

lý và thiếu nguồn tài chính nhằm duy trì hoạt động của các công trình này một cách có hiệuquả để phục vụ lâu dài cho người dân (Theo Tổ chức Tài Chính Công Việt Nam)

 Nước nhận đầu tư có thể trở thành bãi rác thải công nghệ

Trang 18

Việc tiếp nhận những dây chuyền công nghệ của nhà đầu tư nước ngoài là một vấn

đề vô cùng nan giải Do vậy phải so sánh các mặt lợi, hại khi tiếp nhận dự án đầu tư, thu hútđầu tư vào các khu vực công nghệ cao, hoặc thu hút vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động làhai mục tiêu khác nhau Dự án sử dụng nhiều lao động thì khả năng công nghệ áp dụng vào

đó là công nghệ lạc hậu, nhưng dự án đầu tư vào khu vực công nghệ cao thì sẽ được sửdụng công nghệ cao do vậy Chính phủ phải cân nhắc kỹ càng trước khi chấp thuận cho các

dự án đầu tư vào đất nước Ví dụ điển hình là việc nhập công nghệ lạc hậu trong hàng loạtlĩnh vực như sản xuất xi măng, mía đường, nhiệt điện chạy than, sản xuất thép, giấy “Tìnhtrạng này không những làm cho năng suất lao động nước ta yếu kém mà gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng” - sự thẩm định không tốt ở nhiều dự án đã khiến chúng ta phải chihàng ngàn tỉ đồng để xử lý hệ lụy (Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Thuận - Ngô Đức Mạnh)

 Ngoài ra khi nhận viện trợ ODA còn xảy ra các tình trạng sử dụng vốn sai mụcđích và không hiệu quả, nhất là vấn đề về đạo đức của các nhà cầm quyền Gần đây nhất,Ngân hàng Thế giới (WB) đã cấm Louis Berger Group, một công ty của Mỹ, nhận thầu cáccông trình có vốn vay từ WB trong thời gian một năm vì đưa hối lộ tại hai dự án tại ViệtNam Vụ việc này lại làm rộ lên sự quan tâm trong nước về tham nhũng tại các dự án cónguồn vốn ODA (Theo Phạm Chí Dũng - VOA)

 Nguồn: Thư viện học liệu mở Việt NamThống kê của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Bộ TàiChính )

3.2 Tác động với nước cấp viện trợ

3.2.1 Tác động tích cực

 Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của bên cấp viên trợ hoạt độngthuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp Cùng với sự gia tăng củavốn ODA, các dự án đầu tư của những nước viện trợ cũng tăng theo với những điềukiện thuận lợi, đồng thời kéo theo sự gia tăng về buôn bán giữa hai quốc gia Năm

2015, Chính phủ Trung Quốc chuyển khoản vay ưu đãi bên mua 300 triệu USD sang

sử dụng cho dự án đường cao tốc Móng Cái - Vân Đồn và bổ sung khoản vay ưu đãichính phủ 250 triệu USD cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông; TrungQuốc tuyên bố sẽ cung cấp viện trợ 1 tỷ nhân dân tệ trong 5 năm tới để giúp VN xâydựng các công trình cải thiện dân sinh như trường học, bệnh viện Đổi lại, ViệtNam gia tăng thương mại với Trung Quốc kim ngạch xuất nhập khẩu 2 nước lên

Trang 19

100 tỉ USD, tạo điều kiện thuận lợi để các mặt hàng có thế mạnh của hai bên đượctiếp cận thị trường của nhau

 Nước viện trợ được mở cửa thị trường bảo hộ cho nhiều danh mục hàng hoá vànhững ưu đãi như được cho phép đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năngsinh lời cao

 Thể hiện mục đích nhân đạo và mang tính phúc lợi xã hội của viện trợ ODA là nhằmkhôi phục, cải tạo và phát triển nền kinh tế - xã hội của nước nhận viện trợ

Nước viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị, ảnh hưởng của họ về mặtkinh tế - văn hoá đối với nước nhận cũng sẽ tăng lên Thời gian qua, quan hệ Việt Nam -Nhật Bản đã không ngừng phát triển, trở thành đối tác chiến lược toàn diện trên mọi lĩnhvực, đặc biệt nhất là kinh tế, thương mại và đầu tư Nhật Bản là quốc gia viện trợ phát triểnchính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam (Hội nghị Xúc tiến đầu tư Việt Nam tháng1/2017)

 ODA là công cụ để thiết lập, khẳng định và duy trì vị thế kinh tế - chính trị của nướctài trợ trên bình diện chính trị thế giới

 Nước viện trợ nguồn vốn ODA có được quyền giám sát và quyền đề ra những điềukiện nhất định mang tính ràng buộc Ví dụ nguồn vốn đầu tư này chỉ được đầu tư vào

dự án này, hoặc khoản mục này mà không được đầu tư vào dự án khác tuân theo quyđịnh, sự kiểm định của nước tài trợ, tuỳ theo những mục đích nhất định Hay điềukiện phải sử dụng các chuyên gia, kĩ sư, công nghệ, máy móc của nước tài trợ…

3.2.2 Tác động tiêu cực

 Nhà tài trợ không trực tiếp quản lý dự án trong nước nhận viện trợ

 Philippin những năm (1970 – 1980), Trung Quốc (1980 – 1990) không đưa ra chiếnlược thu hút cụ thể nên vốn ODA sử dụng tản mạn không tập trung, tình trạng thamnhũng xảy ra phổ biến hay những nước ở Nam sa mạc Shahara như Kenya, Uganda(những năm 1975 – 1980) đã thu hút vốn ODA vào xây dựng và duy tu những tuyếnđường xuyên sa mạc kém hiệu quả dẫn đến không có khả năng thu hồi vốn, rơi vàotình trạng khó khăn trong việc trả nợ nước ngoài (Viện nghiên cứu Lập pháp ViệtNam)

Trang 20

Mặc dù viện trợ cho nước ngoài chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong ngân sách, nhưng

nó là một trong những hạng mục đầu tiên bị cắt giảm Các nước OECD đang phải đấu tranh

để kiểm soát việc thâm hụt ngân sách và kiềm chế việc gia tăng trong chi tiêu của chínhphủ Người dân ở những nước này muốn chính phủ giảm bớt ngoại viện để tập trung giảiquyết những vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường trong nước

 Điều nguy hiểm nhất có thể xảy ra của viện trợ ODA là các nước cấp viện trợ khôngnhằm cải tạo nền kinh tế - xã hội của nước đang phát triển mà nhằm vào các mụcđích quân sự Chúng ta cũng biết nước láng giềng Trung Quốc là một nhà đầu tưODA lớn cho Việt Nam, nhưng chúng ta cũng không vì thế mà để nền kinh tế phụthuộc quá vaò nước bạn, đặc biệt là tình hình trên biển Đông Hai bên luôn tôn trọnglợi ích chính đáng của nhau; thực hiện nghiêm túc các nhận thức chung và thỏa thuậncủa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; duy trì nguyên trạng, không có hành độnglàm phức tạp, mở rộng tranh chấp, gây căng thẳng tình hình (Báo Pháp Luật Đờisống)

 Các nước giàu khó khăn trong việc cân đo đong đếm để tìm được nước nhận việntrợ Tình trạng tài chính của các nước nghèo mắc nợ nhiều và khả năng hấp thụ vốnODA của nhiều nước nhận viện trợ còn hạn chế là những nguyên nhân “làm nguội”nhiệt tình của các nhà tài trợ

Ngày đăng: 25/08/2017, 13:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w