Phần 6 của bộ tài liệu và các tác phẩm văn học giai đoạn 1945XX về TRUYỆN. Các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này là: 1. Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) 2. Vợ nhặt (Kim Lân) 3. Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành) 4. Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) 5. Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) 6. Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) Các bạn đăng kí mua tài liệu thì liên hệ với mình qua gmail: 01633306424HVDgmail.com để nhận video bài giảng nhé các bạn Thanks all
Trang 1MOON.V N
Lời mở: Chúng ta từng biết đến người con của dòng sông Tô, phủ Hoài Đức qua những trang văn
nổi tiếng trong Dế mèn phiêu lưu kí hay những bức tranh hiền lành vùng dệt lĩnh ven đô- không gian
nghệ thuật quen thuộc trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài Nếu như trước cách mạng, ông nổi tiếng với những tác phẩm viết cho thiếu nhi, thì sau Cách mạng tháng Tám, người ta lại biết đến Tô Hoài
nhiều hơn qua những tác phẩm đặc sắc viết về vùng cao trong tập Truyện Tây Bắc mà nổi tiếng nhất
có lẽ phải kể đến tác phẩm: Vợ chồng A Phủ- tác phẩm được giải Nhất về văn xuôi (1954-1955)
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
1.1 Cuộc đời
Nhà văn Tô Hoài (1920 - 2014) tên thật là Nguyễn Sen, sinh tại quê nội Thanh Oai, Q.Hà Đông, Hà
Nội, và lớn lên tại quê ngoại thị trấn Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội
- Tô Hoài là một trong những nhà văn sáng lập ra Hội Nhà văn Việt Nam, là chủ tịch đầu tiên của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội
- Các giải thưởng tiêu biểu của ông: Giải nhất tiểu thuyết với tác phẩm Truyện Tây Bắc của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956, giải A với tiểu thuyết Quê nhà giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm
1967, giải thưởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á Phi với tiểu thuyết Miền Tây năm 1970 Ông được
trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật đợt 1 năm 1996
- Chỉ được học hết bậc Tiểu học, phải làm nhiều nghề để kiếm sống trước khi cầm bút (liên hệ các tác giả: Macxim Gorki (Nga), Nguyên Hồng, Kim Lân (Việt Nam) để thấy vai trò của “trường đời”
và tự học đối với sự thành công của các nghệ sĩ)
• Gắn bó sâu sắc với lứa tuổi thiếu nhi - cơ sở của những tác phẩm viết cho trẻ em
• Đi nhiều, vốn sống phong phú, đặc biệt trong lĩnh vực phong tục và sinh hoạt đời thường - có
những trang viết chân xác, đằm thắm về đất và người nhiều vùng đất, nhất là đất và người Tây Bắc
• Có cái nhìn hồn nhiên, trong trẻo mà sắc sảo, hóm hỉnh, thông minh về các sự vật, hiện tượng, con người trong cuộc sống
Ông từ trần trưa 6.7.2014 tại Hà Nội
1.2 Sự nghiệp
- Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Hơn 60 năm cầm bút, ông để lại gần hai trăm tác phẩm thuộc đủ các thể loại
- Thể loại: đa dạng,
- Đề tài: hai đề tài
* Đồng thoại về thế giới loài vật
* Cuộc sống, số phận và vẻ đẹp người lao động nghèo ở miền xuôi và miền ngược
- Nội dung:
* Cái nhìn trìu mến, bao dung, nhân ái, độ lượng với trẻ thơ
* Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo mới mẻ, độc đáo
• Nghệ thuật:
* Khả năng miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật chân xác, sâu sắc, tinh tế
* Cách kể chuyện sống động, hóm hỉnh, có duyên
* Lời văn: giàu tính tạo hình và chất thơ
- Tác phẩm tiêu biểu: Dế mèn phiêu lưu kí (đồng thoại, 1941), O chuột (tập truyện ngắn về loài vật,
1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Mười năm (tiểu
Trang 2MOON.V N
- 1952: Tô Hoài theo đơn vị bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, sống gắn bó với đồng bào tám tháng
“Năm 1952, tôi theo bộ đội chủ lực, tiến quân vào miền Tây, tham dự chiến dịch giải phóng Tây Bắc… Cái kết quả lớn nhất và trước mắt của chuyến đi tám tháng ấy là đất nước và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, không thể bao giờ quên”
- Chia tay, Tô Hoài viết tập truyện bằng sự am hiểu tường tận cuộc sống, phong tục, nhất là tâm hồn phóng khoáng, tự do phảng chút hoang dại của đồng bằng miền núi; nỗi ám ảnh về những kỉ niệm gắn bó và món nợ ân tình với người Tây Bắc
- “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc được in trong tập “Truyện Tây Bắc” (1953)
tâm lí nhân vật sắc sảo (Ba ý lớn)
• Phần 2: Quá trình vận động từ tự phát tới tự giác của người lao động
2.3 Thành công và hạn chế
2.3.1 Thành công
“Ý bao quát trong khi tôi viết Truyện Tây Bắc là: Nông dân các dân tộc ở Tây Bắc bao năm gian khổ
chống đế quốc và bọn chúa đất Cuộc đấu tranh giai cấp, riêng ở Tây Bắc, mang một sắc thái đặc biệt Nhìn lướt qua, nơi thế lực phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước, chúng ta dễ tưởng những cảnh những người ở đấy cứ muôn thuở lặng lẽ Không, ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng Họ đã thức tỉnh Cán bộ của Đảng tới đâu thì các
dân tộc đứng lên tới đấy, trước nhất là những người trẻ tuổi Họ thật đẹp và yêu đời”
* Đem vào tác phẩm không khí thời đại
* Thấy được quá trình vận động trong tư tưởng, cuộc sống người lao động: từ cam chịu, khổ nhục đến chủ động giành lấy tự do, hạnh phúc, từ hành động phản kháng tự phát đến hoạt động cách mạng
tự giác
* “Một vấn đề khác nữa là chất thơ trong văn xuôi Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi
đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng hơn lên”
2.3.2 Hạn chế: Hình tượng nhân vật trung tâm hành động theo sự dàn xếp của tác giả nhằm chứng
minh cho một luận đề: sự giác ngộ đến với cách mạng của quần chúng bị áp bức, đôi chỗ viết dễ dãi
II Đọc hiểu văn bản
1 Tóm tắt: Mị, một cô gái xinh đẹp, yêu đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc, bị bắt về làm con dâu
gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra Lúc đầu Mị phản kháng nhưng dần dần trở nên tê liệt, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa" Đêm tình mùa xuân đến, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử (chồng Mị) trói đứng vào cột nhà A Phủ vì bất bình trước A Sử nên đã đánh nhau và bị bắt, bị phạt vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà Thống lí Không may hổ vồ mất một con bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói đứng vào cọc đến gần chết Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, hai người chạy trốn đến Phiềng Sa Mị và
A Phủ được giác ngộ, trở thành du kích
2 Chủ đề: Qua việc miêu tả cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, nhà văn đã làm sống lại quãng đời
tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã man của bọn chúa đất phong kiến, đồng thời khẳng định sức sống tiềm tàng, mãnh liệt không gì hủy diệt được của những kiếp nô lệ, khẳng định chỉ có sự vùng dậy của chính họ, được ánh sáng cách mạng soi đường sẽ dẫn tới cuộc đời tươi sáng
3 Hình tượng nhân vật
3.1 Nhân vật Mị
3.1.1 Sự xuất hiện của Mị
“Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra…” : giọng kể thoảng hương cổ tích ca dao, chuẩn bị
không khí cho mẫu nhân vật cổ tích xuất hiện, tạo tâm thế cho người đọc tiếp nhận một motip quen thuộc
• Không gian: “ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”, xuất hiện cùng thế giới đồ vật câm lặng
Trang 3MOON.V N
* Vị trí của nhân vật
* Hình ảnh tảng đá câm nín, u uất, bất động, không sinh khí, không sẻ chia (liên hệ với sự hóa thân
của người em trong Sự tích Trầu cau)
• Tư thế: “cúi mặt, mặt buồn rười rượi” với nhịp điệu mòn mỏi, thường xuyên, lặp lại vô hồn – “lúc nào cũng vậy”
• Đối lập: hình ảnh một cô gái lẻ loi, đơn độc, u trầm, buồn khổ – cảnh tấp nập, giàu sang nhà thống
lí
Nhận xét: tác giả đã phác hoạ hình ảnh người con gái câm lặng như chìm lẫn vào thế giới đồ vật vô tri, không cảm giác Từ đó hé lộ cuộc sống tủi cực, cảnh ngộ éo le của nhân vật Cách dẫn dắt khéo
léo theo điểm nhìn từ xa, bên ngoài tiến gần hơn vào bên trong để thâm nhập nhân vật; tạo ra mâu
thuẫn ở lời kể để vén bức màn bí mật về một phận người (hỏi ra mới rõ,… cô ấy là vợ A Sử, con trai
thống lí Pá Tra)
3.1.2 Vẻ đẹp
Mị vốn là đóa hoa đẹp của núi rừng:
+ Nhan sắc rực rỡ tươi thắm tỏa ra sức cuốn hút: Ngày tết, trai làng đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị
+ Tâm hồn phong phú, bay bổng, tài hoa: khẽ uốn chiếc lá trên môi là cả thế giới xa xăm kì diệu sẽ
mở ra, Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị
Câu chuyện Mị về làm dâu:
• Lý do: bố lấy mẹ không đủ tiền cưới, phải vay nhà thống lí, tận khi già mà chưa trả hết nợ Mẹ
chết, thống lí đòi lấy Mị làm con dâu để xoá nợ, mối nợ truyền kiếp, dai dẳng, khó thoát, bóng của kiếp sống nô lệ, cùng khổ đổ lên người dân nghèo qua thế hệ này đến thế hệ khác Câu nói từ bên trong của bố Mị “không thể nào khác được con ơi” giống như một dấu triện đóng lên thân phận nô lệ của Mị
• Phản ứng: đề nghị bố lao động trả nợ chứ quyết không muốn bị bán cho nhà giàu: “Con nay đã
biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương trả nợ thay cho bố Bố đừng bán con cho nhà giàu”
Ta chợt đau lòng nhớ đến câu nói của cái Tí ngày nào “con van thầy, con van u, thầy u đừng bán con
tội nghiệp, để con ở nhà chơi với em con” (Tắt đèn- Ngô Tất Tố) Điều đó cho thấy Mị thà sống vất
vả, nghèo khổ mà tự do còn hơn sống trong giàu sang mà chịu đoạ đày nô lệ Đó cũng là khát vọng
tự do mãnh liệt và niềm tin trong sáng, hồn nhiên của tuổi trẻ
• Bị nhà thống lí lừa bắt đi, ban đầu “hàng mấy tháng, đêm nào cũng khóc”, nhận thức sâu sắc tình
cảnh quẫn bách của bản thân: sống cũng như chết, Mị đã tìm đến lá ngón để tự tử Đây là phản ứng tiêu cực của lòng yêu sống và khát vọng tự do
• Dần dần, cha chết, Mị không còn nghĩ tới cái chết, Mị đã mất đi khả năng phản ứng với cuộc sống
phi nhân tính, thực chất, cô chỉ còn sống đời sống vật chất, còn tinh thần và tâm hồn đã chết, nhẫn nhục, cam chịu, vô hồn
* Cùng với thời gian, “lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau”, khi được chết thì Mị lại không buồn chết nữa Cách sử dụng phép đối, cách đếm thời gian chậm rãi, đều đặn cho ta thấy khoảng thời gian
đủ để vô hồn hoá con người, nhấn con người vào câm lặng, “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”
Mị tưởng: mình cũng là con trâu, con ngựa Nhưng không chỉ thế, “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”- bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn Càng ngày, Mị càng lùi lũi như con rùa nuôi trong
xó cửa Mị đã bị tê liệt khả năng phản ứng với cuộc sống vô nghĩa, phản ứng của con người không còn cảm thấy ý nghĩa cuộc đời, cam chịu sống mảnh đời khuất lấp, quên lãng, như cái cây, tảng đá,
Trang 4MOON.V N
đồ vật trong không gian nhà thống lí Từ vị trí con dâu (quyền thế, đáng trọng) đến thân thế: con nợ, người ở (rẻ rúng, coi thường), ta đã đủ thấy cái tàn nhẫn bất công với Mị
• Căn buồng, không gian sống của Mị là một nơi kín mít, chỉ có một chiếc cửa sổ bé, đúng hơn là chỉ
có một lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng, Mị đã mất hết ý niệm về thời gian Đó là một không gian tối tăm, bức bối, lạnh lẽo, đầy
âm khí- biểu tượng ám gợi về địa ngục trần gian, nơi cầm tù tuổi thanh xuân của con người, biến Mị
từ một cô gái trẻ trung phơi phới thành một con người vô cảm, cam chịu
Tóm lại: Mỵ là hiện thân những đau khổ của người phụ nữ nói riêng, của người dân miền núi trước
Cách mạng nói chung
- Bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn, phải làm quần quật như một thứ lao động khổ sai: Tết đến thì lên núi hái thuốc phiện, giữa mùa thì giặt đay, se đay, đến mùa thì đi nương, bẻ bắp bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế, lời văn của Tô Hoài nặng trĩu những day dứt xót xa
- Bị chà đạp về thể xác, bị đánh đập dã man, bị bắt trói bất cứ lúc nào Muốn đi chơi: trói; muốn sưởi lửa: trói; làm mất một con bò: trói
- Bị đầy đoạ về tinh thần, Mị trở thành con người vô cảm, bị đè nặng bởi ý nghĩ: ta là thân đàn bà, bị bắt về trình ma nhà nó rồi, chỉ còn đợi ngày rũ xương ở đây thôi Cuộc sống của Mỵ ở nhà Thống
Lý Pá Tra như ngục thất (ý nghĩa căn buồng Mỵ ở) Bị bóng ma vô hình cột chặt cuộc đời nô lệ với nhà Thống lý, nhiều khi trở nên cam chịu, sống mà như chết
Tiểu kết:
Miêu tả cuộc sống làm dâu, nhà văn khám phá một mảng hiện thực mới: cuộc sống, số phận đau khổ của người lao động miền núi – những con người bị cường quyền, thần quyền, cái nghèo, những áp chế về tinh thần đẩy vào tình trạng sống vô nghĩa, vô cảm
Phải chăng cô Mị trẻ đẹp, tràn đầy xuân sắc xuân tình của ngày xưa đã chết? Không, ngòi bút nhân đạo của Tô Hoài đã cho ta thấy, dù lay lắt đói khổ, bị đọa đày cùng cực đến đâu, sức sống của người lao động chỉ tạm thời bị vùi lấp chứ không thể bị triệt tiêu, nó vẫn như đốm than hồng từ lâu âm ỉ cháy, chỉ đợi ngọn gió lành là sẽ bùng lên Và ngọn gió ấy đã tới trong đêm tình mùa xuân, để ta thấy một cô Mị lạc quan, yêu đời đang dần dần hồi sinh trong sự sống
Đó cũng là nội dung chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp ở tiết học thứ hai
Trang 5MOON.V N
3.1.4 Mỵ là hiện thân của sức sống tiềm tàng, sức mạnh vùng lên giải phóng
Sức sống tiềm ẩn mà mãnh liệt được thể hiện qua bốn chi tiết:
+ Câu nói phản kháng hôn nhân
+ Ý định ăn lá ngón tự tử
+ Biểu hiện rõ nhất trong đêm hội mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ
3.1.4.1 Sự thức tỉnh và hồi sinh khát vọng sống trong đêm tình mùa xuân
- Khung cảnh:
• Bức tranh mùa xuân: Mùa xuân đã về trên rẻo cao Quyến rũ và say lòng biết bao là những đêm
tình miền núi Năm ấy, Hồng Ngài ăn tết sớm Niềm vui đón xuân như được nhân lên cùng niềm vui thu hoạch mùa màng Vạn vật đổi thay, đất trời như có men say, sự sống đang âm thầm cựa mình xôn xao trong cây cỏ Gió và rét dữ dội thổi vào cỏ gianh vàng ửng, cái màu sắc tươi thắm đang có sức lan tỏa, cựa quậy tự trong linh hồn tạo vật, cái màu sắc tươi vui, đầy sức sống, ánh sáng, đối lập
với không gian sống tăm tối của Mị Trên các mỏm núi: váy hoa xoè như con bướm sặc sỡ, đầy màu sắc, phấn chấn, náo nức Đám trẻ nô đùa cười ầm trước sân Tiếng sáo vọng lại thiết tha bồi hồi Thiên nhiên rực rỡ màu sắc, náo nức âm thanh, sự hiện diện của một thế giới căng tràn nhựa sống
• Đêm tình mùa xuân:
* Trong nhà: mọi người nhảy đồng, hát
* Bên ngoài: tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng ngoài đường, tiếng sáo như có hình, lơ lửng, bồng bềnh, như tình ai không tan, như lòng ai vẫn đợi Đó là chi tiết trở đi trở lại như một ám ảnh, mời gọi, vương vấn, khơi gợi kí ức và khát vọng yêu, sống trong Mị
* Nội dung tiếng sáo: “Mày có con trai con gái rồi/ Mày đi làm nương/ Ta không có con trai con gái/
Ta đi tìm người yêu”, tiếng sáo mang khát vọng đôi lứa, khát vọng sống
* Không gian, thời gian rạo rực khát vọng, thôi thúc con người tìm đến với men say tình yêu, men say sự sống
- Diễn biến tâm trạng:
• Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát…, u uất, mất cảm giác, không sống trong thực tại, mà lặn vào
vô thức, như nuốt cả bao nhiêu đau khổ
• Đột nhiên thấy lòng phơi phới trở lại, có cảm xúc (nhận ra tiếng sáo)
• Nhận thấy mình còn rất trẻ Ý thức về bản thân trở lại: Mị còn trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi, câu văn như dựng nhân vật dậy, đi lại nôn nao rạo rực trên trang sách
• Lúc sức sống trở về với niềm khao khát nhất thì Mị lại muốn chết: Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra…khi cảm xúc, ý thức trở về là lúc Mị muốn chết, phi lí mà logic: ý thức tình trạng sống không bằng chết- giải thoát
• Do tiếng sáo- quên cái chết - xắn miếng mỡ khêu lại đèn, lấy váy, quấn tóc, những động tác nhanh, mạnh, dứt khoát…
* Khát vọng được sống được yêu trở lại, kéo theo hành động: muốn được thấy ánh sáng, muốn làm đẹp, ý thức về sự tồn sinh của mình (Liên hệ chi tiết: Mùi xà phòng trên áo của Đào trong “Mùa lạc” khi kể cho Huân nghe về duyên mới, sự hồi sinh nữ tính thường được các nhà văn sử dụng để biểu trưng cho sự trỗi dậy mạnh mẽ, sâu sắc nhất của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc)
- Sự vùi dập phũ phàng: bị A Sử trói, khát vọng vừa hồi sinh đã bị vùi dập
- Nhưng sợi dây trói của A Sử chỉ trói được thân xác Mị, tâm hồn Mị vẫn bồng bềnh theo những cuộc chơi, những đám chơi Tiếng sáo từ chỗ ở ngoài Mị nay đã thành tiếng lòng của Mị: trong đầu
Mị rập rờn tiếng sáo Rập rờn là từ tượng hình, âm thanh như lá đang reo, như cánh bướm giữa vườn xuân đang vấy, rạo rực, xôn xao trong lòng thiếu phụ…Cả đêm hôm ấy, Mị lúc mơ, lúc tỉnh Trong
VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI (TIẾT 2)
Trang 6MOON.V N
bóng tối, Mị đứng yên lặng, Mị như không biết mình đang bị trói Chân Mị vẫn vùng bước đi, đi theo tiếng gọi của tự do Nhưng sợi dây trói thít lại nhắc Mị nhớ cảnh ngục tù Mị không nghe tiếng sáo nữa Tiếng gọi của sự sống, của tự do đã tắt Chỉ còn tiếng chân ngựa đạp vào vách, khô khan, tàn nhẫn như biểu tượng của thân phận
- Đêm mùa xuân không mảy may làm thay đổi cuộc đời Mị, tuy nhiên nó đã được nhóm lên để chuẩn
bị rực cháy trong hành động cứu A Phủ và cứu mình
* Tiểu kết:
Qua nhân vật Mị, nhà văn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc và mới mẻ:
- Tố cáo thế lực thống trị, cường quyền, thần quyền đã liên kết để cày đạp tước đoạt quyền sống của những con người đáng ra phải được hạnh phúc nhất
- Đồng cảm sâu sắc với số phận con người nghèo khổ miền núi trước cách mạng
- Khám phá, phát hiện vẻ đẹp, phẩm chất người lao động, đặc biệt là khát vọng sống tự do
1.4.2 Đêm mùa đông cắt dây trói cứu A Phủ
- Bối cảnh: những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có ngọn lửa kia Mị cũng chết héo Sáng nào Mị cũng sưởi lửa, hơ tay, lâu lắm rồi, Mị chỉ còn biết, còn ở với ngọn lửa Bị
A Sử đánh, đêm sau Mị vẫn ra sưởi, gan lì, bướng bỉnh Nhà văn gài một chi tiết báo hiệu sự phản kháng của Mị
- Chứng kiến cảnh A Phủ bị bắt, trói:
+ Lúc đầu, Mị thản nhiên: “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi” Cảnh bị trói đến chết không phải là hiếm hoi ở nhà thống lí Mặt khác, Mị đã chịu đựng quá nhiều đau khổ về thể xác lẫn tinh thần, trơ lì cảm xúc, tê liệt khả năng cảm thông, chia sẻ với cảnh ngộ khốn cùng của người
khác Cuộc sống bao năm làm con rùa lầm lũi xó cửa khiến Mị quen cam chịu, nhẫn nhục, sức ì, quán tính quá lớn
+ Hôm sau: lé mắt trông sang, thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại- chi tiết duy nhất trong đoạn trích thiên về phản ánh nội tâm A Phủ (A Phủ gần như được xây dựng đơn giản hơn Mị: nhân vật của số phận và hành động) nước mắt ở một thanh niên bản lĩnh, gan góc, yêu đời, mạnh mẽ diễn tả sâu xót nỗi đau, sự tủi cực, tình cảnh khốn cùng (có lẽ A Phủ cũng đang hình dung mình sẽ bị trói cho đến chết) Giọt nước mắt tuyệt vọng của người đàn ông khỏe mạnh đã làm thức lên sức mạnh của phái yếu, làm tan chảy cõi lòng giá băng, đánh thức hồi ức đau thương, tuyệt vọng trong quá khứ của Mị Mị chợt nhớ lại mình, thương mình đêm năm trước, cũng
bị A Sử trói như thế, nước mắt rơi xuống má, xuống cổ không lau đi được Trời ơi, nó trói người ta đến chết! Mị lại nhớ có người đàn bà đã từng bị trói đến chết trong nhà này Giọt nước mắt nối liền
ba số phận Lần đầu tiên, Mị ý thức tội ác của kẻ thù, nhận thấy ta là thân đàn bà, đợi ngày chết ở đây thôi, người kia việc gì phải chết thế! Nhận thấy việc A Phủ phải chết là một điều vô lí, oan ức, bất công, Mị biết thương người cùng cảnh ngộ
- Độc thoại nội tâm: đồng cảm với A Phủ, với những người cùng cảnh ngộ, bất bình, tình thương trỗi dậy
- Giả định: A Phủ trốn, Mị bị trói đứng, phải chết trên cái cọc ấy, không sợ: thương A Phủ quên thân,
ngay” rồi Mị nghẹn lại A Phủ vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối Câu văn được
tách riêng thành một dòng đặc biệt, khoảnh khắc ấy có tính chất quyết định đến cả một cuộc đời Ta
có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?
- Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua Mị đuổi kịp A Phủ
và nói lời đầu tiên Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ Cho tôi đi! Ở đây thì chết
Trang 7MOON.V N
mất” Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc Đó chính là nguyên nhân - hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…
- Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc
Mị tự cứu lấy bản thân mình
- Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho
số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách
tự phát như Mị Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống
* Nhận xét:
• Hành động tự cứu mình của Mị là hành động có tính chất tự phát, nhưng cội nguồn sâu xa của nó là khát vọng sống mãnh liệt
• Hành động làm thay đổi vị thế hai con người: nô lệ, cam chịu- tự do, nổi loạn
• Hai nhân vật gặp gỡ nhau trong đau thương, cùng đường, nhờ khát vọng tự do mà vùng lên tự thay đổi cuộc đời
1.5 Một số đặc sắc về nghệ thuật
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo
Nghệ thuật miêu tả đời sống nội tâm của nhân vật, ít miêu tả hành động bên ngoài, nếu miêu tả thì chú ý những hành động lặp đi lặp lại (thường cúi mặt, mặt buồn rười rượi )
Mượn hình tượng thiên nhiên để miêu tả tâm trạng (mùa xuân của thiên nhiên của đất trời như gợi lên cả sức sống mùa xuân trong lòng Mỵ)
Trực tiếp miêu tả diễn biến tâm trạng tinh tế và hợp lý (phân tích cách miêu tả diễn biến tâm trạng
Mỵ theo hai cảnh: Đêm mùa xuân nghe tiếng sáo gọi bạn và đêm mùa đông cắt dây trói cứu A- Phủ) + Nghệ thuật kể chuyện: kể chuyện kết hợp nhiều điểm nhìn (bên ngoài, bên trong, xa, gần), dần dần khám phá thế giới nội tâm sâu thẳm và ngọn lửa sống âm ỉ đằng sau vẻ ngoài vô cảm của Mị
+ Ngôn ngữ, hình ảnh: giàu chất thơ, chân xác.s
Chất thơ ấy, sự chân xác trong miêu tả hiện thực ấy còn được thể hiện rõ hơn nữa trong các nhân vật
A Phủ và cha con thống lí Pá tra Đó là những nhân vật ta sẽ tiếp tục tìm hiểu trong giờ học tiếp
Trang 8MOON.V N
3.2 Hình tượng nhân vật A Phủ
3.2.1 Vị trí của nhân vật
3.2.2 Sự xuất hiện: “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử Con
quay gỗ ngát lăng nào giữa mặt Nó vừa kịp bưng tay lên A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kẹo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp" Một đoạn văn ngắn với hàng loạt các động từ cùng lối miêu
tả các động tác nhanh, gấp: chạy vụt ra, ném, lăng, xộc tới, nắm cái uổng cổ, kéo dập đầu xuống, xé lai áo, đánh tới tấp cho thấy sức mạnh và tính cách con người A Phủ qua hành động Cách giới
thiệu nhân vật gây ấn tượng, hé mở tính cách quật cường
- Khung cảnh: đêm tình mùa xuân
- Khó có được hạnh phúc giản dị của một người con trai trưởng thành: không thể lấy nổi vợ
- Chỉ vì đánh A Sử, bị bắt, bị đánh đập dã man (mặt sưng, đuôi mắt giập chảy máu, hai đầu gối sưng bạnh như mặt hổ phù), cúng ma, bị cho vay nợ để nộp phạt, khao làng, không có tiền trả, phải ở nợ, cuộc đời từ đây bị cột chặt trong vòng riết xoắn của kiếp trừ nợ A Phủ trở thành người ở trừ nợ
• Bị bóc lột sức lao động tàn tệ:
Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng, câu văn liệt kê, con người làm việc cơ học, như một cỗ máy, triền miên, ngày qua ngày, tháng nối tháng, năm tiếp năm, mòn mỏi
• Bị trừng phạt vì làm mất bò của chủ, tự mình lấy dây mây cột mình theo lệnh của thống lí, hiện thực oái oăm, diễn tả sâu sắc, thấm thía tình cảnh tủi cực, ngang trái của kiếp đời nô lệ, cuộc gặp gỡ
- Cá tính ấy lại được chính cuộc sống hoang dã của núi rừng cùng hoàn cảnh ở đợ làm thuê nhiều cực nhọc, vất vả hun đúc để A Phủ trở thành một chàng trai có tính cách mạnh mẽ, táo bạo, có thể chất dồi dào: khỏe, chạy nhanh như ngựa Biết làm mọi việc: đúc lưỡi cày, đục cuốc, đi săn bò tót rất bạo,
là thanh niên chăm chỉ, chịu khó, tháo vát
- A Phủ trở thành chàng trai Mông dũng cảm, niềm tự hào của trai làng, niềm ước ao của gái bản Con gái trong làng nhiều người mê, nhiều người nói: "Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu" Người ta ao ước đùa thế thôi, chứ A Phủ vẫn rất nghèo A Phủ không có cha, không có mẹ, không có ruộng, không có bạc, suốt đời làm thuê, làm mướn, phép làng và tục lệ cưới xin ngặt nghèo sẽ không cho A Phủ có cơ hội để lấy vợ Dù thế nhưng ngày Tết, cũng như bao trai làng khác, A Phủ vẫn cùng trai làng chơi xuân
VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI (TIẾT 3)
Trang 9MOON.V N
- Ở vùng núi cao, bọn chúa đất như thống lí Pá Tra là một thứ trời con, con trai thống lí là con trời, không ai dám đụng tới Nhưng A Phủ không sợ Với A Phủ, A Sử chỉ là đứa phá đám cuộc chơi, cần phải đánh Dám đánh lại A Sử – con trai thống lí chứng tỏ A Phủ không sợ cường quyền Dù phải trả một cái giá rất đắt cho hành động táo tợn ấy, nhưng là người đơn giản, A Phủ không quan tâm
- Dám làm, dám chịu, khi bị đánh, A Phủ chỉ quỳ chịu đòn, im như tượng đá, gan góc, sức chịu đựng phi thường
- Khi đã phải sống thân phận của kẻ làm công trừ nợ, A Phủ vẫn là một chàng trai của tự do, dù phải quanh năm một thân một mình "đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa " nhưng cũng là quanh năm A Phủ "bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng" làm phăng phăng mọi thứ, không khác với những năm tháng trước kia Khi rừng đói, vì mải bẫy nhím, để hổ bắt mất
bò, A Phủ điềm nhiên vác nửa con bò hổ ăn đó về A Phủ nói chuyện đi "lấy con hổ về" một cách thản nhiên và coi đó là một chuyện rất dễ dàng A Phủ cãi lại thống lí cũng rất điềm nhiên: A Phủ không biết sợ các uy của bất cứ ai Con hổ hay thống lí Pá Tra cũng thế thôi Kể cả khi lẳng lặng đi lấy cọc và dây mây, rồi đóng cọc để người ta trói đứng mình chết thế mạng cho con vật bị mất, A Phủ cũng làm các việc ấy một cách thản nhiên, không nói Là người mạnh mẽ và gan góc, A Phủ không sợ cả cái chết
* Nhân vật mang vẻ đẹp khoẻ khoắn, cá tính, bản lĩnh, gan góc, tiềm ẩn sức sống, sức mạnh phản kháng, chống bạo tàn của thanh niên lao động miền núi
+ Nhân vật A Phủ là một đóng góp mới của tác giả về phương diện xây dựng nhân vật
Sở trường quan sát nhạy bén và khả năng thiên phú trong việc nắm bắt cá tính con người là hai yếu
tố đã giúp nhà văn, chỉ với mấy nét đơn sơ mà tạo dựng được một hình tượng đặc sắc
3.3 Cha con thống lí Pá Tra, A Sử
Tuy là hai nhân vật thuộc tuyến phản diện, thực chất thống lí Pá Tra và A Sử chỉ là một, kẻ này là hậu thân của kẻ kia, chúng đều là hiện thân của CÁI ÁC Người đọc dễ dàng liên tưởng đến những điển hình phản diện ở miền xuôi của văn học hiện thực phê phán như Nghị Lại (của Nguyễn Công Hoan), Nghị Quế (của Ngô Tất Tố), Nghị Hách (của Vũ Trọng Phụng), Bá Kiến (của Nam Cao) để
thấy rằng, Tô Hoài đã góp thêm một điển hình của miền núi để hoàn thiện bộ sưu tập phản diện ấy 3.3.1 Lai lịch nhân vật
Đời bố Pá Tra đã làm thống lý, đến Pá Tra bây giờ cũng làm thống lý – người cai quản một vùng bản
làng miền núi của người Mèo (như chức chánh tổng ở miền xuôi), quyền uy nhất vùng: “Nhà Pá Tra làm thống lý, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng”
3.3.2 Bản chất của Pá Tra
- Tàn ác tham lam đến lạnh lùng vô cảm
+ Mục đích bóc lột khống chế người dân để làm giầu và làm tăng thế lực
+ Thủ đoạn: Cho vay nặng lãi để bóc lột người dân một cách tàn ác, trói buộc người dân vào thân
phận nô lệ Thủ đoạn này truyền từ đời bố thống lí Pá Tra đến đời của Pá Tra : “Ngày xưa bố Mị lấy
mẹ Mị không có đủ tiền cưới phải đến vay nhà thông lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà cũng chưa trả được
nợ Người vợ chết cũng chưa trả hết nợ” Đến đời Pá Tra cũng cho vay nặng lãi (cho A phủ vay tiền) + Cách thu nợ tàn ác: Cướp đoạt tuổi thanh xuân của con người “Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho” Hoặc bắt đi ở để trừ nợ “Mày không có bạc trăm thì tao cho mày vay để mày ở nợ Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu con ngựa cho nhà tao Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi” + Cấu kết với thực dân để bóc lột người dân “Đồn Tây cho muối về bán”; “Ăn của dân nhiều”
+ Dùng thế lực cường quyền và bóng ma thần quyền để cai trị người dân Cường quyền là quyền lực của thống lí còn thần quyền là gọi con ma về nhận mặt con dâu gạt nợ, nô lệ trừ nợ Cảnh xử kiện bất
công quái gở: Pá Tra đi kiện, Pá Tra xử kiện, Pá Tra thắng kiện Bọn chức việc “Đục nước béo cò”
+ Đối xử độc ác phi nhân tính với người ở Trói người đánh người bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào (Đàn
bà bị trói bằng dây đay, đàn ông bị trói bằng dây mây…Có người còn trói vợ ba ngày đi chơi khi về
vợ đã chết Công việc của họ, phải làm luôn chân luôn tay, thân phận không bằng con trâu con bò… + Ghê rợn nhất là cung cách làm việc ác đến mức thản nhiên lạnh lùng của cha con tên chúa đất Ta
Trang 10MOON.V N
đã chứng kiến hàng loạt hành vi ghê rợn : chúng có thể vừa hút thuốc phiện vừa tra tấn người, vừa ăn uống vừa tiêu khiển bằng cách thưởng thức cảnh hành hạ con người, có thể co chân đạp thẳng vào mặt vợ, có thể trói và bỏ đói một người lực lưỡng ngoài trời sương muối cho đến tiều tụy, đến chết rũ xương Cách A Sử trói Mị: như đang bó một bó củi, hay đang trói, đang xích một con chó, vậy thôi Trói vợ xong, nó thản nhiên trang điểm (sửa cái vòng bạc trên cổ có những tua chỉ xanh đỏ, thắt lại cái thắt lưng có cái khoá bằng bạc ), tắt đèn, khép cửa, đi chơi hội Đó là một chuỗi việc làm của A
Sử Bình tĩnh, thản nhiên, lạnh tanh, cái ác đã ngấm vào máu
3.3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật Pá Tra
- Qua lời kể của các nhân vật khác : “Người ta thường nói nhà Pá Tra làm thống lí…” “Người nghèo
ở Hồng Ngài thì vẫn kể lại…” “Câu chuyện người ta vẫn kể…” Qua lời nói và hành động của nhân
vật Pá Tra Qua nghệ thuật tả cảnh : Cảnh xử kiện, cúng ma…Tô Hoài là nhà văn rất có sở trường về
tả cảnh (Thiên nhiên và con người miền núi)
- Dùng môtip đã quen thuộc và có phần công thức của truyện cổ dân gian, nhưng nhờ hết sức chân thực trong chi tiết và hết sức hợp lí trong mạch vận động mà Tô Hoài đã tạo được ấn tượng sâu đậm khi mô tả chân tướng CÁI ÁC Hình tượng, vì thế, có một sức sống thật độc đáo
4 Phân tích giá trị của tác phẩm
4.1 Giá trị hiện thực
Phản ánh bộ mặt giai cấp thống trị miền núi với tội ác về cường quyền và tội ác về thần quyền Phản ánh đời sống của người dân lao động nghèo khổ bị áp bức (đời sống tăm tối đau khổ)
Sự bùng lên đấu tranh tự phát bột phát - tự giác
Những nội dung hiện thực nói trên được thể hiện qua các hiện tượng Thống Lý Pá Tra, A Sử điển hình cho giai cấp thống trị, Mỵ và A- Phủ điển hình cho người nông dân lao động bị áp bức
4.2 Giá trị nhân đạo mới mẻ độc đáo
- Tố cáo thế lực thống trị, cường quyền, thần quyền đã liên kết để tước đoạt quyền sống, không chỉ tước đoạt quyền sống mà con cướp đi cả sức sống của con người, những con người đáng ra phải được hạnh phúc nhất Mỵ từ cô gái nết na xinh đẹp giàu sức sống trở thành một công cụ lao động biết nói mà không dám nói, A- Phủ từ một chàng trai khoẻ mạnh trở thành một nông nô có lúc cũng trở lên cam chịu mất cả sức sống
- Đồng cảm sâu sắc với số phận con người nghèo khổ miền núi trước cách mạng Niềm thương cảm trước những số phận đau khổ, bị chà đạp cả về thể xác và tinh thần (với niềm thương cảm sâu sắc, tác giả như đã hoá thân vào nhân vật Mỵ để nói lên những đau khổ, khát vọng của người phụ nữ này)
- Khám phá, phát hiện vẻ đẹp, phẩm chất người lao động, đặc biệt là khát vọng sống tự do Khẳng định, ca ngợi sức sống tiềm tàng, sức mạnh vùng lên giải phóng của người lao động bị áp bức (nôi dung trọng tâm thể hiện qua cả hai nhân vật: Mỵ và A- Phủ, đặc biệt là nhân vật Mỵ)
(Ở mỗi luận điểm: phân tích ở cả hai nhân vật, có sự đối chiếu, liên hệ khéo léo với các nhân vật đồng dạng khác trong văn học)
- Giải pháp đấu tranh xuất hiện mang ý nghĩa nhân đạo: con người có khả năng thực hiện những khát vọng của mình bằng con đường vùng lên đấu tranh (so sánh hình tượng nhân vật Mỵ với hình tượng nhân vật chị Dậu để thấy được tác phẩm văn học Cách mạng không chỉ phản ánh lý giải hiện thực mà còn góp phần cải tạo hiện thực)
+ A Phủ với tính cách gan góc, bộc trực, táo bạo thì lại được thể hiện bằng nhiều hành động,
Trang 11MOON.V N
- Ngòi bút sâu sắc và tinh tế khi soi vào tâm lí nhân vật => Diễn tả những xung động diễn biến của nội tâm nhân vật
- Ngòi bút tả cảnh đặc sắc, am tường những nét sinh hoạt, phong tục riêng
- Nghệ thuật kể chuyện cũng rất thành công, cách giới thiệu gây sự chú ý, tạo ấn tượng
- Ngôn ngữ sinh động và chọn lọc, có sáng tạo Lối văn giàu tính tạo hình, giọng kể, nhịp kể chậm, trầm lắng phù hợp với sự cảm thông, yêu mến hai nhân vật chính
“Ở Vợ chồng A Phủ, nhà văn đã có sự dụng công và thành công trong miêu tả, trong dựng
cảnh Ông đã dựng lên cho bạn đọc thấy diễn biến tâm lí cùng đời sống nội tâm của nhân vật qua hàng loạt chi tiết bên ngoài như một dáng ngồi, một cách ăn mặc, một vài câu hỏi, một cái nhìn, một bước đi… đến một tảng đá hay một ô cửa sổ… khi miêu tả như thế, do đã được nhập vào với số phận của nhân vật, thuộc được hoàn cảnh sống đầy biến động và đổi thay của nhân vật, nhà văn đã định ra được một cách tự nhiên một mạch lời kể chuyện vừa phù hợp với tâm lý riêng của họ, vừa mang sự
gãy gọn của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại” (Nguyễn Quốc Luân)
III Tổng kết
- Vợ chồng A Phủ là thành công có tính khai phá của Tô Hoài về đề tài miền núi trong nền văn
học mới Đời sống và con người miền núi đi vào tác phẩm với những nét bản chất, bằng tình cảm yêu mến và cái nhìn nhân đạo tích cực, quan điểm giai cấp rõ ràng
- Tư tưởng nhân đạo cách mạng thấm nhuần ý thức giai cấp, phát hiện khát vọng sống, khả năng giác ngộ và con đường đi tới Cách mạng của người dân miền núi, đề cao tình hữu ái giai cấp, sự đồng cảm của những con người nghèo khổ cùng cảnh ngộ, đó là những điểm đáng chú ý trong thành công của tác phẩm này
- Khi những dòng cuối cùng của tác phẩm khép lại, trong ta như vẫn còn văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng, tiếng trẻ con nô đùa cười ầm trước sân, cảnh uống rượu trong nhà thống lí Pá tra, cảnh trai gái hẹn hò ngày Tết, cảnh cô dâu lúc nào mặt cũng cúi Thế giới Tây Bắc xa xăm với những cảnh, những việc, những người vẫn không nguôi đọng lại trong tâm trí mỗi người Nếu không gắn bó sâu sắc với hiện thực, không sẵn lòng cảm thông, chia sẻ, không có một bút lực dồi dào, khó
có thể nào viết được những trang văn đặc sắc như vậy
Trang 12MOON.V N
Dạng đề 1: Phân tích một chi tiết, hình ảnh…
Dạng đề 2: Phân tích nhân vật
Dạng đề 3: Phân tích một khía cạnh giá trị tác phẩm (giá trị nhân đạo mới mẻ độc đáo của tác
phẩm, giá trị hiện thực sâu sắc, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật)
Dạng đề 4: Phân tích một trích đoạn (đêm tình mùa xuân, đêm mùa đông cắt dây trói cho A Phủ) Dạng đề 5: Dạng đề liên kết (So sánh hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ chồng A
Phủ” và “Vợ nhặt”; so sánh hai đoạn trích; so sánh nhân vật Pá tra, Bá Kiến…)
GỢI Ý CÁCH LÀM CÁC DẠNG BÀI
Dạng 1: Cách làm bài: các ý cơ bản cần đảm bảo
Ý 1: tái hiện chi tiết, tình tiết, hình ảnh, vị trí và tình huống mà chi tiết xuất hiện
Ý 2: Phân tích ý nghĩa biểu đạt về nội dung và nghệ thuật của chi tiết, hình ảnh
Ý 3: Đánh giá sự đặc sắc của chi tiết hình ảnh trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm, trong thành công của nghệ thuật tác phẩm
Ví dụ: Chi tiết tiếng sáo được nhắc đến nhiều lần
+ Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi
+ Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng
+ Mà tiếng sao gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường
+ Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi,
Mị sống lại với những kỉ niệm ngày trước Nếu như trước đây, Mị tồn tại trong trạng thái vô hồn, vô cảm, với cảm thức phi thời gian, thì bây giờ Mị đã có ý thức về thời gian, trái tim đã đập những nhịp bồi hồi, xao xuyến, thôi thúc Mỵ bất chấp cảnh ngộ, muốn đi chơi
+ Có quan hệ mật thiết với quá trình diễn biến tâm lí của Mị, là động lực thúc đẩy Mị đi đến hành động chuẩn bị đi chơi xuân
+ Thể hiện tư tưởng của tác phẩm: sức sống con người cho dù bị giẫm đạp, trói buộc nhưng vẫn luôn
âm ỉ chờ cơ hội bùng lên giá trị nhân đạo
2- Chi tiết căn buồng Mị
- Đó là căn buồng “kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”
- Ý nghĩa tả thực: là nơi Mị sống hằng ngày, chật chội và tù túng
- Ý nghĩa biểu tượng: Như một nhà tù đã giam hãm cuộc đời và tuổi xuân của Mị, làm tê liệt ý thức sống, ý thức phản kháng của Mị Sống ở đó Mị đã mất hết ý thức về thời gian, không còn nghĩ đến quá khứ hiện tại, tương lai mà xem “mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”, ngày càng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Phản ánh cuộc sống đen tối, mờ mịt của người lao động miền núi dưới ách thống tị của cường quyền và thần quyền Giá trị hiện thực, tố cáo
3- Chi tiết lá ngón
Mị nghĩ đến lá ngón 3 lần:
- Lần 1: “Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng, Mị vẫn giấu
trong áo”- định ăn lá ngón để tự tử -> ý thức về cuộc sống tủi nhục của mình -> không chấp nhận
kiếp sống “người-vật”
VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI (TIẾT 4)
Trang 13+ Tự mình tìm đến lá ngón – độc dược của rừng xanh là sự can đảm của người con gái Nhưng ném
đi độc dược để tiếp tục sống khổ lại càng can đảm hơn Đối với Mị, thà chết đi hơn sống nhục, nhưng rồi lại thà sống nhục còn hơn bất hiếu Chính chữ hiếu là bản lĩnh cao đẹp nơi người con gái trẻ + “Lá ngón” như vậy, đã mang một tầng ý nghĩa nhân sinh tuy bản thân tượng trưng cho cái chết Tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát chính là hành động để khẳng định lòng ham sống, khát vọng tự do Điều đó cho thấy, phải tha thiết sống lắm thì khi mất nó người ta mới muốn chết ngay đi Còn khi niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc đã băng giá lại thì cũng chẳng còn gì thúc đẩy người ta nghĩ về cái chết Đó là lí do cắt nghĩa vì sao khi người cha đã mất rồi mà ý nghĩ về nắm lá ngón không trở lại với Mị, chừng nào cô còn là một cái bóng vật vờ trôi theo guồng công việc
và không còn nhớ đến cả sự xót thương mình
- Lần 2 : “Lần lần, mấy năm sau, bố Mị chết Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn
lá ngón tự tử nữa Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”
Người thân duy nhất qua đời nhưng cái thôi thúc giải thoát trong Mị nay đã tắt Mị không còn nghĩ đến đấu tranh bởi lẽ sống hay chết đối với cô lúc này không quan trọng nữa và đương nhiên “lá ngón” cũng chẳng còn trong tâm trí đã ngủ quên Đó chính là sự xuất hiện lần thứ hai của “lá ngón”
vì ở lần này, “lá ngón” xuất hiện bằng cách ra đi Lá ngón phai mờ tượng trưng cho sự ham sống đã nguội lạnh
- Lần 3 : Trong đêm tình xuân: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay,
chứ không buồn nhớ lại nữa”
+ Tiếng sáo gọi bạn làm Mỵ nhớ lại những tháng ngày tươi đẹp trong quá khứ
+ Mị lấy rượu ra uống “ực từng bát”- Mị đang uống khát khao, mơ ước, căm hận vào lòng, nhưng càng uống càng tỉnh, nhớ lại mình ngày xưa, so với mình hiện tại, giật mình cho những gì bấy lâu phải chịu đựng, ý thức cá nhân dâng lên mạnh mẽ, không thể chấp nhận nhục nhã đớn đau trong cái cảnh “sống không ra người”, không thể tự do thể xác, lá ngón một lần nữa xuất hiện Khi muốn giải
thoát, Mị tìm tới lá ngón; khi Mị muốn chết, lá ngón lại hiện về “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc
này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa” Lá ngón lại lần nữa xuất hiện với tầng
ý nghĩa giải thoát, nhưng được lên một nấc của “sự tự ý thức”, đánh dấu sự trở lại của ý thức sống, đánh dấu sự thức tỉnh của một tâm hồn tưởng chừng như đã “chết đi trong cõi sống”
+ Lần xuất hiện này của lá ngón là quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất Mị nghĩ đến lá ngón với sự
cương quyết tột cùng, trạng thái phẫn nộ và ý thức rõ nhất vì giờ đây, cô không còn gì để hối tiếc Tuổi xuân đầu đời – thời gian đẹp nhất – nay đã hết, cha già – nguồn yêu thương vô tận cũng không còn Lòng Mị nay là cõi chết Lá ngón đối với nàng không là liều thuốc độc, mà trở thành thứ
phương tiện, hình thức, con đường để đi đến một bến bờ khác không còn đớn đau, Mị tìm đến lá
ngón là tìm đến cái chết như một sự tự cứu và phản kháng
- Khái quát: chấm màu xanh lá ngón vào bức tranh xô bồ của thời cuộc, Tô Hoài đã đưa “lá ngón”
từ chỗ độc dược ngàn đời của núi rừng, là cái chết từ thiên nhiên, nay bỗng nhiên lại là sự giải thoát
Lá ngón xuất hiện ba lần với ba tầng ý nghĩa ngày càng sâu sắc hơn, dữ dội hơn Cái độc của lá ngón còn thua cái độc của xã hội Lá càng độc là đớn đau đồng bào chịu càng nhiều Lá ngón trở thành dấu hiệu báo động cho sự khẩn thiết, cầu cứu của đồng bào miền cao
Trang 14MOON.V N
+ Đánh giá: Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới
mẻ, độc đáo Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng So sánh với hình tượng phụ nữ khác
Phân tích nhân vật A Phủ
+ Tổng quát: Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân vật A Phủ trong việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
+ Phân tích: Số phận bất hạnh Phẩm chất:
+ Đánh giá: Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới
mẻ, độc đáo Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng
Dạng 3: Giá trị nhân đạo mới mẻ độc đáo
+ Phân tích dựa vào ba luận điểm
- Tố cáo thế lực thống trị, cường quyền, thần quyền đã liên kết để tước đoạt quyền sống của những con người đáng ra phải được hạnh phúc nhất
- Đồng cảm sâu sắc với số phận con người nghèo khổ miền núi trước cách mạng
- Khám phá, phát hiện vẻ đẹp, phẩm chất người lao động, đặc biệt là khát vọng sống tự do
+ Ở mỗi luận điểm: phân tích ở cả hai nhân vật, có sự đối chiếu, liên hệ khéo léo với các nhân vật đồng dạng khác trong văn học
Dạng 4: Phân tích đêm tình mùa xuân
Dựa vào phần kiến thức cơ bản, phân tích diễn biến tâm trạng của Mị, qua đó thấy được:
+ Khát vọng sống và khát vọng tự do mãnh liệt
+ Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế
Dạng 5: So sánh
1 So sánh hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt”
+ So sánh dựa trên các đặc điểm chủ yếu: Số phận và Phẩm chất
+ Qua so sánh thấy được đặc trưng thi pháp văn học kháng chiến, đồng thời làm rõ nét riêng trong giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của hai tác phẩm
2 So sánh nhân vật Pá tra và Bá Kiến
Nội dung chính
Phân tích nhân vật Bá Kiến
Lai lịch nhân vật: Nhà Bá Kiến bốn đời làm tổng lí Con trai hắn làm lí trưởng Bản thân Bá Kiến
làm lí trưởng rồi làm chánh tổng Hắn leo lên đỉnh cao của danh vọng “Bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại”
“Chánh hội đồng kì hào, huyện hào, Bắc kì nhân dân đại biểu” Hắn có phe cánh mạnh luôn đối địch
với bọn cường hào trong làng
Bản chất Bá Kiến
- Gian hùng, nham hiểm
- Thủ đoạn dùng người
- Ném đá giấu tay
- Đểu cáng tàn bạo, dâm ô đồi bại:
Nghệ thuật xây dựng nhân vật Bá Kiến là nhân vật điển hình
+ Bá Kiến có nét chung của giai cấp thống trị tham lam tàn bạo không từ một thủ đoạn nào để bóc lột người nghèo (giống Nghị Quế, Nghị Lại…)
+ Bá Kiến có nét riêng của tên ác bá gian hùng, nham hiểm, thủ đoạn (cái cười để thử dây thần kinh người, lối nói giả dối…)
+ Nghệ thuật độc đáo, sắc sảo của Nam Cao: Các nhà văn hiện thực khác chỉ chú ý miêu tả ngoại hình giai cấp thống trị, còn Nam Cao ít chú ý ngoại hình khi xây dựng nhân vật Bá Kiến Ông chủ
yếu khắc họa tâm địa “Cụ cười nhạt nhưng giòn giã lắm”, “Bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần kinh người”, “tiếng cười Tào Tháo”…
Tóm lại: Bá Kiến là nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị đương thời Bá Kiến là sự hội tụ những
nét tàn bạo, xảo quyệt, đểu cáng của bọn người bóc lột
Nhân vật Pá Tra
Lai lịch nhân vật: Đời bố Pá Tra đã làm thống lý, đến Pá Tra bây giờ cũng làm thống lý – người cai
quản một vùng bản làng miền núi của người Mèo (như chức chánh tổng ở miền xuôi), quyền uy nhất
Trang 15MOON.V N
vùng: “Nhà Pá Tra làm thống lý, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng”
Bản chất của Pá Tra: Tàn ác tham lam đến lạnh lùng vô cảm
+ Mục đích bóc lột khống chế người dân để làm giầu và làm tăng thế lực
+ Thủ đoạn: Cho vay nặng lãi để bóc lột người dân một cách tàn ác, trói buộc người dân vào thân phận nô lệ Cách thu nợ tàn ác Dùng thế lực cường quyền và bóng ma thần quyền để cai trị người dân Đối xử độc ác phi nhân tính với người ở
Nghệ thuật xây dựng nhân vật Pá Tra
Giống nhau: Bản chất tàn ác thâm hiểm của giai cấp bóc lột trong xã hội thực dân nửa phong kiến từ
đó thấy được giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc của tác phẩm Gợi căm phẫn trong lòng người đọc về xã hội bất công và mong ước xã hội công bằng Đây là điểm gặp gỡ của những nhà văn hiện thực và nhân đạo chủ nghĩa
Khác nhau
+ Về nội dung : Bá Kiến điển hình cho giai cấp thống trị ở miền xuôi trước cách mạng Tháng Tám trong không khí xã hội ngột ngạt, mâu thuẫn xung đột dữ dội Pá Tra tiêu biểu cho giai cấp thống trị miền núi, dưới chế độ phong kiến thổ ti, lang đạo, u mê
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nam Cao có nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, tài năng
diễn tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ trần thuật …Tô Hoài có tài năng ở nghệ thuật tả cảnh và phong tục tộc quán, cảnh xử kiện, cảnh sinh hoạt rất đặc trưng cho miền núi và tính cách nhân vật tiêu biểu cho
giai cấp thống trị lạnh lùng tàn ác phi nhân tính
Kết thúc vấn đề: Nam Cao xây dựng Bá Kiến thể hiện sức sáng tạo dồi dào của cây bút là bậc thầy
của chủ nghĩa hiện thực Ông được coi là “Đồng minh không ngờ của cách mạng” góp phần tố cáo
xã hội bất công Tô Hoài xây dựng thành công nhân vật Pá Tra mở ra cái hiện thực về chế độ phong
kiến bất công ở miền núi xưa như ông quan niệm “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự
thật”
Trang 16“Vợ nhặt”, tập truyện ngắn “Con chó xấu xí”,
- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn với đề tài chính là nông thôn và người nông dân Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của
họ - những con người gắn bó tha thiết với quê hương và Cách mạng Trong tác phẩm của Kim Lân ta thấy thấp thoáng cuộc sống của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà yêu đời, thật thà, chất phác,
2- Tác phẩm
2.1 Hoàn cảnh sáng tác/ Xuất xứ: “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962) Tiền thân của truyện là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”- được viết ngay sau CMT8 nhưng dang dở và thất lạc bản thảo Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện
cũ để viết truyện ngắn này
2.2 Tóm tắt
II Đọc hiểu văn bản
1 Tình huống truyện và ý nghĩa
1.1 Khái niệm, vai trò của tình huống truyện
- Có thể hiểu theo nghĩa rộng: tình huống truyện chính là bối cảnh, hoàn cảnh (không gian, thời gian, địa điểm…tạo nên câu chuyện)
- Theo nghĩa chặt chẽ của từ: tình huống là sự kiện đặc biệt của đời sống được tái hiện trong tác phẩm nhằm thể hiện sâu sắc tư tưởng chủ đề, khắc họa sâu tính cách nhân vật
- Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: tình huống hành động; tình huống tâm trạng; tình huống nhận thức Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính bước ngoặt của nhân vật; tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật; thì tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lý của nhân vật Tình huống càng độc đáo, mới lạ, càng giúp cho tác phẩm hấp dẫn, ấn tượng, sâu sắc với người đọc
1.2 Thâu tóm tình huống: Tràng - một gã trai ngèo khổ, thô kệch lại là dân ngụ cư - lâu nay ế vợ,
bỗng dưng nhặt được vợ mà lại là vợ theo hẳn hoi; Tràng có vợ vào lúc không ai lại đi lấy vợ
1.3 Diễn biến của tình huống: một chuỗi ngạc nhiên kế tiếp: người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, bà
cụ Tứ ngạc nhiên và cuối cùng, chính Tràng cũng ngạc nhiên
1.4 Tính chất và ý nghĩa của tình huống
1.4.1 Chuyện đùa mà không đùa: Hoàn cảnh tàn ác đang đem những chuyện hệ trọng thiêng liêng
vào bậc nhất của con người ra làm trò đùa, con người bị cuốn vào và rồi đã bước ra khỏi trò đùa kia với tư cách của Con người
1.4.2 Đám cưới ở giữa đám ma hay là sự sống nảy sinh giữa cái chết Cuộc tương tranh giữa Sự
sống và Cái Chết Cuộc tương tranh giữa Bóng Tối và Ánh Sáng
1.4.3 Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ lại vừa hợp lí Qua đó, tác phẩm
thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật
1.4.4 Đây là tình huống độc đáo, lạ khi mà anh Tràng thô kệch, nghèo mà lại lấy được vợ một cách
dễ dàng Và là một tình huống thật bi hài khi anh thanh niên này đi lấy vợ trong nạn đói khủng khiếp,
khi mà cái chết như đang cận kề Ý nghĩa: Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phong kiến, phát xít đã
đẩy nhân dân vào nạn đói, khiến giá trị con người trở nên thật rẻ rúng Ca ngợi nhân dân lao động: sự
VỢ NHẶT - KIM LÂN (TIẾT 1)
Trang 172.1.1 Thật vậy, xuất hiện trong tác phẩm, Tràng vốn là một gã trai nghèo, sống ở xóm ngụ cư,
có một mẹ già và làm nghề đẩy xe bò mướn Đã vậy,Tràng lại có một ngoại hình xấu xí, thô kệch với
“cái đầu trọc nhẵn”; “cái lưng to rộng như lưng gấu”; “hai con mắt gà gà, nhỏ tí” lúc nào cũng
đắm vào bóng chiều Thêm vào đó, tính tình của Tràng lại có phần “dở hơi” Có thể nói,Tràng có một cảnh ngộ thật bất hạnh và tội nghiệp
2.1.2 Diễn biến tâm lí của nhân vật Tràng Vậy mà, con người có thân phận thấp hèn ấy bỗng
nhiên lại trở thành một chú rể có thể coi là hạnh phúc: Tràng bỗng dưng có vợ Tràng có vợ bằng cách “nhặt” được chỉ qua hai lần gặp gỡ, vài câu nói đùa và bốn bát bánh đúc giữa ngày đói Qủa thật, chuyện lấy vợ của Tràng là một lạ mà thú vị - đùa mà thật , thật mà cứ như đùa
- Lúc đầu, khi người phụ nữ đói nghèo, rách rưới đồng ý theo không Tràng về làm vợ, Tràng không
phải không biết “chợn”: “Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không , lại còn
đèo bòng” Nhưng rồi anh ta chặc lưỡi “Chậc, kệ!” Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc
như phóng lao phải theo lao vậy.Việc hai người đến với nhau bề ngoài có vẻ ngẫu nhiên nhưng bên trong lại là tất nhiên: người đàn bà cần Tràng để có một chỗ dựa qua thì đói kém, còn Tràng cũng cần người phụ nữ nghèo ấy để có vợ và để biết đến hạnh phúc
- Trên đường đưa vợ về nhà, Tràng thật sự vui và hạnh phúc : “Trong một lúc, Tràng như quên hết
những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả đói khát đang đe doạ…Trong lòng hắn, lúc này chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên.Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông ấy…” Có thể nói , trong tác phẩm, có tới hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm vui và nụ cười thường trực của Tràng khi đã có vợ bằng các từ ngữ rất gợi tả và gợi cảm: mặt phớn phở, mắt sáng lên lấp lánh, miệng cười tủm tỉm…
- Chỉ sau một đêm “nên vợ nên chồng” Tràng thấy mình đổi khác “trong người êm ái , lửng lơ như người từ giấc mơ đi ra.Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ như không phải” Tràng “bỗng nhiên thấy thương yêu và gắn bó với căn nhà”; “Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con
đẻ cái ở đấy Cái nhà như tổ ấm che mưa che nắng…Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, thấy hắn
có bổn phận phải lo cho vợ con sau này…”
Niềm vui của Tràng thật cảm động, lẫn cả hiện thực và ước mơ “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” So với cái dáng “ngật ngưỡng” của
Tràng ở đầu tác phẩm, hành động “xăm xăm” này của Tràng là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ đau khổ sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức Tràng đã thật sự “phục sinh tâm hồn”- đó chính là giá trị lớn lao của hạnh phúc Có một hiện thực tuy chưa rõ nét nhưng đã hiện ra ở cuối tác phẩm, trong suy nghĩ của
Tràng “cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm” Đoàn người đi phá kho thóc của Nhật và lá cờ Việt Minh Đây là hiện thực nhưng cũng là ước
mơ về một tương lai hướng về Đảng về cách mạng của tràng và những người như Tràng
3 Kết bài: Tóm lại, Kim Lân miêu tả tâm trạng nhân vật Tràng xoay quanh tình huống nhặt vợ hết
sức đặc biệt Cũng từ đó, hình tượng nhân vật Tràng có vai trò lớn trong việc thể hiện tư tưởng chủ
đề của tác phẩm: Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết mà luôn nghĩ đến sự sống
Cũng qua Tràng và câu chuyện nhặt vợ của anh, nhà văn giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của những người dân lao động nghèo :đó là vẻ đẹp tình người và niềm tin tưởng vào tương lai
Trang 18MOON.V N
CÁCH 2
2.1 Vị trí của nhân vật
Tràng là nhân vật chính trong Vợ nhặt Câu chuyện ở đây là câu chuyện của chính anh Phân tích
nhân vật, có nghĩa là phân tích toàn diện một con người trong văn học, từ lai lịch, diện mạo cho đến ngôn ngữ, hành động, tâm trạng Tuy nhiện, anh Tràng là một người lao động rất bình thường, tính cách đơn giản, khác với bà cụ Tứ, anh ít có những suy nghĩ bên trong Khi phân tích, tập trung vào mấy điểm:
2.1.1 Lai lịch, ngoại hình
- Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê, nuôi mẹ già Dân cư ngụ là nhưng người vốn từ nơi khác đến Vì thế, dân cư ngụ không có ruộng đất, những thứ vô cùng quan trọng đối với người nông dân thời xưa Đã vậy, họ còn bị phân biệt đối xử, thường phải ở nơi bìa làng, hoặc ở chỗ hẻo lánh Nhà cửa của anh ta, cái được gọi là “nhà” thì luôn vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại Hơn nữa, vì là dân ngụ cư, Tràng bị coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về
- Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch Mỗi buổi chiều về, hắn bước ngật ngưỡng trên con đuờng khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào bên trong bến Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn Còn đầu của Tràng thì cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cuời cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệnh
2.1.2 Tính cách
- Tràng là người vô tư, nông cạn
+ Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên Rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi Khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch Anh với lũ trẻ con như anh em, bè bạn và cái xóm ngụ cư ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một chút
+ Ngay cả chuyện quan trong như lấy vợ, Tràng cũng chỉ quyết định trong chốc lát Đó là lần gò lưng kê cái xe thóc vào dốc tỉnh, Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc Chủ tâm của anh ta là vui đùa Thế rồi, một người đàn bà đang đói bám lấy để được ăn bánh, Tràng cũng vui vẻ chấp nhận Lần thứ hai, cô ta tới ăn vạ, Tràng chấp nhận đưa về nhà để thành… vợ chồng! Xưa nay chưa có ai quyết định việc lấy vợ nhanh chóng như Tràng!
- Tràng là người đàn ông nhân hậu phóng khoáng
+ Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ Thấy người đàn bà đói, anh cho ăn Khi thấy thị quyết theo mình thì Tràng vui vẻ chấp nhận Tràng lấy vợ trước hết vì lòng thương đối với một con người đói khát hơn mình
+ Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê… Anh còn mua hai hào dầu thắp để vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí
+ Lấy nhau chẳng phải vì tình, lại “nhặt vợ” một cách dễ dàng, nhưng không vì thế mà Tràng coi thường người vợ của mình Anh muốn làm cho người ấy được vui (khoe mua dầu về thắp sáng), có lúc muốn thân mật nhưng không dám suồng sã Tràng trân trọng, nâng niu hạnh phúc mà mình có được: trong chốc lát, Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt ve nhẹ trên sống lưng
- Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm
+ Anh ngoan ngoãn với mẹ, tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác Đặc biệt, đối với Tràng, có vợ là bước sang một quãng đời khác: sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy Trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong mơ đi ra
Trang 19MOON.V N
+ Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biết việc trước mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay Trong ý nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ to lắm Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong
óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới Tràng đã mở đầu cho câu chuyện Vợ nhặt bằng những bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào buổi chiều chạng vạng mặt người và cũng chính anh đã kết thúc câu chuyện ấy vào buổi sớm mai với một hình ảnh mới lạ về đoàn người nghèo đói vùng lên dưới bóng lá cờ đỏ bay phấp phới
2.1.3 Số phận
- Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám Khi chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ (con trai lão Hạc trong tác phẩm cùng tên Nam Cao cũng vì nghèo không lấy vợ, phẫn chí mà bỏ đi làm mộ phu), trong nạn đói lại lấy vợ, niềm hạnh phúc đan xen với bất hạnh
- Cuộc đời của những người như Tràng nếu không có một sự thay đổi mang tính đột biến của cả xã hội sẽ sống mãi trong sự tăm tối, đói khát Ở Tràng, tuy chưa có được sự thay đổi đó, nhưng cuộc sống đã bắt đầu hé mở cho anh một hướng đi Đó là con đường đến với cách mạng một cách tự nhiên
và tất yếu mà những người như Tràng sẽ đi và trong thực tế lịch sử, người nông dân Việt Nam đã đi
2.1.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn
- Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật Tràng với đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động, đặc biệt là diễn biến tâm trạng của Tràng bằng ngòi bút sắc sảo Anh chàng phu xe cục mịch nhưng có một đời sống tâm lý sống động, khi hãnh diện, cái mặt vênh vênh tự đắc với mình bởi vừa mới nhặt được vợ, lúc lật đật chạy theo người đàn bà, như người xấu hổ chạy trốn, hay lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia, cũng có khi lòng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên Anh thô kệch nhưng không sỗ sàng, trái lại biết ngượng nghịu, biết sợ, nhất là biết lo nghĩ cho cuộc sống về sau
- Qua nhận vật Tràng, không những nhà văn phản ánh một mặt trận đen tối trong hiện thực xã hội trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo mà còn phát hiện vẻ đẹp tâm hồn của họ Kim Lân đã tiếp nối những trang viết giàu chất nhân bản về người lao động bình thường của những nhà văn trước đó như Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nam Cao
Trang 202.2.2 Về cảnh ngộ, xuất hiện trong tác phẩm, người vợ nhặt không tên tuổi, không quê hương,
không gia đình, không nghề nghiệp… Từ đầu đến cuối tác phẩm chị chỉ được gọi bằng cô ả, thị,
người đàn bà…
- Chân dung không mấy dễ nhìn, gầy vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo thì rách như tổ đỉa
2.2.3 Về tính cách, trước khi trở thành vợ Tràng, thị là một người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo
và liều lĩnh Lần gặp đầu tiên, thị chủ động làm quen ra đẩy xe bò cho Tràng và “liếc mắt cười tít” với Tràng Lần gặp thứ hai, thị “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói” và lại còn “đứng cong cớn” trước
mặt Tràng Đã vậy, thị còn chủ động đòi ăn Khi được Tràng mời ăn bánh đúc, thị đã cúi gằm ăn một mạch bốn bát bánh đúc Ăn xong còn lấy đũa quẹt ngang miệng và khen ngon…Cái giỏi của Kim Lân là miêu tả người đàn bà vừa xấu- nghèo- đói- rách- chao chát- chỏng lỏn- thô tục…nhưng người
ta vẫn không có cảm giác khinh thường Cách viết của nhà văn cứ khiến ta hiểu rằng, tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng cũng là vì đói Cái đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người Nhà văn thật sự xót xa và cảm thông cho cảnh ngộ đói nghèo của người lao động Bởi vì khi trở thành vợ Tràng, thị đã trở về với chính con người thật của mình là một người đàn bà hiền thục, e lệ, lễ phép, đảm đang
+ Điều đó được thể hiện qua dáng vẻ bẽn lẽn đến tội nghiệp của thị khi bên Tràng vào lúc trời chạng vạng (thị đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, “rón rén, e thẹn” , ngượng nghịu,“chân nọ bước díu cả vào chân kia” ) thật tội nghiệp cho cảnh cô dâu mới theo chồng về
nhà: một cảnh đưa dâu không xe hoa, chẳng cỗ cưới mà chỉ thấy những khuôn mặt hốc hác u tối của những người trong xóm và âm thanh của tiếng quạ, tiếng khóc hờ người chết tang thương…
+ Người đàn bà khốn khổ này trao thác thân phận mình cho Tràng chỉ bằng bốn bát bánh đúc và một câu nói đùa → đến với Tràng trước hết như đến với một nơi chốn có thể nương tựa lúc đói kém
… Kim Lân đã rất tinh khi thi thoảng điểm vào truyện một vài thất vọng thầm kín của người vợ nhặt
ấy trước gia cảnh khốn cùng của nhà chồng :
+ Một tiếng thở dài cố nén trong cái ngực gầy lép nhô hẳn lên, trước túp nhà rách nát và rúm ró + Cách nhếch mép cười nhạt nhẽo và nét mặt bần thần khi bước vào nơi ở của anh chàng vừa nãy thôi còn vỗ túi hớn hở “rích bố cu”
+ Hai con mắt thoáng tối lại khi được bà lão mời ăn cháo cám
- Chị đã trở thành một người đàn bà khác kể từ khi làm vợ Tràng (so với Tràng, người vợ nhặt đến với cuộc sống gia đình với nhiều phấp phỏng hơn)
+ Trên con đường (“đưa dâu”) từ chợ về qua xóm ngụ cư, người đàn bà cong cớn trơ trẽn ở chợ bỗng trở nên e dè, ngượng ngập, và có khó chịu lắm trước những tò mò trêu chọc thì cũng chỉ dám càu nhàu trong miệng – khẽ đến mức Tràng đi bên cạnh cũng không nghe thấy
+ Đôi mắt tư lự khi bỡ ngỡ đặt bước chân lên con đường mới, dáng điệu khép nép ngồi mớm ở mép giường và tiếng chào u lúng túng … -> Người đàn bà gầy rạc, xám xịt và rách rưới kia bỗng có cảm giác của một nàng dâu mới
+ Sự thay đổi ở người vợ nhặt khiến Tràng phải ngạc nhiên : “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không còn gì là vẻ chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh”
VỢ NHẶT - KIM LÂN (TIẾT 2)
Trang 21- Một chi tiết khiến người đọc không thể quên ở người vợ nhặt là chi tiết chi bưng lấy bát chè cám
mà người mẹ chồng đưa cho Hai con mắt chị “tối lại” nhưng ngay lúc đó chị “điềm nhiên và vào miệng” → Chị không muốn làm mất đi niềm vui của người mẹ già nua kia => Người vợ nhặt vô danh nhưng không vô nghĩa Bóng dáng của chi hiện lên gợi lên một sự ấm áp Chị mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tối tăm bên bờ cõi chết
- Sau một ngày làm vợ, chị dậy sớm, quét tước, dọn dẹp cho căn nhà khang trang, sạch sẽ Đó là hình ảnh của một người vợ biết lo toan, thu vén cho cuộc sống gia đình – hình ảnh của một người vợ hiền, một cô dâu thảo
+ Trong bữa cơm cưới giữa ngày đói, chị tỏ ra là một phụ nữ am hiểu về thời sự khi kể cho mẹ và chồng về câu chuyện ở Bắc Giang người ta đi phá kho thóc của Nhật Chính chị đã làm cho niềm hy vọng của mẹ và chồng thêm niềm hy vọng vào sự đổi đời trong tương lai
- Tóm lại, người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không tên gọi, không người thân ấy đã thật
sự đổi đời bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái của Tràng và mẹ Tràng Bóng dáng của thị hiện ra tuy không lộng lẫy nhưng lại gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình Phải chăng thị đã mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối của những người nghèo khổ bên bờ của cái chết…
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật: đặt nhân vật trong tình huống “nhặt được vợ” vừa lạ vừa tội nghiệp,
cùng với khả năng phân tích tâm lí sắc sảo, ngòi bút Kim Lân đã đi sâu khơi tìm đằng sau hiện thực khốn quẫn là vẻ đẹp tâm hồn của con người, một vẻ đẹp tiềm ẩn, khó thấy, khuất lấp của người phụ
nữ bên cạnh số phận đau khổ, cảnh sống khốn cùng, trong đó, tâm điểm nghệ thuật của Kim Lân là khát vọng sống mãnh liệt, là những căn tích tốt đẹp bây lâu bị cái đói làm cho chìm khuất
2.3.3 Bối cảnh – tình huống và diễn biến tâm trạng của bà cụ:
Bà cụ Tứ lần đầu tiên xuất hiện trong thiên truyện là lúc bóng hoàng hôn tê tái phủ xuống xóm ngụ
cư giữa ngày đói Cùng lúc đó, người con trai đáng thương của bà làm nghề đẩy kéo xe trên huyện, đưa một người đàn bà lạ về nhà
+ Ban đầu, bà ngỡ ngàng trước việc có một người phụ nữ lạ xuất hiện trong nhà mình Trạng thái ngỡ ngàng của bà cụ được nhà văn diễn tả bằng hàng loạt những câu nghi vấn: “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia? Sao lại chào mình mình bằng u? ” sự cùng quẫn của hoàn cảnh đã đánh mất ở người mẹ sự
nhạy cảm vốn có trước hạnh phúc của con, có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến cảnh con bà có vợ + Sau khi hiểu ra cơ sự, bà lão không nói gì mà chỉ “cúi đầu im lặng”- một sự im lặng chứa đầy nội tâm: xót xa, buồn vui, lo lắng, thương yêu lẫn lộn Bà mẹ đã tiếp nhận hạnh phúc của con bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giá của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh
- Bằng lòng nhân hậu thật bao dung của người mẹ, bà nghĩ :“Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không?”.Trong chữ “chúng nó” , người mẹ đã đi từ lòng thương con trai
để ngầm chấp nhận người đàn bà lạ làm con dâu của mình
- Rồi tình thương lại chìm vào nỗi lo , tạo thành một trạng thái tâm lý triền miên day dứt : bà nghĩ đến bổn phận chưa tròn , nghĩ đến ông lão, đến con gái út, nghĩ đến nỗi khổ của đời mình, nghĩ đến tương lai của con …để cuối cùng dồn tụ bao lo lắng – yêu thương trong một câu nói giản dị :
“ Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”
- Sau một ngày con trai có vợ, người mẹ giàu lòng thương con ấy thật sự vui và hạnh phúc trước hạnh phúc của con : bà cùng con dâu dọn dẹp, thu vén căn nhà ; trong bữa cơm ngày đói, bà toàn nói
Trang 22MOON.V N
chuyện vui để xua đi thực tại hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho con :“Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà …”
+ Thật cảm động, khi Kim Lân để cái ánh sáng kỳ diệu của tình mẫu tử toả ra từ nồi cháo cám :
“Chè khoán đây, ngon đáo để cơ” Chữ ‘ngon”này không phải là xúc cảm về vật chất (xúc cảm về vị cháo cám) mà là xúc cảm về tinh thần : ở người mẹ, niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát của cháo cám thành ngọt ngào Chọn hình ảnh nồi cháo cám, Kim Lân muốn chứng minh cho
cái chất NGƯỜI của người dân lao động : trong bất kỳ hoàn cảnh nào , tình nghĩa và hy vọng của con người vẫn không thể bị tiêu diệt – con người vẫn muốn sống cho ra sống Chính chất NGƯỜI đã thể hiện ở cách sống tình nghĩa và hy vọng
+ Tuy nhiên niềm vui của bà cụ Tứ trong hoàn cảnh ấy vẫn là niềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với nồi cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ”
2.3.4 Khái quát
Có thể nói, nhân vật bà cụ Tứ là một nhân vật tiêu biểu cho vẻ đẹp tình người và lòng nhân ái mà
Kim Lân đã gửi gắm trong tác phẩm “Vợ nhặt”.Thành công của nhà văn là đã thầu hiểu và phân tích
được những trạng thái tâm lý khá tinh tế của con người trong một hoàn cảnh đặc biệt Vượt lên hoàn cảnh vẫn là một vẻ đẹp tinh thần của những người nghèo khổ “Vợ nhặt” là ca về tình người của những người nghèo khổ, đã biết sống cho ra người ngay giữa thời túng đói quay quắt
Trang 23MOON.V N
3 Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt ( Kim Lân)
3.1 Giới thiệu vắn tắt về Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt
Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí
Vợ nhặt có tiền thân là truyện Xóm ngụ cư – viết ngay sau Cách mạng tháng Tám Bản thảo chưa in
thì bị thất lạc, sau này được tác giả viết lại
3.2 Giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt
- Bối cảnh của truyện ngắn Vợ nhặt là khung cảnh nông thôn Việt Nam vào một thời kì ngột ngạt và đen tối nhất- đó là nạn đói năm Ất Dậu 1945 Bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật buộc người nông dân phải nhổ lúa và hoa màu để trồng đay, phục vụ cho nhu cầu chiến tranh Người dân các tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ lâm vào nạn đói khủng khiếp, gần hai triệu người chết đói Hiện thực đau thương
đó đã được phản ánh trong nhiều truyện của Nguyên Hồng, Tô Hoài và thơ của Văn Cao… Nhà văn
Kim Lân cũng góp tiếng nói tố cáo của mình trong tác phẩm Vợ nhặt
- Đặc sắc nghệ thuật của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt là mặc dù không có một dòng nào
tố cáo trực tiếp tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, hình ảnh của chúng cũng không một lần xuất hiện, nhưng tội ác của chúng vẫn hiện lên một cách rõ nét Khung cảnh làng quê ảm đạm, tối tăm Những căn nhà úp súp Những xác chết nằm còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…
- Cuộc sống của người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng Tính mạng của con người lúc này thật
rẻ rúng, người ta “nhặt” được vợ giống như nhặt cái rơm, cái rác ở bên đường Thông qua tình huống truyện lấy vợ của Tràng, Kim Lân không chỉ nói lên được thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam trước Cách mạng, mà còn thể hiện được thân phận đói nghèo, bị rẻ rúng của người nông dân trong chế độ xã hội cũ (Chú ý phân tích cảnh bữa cơm đón nàng dâu mới ở nhà Tràng vào thời điểm đói kém: giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo…rồi nồi “ chè khoán” nấu bằng cám) Ở phần cuối của tác phẩm, những nhân vật nghèo khó này cũng khao khát sự đổi thay về số phận Chúng ta cũng thấy thoáng hiện lên niềm dự cảm của tác giả về tương lai, về cách mạng (qua hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và những đoàn người đi phá kho thóc của Nhật)
3.3 Giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt
- Kim Lân đã viết về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trước cách mạng với một niềm đồng cảm, xót xa, day dứt Nếu không có một tình cảm gắn bó thực sự với người nông dân, không trải qua những năm tháng đen tối ấy, không dễ gì viết nên được những trang sách xúc động và thấm thía đến thế
- Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn được thể hiện ở chỗ, nhà văn đã phát hiện và miêu tả những phẩm chất tốt đẹp của người lao động Mặc dù bị xô đẩy đến bước đường cùng, mấp mé bên cái chết, nhưng những người nông dân vẫn cưu mang, giúp đỡ nhau, chia sẻ cho nhau miếng cơm, manh áo Hiện thực cuộc sống càng đen tối bao nhiêu (chú ý phân tích cảnh bà cụ Tứ chấp nhận cô con dâu mới trong lúc gia đình cãng đang rất khó khăn, không biết sống chết lúc nào, để làm nổi rõ tình người của họ)
- Kim Lân cũng thể hiện một sự trân trọng đối với khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và mái ấm gia dình của người nông dân
Trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng bà cụ Tứ và vợ chồng Tràng vẫn luôn hướng tới một cuộc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc (cần chú ý những chi tiết diễn tả tâm trạng bà cụ Tứ, thái độ của Tràng,
vợ Tràng trong bữa ăn, rồi nhà cửa, sân vườn đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn ghẽ) Một cái
VỢ NHẶT - KIM LÂN (TIẾT 3)
Trang 24- Xây dựng nhân vật: diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế;
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp với tính cách nhân vật, một thứ ngôn ngữ như được bứng lên
từ ruộng đồng còn hăng mùi cỏ rả Nào là những bước đi ngật ngưỡng, vẻ mặt phớn phở, cử chỉ ngửa cổ cười hềnh hệch hình như những cái đó chỉ có ở riêng các nhân vật Kim Lân
- Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, kịch tính…
III Kết luận
Vợ nhặt là một tác phẩm thành công của nhà văn Kim Lân Qua tác phẩm này, chúng ta không chỉ
nhận thấy tài năng của nhà văn, sự hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ của ông về cuộc sống của người nông dân, mà điều quan trọng hơn đó chính là cái tâm, cái tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng của Kim Lân đối với những người lao động nghèo khó trước Cách mạng
Trang 25MOON.V N
Dạng đề 1
1- Ý nghĩa chi tiết bữa ăn ngày đói Ý nghĩa nồi cháo cám
- Bữa ăn ngày đói thật thảm hại Trên cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối
ăn với cháo lõng bõng Bà mẹ Tràng còn chuẩn bị một nồi cháo cám “đắng chát, nghẹn bứ” mà bà gọi là “chè khoán ngon đáo để”
thực dân, phong kiến
+ Thể hiện tình người cao đẹp: Cưu mang đùm bọc lẫn nhau giúp họ vượt qua được bóng tối đang
trị nhân đạo + Khát vọng sống mãnh liệt của con người dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất
+ Khát khao hạnh phúc, mái ấm gia đình
2- Ý nghĩa chi tiết cuối truyện “Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói
ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm”
- Kim Lân đã thể hiện rất hay tình cảm của hàng triệu nông dân Việt Nam hướng về cách mạng Cứu đói, cứu khổ, cứu đời và đem đến độc lập, tự do cho dân tộc chính là sự xuất hiện lá cờ đỏ ấy Đồng thời cũng thể hiện mối quan hệ giữa cách mạng và quần chúng nhân dân: Quần chúng là sức mạnh lớn lao, là lực lượng đông đảo để tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược cứu nước Nhưng sức mạnh ấy sẽ không thể phát huy tối đa nếu không có lá cờ đỏ của Cách mạng là ánh sáng dẫn đường Chi tiết còn thể hiện niềm tin của nhà văn vào tương lai, một hi vọng sẽ đổi đời
Dạng đề 2: Hãy phân tích truyện ngắn Vợ nhặt để làm sáng tỏ ý kiến sau:“Dù bị đẩy vào hoàn cảnh
khốn cùng những người dân xóm ngụ cư vẫn yêu thương và khao khát hạnh phúc”
II Giải quyết vấn đề
- Truyện ngắn “Vợ nhặt” được in trong tập “Con chó xấu xí”, xuất bản năm 1962, tiền thân là truyện
“Xóm ngụ cư” Sau này tác phẩm được KL viết lại và đổi tên.- Toàn bộ câu chuyện xoay quanh tình huống: anh cu Tràng dân xóm ngụ cư nhặt được vợ trong những ngày tối sầm vì đói khát " Qua đó nhà văn muốn thể hiện cái nhìn chân thực về cuộc sống và số phận của người nông dân trong nạn đói
1945 và vẻ đẹp sâu sắc trong tâm hồn họ
1 Hoàn cảnh khốn cùng
- Bức tranh ngày đói được dựng lên bằng: hình ảnh, âm thanh, mùi vị.· Câu chuyện mở ra trong không khí thê thảm của người đói Cái đói đã hiện ra ở những hình ảnh ghê rợn thảm thương: bóng người xanh xám như bóng ma Cái đói làm cho con đường về làng trở nên khẳng khiu, lũ trẻ ngồi ủ
rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích.· Âm thanh của tiếng quạ kêu cứ gào lên từng hồi thê thiết càng khiến bức tranh ngày đói trở nên ảm đạm.· Bao trùm lên toàn bộ bức tranh ngày đói là mùi thối của rác rưởi và mùi gây của xác người." Tất cả những âm thanh, hình ảnh, mùi vị đó gợi lên bầu không khí chết chóc của cõi âm, cõi địa ngục Qua những trang văn của KL ta như được trải lòng
VỢ NHẶT - KIM LÂN (TIẾT 4)
Trang 26MOON.V N
cùng nỗi đau của cả dân tộc.- Không chỉ dừng lại ở bức tranh chung, cái đói thực sự lan đến từng gia đình, đe dọa từng sinh mạng.· Trong những ngày đói, miếng ăn trở thành vấn đề cấp thiết Tất cả mọi người đều lo lắng cho sự tồn tại, giằng co giữa sự sống và cái chết Ranh giới ấy thật mong manh Cái đói đã đẩy người lao động đến bước đường cùng: giá trị con người trở nên rẻ rúng đến thảm hại Người ta có thể nhặt được vợ như nhặt bất kì cái rơm cái rác vương trên đường Tràng chỉ bằng bốn bát bánh đúc và mấy lời tầm phào, tầm phơ mà lấy được vợ." Cái đói đã đẩy người vợ nhặt đến bước đường cùng, làm xấu đi cả nhân hình, nhân tính Vì đói mà thị tả tơi, gầy sọp hẳn đi đến Tràng cũng không nhận ra Vì đói mà thị trơ tráo bám lấy Tràng, gạ gẫm miếng ăn dù mới quen biết Và thị đã không ngần ngại theo Tràng về nhà khi anh ta nói đùa “có về với tớ thì ra khuôn hàng lên xe cùng về” Thân phận con người đã đẩy xuống hạng bèo bọt.· Cái đói còn hiện ra thảm hại trong gia đình Tràng: đêm tân hôn diễn ra trong tiếng hờ khóc tỉ tê, mùi đốt…Bữa ăn đón dâu mới chỉ có nùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo…Mọi người ăn mà không dám nhìn nhau trong khi ngoài đường tiếng trống thúc thuế vẫn cứ dồn dập Thật ai oán, xót xa." Qua những trang văn của KL ta hiểu nỗi khốn cùng của người nông dân trong nạn đói 1945 và càng hiểu hơn tội ác của thực dân P và phát xít Nhật đã bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay gây lên thảm cảnh đau đớn Đó cũng là giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm này
2 Nhưng nét đặc sắc của tác phẩm là tác giả đã phát hiện ra vẻ đẹp trong tâm hồn con người
“dù bị…” Điều này thể hiện rõ qua diễn biến tâm lí của từng nhân vật từ sau khi Tràng nhặt được vợ 2.1 Tràng
- Tràng là người nông dân nghèo, là thành phần dân xóm ngụ cư, cái đói và miếng ăn vẫn là sự đe dọa thường xuyên đối với con người này Thế mà bỗng dưng giữa ngày đói T lại nhặt được vợ, khiến anh không khỏi lo lắng Mới đầu anh cũng chợn nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết
có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” Nhưng ngay sau đó T lại tặc lưỡi “chặc! kệ” Nghe có vẻ tầm phơ, tầm phào nhưng thực là khát vọng hạnh phúc vốn sẵn có trong tâm hồn mà chính T cũng không
ý thức hết - Sau sự quyết định táo bạo ấy là cách xử sự đầy ân tình của T đối với vợ: đưa vợ vào hàng cơm chén một bữa no nê, mua cho thị một cái thúng con và sẵn sàng tiêu hoang vì hạnh phúc của mình: bỏ ra 2 hào mua dầu thắp sáng, không hề có một thái độ khinh thị mà đầy trân trọng Ở đây có sự đồng cảm, tương thân, tương ái Tâm trạng trên đường về nhà:
- Niềm khao khát hạnh phúc đã có sức biến đổi từ một anh cu T thô kệch vụng về, trở thành người đàn ông thực sự với những cảm xúc và cảm giác tinh tế
· Niềm vui đã theo bước chân T về xóm ngụ cư Khác với vẻ mệt mỏi hàng ngày hôm nay trên nét mặt T có “vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười một mình và hai con mắt sáng lên lấp lánh”
· Niềm hạnh phúc mới khiến T trở nên lãng mạn Giữa không khí vắng vẻ, thoải mái T cũng “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ” Và trong chốc lát “T hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe dọa…chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên” Niềm hạnh phúc đã hiện hình ở người đàn ông thô tháp mộc mạc này “một cái gì mới
mẻ, lạ lắm…sống lưng”.- Tâm trạng trong buổi sáng hôm sau:
· Buổi sáng thức dậy, T được sống trong những suy nghĩ, cảm xúc rất mới mẻ T thấy “trong người
êm ái, lửng lơ như từ giấc mơ đi ra”
· Những cảnh vật quen thuộc hàng ngày mà hôm nay T thấy thân thiết lạ và trở nên thấm thía cảm động: bà cụ Tứ thì lúi húi giẫy cỏ, vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt Âm thanh của tiếng chổi gieo vào lòng hắn cảm giác bình yên, ấm cúng “bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng” Những suy nghĩ đó chứng tỏ T ý thức đầy đủ trách nhiệm chăm
lo cho gia đình.- Hình ảnh Việt MinhTrong bữa cơm ngày đói, giữa những miếng cháo cám “đắng
Trang 27MOON.V N
phá kho thóc của Nhật Hai tiếng Việt Minh vang lên cùng với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bám riết tâm trí T, đồng thời là niềm nuối tiếc vấn vơ." Cách kết thúc khẳng định: con người như T dù bị đẩy đến bước đường cùng vẫn kháo khát hướng tới tương lai, khao khát hạnh phúc Ý tưởng của nhà văn thể hiện qua nhân vật thật sâu sắc
2.2 Bà cụ Tứ
- Thấm thía nỗi trớ trêu của số kiếpBà cụ Tứ đánh giá, nhìn nhận việc T lấy vợ từ góc độ và tâm trạng khác Là người đã từng trải, trước lời thông báo của T, bà “cúi đầu nín lặng” Bà đã cố kìm nén nỗi lòng mình nhưng “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Đó là những giọt nước mắt đầy ai oán xót thương cho số kiếp đứa con cho cảnh gia đình nghèo hèn của mình Chính vì vậy, bà không tránh khỏi nỗi âu lo: “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”
- Cùng với nỗi lo âu là cảm giác thương xót, cảm thông cho người đàn bà mới về làm dâu mình
“người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta mới lấy con mình Mà con mình mới được có vợ”
“Mừng lòng” chứ không phải “bằng lòng” bởi dù cảnh gia đình nghèo khổ nhưng mơ ước về sự sum họp hạnh phúc luôn thường trực trong tâm thức người mẹ nghèo này.Cử chỉ của bà cụ Tứ khiến ta cảm động về sự cưu mang đùm bọc của người lao động theo đúng tinh thần lá lành đùm lá rách.- Cảm động hơn nữa là người mẹ già không nguôi khao khát hạnh phúc Người mẹ gần đất xa trời này lại là người chan chứa nhiều nhất những hi vọng, nói nhiều nhất đến tương lai Trước việc T có vợ người mẹ nghèo không khỏi xót xa, tủi cực bởi người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà
ăn lên làm nổi…còn con mình thì…Nhưng nỗi xót xa ấy nhanh chóng qua đi để lại trong tâm trí người mẹ nghèo vẫn là niềm khát khao hạnh phúc, hướng về sự sống, tương lai của con mình Bà đã
an ủi con mình bằng triết lí, bằng niềm tin của người nghèo: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Đó là niềm tin rất đáng trân trọng bởi nó nảy nở trong hoàn cảnh khốn cùng.- Đặc biệt vào buổi sáng hôm sau người mẹ ấy đã có những thay đổi mới mẻ Bà dậy sớm cùng con dâu thu dọn, “cái mặt bủng beo
u ám” hàng ngày của bà hôm nay “rực rỡ hẳn lên”
· Trong bữa cơm ngày đói chỉ có lùm chuối thái rối, ít muối ăn với cháo nhưng bà toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này Hình ảnh đàn gà sinh sôi nảy nở cũng là biểu hiện của niềm tin, khát vọng hạnh phúc trong tâm hồn người mẹ nghèo.· Trong hoàn cảnh khốn cùng vì đói nghèo người mẹ nghèo không nghĩ tới cái chết mà hướng về sự sống, tương lai
2.3 Chị vợ nhặt
- Thị chính là nạn nhân của cái đói Cái đói làm thị xấu đi cả nhân hình, nhân tính Vì đói mà thị hạ mình xuống, chấp nhận cái tiếng vợ nhặt, vợ theo Nhưng ngay trong hành động tưởng liều lĩnh ấy nghĩ kĩ đó cũng là biểu hiện của niềm khát khao sống, khát khao hạnh phúc Việc theo T về làm vợ, vừa để chạy trốn cái đói nhưng đồng thời cũng là hành động đi tìm sự sống, đi tìm hạnh phúc cho mình.- KL đã rất tinh tế khi điểm vào câu chuyện vài biểu hiện thất vọng về hoàn cảnh của T cũng chẳng khác gì mình: “thị cố nén một tiếng thở dài”.- Nhưng ở người đàn bà này vẫn thường trực một niềm khát khao sống, khát khao hạnh phúc nên dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh Thị có sự thay đổi hẳn Trên đường về nhà thị đi sau T ba, bốn bước, đầu hơi cúi, nón rách che đi nửa mặt “rón rén, e thẹn” Những chi tiết về cử chỉ, ngoại hình cho thấy rõ tâm trạng của một cô dâu mới khi về nhà chồng.· Không còn đâu người đàn bà chao chát, chỏng lỏn T gặp hôm trước, khi đã là nàng dâu thị trở nên là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, nền nã, ra vào thu vén nhà cửa… Sự thay đổi ấy chính là thái độ vun đắp cho hạnh phúc gia đình.- Trong bữa cơm “hai con mắt thị tối sầm lại” khi nhìn thấy bát cháo cám nhưng “thị điềm nhiên và vào miệng” Câu hỏi về tiếng trống thúc thuế, thái độ ngạc nhiên khi thấy ở đây vẫn đóng thuế và câu chuyện nửa chừng về những người TN, Bắc Giang cho thấy đã có một luồng gió thổi vào tâm hồn thị Cũng như T, thị đang nghĩ về ngày mai tươi sáng
2.4 Dân xóm ngụ cư
Trang 28MOON.V N
- Cùng với gia đình T, dân xóm ngụ cư cũng là hình ảnh bổ sung làm rõ hơn cho chủ đề tác phẩm Đang sống âm thầm lặng lẽ trong cái đói, người dân xóm ngụ cư chợt xôn xao bừng sáng hẳn lên trước việc T đón vợ về Dường như “có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ” Luồng gió mát ấy chính là ý thức về sự sống, niềm khao khát hạnh phúc vẫn thường trực trong tâm hồn người dân xóm ngụ cư." Trong bức tranh bi thảm ngày đói những người dân xóm ngụ cư không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống Vẻ đẹp lành mạnh khỏe khoắn ấy trong tâm hồn người lao động mà KL phát hiện ra hôm nay có gì đó thật gần gũi với tâm hồn người lao động trong ca dao: Một cái trứng ung…Còn da lông mọc, còn trồi nảy cây”Niềm khao khát sống, niềm tin vào tương lai đã tạo sức mạnh để người lao động vượt qua thử thách Phát hiện ra vẻ đẹp này trong tâm hồn người lao động tác phẩm của KL mang giá trị nhân đạo sâu sắc
III Kết thúc vấn đề
Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo KL đã tái hiện thành công diễn biến tâm trạng của người dân xóm ngụ cư quanh việc T nhặt được vợ.Đi sâu vào khám phá diễn biến ấy người đọc hiểu hơn vẻ đẹp trong tâm hồn người lao động Dù ở hoàn cảnh khốn cùng họ vấn nghĩ đến sự sống tương lai Phát hiện ra vẻ đẹp đó, nhà văn đã tạo nên chiều sâu cho tác phẩm Qua tác phẩm giúp ta có niềm tin vào cuộc sống, tương lai
Trang 29MOON.V N
Lời mở: Trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, có khá nhiều tác giả thành công về đề tài miền núi
trong đó có Nguyên Ngọc và Tô Hoài Nếu mảnh đất miền Tây đã “để nhớ để thương” cho Tô Hoài
để suốt đời người nhà văn này như còn mang duyên nợ thì với Nguyên Ngọc, “Tây Nguyên với tôi là một niềm tâm sự không bao giờ dứt” Cái mảnh đất hoang sơ, nồng hậu mà anh hùng bất khuất đã để lại bao tình cảm thắm thiết trong trái tim nhà văn để rồi sẽ làm nên một Nguyên Ngọc với những tác phẩm viết về Tây Nguyên vào hàng xuất sắc nhất của văn đàn cách mạng Việt Nam, làm xúc động
nhiều thế hệ bạn đọc Trong đó có truyện ngắn Rừng xà nu
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả
- Là nhà văn có những đóng góp riêng và có vị trí khá nổi bật trong nền văn học Việt Nam
- Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu (5/9/1932) chàng trai quê ở một huyện Thăng Bình kề biển Quảng Nam, nhưng lại có duyên đặc biệt với núi rừng 1950, khi đang học trung học chuyên khoa trong vùng kháng chiến, gia nhập quân đội, lăn lộn trong phong trào kháng chiến ở Liên khu 5 Sau Hiệp định Giơ ne vơ, tập kết ra Bắc, công tác tại Tạp
chí Văn nghệ quân đội Năm 1962, lại trở lại chiến trường miền Nam, hoạt động ở Khu Năm Hơn
chục năm ròng sống và chiến đấu hết sức kiên cường trên những chiến trường nóng bỏng, trực tiếp chịu đựng và chứng kiến bao nhiêu gian khổ và hy sinh đã cho Nguyên Ngọc một vốn sống rất phong phú về Tây Nguyên Từ thuở thanh xuân cho tới khi đầu bạc, chưa bao giờ Nguyên Ngọc thôi suy tư, tìm hiểu, sống sâu với văn hóa Tây Nguyên Có thể nói, ông là người vinh dự cầm bó đuốc
mở đầu cho nền văn học hiện đại viết về Tây Nguyên và cho đến nay, dường như ông vẫn là nhà văn viết hay nhất về mảnh đất này
- Một vài tác phẩm tiêu biểu: tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” (1956), truyện ngắn “Rẻo cao” (1962), truyện ngắn “Rừng xà nu” (1965), tiểu thuyết “Đất Quảng” (1971)…
2 Tác phẩm
2.1 Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời truyện ngắn “Rừng xà nu”
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, đất nước chia làm hai miền Kẻ thù phá hoại hiệp định, khủng bố, thảm sát, lê máy chém đi khắp miền Nam Cách mạng rơi vào thời
kì đen tối Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc
Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ Tác phẩm
được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ, ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí “Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ” số 2/1965, sau đó in trong trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc” Đây cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyễn Trung Thành viết trong những năm kháng chiến chống Mĩ
2.2 Cốt truyện
- Ý chính: Sau ba năm đi lực lượng, Tnú trở về thăm làng Xô Man Cụ Mết kể cho dân làng nghe về
cuộc đời, sự trưởng thành của Tnú cùng quá trình quật khởi của làng Xô Man: Tnú mồ côi từ nhỏ, dân làng Xô Man nuôi dưỡng, được giác ngộ, tham gia cách mạng, Tnú chiến đấu gan góc, thông minh, trở thành người chỉ huy cuộc đồng khởi của làng Xô Man Sau đó, Tnú tham gia lực lượng Giải phóng quân Như vậy, tác phẩm có sự đan cài hai chiều: hiện tại- quá khứ - hiện tại, gắn với hai câu chuyện lồng ghép: cuộc đời đau thương mà anh dũng của Tnú- tuyến chính, phần cốt lõi và sự vùng lên của dân làng Xô man, qua đó, ta thấy sự gắn bó giữa số phận cá nhân và vận mệnh chung của cộng đồng.
- Xung đột chia truyện thành hai phần rõ rệt: phần đau thương- khi dân làng và Tnú chỉ có tay không và phần chiến thắng- khi Tnú và dân làng nổi dậy cầm vũ khí làm nên cuộc đồng khởi lay
trời chuyển đất Qua đó, tư tưởng chủ đề của truyện được khắc ghi như một chân lí lịch sử : “Nhớ
RỪNG XÀ NU - NGUYỄN TRUNG THÀNH (tiết 1)
Trang 30- Là thiên truyện mang ý nghĩa và vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xuôi hiện đại, tác phẩm đã
tái hiện lại vẻ đẹp tráng lệ hào hùng của núi rừng, của con người và truyền thống văn hóa Tây Nguyên trong những năm chống Mĩ cứu nước Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, tác giả đã đặt ra vấn đề có ý nghĩa lớn lao: để sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không còn cách khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù
II Đọc hiểu văn bản (theo hệ thống hình tượng)
1.Hình tượng thiên nhiên: Rừng xà nu
1.1 Vị trí của hình tượng: Đây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn Hình tượng cây xà
nu - rừng xà nu nổi bật, xuyên suốt tác phẩm, vừa mang ý nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng
1.2 Sự xuất hiện của xà nu
- Trong cấu trúc văn bản: Mở ra: đồi xà nu, khép lại: những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời
Tác dụng: câu chuyện về gươm đao bắn giết tàn khốc lại được gói trọn trong một điệp khúc xanh Không gian mở rộng thể hiện sức sinh sôi, sự sống mạnh hơn cái chết và sự huỷ diệt Tạo cấu trúc điệp vòng tròn, hình tượng xuyên suốt, mang tầm vóc sử thi
- Ở hệ thống các tình tiết: xuất hiện rải rác trong thiên truyện: Trong đời sống sinh hoạt: khói xà nu
xông bảng nứa để Tnú và Mai học,…và gắn với các sự kiện quan trọng của dân làng Xô man: sự vùng dậy, cả làng bí mật mài vũ khí, Tnú bị tra tấn…xà nu trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt và cuộc kháng chiến chống Mĩ của người Tây Nguyên
1.3 Ý nghĩa tả thực: được miêu tả cụ thể như một loài cây đặc thù, tiêu biểu của miền đất Tây
Nguyên, gắn bó thân thiết với cuộc sống người dân Tây Nguyên trong sinh hoạt hàng ngày, trong đấu tranh chống giặc; trong kí ức của người Xô man
1.4 Ý nghĩa biểu tượng:
- Rừng xà nu là biểu tượng của đau thương: đồi xà nu ở trong tầm đại bác… ngay từ những dòng
đầu tiên, xà nu đã được đặt trong cảnh liên quan đến sự huỷ diệt dữ dội, tàn bạo Đây là thử thách
lớn, nghiệt ngã với rừng xà nu Hàng vạn cây không có cây nào không bị thương như khi giặc kéo đến làng Xô Man, ngọn roi của chúng không trừ một ai tả ba cái chết của xà nu, hình ảnh những
cây non bị huỷ diệt tạo cảm giác xa xót
- Rừng xà nu là biểu tượng của vẻ đẹp nên thơ và sức sống bất diệt: Ở chỗ vết thương: nhựa ứa
ra, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, tác giả đã huy động ấn tượng khứu giác (thơm ngào
ngạt) và ấn tượng thị giác (long lanh) để miêu tả chất nhựa xà nu với vẻ đẹp thi vị Trong rừng ít loại
cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy- so sánh làm nổi bật sức sống hiếm có của xà nu
- Rừng xà nu là biểu tượng cho sự nối tiếp các thế hệ: Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn
năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời- nguồn sống bền bỉ,
ngạo nghễ, ngang tàng, như cỏ dại, như suối nguồn ào ạt
- Rừng xà nu là biểu tượng cho niềm khao khát tự do, sức mạnh kiên cường bất khuất: Ham
ánh sáng măt trời, phóng lên rất nhanh để đón lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng thẳng tắp, long lanh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng Câu văn có sự thăng hoa của hai vẻ đẹp: vẻ nên thơ và sức mạnh cường tráng, bất khuất, sự khao khát tự do Ham ánh sáng mặt trời là bản năng tồn sinh dẻo dai, luôn hướng về phía ánh sáng, hướng
về sự sống Những động từ mạnh: ham, phóng, đón- tư thế chủ động chiếm lĩnh- khao khát sống, khả
năng sống tiềm tàng mãnh liệt Hương thơm của nhựa cây tiếp tục được đan chiếu ánh xạ trong hai
chiều cảm nhận: thị giác, khứu giác Hạt bụi vàng: những hạt bụi dưới ánh sáng mặt trời từ trên cao rọi xuống giống như những hạt bụi long lanh- tác giả đã thơ hoá một hình ảnh bình thường Thơm mỡ màng: không phải “thơm ngào ngạt” (cùng sắc độ đậm đặc, mạnh), không phải “thơm dìu dịu” (sắc
độ nhẹ) mà là thơm mỡ màng là mùi hương như ngậm một nguồn sống dồi dào Có những cây: vượt lên được, cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ Đạn đại
Trang 31điểm tựa, áo giáp che chở cho cuộc sống dân làng Tây Nguyên => thái độ trân trọng, hàm ơn (Liên
hệ: “Tre Việt Nam” - Nguyễn Duy)
1.5 Nhận xét về nghệ thuật:
- Kết hợp miêu tả bao quát lẫn cụ thể, khi dựng lên hình ảnh cả khu rừng, khi đặc tả cận cảnh một số cây Nhà văn xoay ống kính từ ngoài vào trong, từ nhìn ngắm tổng quát đồi xà nu hàng vạn cây đến thâm nhập vào từng tế bào xà nu, khám phá chất nhựa thơm ngào ngạt – cái mùi thơm của sự sống bất tử
- Phối hợp cảm nhận của nhiều giác quan trong việc miêu tả những cây xà nu với vóc dáng đầy sức lực, tràn trề mùi nhựa thơm, ngời xanh dưới ánh nắng
- Miêu tả cây xà nu trong sự so sánh, đối chiếu thường xuyên với con người Các hình thức nhân hóa,
ẩn dụ, tượng trưng đều được vận dụng nhằm thể hiện sống động vẻ hùng vĩ, khoáng đạt của thiên nhiên đồng thời gợi nhiều suy tưởng sâu xa về con người, về đời sống Xà nu không chỉ hiện lên ở phương diện sinh vật học với đặc tính dẻo dai, sức chịu đựng tốt mà còn trở thành sinh thể sống, đang chịu những đau đớn về thể xác nhưng bất khuất, kiên cường, gan dạ, bản lĩnh, ẩn tàng một sức
sống bất diệt, một tâm hồn giàu chất thơ Hai cảm hứng: đau thương và bất tử đan xen nhưng âm
hưởng chủ đạo là bài ca bất tận về sự sống
- Giọng văn đầy biểu cảm với những cụm từ được lặp đi lặp lại gây cảm tưởng đoạn văn giống như một đoạn thơ trữ tình Bút pháp hiện thực kết hợp với bút pháp lãng mạn, xây dựng rừng xà nu thành biểu tượng nghệ thuật độc đáo, là “linh mộc” của người Tây Nguyên, mang tinh thần, sức mạnh, vẻ
đẹp Tây Nguyên
- Tả con người trong quan hệ liên tưởng so sánh với xà nu: cụ Mết ngực căng như một cây xà nu lớn (rừng xà nu uỡn tấm ngực lớn), Tnú bị chém ngang lưng, vết thương tím thẫm như nhựa xà nu (những vết thương đen, đặc quyện thành cục máu lớn) Các thế hệ xà nu nối tiếp nhau- gợi sự liên tưởng các thế hệ dân làng Xô man chống giặc bất khuất Sự chuyển hoá nhuần nhuyễn giữa hình tượng thiên nhiên và con người, hướng về tư tưởng nghệ thuật chủ đạo: sự vùng lên và sức sống bất diệt của con người Tây Nguyên trong đau thương
1.6 Kết luận: Cây xà nu tượng trưng cho số phận đau thương và phẩm chất anh hùng của dân làng
Xô man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
- Được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn
- Kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm
Qua hình tượng cây xà nu, người đọc hiểu biết thêm cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên và nhất là thêm yêu quí, tự hào về những phẩm chất cao đẹp của họ
Nhan đề mang tính hình tượng, vừa hiện thực, cụ thể (sức sống bất diệt của cây); vừa biểu
tượng, khái quát (tinh thần bất khuất của người), thâu tóm được chủ đề tác phẩm (sức sống của dân
tộc) và làm nên sức hấp dẫn riêng (không khí Tây Nguyên) của tác phẩm
2 Hình tượng những con người Tây Nguyên tiêu biểu: cụ Mết, Tnú, Mai, Dít
2.1 Cụ Mết: Từ một nhân vật có thật ngoài đời, cụ Mết bước vào văn học như một nhân vật trong
thần thoại mà vô cùng sống động
2.1.1 Vị trí của nhân vật: một nhân vật rất lạ Ông chính là linh hồn của làng Xô man, cũng là linh
hồn của truyện ngắn, nhân vật làm nên bản sắc Tây Nguyên đậm đà nhất trên trang viết, là nhân vật
tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần của Tây Nguyên
2.1.2 Ngoại hình, diện mạo: Sau ba năm “đi lực lượng”, Tnú trở về thăm làng, được gặp lại cụ Mết
Anh thấy ông cụ “vẫn quắc thước như xưa”, dù râu đã dài tới ngực nhưng vẫn đen bóng”, mắt “sáng
và “xếch ngược” Ông ở trần, “ngực căng như một cây xà nu lớn” còn tiếng nói thì “ nặng trịch”, "ồ
ồ dội vang trong lồng ngực” tưởng như tiếng vọng của núi rừng Bàn tay nặng trịch nắm chặt vai anh
như cái kìm sắt Không bao giờ khen “Tốt! Giỏi!” Lúc ông nói, mọi người đều im bặt, nói như ra
lệnh…Bằng vài nét phác thảo về ngoại hình, diện mạo có phần ước lệ, cụ Mết hiện lên vững vàng, mạnh mẽ, tráng kiện tựa như một cây xà nu cổ thụ trong đại ngàn Tây Nguyên
Trang 32MOON.V N
2.1.3 Tính cách
Không chỉ khoẻ khoắn về mặt thể chất, cụ Mết còn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho dân làng Xô
Man những ngày chống Mĩ
- Yêu nước, yêu làng, tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng
+ Là người anh hùng từ thời chống Pháp, cuộc đời Cụ đã trải qua nhiều thăng trầm, chứng kiến những đổi thay của đất trời Tây Nguyên, mang hình ảnh một xà nu cổ thụ…yêu làng, luôn tự hào về
làng: gạo người Strá mình làm ra ngon nhất núi rừng, bụng nó sạch như nước suối làng ta, năm nay làng không đói, không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta
+ Linh hồn của cuộc chiến đấu là anh Quyết, nhưng cụ là người tổ chức, điều khiển, cổ động, truyền
cho con cháu niềm tin vào Đảng, vào cách mạng: “Cán bộ là Đảng, Đảng còn núi nước này còn”,
tiếp thêm sức mạnh cho dân làng tin vào sức sống bất diệt của con người như tin vào sự bất diệt của
rừng xà nu “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta Cây mẹ ngã, cây con mọc lên, đố nó giết hết rừng xà nu này”
- Cụ là gạch nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa Đảng và dân, luôn có ý thức giáo dục truyền
thống cho cháu con: “Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng
mà nghe, mà nhớ Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu nghe” Cụ “là cội nguồn, là Tây Nguyên của thời Đất nước đứng lên, trường tồn tới hôm nay”, là hiện thân cho truyền
thống thiêng liêng và luôn có ý thức giữ gìn truyền thống Qua câu chuyện kể về cuộc đời Tnú và sự
nổi dậy của dân làng, cụ đã nhắc nhở mọi người dân Stra “Ai có cái tai, cái bụng thương nước thương nòi hãy nghe mà nhớ ” tạo nên màu sắc Tây Nguyên đậm đà trên từng trang viết Lối kể sử
thi của cụ Mết đã mang lại cho khuynh hướng sử thi của tác phẩm một biểu hiện đặc sắc, rất riêng
Cụ Mết đã kết nối tinh thần quật cường của người Xô man từ quá khứ đến hiện tại và cho đến mai
sau
- Đại diện cho vẻ đẹp tinh thần của cha anh, một già làng sáng suốt, mưu trí, như còn in dấu
siêu phàm của các ông già trong thần thoại Mang ý chí, lòng quả cảm và kinh nghiệm của con người dày dạn trong đấu tranh, lựa thế để chiến đấu với kẻ thù Những lời nói của cụ Mết giản
dị mà giống như những lời tổng kết thể hiện đường lối cách mạng“Năm nay làng không đói nhưng phải để dành, dự trữ mỗi bếp cho đủ ba năm, đánh Mỹ phải đánh lâu dài” Trong cuộc chiến đấu
quyết liệt với kẻ thù, cụ đã rút ra một chân lý đúng đắn: không thể tay không đương đầu với giặc
“Tnú cũng không cứu được vợ con Còn mày, chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng… Tau không nhảy ra cứu mày Tau cũng chỉ có hai bàn tay không” “Tay trắng”, “tay không” làm sao có thể đương đầu với kẻ thù! …” Cụ Mết đã dặn dò tạc vào lòng con cháu một chân lí bất di bất dịch: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” Cụ đã dẫn đám thanh niên vào rừng tìm
giáo mác Trong ánh đuốc xà nu, với giáo mác trong tay, cụ Mết cùng dân làng xông lên diệt gọn tiểu đội lính địch, mở đầu cho cuộc nổi dậy vũ trang khởi nghĩa của làng Dưới lưỡi mác của cụ,
thằng Dục tàn ác đã phải đền tội Tiếng hô của cụ vang động khắp núi rừng: “Chém! Chém hết!”
Sau hiệu lệnh ấy, bão táp đã nổi lên, xác quân thù ngổn ngang quanh đống lửa đỏ trong nhà ưng
Tiếng cụ Mết như tiếng hịch vang rền sông núi:“Thế là bắt đầu rồi Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây
vụ, một cây rựa Ai không có chông thì vót chông, năm trăm cây chông Đốt lửa lên!” …
2.1.4 Kết luận
Nhân vật cụ Mết trầm ngâm, lừng lững như cây cổ thụ, tiêu biểu cho sức mạnh tinh thần và vật chất có tính truyền thống của dân tộc Tây Nguyên, vừa mang nét chung của những người dân Tây Nguyên: yêu làng, yêu nước, tuyệt đối trung thành với cách mạng, mang trong tim dòng máu bất khuất của một dân tộc anh hùng, căm thù giặc sâu sắc, hành động quyết liệt nhưng cũng khôn khéo
để trả thù, đời sống nội tâm sâu sắc, giàu tình cảm yêu thương; vừa mang nét riêng, khác nhân vật
chú Năm (Những đứa con trong gia đình- Nguyễn Thi); Bok Pak, Bok Sung (Đất nước đứng lên-
Nguyên Ngọc), “Ông già Mết là nhân vật có thật Nguyên Ngọc giữ nguyên tên Và cũng y hệt như trong truyện, ở ngoài đời, ông Mết là ngọn cờ tập hợp dân chúng Ông thông minh, dũng cảm, chỉ huy đánh giặc rất tài” (Trần Đăng Khoa)
Trang 33MOON.V N
Mở: Câu chuyện mang tên một rừng cây, nhưng lại nhắc ta nhớ đến những cuộc đời, những con
người của đất Tây Nguyên anh hùng bất khuất Giờ học trước, chúng ta đã tìm hiểu những nét khái quát về tác phẩm, vẻ đẹp của hình tượng Xà nu và nhân vật cụ Mết- một cây xà nu đại thụ của núi rừng Tuy vậy, nhân vật trung tâm kết tinh vẻ đẹp, sức mạnh của con người Tây Nguyên và được nhà văn khắc họa thật công phu nhằm gửi gắm tư tưởng chủ đề của tác phẩm phải là nhân vật mà cuộc đời anh đã được kể lại bên bếp lửa nhà ưng, trong không khí thiêng liêng của một đêm sâu như nhân
vật trong truyện kể Khan ngày nào- một chàng trai Tây Nguyên từ cái tên: Tnú (Tnú theo tiếng Ba
na có nghĩa là người dũng sĩ)
2.2 Nhân vật Tnú
2.2.1 Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, vị trí, ý nghĩa hình tượng
Nếu cụ Mết tượng trưng cho truyền thống, là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, pho sử sống của làng Xô Man thì Tnú là người tiêu biểu nhất cho thế hệ nối tiếp một cách tự giác và quyết liệt Cuộc đời Tnú gắn bó máu thịt với cuộc chiến đấu khốc liệt, anh hùng của dân làng Xô Man Tnú là linh hồn của khúc tráng ca trong những tháng ngày đau thương nhưng rất đỗi hào hùng Và Tnú là sự kết tinh vẻ đẹp của con người Tây Nguyên trong hiện tại Qua lời kể của cụ Mết, quá khứ gắn với những
kỉ niệm ngọt ngào nhưng cũng hết sức đau thương của Tnú và dân làng Xô Man đã sống dậy
2.2.2 Tình huống nhân vật xuất hiện
- Nhân vật xuất hiện trong bối cảnh hùng vĩ của rừng xà nu, gợi không khí sử thi hào hùng
- Sau ba năm đi lực lượng, nghỉ phép về thăm làng một ngày, một đêm Trên đường về thăm làng,
mỗi bước đi trên mảnh đất quê hương đều chạm vào kỉ niệm, này là một cái cây lớn bị đốn ngã, nơi ngày xưa T nú đã gặp Mai, này là tiếng chày rộn rã của quê hương “Bây giờ anh mới chợt hiểu ra rằng hình như cái mà anh nhớ nhất ở làng, nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm nay chính là tiếng chày đó, tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe thấy tiếng chày ấy rồi Tnú cố giữ bình tĩnh nhưng ngực anh vẫn đập liên hồi, chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây vả chỗ quẹo vào làngTnú nhớ những kỉ niệm về Mai” anh được dân làng đón tiếp nồng nhiệt…Từng con suối, gốc cây, ngọn cỏ, con đường, cái máng nước đầu làng, dể cho vòi nước mát lạnh của làng mình giội lên khắp người như ngày trước
- Cụ Mết kể chuyện cuộc đời Tnú trước đông đủ dân làng và có mặt cả Tnú Không gian: Nhà
ưng- thời gian: Đêm rừng, bên ngoài lấm tấm một trận mưa đêm Giọng kể: trầm và nặng Cách kể: trang trọng, tôn nghiêm, kể “khan” cùng lời dặn dò: Sau này tau chết, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe- câu chuyện về Tnú trở thành truyện thiêng của cộng đồng Strá, thành di huấn, báu vật tinh thần truyền từ đời này sang đời khác
- Tác dụng:
+ Vừa tạo màu sắc sử thi huyền thoại, giữa người nghe và người kể có khoảng cách không gian, thời
gian vời vợi, xa xăm, với thái độ chiêm ngưỡng thiêng liêng, thành kính, vừa có chất hiện đại: nhân
vật được kể hiện hữu, chứng kiến, chỉ im lặng ngồi nghe, không tham gia vào câu chuyệện lên thật rõ
ràng và đầy đủ qua lời kể của cụ Mết
+ Kể một câu chuyện mang màu sắc huyền thoại về một nhân vật đang sống, biến câu chuyện của cá nhân anh hùng thành câu chuyện của dân tộc anh hùng, Tnú là sự tiếp nối của Đăm san, Xinh Nhã… thuở trước trong thời đại kháng chiến chống Mĩ, bao bọc nhân vật trong không khí sử thi, huyền thoại “truyện kể một đêm, một đêm dài bằng cả đời người”
2.2.3 Cuộc đời Tnú qua dòng hồi ức của cụ Mết
* Trước khi cầm vũ khí:
Dù sinh ra trong thân phận mồ côi, cuộc sống khổ nghèo, nhưng Tnú có tất cả:
RỪNG XÀ NU - NGUYỄN TRUNG THÀNH (tiết 2)
Trang 34MOON.V N
+ Có sự cưu mang, nuôi dưỡng trong tình thương yêu, sự chở che, đùm bọc của dân làng
+ Được giác ngộ cách mạng từ sớm, có lí tưởng cách mạng cao đẹp, ngay từ nhỏ, Tnú đã có ý thức
giác ngộ cách mạng sâu sắc Tnú nhớ như in lời của cụ Mết: “Cán bộ là Đảng Đảng còn, núi
nước này còn” Bởi thế, Tnú đến với cách mạng một cách tự nhiên, gan góc, dũng cảm lạ thường
Mặc cho bọn địch khủng bố dã man những người tham gia nuôi giấu cán bộ: bà Nhan bị chặt đầu, cột
tóc treo đầu súng, anh Xút bị treo cổ trên cây vả đầu làng, Tnú và Mai vẫn hăng hái đảm nhận tiếp công việc đầy hiểm nguy ấy Được học chữ để làm cán bộ (mục đích rất rõ ràng, cái mà cả A Phủ và Núp đều chưa có) Tnú học chậm, lại hay nổi nóng Có lần thua Mai, Tnú giận dữ đập bể cả cái bảng nứa, rồi bỏ ra suối ngồi một mình suốt ngày Sự hiếu thắng, tính sĩ diện khiến Tnú không dễ thừa nhận sự kém cỏi của mình trước Mai Tưởng như việc học chữ phải bỏ giữa chừng Nhưng khi anh
Quyết và Mai ra dỗ dành, Tnú bất ngờ cầm hòn đá tự đập vào đầu “máu chảy ròng ròng” như để tự trừng phạt bản thân mình, như lời thề quyết tâm học tập Khi anh Quyết rủ rỉ: “Sau này, nếu Mĩ- Diệm giết anh, Tnú phải làm cán bộ thay anh Không học chữ sao làm được cán bộ giỏi”, Tnú “giả ngủ” và “lén chùi nước mắt” để rồi sáng hôm sau, nó đã dẹp tự ái cá nhân để thừa nhận “cái đầu tôi ngu quá” và nhờ Mai dạy chữ Có thể nói, ý thức cách mạng sâu sắc đã chi phối mạnh mẽ tới mọi
hành động, suy nghĩ của chú bé này
+ Học chậm nhưng khi đi liên lạc Tnú lại rất linh hoạt, thông minh, táo bạo Lúc qua sông, Tnú
“không lựa chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình” vì “qua chỗ nước êm thằng Mỹ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh
nó không ngờ” Suy nghĩ bình dị nhưng đã nói lên rất nhiều sự gan góc dũng cảm của người thiếu
niên anh hùng Nhưng rồi có một lần, Tnú rơi vào ổ phục kích của giặc Tnú nhanh trí nuốt vội lá
thư vào bụng Giặc đánh bắt khai: Cộng sản ở đâu? Tnú đưa tay lên bụng nói “Ở đây này!” Lưng
Tnú ngang dọc vết dao chém, nhưng bí mật cách mạng vẫn được bảo toàn
Tóm lại, ngay từ khi còn nhỏ, nổi bật ở nhân vật Tnú, đó là sự thông minh, gan góc, dũng cảm, đặc biệt là ý thức giác ngộ cách mạng sâu sắc, tinh thần trung thành tuyệt đối với cách mạng Tnú là một trong những điển hình của thiếu nhi Việt nam, tuổi nhỏ mà chí lớn, đã góp phần không nhỏ viết nên bản anh hùng ca của thời đại chống Mĩ
+ Có sự can trường được tôi luyện thử thách qua mấy năm trời trong tù ngục Ba năm sau, vượt ngục
về làng, cùng thanh niên lên núi Ngọc Linh mài vũ khí, chủ động cho cuộc chiến đấu mới với kẻ thù
Lãnh đạo dân làng rất dũng cảm Nghe tin làng Xô Man mài giáo mác, bọn giặc lồng lên: lại thằng Tnu chứ không ai hết Con cọp đó không giết sớm, nay nó làm loạn núi rừng này rồi
+ Có sự cường tráng bất khuất: chảy trong huyết quản anh là dòng máu anh hùng của xứ sở Tây Nguyên truyền lại từ thời Đăm San, Xinh Nhã; chứa đầy trong ngực anh là sức mạnh mênh mông hoang dại của núi rừng Gan góc đến bướng bỉnh, kiêu hãnh đến tự ái, không biết đến sợ hãi, chưa bao giờ khuất phục cường quyền, dù sự tàn bạo của kẻ thù có hiện hình trong mũi súng chĩa vào ngực hay lưỡi dao chém ngang dọc trên lưng, có mượn sức mạnh của dây rừng hay hiện hình thành lửa xà nu rừng rực đốt cụt 10 đốt ngón tay…
+ Có lòng căm thù giặc sâu sắc
+ Có tình bạn hồn nhiên trong sáng, tình yêu thắm thiết, tình vợ chồng sâu đậm thủy chung, có hạnh phúc gia đình viên mãn, người vợ dịu hiền, đứa con trai kháu khỉnh, giọt máu của tình yêu Ngay từ đầu, con người ấy đã là sự kết tinh của những gì lí tưởng nhất, đẹp đẽ nhất của cộng đồng, hiện thân đẹp đẽ của xứ sở Tây Nguyên- nhân vật mang ý nghĩa sử thi
Chuyển: Nhưng dụng ý của tác giả không phải để ngợi ca dù rất đáng ngợi ca Nếu chỉ có cảm hứng
đó, nhà văn sẽ lặp lại chính mình Câu chuyện của một đời được kể trong một đêm, nhưng là một đêm dài như một đời sẽ rọi vào một ngày đặc biệt nhất của Tnú và dân làng Xô Man, một chi tiết cực
kì xúc động làm nên đoạn cao trào của tác phẩm Ở đó, tính cách và số phận nhân vật được bộc lộ
chói chang nhất: ngày giặc tràn lên đốt phá, mẹ con Mai bị giặc bắt
2.2.4 Đoạn cao trào của tác phẩm
Vậy mà với bằng ấy cái có, Tnú vẫn không cứu được vợ con Ừ, Tnú không cứu sống được mẹ con Mai câu nói ấy được cụ Mết nhắc đi nhắc lại 4 lần như một khúc bi ca, cứa vào lòng ta như một nhát dao nứa Giọng kể trầm buồn bên bếp lửa, trong một đêm thiêng lại liên quan đến một đêm khủng khiếp nhất trong cuộc đời Tnú
Trang 35MOON.V N
- Bọn lính đã tràn vào làng giữa mùa suốt lúa, chúng kéo về một tiểu đội vừa đúng lúc con trai đầu lòng của Mai và Tnú ra đời Vẫn thằng chỉ huy năm trước- Thằng Dục- nó đội mũ đỏ màu máu Nó gầm lên chúng đóng lại trong làng bốn đêm, ngọn roi của chúng không trừ một ai Tiếng kêu khóc dậy cả làng Nó lăm lăm khẩu súng lục: đứa nào ra khỏi làng, bắt được, bắn chết ngay tại chỗ Chúng khủng bố dân làng, bắt Dít Không làm gì được con bé, thằng Dục dùng đến ngón đòn cuối cùng, nó bắt mẹ con Mai- hai nguồn hạnh phúc lớn nhất, hai người thân ruột thịt nhất đời T nú bằng hình thức man rợ nhất, không phải bằng súng mà bằng trận mưa gậy sắt
- Sự sống của đứa trẻ đã bị cướp đi, không ai có thể chở che, giữ gìn cho nó Dù Mai đã cố hết sức,
đã làm hết cách, bằng sức mạnh của tình thương và sự dẻo dai nhanh nhẹn của người phụ nữ ở núi rừng, nhưng đứa bé chết, mẹ thằng bé cũng chết theo Tất cả sự việc tàn khốc và bi thảm ấy lại diễn
ra ngay trước mặt Tnú Căm thù đã biến hai mắt anh thành hai cục lửa lớn Nỗi nóng lòng suốt ruột
đã khiến anh bứt đứt hàng chục trái vả (nơi anh Xút đã bị kẻ thù treo cổ) mà không hay Sự căng thẳng dữ dội khiến anh không thể làm chủ được mình Tnú “chồm dậy”, “hai con mắt là hai cục lửa
lớn”, căm hờn đã uất đọng không thể tan, chực bùng lên thành hành động trả thù Một tiếng hét dữ
dội Anh đã nhảy xổ vào giữa bọn lính bọn lính bằng sức mạnh của con mãnh thú bị tổn thương Anh không biết đã làm gì Đồ ăn thịt người! Tau đây, Tnú đây!
Nhịp văn ngắn, dồn dập, nhanh, gấp, giàu kịch tính (kẻ thù trắng trợn, thách thức, bạo tàn, uy hiếp; dân làng tận mắt chứng kiến người anh hùng của mình bị tra tấn dã man- kết thúc xung đột là hành động vùng lên giết kẻ thù)
- Chưa hết Tấn bi kịch mà Tnú phải chịu đựng trong cái đêm ghê gớm đó còn tiếp tục nhiều hơn thế
Với hai bàn tay không, Tnú thậm chí không bảo vệ được chính mình! Anh bị bắt, bị trói, không phải
bằng dây xích, dây thừng mà bằng dây rừng, bị đốt mười đầu ngón tay bằng giẻ tầm dầu xà nu chứ
không phải bằng xăng như vở kịch Nổi gió của Đào Hồng Cẩm Phải chăng, khi chúng ta không bảo
vệ được sự sống thì những cây lá hiền lành của quê hương cũng có thể trở thành phương tiện để trừng phạt chính mình Bất chấp mọi sự cố gắng của T nú, anh không thể dành giật sự sống cho những con người anh thương yêu nhất, những con người đáng sống và giàu sức sống nhất vẫn phải chết
- Xây dựng nhân vật Tnú, nhà văn đã chú ý khắc họa hình tượng đôi bàn tay của anh như một biểu tượng nghệ thuật Đó là đôi tay của yêu thương, tình nghĩa, khi đi tiếp tế cho cán bộ; bàn tay trung thực khi cầm phấn viết chữ và dám cầm đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt vì hay quên; bàn tay
gan góc, trung thành khi đặt lên bụng mình khi nói: cộng sản “Ở đây này”
Giờ đây, mười ngón tay Tnú rừng rực cháy như mười ngọn đuốc Đó là 10 ngon đuốc biểu
tượng cho sự tàn bạo dã man của kẻ thù, cho ngọn lửa hờn căm đang ngùn ngụt bốc lên ở những người Xô Man yêu nước Chúng muốn anh phải chịu đau đớn đến khi chết Chúng còn muốn dùng cái chết đau đớn ấy uy hiếp tinh thần của dân làng Nhà văn đã đặc tả cảm giác đau đớn tột cũng của Tnú nỗi đau dường như vượt quá sức chịu đựng của con người Tnú không còn nhận biết được xung
quanh, chỉ còn cảm giác đau đớn rát bỏng lan ra khắp cơ thể Tnú nghe “lửa cháy ở ngực, ở bụng Nhưng nhớ lời anh Quyết “người cộng sản không thèm kêu van”, Tnú vẫn quyết không kêu, mặc dù máu đã mặn chát nơi đầu lưỡi Răng anh đã cắn nát môi anh rồi” Chỉ có những tiếng kêu thống thiết, đau đớn vang lên trong đầu, trong tim anh, hướng về những người thân yêu “Cha mẹ ơi! Anh Quyết ơi! ”…Chỉ có những tiếng “Không” vật vã trong đau đớn của con người đang cố gắng để
không tỏ ra mềm yếu trước kẻ thù Tnú chỉ còn sống với nội tâm đang thét gào vì đau đớn của mình, nội tâm của con người biết rằng mình sắp chết thảm khốc Nỗi đau tột cùng về thể xác đã chuyển hoá
thành nỗi đau tinh thần, ngọn lửa đời thường đã thành ngọn lửa uất hận: “Trời ơi, Cháy, cháy cả ruột đây rồi” Đoạn văn thấm đẫm chất bi tráng khi khắc hoạ lòng quả cảm, phẩm chất anh hùng của
người cộng sản trước sự tra tấn tàn bạo của kẻ thù
Từ cái chết của mẹ con Mai và hai bàn tay bị đốt của Tnú, dân làng Xô Man đã thấm thía một
chân lí bất di bất dịch “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” Bởi “Tay trắng”, “tay không”
làm sao có thể đương đầu với kẻ thù! Mười ngọn đuốc ngón tay Tnú đã đốt lên ngọn lửa đau thương, uất hận của làng Xô Man Tiếng thét dữ dội của anh là giới hạn cuối cùng đối với sức chịu đựng của con người, là giọt nước tràn li khơi dậy sức mạnh quật khởi của dân làng Trong ánh đuốc xà nu, cụ Mết cùng đám thanh niện với giáo mác trong tay xông lên diệt gọn tiểu đội lính địch, mở đầu cho
Trang 36MOON.V N
cuộc nổi dậy vũ trang khởi nghĩa của làng Khi Tnú tỉnh lại thì lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay, như
là ẩn dụ cho sự chiến đấu và chiến thắng Nhưng đống lửa xà nu lớn giữa nhà vẫn đỏ, như lòng căm thù, uất hận vẫn chưa thể nguôi ngoai Lời hiệu triệu vang vọng của cụ Mết: “Đốt lửa lên!” như là lời hịch vang vọng, đốt lên ngọn lửa của sự quyết tâm trong cuộc sống mái với kẻ thù Và đêm ấy, lửa
cháy khắp rừng Làng Xô Man đã trở thành làng vũ trang, với khí thế ngút trời…
Vết thương đã lành nhưng mỗi ngón tay anh đã mất đi một đốt Đôi bàn tay của anh trở thành chứng tích cho tội ác của kẻ thù Tnú gia nhập lực lượng vũ trang, cầm súng tiêu diệt kẻ thù, chính đôi tay tàn tật ấy trở thành đôi bàn tay quả báo với kẻ thù Lập công xuất sắc,Tnú được thưởng phép
về thăm làng Tnú đã vượt lên mọi bi kịch cá nhân để trở thành người chiến thắng, trở thành người con quang vinh của dân làng Điều gì đã tạo nên một Tnú gan góc, can trường đến vậy? Phải chăng
đó chính là lòng căm thù giặc sâu sắc, là niềm tin mãnh liệt vào Đảng, vào Cách mạng và là một tình yêu quê hương, gia đình tha thiết?
2.2.5 Đánh giá vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm
Hình ảnh Tnú làm người đọc nhớ tới hình ảnh những cây xà nu mà “đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một cơ thể cường tráng Chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã” Phải chăng thủ pháp ứng chiếu giữa thiên nhiên với con
người đã tạo nên mối liên hệ hết sức chặt chẽ giữa hai hình tượng Tnú - nhân vật chính của tác phẩm
và rừng xà nu Hai hình tượng ấy gắn bó và bổ sung cho nhau để cùng bộc lộ tư tưởng chủ đề của tác
phẩm: cần phải cầm vũ khí đứng lên chiến đấu để bảo vệ sự sống cho quê hương, gia đình và đồng
bào của họ, cho những cánh rừng xà nu bát ngát trải dài tới tận chân trời
Câu chuyện về cuộc đời và con đường chiến đấu của Tnú mang ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và con đường đi của dân làng Xô Man, của đồng bàoTây Nguyên và nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Bi kịch của Tnú không phải bi kịch cá nhân, trong những năm tháng đau thương ấy có biết bao con người cũng phải chịu đựng những đau thương mất mát Người anh hùng mang những phẩm chất cao đẹp của cộng đồng và con đường Tnú lựa chọn cũng là con đường của các dân tộc ở Tây Nguyên khi ấy: con đường đấu tranh vũ trang giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng Tnú như là hiện thân cho thế hệ trẻ Tây Nguyên kiên cường, bất khuất trong kháng chiến bảo vệ quê hương, là hình tượng góp phần mang lại không khí sử thi đậm nét cho tác phẩm
- Qua cuộc đời T nú, tác giả cũng đặt ra vấn đề thời đại, khái quát chân lí cách mạng đồng thời là tư tưởng của tác phẩm: Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo Đây là một trong những hình tượng thành công xuất sắc của Nguyễn Trung Thành, của văn học chống Mĩ cứu nước
2.2.6 Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng
+ Xây dựng nhân vật bằng bút pháp sử thi- nhân vật hiện lên như người anh hùng trong những trang huyền thoại của người miền núi
+ Tiếp nối truyền thống có từ Đăm san, Xinh Nhã, Đinh Núp…, kéo dài và làm mới những trang sử bằng tinh thần hiện đại
+ Sự luân phiên lượt kể: Tnú kể lại: giết Dục (có súng, có dao) bằng chính đôi tay mỗi ngón cụt
một đốt
+ Ý nghĩa biểu tượng của chi tiết bàn tay: mười ngón đuốc rực cháy như biểu trưng cho sức mạnh,
sự kiên cường bất khuất của con người
Mỗi ngón cụt một đốt là chứng nhân ghi dấu tội ác dã man của kẻ thù, chứng tích đau thương để nhắc nhớ người dân Xô man về chân lí cách mạng
Bóp cổ thằng Dục, sức mạnh tiêu diệt kẻ thù, sự trả giá tất yếu cho tội ác của bọn xâm lược, sức sống bất diệt của con người Tây Nguyên
+ Thủ pháp ứng chiếu giữa thiên nhiên với con người đã tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa hai hình tượng Tnú - nhân vật chính của tác phẩm và rừng xà nu Hai hình tượng ấy gắn bó và bổ sung cho
nhau để cùng bộc lộ tư tưởng chủ đề của tác phẩm: cần phải cầm vũ khí đứng lên chiến đấu để bảo
vệ sự sống cho quê hương, gia đình và đồng bào của họ, cho những cánh rừng xà nu bát ngát trải dài
tới tận chân trời So sánh với hình tượng các anh hùng khác trong văn học chống Mĩ để thấy được
đặc điểm thi pháp của văn học chống Mĩ và nét khác biệt của hình tượng)
Trang 37MOON.V N
Cảm hứng chính về Rừng xà nu là cảm hứng về sự tái sinh, về sức sống không thể nào bị tàn phá
Điều đó kết đọng đẹp đẽ trong hình tượng Mai- Dít, Heng
2.2 Mai- Dít
2.2.1 Mai: Cũng như Tnú, Mai là thế hệ được tiếp nhận lí tưởng cách mạng từ những năm tháng
đau thương, đen tối của làng Xô Man và của cả nhân dân miền Nam dưới ách thống trị bạo tàn của
Mĩ – ngụy Trong kí ức uổi thơ hồn nhiên trong sáng của Tnú và Mai, có những ngày thay nhau vào
rừng tiếp tế đưa cơm cho cán bộ, có khi cả hai đứa cùng đi, chúng ở luôn lại ngoài rừng ban đêm, để cán bộ ngủ ngoài rừng một mình trong đêm, cái bụng không yên được, lỡ giặc lùng, ai đưa cán bộ chạy Hình ảnh của Mai và Tnú trong những ngày gian nan cơ cực ấy là “một đứa bé đứng tới ngang bụng cụ Mết Nó đeo một cái xà lét nhỏ xíu của mẹ nó để lại, trong xà lét trên bỏ rau dưới giấu hai lon gạo trắng, nó luồn như một con sóc qua các hốc đá cheo leo, nó chạy lon ton trong rừng đi tìm nuôi anh cán bộ Một đứa con gái còn nhỏ hơn nó nữa hối hả chạy theo nó Đứa con gái vén chiếc váy của mẹ mới dệt nhảy từ mỏm đá này qua mỏm đá khác như một con chim sáo, vừa nhảy vừa gọi lanh lảnh:
- Tnú, Tnú, chờ với chớ, chờ với chớ!
Tnú thì quay lại trợn mắt:
- Bí mật chớ, Mai! Sao đi đâu cũng tác như con mang thế?
Mai muốn cười, nhưng sợ Tnú, không dám cười ”
cô bé vô tư, hồn nhiên trong sáng, có giọng nói lanh lảnh, trong vắt, sau này đã trở thành người phụ nữ có vẻ đẹp dịu dàng, tấm lòng yêu thương, nhân hậu Sau ba năm, thoát ngục Kon tum về,
gặp lại Tnú, lần đầu tiên sau khi ở tù về Tnú gặp lại Mai, thấy Mai đã lớn anh không ngờ, và Mai thì cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa thương yêu Người phụ nữ nhân hậu, dịu dàng, đầy
nữ tính ấy đã có những ngày tháng hạnh phúc êm đẹp bên người chồng dũng mãnh và đứa con nhỏ yêu thương Nhưng, phút lâm nguy, khi giáp mặt với bầy lang sói hung tợn, cô như trở thành một tượng đài của lòng bất khuất Giữa bầy lính, mười thằng, đủ súng ống và sự man rợ, cô không mảy may run sợ Cô “ngửng đôi mắt lớn nhìn thằng Dục” Thằng Dục xem cô là “con mọi cộng sản”,
“con cọp cái”, là cơ sở để “dụ được con cọp đực trở về” Nó cầm một cây gậy sắt dài tra tấn đánh đập
mẹ con Mai “Trận mưa cây sắt mỗi lúc dồn dập” Bằng tất cả sự dẻo dai nhanh nhẹn của người phụ
nữ sống ở núi rừng, cô đã cố bảo vệ đến cùng đứa con- giọt máu của tình yêu Người mẹ trong tay không một vũ khí đã phải chống chọi một cách bất lực với bọn sát nhân tàn bạo Đến khi trút hơi thở cuối cùng dưới bàn tay đẫm máu của bọn mặt người dạ thú cô vẫn một mực trung thành với cách mạng, không khai báo nửa lời Nhưng cái chết của những người như mẹ con Mai mãi làm núi sông này đau đớn, ta liên tưởng đến những cây xà nu đang tràn đầy sức sống, bị đại bác chặt đứt nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão, những cây xà nu con phải chết một cách oan khuất…
2.2.2 Dít:
- Nhưng tác giả đã khéo léo để người đọc thấy Mai không chết, người như Mai vẫn tiếp tục tái sinh, sống trong hình ảnh của Dít, bởi Dít giống chị như hai giọt nước Không phải ngẫu nhiên
Tnú bất chợt cảm thấy “có một luồng lạnh rân rân ở mặt và ngực Mai! Trước mắt anh là Mai đấy!”
Nếu vẻ đẹp nổi bật của Mai là sự yêu thương nhường nhịn thì ở Dít lại là sự rắn rỏi của người chiến
sĩ Lớn lên trong đau thương, mất mát của quê hương, gia đình, thù nhà, nợ nước chồng chất đã tôi luyện cho Dít thành một con người kiên gan cứng cỏi đến lạ thường Cũng như Mai, Dít là đại diện cho thế hệ chủ lực đánh Mĩ ở Tây Nguyên, dũng cảm, gan góc không kém gì Tnú Khi cả làng bị giặc ở đồn Bắc Hà bao vây, không ai lọt ra được, ngoại trừ lúc ấy Dít còn nhỏ, lanh lẹn, cứ sẩm tối
RỪNG XÀ NU - NGUYỄN TRUNG THÀNH (tiết 3)
Trang 38MOON.V N
lại bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên Dít bị giặc bắt hi ở ngoài rừng về Bọn giặc để Dít ở giữa sân, lên đạn tôm xông rồi từ từ bắn từng viên một, không bắn trúng, đạn chỉ sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh hai chân nhỏ Cái váy của Dít rách tượt từng mảng Dít khóc thét lên nhưng rồi đến viên thứ mười thì chùi nước mắt, từ đó im bặt Dít đứng lặng giữa bọn lính Cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mảnh dẻ lại giật lên một cái nhưng đôi mắt vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng Nhiều người băn khoăn rằng, những chi tiết như thế này có khốc liệt quá không?
Có phi thực tế không? Câu trả lời thuộc về những người đã từng vào sinh ra tử Rằng sự dã man tàn bạo của kẻ thù trong thực tế còn khủng khiếp hơn rất nhiều lần Và hình như, Nguyễn Trung Thành còn muốn nói với ta một điều sâu xa hơn thế, rằng trong khoảnh khắc con người ta phải tự lớn, nếu không sao có thể đương đầu với đội quân dũng mãnh vũ khí được trang bị đến tận chân răng?
- Vậy là, không khủng bố được tinh thần Dít, bọn giặc đành chịu! Còn khi chị Mai và đứa con
bị giặc giết chết một cách dã man, mọi người, kể cả cụ Mết đều chứa chan nước mắt nhưng mà Dít
vẫn “lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh” Ngày Tnú lên đường, Dít còn là “một cô bé không có
áo mặc, đêm lạnh nó không ngủ, đốt lửa ngồi cho đến gà gáy rồi đi giã gạo thay chị Nó lầm lì, không nói gì cả, đôi mắt ráo hoảnh trong khi mọi người, cả cụ già Mết đều khóc vì cái chết của Mai Phải chăng những giọt nước mắt của Dít đã chảy vào trong kết thành những giọt thù, giọt hận
thấm sâu trong tâm hồn để nuôi dưỡng khát vọng trả thù
- Bên cạnh một cô Dít gan góc còn có một cô Dít rất đằm thắm yêu thương Tình cảm ấy được ẩn giấu bên trong vẻ ngoài tưởng như lạnh lùng Khi biết Tnú được thưởng phép cô mới cười,
thổ lộ lòng mình: “Sao anh về có một đêm thôi… Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi” Chỉ
trong mấy năm, cùng với sự lớn mạnh của cuộc chiến đấu của dân làng, người con gái Tây Nguyên can trường từ thuở nhỏ ấy đã vượt lên trên những thử thách khốc liệt để trở thành người lãnh đạo chủ chốt của làng Xô Man
- Nhà văn đã có dụng ý khi xây dựng hai nhân vật Mai và Dít Họ giống nhau như hai giọt nước không chỉ là hình thức mà còn ở tâm hồn, tính cách Nhưng Mai là nạn nhân của một thời đau thương, đen tối bởi khi đó chị và dân làng chưa cầm vũ khí Còn Dít, cô cứng cỏi, trưởng thành hơn chị, vận hội mới của cách mạng đã trao cho cô cây súng để chiến đấu trả thù cho quê hương và gia đình đồng thời để bảo vệ cho sự sống của đất nước nhân dân và cũng là của chính mình Cũng như Tnú, hình ảnh Dít làm ta liên tưởng đến những cây xà nu vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã
ngã Nguyễn Trung Thành còn lờ mờ để chúng ta thấy, Dít đã ngồi vào đúng chỗ của Mai, “có một luồng lạnh rân rân ở mặt và ngực Mai! Trước mắt anh là Mai đấy!” Tnú có một hạnh phúc qua đi
và một hạnh phúc đang chờ trước mắt, để có những ngọn đồi xà nu xanh tít tắp tận tới chân trời…
2.3 Nhân vật bé Heng
- Ngày Tnú ra đi lực lượng, bé Heng mới đứng ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chỉ mới đeo cái xà-lét nhỏ xíu theo người lớn ra rẫy
- Ngày Tnú về phép, làng Xô Man giờ đây thành làng chiến đấu Thông thạo tất cả hầm chông, bẫy
đá, mọi lối đi của làng Xôman, Heng dẫn đường cho Tnú về Cũng ít nói như những người dân làng
Xô Man, nó không sợ nguy hiểm, dẫn đường cho Tnú qua những «Con đường ấy chằng chịt hầm chông, hố chông, cứ mười phút gặp một giàn thò (một loại bẫy) chuẩn bị sẵn, cần thò căng như dây
ná, đánh một phát chặt gãy đôi ống quyển, lưỡi thò từng đôi, từng đôi gác lên giàn, sắc lạnh» Khi tới chỗ « ác chiến điểm » nó nhìn Tnú « cười một cách rất liếng », « mắt lóe lên một tia sáng nhỏ » bày
tỏ niềm tự hào mãnh liệt về công cuộc cách mạng của dân làng Tuy còn nhỏ tuổi nhưng cậu Heng đã
có dáng dấp của một chú bé anh hùng Heng háo hức tham gia cách mạng, ước mơ trở thành anh giải phóng quân, tự trang bị cho mình trang phục của người lính Bằng cái nhìn rất hóm hỉnh và nhân hậu, nhà văn đã dựng lên trước mắt người đọc bức chân dung vừa ngộ nghĩnh vừa đáng yêu của cậu bé (xin được chiếc mũ tai bèo sùm sụp, chiếc áo bà ba dài thườn thượt) Dường như trong chú bé này có hình bóng của một Tnú khi còn làm liên lạc cho cán bộ khi xưa- một tiểu anh hùng, là đại diện cho
vẻ đẹp của thế hệ măng non núi rừng Tây Nguyên Cùng với bước đi lên của cách mạng, thế hệ của Heng chắc chắn sẽ có bước tiến vượt xa lớp cha anh Mai này trưởng thành, chắn chắn bé Heng sẽ tiếp tục thế hệ cha anh