1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BỘ TÀI LIỆU ÔN LUYỆN THPTQG MÔN NGỮ VĂN PHẦN 4 KÈM VIDEO BÀI GIẢNG

36 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 4 của bộ tài liệu là về Kịch Nghị luận và Văn Chính Luận của giai đoạn 19301945. Trong phần này chúng ta tìm hiểu các tác phẩm tiểu biểu như: 1. Vĩnh biệt cửu trùng đài (Nguyễn Huy Tưởng) 2. Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh) 3. Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh) Các bạn nào đã mua tài liệu thì xin liên hệ với mình qua gmail : 01633306424HVDgmail.com để nhận video bài giảng hướng dẫn học tập nhé Thanks all

Trang 1

Mở: Thế kỉ 16, có một sự kiện làm chấn động cả thành Thăng Long: Cửu Trùng Đài - tòa lâu đài

tráng lệ nguy nga chưa kịp xây xong đã bị loạn quân đốt thành tro bụi Dù không còn tồn tại trong thực tế, nhưng dường như, tòa đài hoa lệ ấy vẫn hiện hữu trong tâm trí của những người yêu Hà Nội, yêu cái Đẹp và yêu văn chương Dựa trên cốt lõi sự thực lịch sử, nhà viết kịch Nguyễn Huy Tưởng

đã sáng tạo nên một huyền thoại đặc sắc ở giữa thế kỉ 20, đó là bi kịch Vũ Như Tô- một vở kịch xuất sắc mà những vấn đề đặt ra trong tác phẩm còn khiến cho nhiều người đời sau phải vấn vương, suy

nghĩ:

“Đâu Đan Thiềm, đâu Vũ Như Tô?

Lửa đã cháy ngai vàng hôn quân Lê Tương Dực

Những người đốt Cửu Trùng Đài cũng chính là người lấy máu mình xây ngọn tháp

Khi lửa giận tan rồi, họ khóc trước tàn tro”

Lời thơ đồng cảm của thầy giáo Đặng Hiển có lẽ cũng là nỗi lòng của chúng ta, tiếc thương Cửu

Trùng Đài, người nghệ sĩ tài hoa cùng người tri kỉ

TIẾT 1 VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI- (Trích Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng) Cấu trúc bài học

Tiết 1: Tác giả, tác phẩm, tìm hiểu văn bản kịch (tình huống kịch- nhân vật Vũ Như Tô)

Tiết 2: Tìm hiểu văn bản kịch (nhân vật Đan Thiềm- giá trị tác phẩm)

Tiết 3: Các dạng bài thi có liên quan đến tác phẩm

I Tìm hiểu chung

1 Vài nét về tác giả (1912-1960)

- Xuất thân trong một gia đình nhà nho ở làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội

- Là một nhà văn yêu nước, sớm tham gia cách mạng, 1943, tham gia Hội Văn hoá Cứu quốc do Đảng lãnh đạo, từng là đại biểu Quốc dân đại hội Tân trào (1945)

- Là một nghệ sĩ tài năng, đóng góp nổi bật ở thể loại tiểu thuyết và kịch Thiên hướng sáng tác: khai thác những đề tài lịch sử, văn phong giản dị, thâm trầm, sâu sắc…

- Có thể thấy ở Nguyễn Huy Tưởng sự hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của người công dân - nghệ sĩ

Trọn cả cuộc đời cống hiến cho Cách mạng và cho văn, khao khát viết được những tác phẩm có quy

mô lớn, dựng lên được những bức tranh, những hình tượng hoành tráng về lịch sử bi hùng của dân tộc; nói lên được những vấn đề có tầm triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật

- Tác phẩm: tiểu thuyết Đêm hội Long Trì (1942), Bắc Sơn (1946), Lá cờ thêu sáu chữ vàng, tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô (1961)- khúc tráng ca ngợi ca người Hà Nội quyết tử cho Tổ quốc

quyết sinh trong ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp vào mùa đông năm 1946 Còn với vở bi

kịch Vũ Như Tô nhà văn Nguyễn Huy Tưởng lại khai thác bối cảnh Thăng Long trong những năm

quằn quại dưới sự bạo tàn của Lê Tương Dực thông qua hình ảnh Cửu Trùng Đài “huy hoàng giữa cõi trần lao lực” và người nghệ sĩ “tranh tinh xảo với hóa công”: Vũ Như Tô Thông qua vở kịch này, Nguyễn Huy Tưởng muốn đề cập đến người nghệ sĩ và bi kịch của họ

2 Tác phẩm “Vũ Như Tô”

2.1 Vị trí: Vũ Như Tô (1941), tác phẩm đầu tay của một nhà văn chưa đầy 30 tuổi- một tác phẩm lớn của văn

học nước nhà, có chiều sâu nội dung tầng tầng lớp lớp và sự hoàn chỉnh về hình thức nghệ thuật

2.2 Thể loại

VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI - NGUYỄN HUY TƯỞNG

(TIẾT 1)

Trang 2

- Có ý kiến cho rằng đó là Bi kịch lịch sử (hư cấu dựa trên sự kiện lịch sử, kết thúc bi thảm), người khác lại chỉ

xem là bi kịch Quả là kịch Vũ Như Tô có yếu tố lịch sử, nhưng cảm hứng chủ đạo của tác phẩm không phải

là dựng lại, làm sống dậy một sự kiện lịch sử mà chủ yếu là thông qua sự thực lịch sử để đặt ra những vấn

đề sâu sắc về cuộc sống và nghệ thuật Có lẽ, nên coi Vũ Như Tô là một vở bi kịch- một thể loại văn học

được mĩ học châu Âu coi là cao quý nhất và khó nhất

- Bi kịch là một thể của loại hình kịch (đối lập với thể hài kịch) Ngoài các đặc điểm chung của loại hình, bi kịch còn mang những đặc điểm riêng của thể Những đặc điểm riêng này chủ yếu được thể hiện qua mâu

thuẫn, xung đột và nhân vật

+ Xung đột bi kịch được tạo dựng từ những mâu thuẫn “không thể giải quyết” được; mọi cách khắc phục đều dẫn đến “sự diệt vong những giá trị quan trọng”

+ Nhân vật chính của bi kịch thường là những con người có những say mê, khát vọng lớn lao; đồng thời, đôi khi còn có cả những sai lầm trong hành động và suy nghĩ

+ Kết thúc bi thảm của số phận nhân vật bi kịch thường có ý nghĩa thức tỉnh, khơi gợi tình cảm nhân văn của mỗi con người

“Bi kịch là thể loại nghiêm ngặt đến khắc nghiệt; nó miêu tả thực tại theo lối nhấn mạnh, cô đặc các mâu thuẫn bên trong, phơi bày những xung đột sâu sắc của thực tại dưới dạng bão hoà và căng thẳng đến cực hạn, mang ý nghĩa tượng trưng nghệ thuật” (Lại Nguyên Ân, l50 thuật ngữ văn học)

2.3 Tóm tắt : SGK

Vũ Như Tô nhà văn Nguyễn Huy Tưởng lại khai thác bối cảnh Thăng Long trong những năm quằn quại dưới

sự bạo tàn của Lê Tương Dực thông qua hình ảnh Cửu Trùng Đài “huy hoàng giữa cõi trần lao lực” và người nghệ sĩ “tranh tinh xảo với hóa công”: Vũ Như Tô Thông qua vở kịch này, Nguyễn Huy Tưởng muốn đề cập đến người nghệ sĩ và bi kịch của họ Bi kịch ấy được tập trung cao nhất trong hồi V – hồi kết của vở

kịch: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

II Đọc hiểu văn bản

1 Tìm hiểu các xung đột kịch trong đoạn trích

- Mâu thuẫn bi kịch:

a) mang tính nội tại;

b) có ý nghĩa xã hội to lớn;

c) không thể giải quyết;

d) mọi cách khắc phục mâu thuẫn đều dẫn đến sự diệt vong những giá trị quan trọng

1.1 Mâu thuẫn thứ nhất

- Nhân dân lao động khốn khổ lầm than >< hôn quân bạo chúa cùng các phe cánh của chúng

+ Mục đích xây Cửu Trùng Đài nguy nga tráng lệ để ăn chơi hưởng lạc + Nguyên liệu và công sức để xây Cửu Trùng Đài, là tiền bạc, của cải mà vua đã ra sức bắt thuế, tróc thợ từ dân lành, làm cho nhân dân vất vả, đói khát, chết vì bệnh dịch, tai nạn

- Kết quả: hôn quân bị giết, hoàng hậu nhảy vào lửa, Cửu Trùng Đài hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê

Tương Dực bị đốt thành tro

- Mâu thuẫn này vốn có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, thì

mâu thuẫn này càng ngày càng căng thẳng Đến hồi thứ năm, mâu thuẫn này đã trở thành cao trào, lên tới đỉnh điểm và được giải quyết ở hồi cuối cùng: Hôn quân Lê Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết, Nguyễn Vũ tự sát, Kim Phượng và đám cung nữ bị những kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ

Trang 3

1.2 Mõu thuẫn thứ hai

Nghệ thuật cao siờu, thuần tuý >< lợi ớch trực tiếp, thiết thực của nhõn dõn

+ Vũ Như Tụ coi Cửu Trựng Đài là cả phần xỏc và phần hồn của cuộc đời mỡnh, là cụng trỡnh nghệ thuật tụ điểm cho vẻ đẹp của đất nước -> Vỡ nú, ụng sẵn sàng chấp nhận làm việc cho hụn quõn bạo chỳa; dự bị thương vẫn tiếp tục chỉ đạo cụng việc; trị tội những thợ bỏ trốn + Ngược lại trong mắt dõn chỳng, Cửu Trựng Đài là hiện thõn của sự ăn chơi xa xỉ, hiện thõn của tội ỏc, cha đẻ của nú –Vũ Như Tụ- chớnh là kẻ thự của họ cần phải bị trị tội -> Họ vui mừng khi Cửu Trựng Đài chaý, Vũ Như Tụ ra phỏp trường

=> Kết thỳc trờn chỉ ra tớnh bi kịch khụng thể điều hoà của mõu thuẫn Muốn thực hiện lớ tưởng nghệ thuật thỡ đi ngược lại quyền lợi trực tiếp của nhõn dõn, nếu xuất phỏt từ lợi ớch thiết thực của nhõn dõn thỡ khụng thể thực hiện mơ ước nghệ thuật, đú chớnh là nguồn gốc sõu xa của tấn bi kịch khụng lối thoỏt của thiờn

tài Vũ Như Tụ

1.3 Nhận xột về mâu thuẫn, xung đột kịch

- Mõu thuẫn, xung đột ngày một tăng và phỏt triển tới đỉnh điểm, tạo kịch tớnh gay gắt

- Mõu thuẫn, xung đột đan cài tự nhiờn, cú mối quan hệ mật thiết và tỏc động lẫn nhau

- Mõu thuẫn, xung đột chứa đựng những vấn đề lớn lao, sõu sắc, cú ý nghĩa đến muụn đời

- Dự bản chất của bi kịch là sự cụ đặc cỏc mõu thuẫn đến mức dường như khụng thể giải quyết, ta vẫn thấy

toỏt lờn từ vở bi kịch này chủ đề và định hướng tư tưởng được phỏt triển logic, sỏng tỏ Trờn quan điểm nhõn dõn, vở kịch lờn ỏn tham quan bạo chỳa, nhưng trờn tinh thần nhõn văn, vở kịch vẫn ca ngợi những nghệ sĩ chõn chớnh và tài hoa như Vũ Như Tụ, sống chết với Cửu Trựng đài, tin tưởng vào lớ tưởng

của bản thõn, đó làm việc gỡ là đam mờ, coi đú là cuộc đời, là lẽ sống, sẵn sàng sống chết vỡ nú Ta cú thể hiểu

vỡ sao nhà văn Tụ Hoài lại cho rằng Vũ Như Tụ như là một Cửu Trựng Đài mà Nguyễn Huy Tưởng quyết

dựng nờn cho mỡnh

2 Phõn tớch nhõn vật Vũ Như Tụ

2.1 Tớnh cỏch

- Vũ Như Tụ là một kiến trỳc sư thiờn tài Tài của Vũ Như Tụ chủ yếu được thể hiện ở

những hồi trước của vở kịch, qua lời của cỏc nhõn vật khỏc núi về ụng Một thiờn tài “ngàn năm chưa dễ cú một”, “chỉ vẩy bỳt là chim, hoa đó hiện lờn trờn mảnh lụa thần tỡnh biến hoỏ như cảnh hoỏ cụng”, cú thể “sai khiến gạch đỏ như viờn tướng cầm quõn, cú thể xõy dựng lõu đài cao cả, núc vờn mõy mà khụng hề tớnh sai một viờn gạch nhỏ” Cỏi tài ấy khiến mọi người phải ngưỡng mộ, kẻ

biệt nhỡn như Đan Thiềm cú thể sẵn sàng đỏnh đổi cả tớnh mạnh để bảo vệ ụng, Lờ Tương Dực dự khụng ưa nhưng cũng phải tin dựng

- Là người khỏt khao, say mờ sỏng tạo “cỏi đẹp” Khụng phải éan Thiềm đó thuyết phục

hay dụ dỗ họ Vũ xõy Cửu Trựng éài Khỏt vọng xõy Cửu Trựng éài sục sụi sẵn trong Vũ Như Tụ, chỉ cần một lời khớch lệ từ bờn ngoài là nú chuyển húa thành hành động Bản đồ Cửu Trựng éài đó được vẽ sẵn, mọi tớnh toỏn kinh tế – kỹ thuật đó được hoàn tất trước khi nhà kiến trỳc sư thiờn tài gặp

mỹ nữ cú tõm hồn

- Vũ Như Tụ cũn là một nghệ sĩ cú nhõn cỏch:

+ Cú hoài bóo lớn, cú lớ tưởng nghệ thuật cao cả gắn liền với tinh thần dõn tộc ễng say sưa mơ ước

xõy dựng cho đất nước một toà lõu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để cho “dõn ta nghỡn thu cũn hónh diện”, nước ta được ngẩng mặt với muụn người Khỏt vọng ấy ban đầu đó được lõy truyền sang những người thợ, họ phấn khớch, đồng cảm cựng Vũ Như Tụ

+ Cú dũng khớ: là một nghệ sĩ chõn chớnh, gắn bú với nhõn dõn, cho nờn mặc dự bị Lờ Tương Dực doạ giết, Vũ Như Tụ vẫn ngang nhiờn chửi mắng tờn hụn quõn và kiờn quyết từ chối xõy Cửu Trựng Đài Dự hiểm nguy và cỏi chết đó ở ngay trước mặt, ụng vẫn bỡnh thản, sống chết với CTĐ

+ Cú tõm hồn trong sạch, khụng màng danh lợi (khi được vua ban thưởng vàng bạc, lụa là, ụng đó đem chia hết cho thợ)

Trang 4

- Thế nhưng, đi tận cùng niềm đam mê khao khát, Vũ Như Tô đã phải đối mặt với bi kịch đau

đớn của đời mình Muốn người Nam được ngẩng mặt mà cuối cùng lại trở thành kẻ thù của dân;

muốn có đài Cửu trùng (tượng trưng cho sự bền vững) thì trong phút chốc, cả công trình tan thành mây khói

2.2 Bi kịch của Vũ Như Tô:

+ Là một nghệ sĩ chân chính muốn khẳng định tài năng, muốn tô điểm cho đất nước và làm đẹp cho đời, nhưng đã phải chết một cách oan nghiệt, cả công trình nghệ thuật bị thiêu thành tro bụi

+ Lầm lạc và ảo tưởng trong suy nghĩ và hành động, cho đến phút chót, Ông vẫn không

nghĩ việc mình xây Cửu Trùng Đài cho đất nước lại bị xem là tội ác Đến khi cuộc nổi loạn đã nổ ra,

cả kinh thành như nghiêng ngả trong tiếng quân ầm ầm, tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng tù và, ngựa

hí, Đan Thiềm hốt hoảng, líu lưỡi giục Vũ Như Tô trốn, nếu không sẽ bị giết, nhưng ông vẫn không

chịu đi, vẫn tin vào động cơ và việc làm “chính đại quang minh”, vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được

An Hoà Hầu Khi chính mình và Đan Thiềm bị bắt, Cửu Trùng Đài bị đập phá, thiêu huỷ thì ông mới

bừng tỉnh, xiết bao đau đớn, kinh hoàng ngửa mặt lên trời mà kêu lên: “Ôi mộng lớn! ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!” Đó cũng là những tiếng kêu cuối cùng của Vũ Như Tô khi ngọn lửa

oan nghiệt đang bùng bùng thiêu trụi Cửu Trùng Đài, trước khi tác giả của nó bị dẫn ra pháp

trường Trong tiếng kêu ấy, “mộng lớn”, “Đan Thiềm”, “Cửu Trùng Đài” đã được Vũ đặt liền kề, nỗi

đau mất mát như nhập hòa thành nỗi đau bi tráng tột cùng Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn trích

- Vũ chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của

nhân dân, trên lập trường cái Đẹp mà không đứng trên lập trường cái Thiện Công trình với

năm vạn thợ bên trong và mười vạn thợ bên ngoài đã hút của dân bao sinh lực Quyền sống của nhân dân bị hy sinh không thương tiếc.Hành động của Vũ Như Tô không hướng đến sự hòa giải mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt Vũ đã từng tranh tinh xảo với hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh

phải- trái với số phận và với cuộc đời Vũ Như Tô hiện lên đúng là một tính cách bi kịch, vừa bướng bỉnh vừa mềm yếu, vừa kiên định vừa dễ hoang mang, muốn vùng lên chống lại và thách

thức số phận, nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch

2.3 Nguyên nhân bi kịch

- Mâu thuẫn giữa khát vọng cao cả của người nghệ sĩ với cách thực hiện khát vọng ấy: mục đích

của Vũ Như Tô là chân chính nhưng con đường thực hiện lại sai lầm khi ông lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật

- Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu thuần tuý của muôn đời với lợi ích thiết thực, trực tiếp của quần chúng nhân dân

- Mâu thuẫn giữa khát vọng và hoàn cảnh xã hội chưa cho phép Trong hoàn cảnh không thích hợp,

cái đẹp thành ra phù phiếm, cao siêu

2.4 Ý nghĩa của bi kịch Vũ Như Tô

Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhân

dân Vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ mới vẫn còn nguyên giá trị

Trang 5

MOON.V N

Bi kịch, thể loại lớn của văn học và sân khấu, bao giờ cũng đặt độc giả và khán giả trước những câu phức tạp, hóc búa và nhức nhối của cuộc sống

3 Phân tích nhân vật Đan Thiềm

- Nếu Vũ Như Tô là người nghệ sĩ đam mê sáng tạo cái đẹp thì Đan Thiềm là người đam mê cái tài, ở đây là tài sáng tạo ra cái đẹp:

+ Vì có tấm lòng liên tài nên lúc Vũ Như Tô mới bị bắt, ông nhờ Đan Thiềm “mách đường chạy trốn”, nàng đã khuyên ông ở lại, thuyết phục ông nhân cơ hội này, mượn uy quyền và tiền bạc

của Lê Tương Dực để thực hiện được hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật đồ

sộ, vĩnh cửu

+ Vì đam mê tài năng mà nàng luôn khích lệ Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, sẵn sàng

quên mình để bảo vệ cái tài ấy Với nét tính cách ấy, Đan Thiềm xứng đáng là tri âm, tri kỉ của Vũ Như Tô

- Ở hồi cuối, cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều lâm vào trạng thái khủng hoảng với một nỗi đau chung: sự “vỡ mộng” thê thảm Nhưng diễn biến tâm trạng của họ có chiều hướng vận động

và biểu hiện khác nhau

Đan Thiềm cũng đau đớn nhận ra thất bại của giấc “mộng lớn” xây Cửu Trùng Đài, nhưng

nhạy bén, sớm sủa, kịp thời hơn Vũ Như Tô Tâm trí của nàng giờ đây không còn hướng vào thành

bại của việc xây Cửu Trùng Đài mà hướng vào sự sống còn của Vũ Như Tô, người nghệ sĩ “tài trời” nghìn năm có một Nàng khẩn khoản khuyên Vũ đi trốn, và thấy lời khuyên của mình vô hiệu thì

hốt hoảng đau đớn tột cùng Trong mấy lớp liên tiếp của hồi V, Đan Thiềm đã năm lần bảy lượt

khuyên Vũ Như Tô “trốn đi” (15 lần khuyên trốn, điệp khúc trốn đi, lánh đi, chạy đi vang lên đến

14 lần; 4 lần nàng van lạy phe nổi loạn “tha cho ông cả”) Điệu bộ nàng “hớt hơ hớt hải” “mặt cắt

không còn một giọt máu” Giọng nàng “thở hổn hển”, đứt đoạn trong âm vang kinh hoàng điên đảo

của bạo loạn chốn cung đình, trong khi mà chính nàng bị sỉ vả bắt bớ rất bất công, oan nghiệt Nàng

nói với Ngô Hạch, lời nói của nàng khẩn khoản như đẫm máu và nước mắt (Tướng quân nghe tôi Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả Ông ấy là một người tài…)

Đến lúc nhận ra đến cả việc đổi mạng sống của mình để cứu Vũ Như Tô cũng không được nữa thì

Đan Thiềm đành buông lời vĩnh biệt tất cả (Nàng nói: “Đài lớn tan tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”, mà không nói: “Vĩnh biệt ông Cả!”) Đó cũng là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu trùng đài,

vĩnh biệt một “giấc mộng lớn” trong máu và nước mắt

Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã làm sâu sắc hơn tính cách bi kịch của mỗi nhân vật, đồng thời cũng góp phần làm nổi bật chủ

đề của tác phẩm

4 Một số nét đặc sắc về nghệ thuật

4.1 Chỉ là một trích đoạn nhưng đoạn kịch này cũng có kết cấu như một vở kịch: có thắt nút

(mâu thuẫn), xung đột, cao trào và mở nút Với cả vở kịch, đoạn trích này là phần cao trào, rồi giải quyết mâu thuẫn lớn nhất của cả vở kịch Không khí, nhịp điệu của sự việc được diễn tả theo chiều tăng tiến mức độ dồn dập đã thể hiện được tính chất gay gắt của mâu thuẫn và dần đẩy xung đột kịch lên cao trào Cửu Trùng Đài và Vũ Như Tô là cái nút của mâu thuẫn Xung đột đã được giải quyết bằng sự ra đi vĩnh viễn của cả hai

4.2 Ngôn ngữ kịch

- Bằng một ngôn ngữ kịch có tính tổng hợp rất cao (kể, miêu tả, bộc lộ…), nhà văn đã đồng thời khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt hành động, xung đột kịch rất thành công, tạo nên một bức tranh đời sống bi kịch hoành tráng trong nhịp điệu bão tố của nó

- Nhịp điệu được tạo ra thông qua nhịp điệu của lời nói – hành động (nhất là qua khẩu khí,

nhịp điệu, sắc thái lời nói – hành động của Đan Thiềm – Vũ Như Tô đối đáp với nhau và với phe đối

VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI - NGUYỄN HUY TƯỞNG

(TIẾT 2)

Trang 6

MOON.V N

nghịch; qua lời nói – hành động của những người khác trong vai trò đưa tin, nhịp điệu “ra”, “vào” của các nhân vật đầu và cuối mỗi lớp – các lớp đều ngắn, có những lớp rất ngắn: chỉ dăm ba lượt thoại nhỏ; những tiếng reo, tiếng thét, tiếng động dội từ hậu trường phản ánh cục diện, tình hình nguy cập, điên đảo trong các lời chú thích nghệ thuật hàm súc của tác giả

Với một ngôn ngữ có tính tổng hợp và tính hành động rất cao như vậy, người ta dễ dàng hình dung cả một không gian bạo lực kinh hooàng trong một nhịp điệu chóng mặt: Lê Tương Dực bị Ngô Hạch giết chết, Hoàng hậu nhảy vào lửa tự vẫn (qua lời kể của Lê Trung Mại); Nguyễn Vũ tự tử bằng dao (ngay trên sân khấu), Đan Thiềm suýt bị bọn nội giám thắt cổ ngay tại chỗ; Vũ Như Tô ra pháp trường Rồi tiếng nhiếc móc, chửi rủa, la ó, than khóc, máu, nước mắt… tất cả hừng hực như trên một cái chảo dầu sôi lửa bỏng khổng lồ

4.3 Cách khai thác vận dụng sử liệu

Viết một vở kịch có yếu tố lịch sử, Vũ Như Tô tất nhiên dựa trên các sử liệu: sự kiện, nhân vật lịch sử, bối cảnh lịch sử Điều quan trọng là (kể, miêu tả, bộc lộ…) như thế nào, sao cho phù hợp với yêu cầu của bi kịch Và lịch sử có lô gic và qui luật của nó, tàn khốc, lạnh lùng Cái lõi lịch sử được nhà văn khai thác ở đây là câu chuyện Vũ Như Tô xây Cửu trùng đài cho Lê Tương Dực (theo

như sách Đại Việt sử kí và Việt sử thông giám cương mục ghi lại) Đài xây dang dở, người thợ tài hoa

Vũ Như Tô đã phải chịu cái chết oan khốc Ở đây, để góp phần làm nên cái khung cảnh và không khí bi tráng của lịch sử, tác giả đã đặt hành động kịch vào trong “một cung cấm”, nhiều nhân vật

kịch là những nhân vật lịch sử Nhiều tên đất tên người gắn với triều Lê… Đúng như lời chú thích sân khấu của tác giả: Sự việc trong vở kịch xảy ra ở Thăng Long trong khoảng thời gian từ năm 1516 đến năm 1517, dưới triều Lê Tương Dực

5 Chủ đề và định hướng tư tưởng của vở kịch

- Trong lời Đề tựa viết một năm sau khi viết xong vở kịch, chính Nguyễn Huy Tưởng đã

công khai bày tỏ nỗi băn khoăn của mình: “Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải […] Than ôi, Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”

- Cho đến khi bi kịch hạ màn, người xem vẫn chưa thấy câu trả lời dứt khoát của tác giả Nói

đúng hơn ông nhường câu trả lời cho người đọc Mâu thuẫn và tính không dứt khoát trong cách

giải quyết mâu thuẫn này được thể hiện tập trung trong hồi cuối của vở kịch Cửu Trùng Đài sụp đổ

và bị đốt cháy, nhân dân trước sau vẫn không hiểu gì việc sáng tạo của nghệ sĩ, không hiểu nổi Đan Thiềm, Vũ Như Tô cũng như “mộng lớn” của hai nhân vật hiện thân cho tài sắc này Về phía khác, Đan Thiềm không cứu được Vũ Như Tô và Họ Vũ vẫn không thể, không bao giờ hiểu được việc làm của quần chúng và của phe cánh nổi loạn

Mâu thuẫn mà vở bi kịch nêu lên thuộc loại mâu thuẫn không bao giờ và không ai giải quyết cho thật dứt khoát, ổn thỏa được, nhất là trong thời đại Vũ Như Tô Mâu thuẫn này may ra có thể giải quyết được phần nào thỏa đáng khi mà đời sống vật chất của nhân dân thật bình ổn, đời sống tinh thần nhu cầu về cái đẹp trong xã hội được nâng cao lên rõ rệt

Mặc dầu vậy, chủ đề và định hướng tư tưởng của vở kịch vẫn được phát triển tương đối sáng

Đây là chủ đề được thể hiện chủ yếu qua mâu thuẫn thứ hai của vở kịch: mâu thuẫn giữa

niềm khát khao hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ich trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân Cụ thể: là một nghệ sĩ đầy tài năng và giàu

sáng tạo, Vũ Như Tô muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô điểm cho đất nước, muốn làm đẹp cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật và đam mê sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc chốn, lạc điệu với thời thế, xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của bản thân và của cả công trình thấm đẫm mồ hôi tâm não của mình Người đọc, người xem thương người nghệ sĩ có tài

có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp nhưng xa rời thực

Trang 7

MOON.V N

tế, mà phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm huyết sáng tạo cuả mình

Đoạn trích nói riêng và vở kịch nói chung đã để lại giá trị nhân văn sâu sắc rằng: “Không có

cái đẹp tách rời cái chân cái thiện Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần tuý,

nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời “Văn chương không chỉ

là văn chương mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương” Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho

muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc

sống với đòi hỏi của muôn dân” Một vấn đề đặt ra nữa là “Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo

cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực”

5 Ý nghĩa phần cuối của lời đề tựa

- Lời đề tựa vở kịch Vũ Như Tô do chính Nguyễn Huy Tưởng viết ngày tháng 2 năm 1942, sau khoảng một năm viết xong tác phẩm “Than ôi! Đan Thiềm!”

- Tựa là thành phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc sau tiêu đề của mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả hoặc tư tưởng của tác phẩm

- Qua lời đề tựa trên, Nguyễn Huy Tưởng đã chân thành bộc lộ nỗi băn khoăn của mình: Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô? Và ông thú nhận “ta chẳng biết”, tức là không thể đưa ra một lời giải đáp thoả đáng Qua vở kịch, có thể thấy chân lí không hoàn toàn thuộc về phía nào: việc mất Cửu Trùng Đài vừa nên mừng, vừa nên tiếc Đồng thời, nhà văn khẳng định: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”, tức là vì cảm phục “tài trời”, nhạy cảm với bi kịch của những tài năng siêu việt

Trang 8

B Thân bài

I Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm

1 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong một gia đình nhà nho của đất Bắc Ninh xưa, nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội Từng gắn bó với phong trào cách mạng trong các tổ chức văn hoá văn nghệ do Đảng lãnh đạo từ rất sớm, Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử để xây dựng tác phẩm có quy mô lớn, dựng lên những bức tranh, những hình tượng hoành tráng về lịch sử bi hùng của dân tộc Ông là một nhà viết kịch tài ba Văn phong của ông vừa giản dị, trong sáng, vừa thâm trầm sâu sắc khi đặt ra những vấn đề có tầm triết lý

2 “Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử có qui mô hoành tráng xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch Việt Nam hiện đại Tác phẩm được sáng tác vào năm 1941, dựa trên một sự kiện lịch sử xảy

ra ở kinh thành Thăng Long vào thời hậu Lê Tác phẩm gồm 5 hồi Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là hồi 5, hồi cuối của vở kịch Trong đoạn trích được học gây ấn tượng sâu sắc nhất là nhân vật

2 Những nét chính trong bi kịch Vũ Như Tô

a Hiểu như định nghĩa nói trên, chúng ta thấy bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sĩ

có tài và có hoài bão lớn, nhưng không giải quyết được mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống, đặc biệt là không giải được một cách đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì

b Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân của niềm khao khát say mê sáng tạo cái

đẹp, “là người ngàn năm dễ có một có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”

c Vũ Như Tô là một nghệ sĩ lớn có nhân cách cao đẹp, có hoài bão lớn lao, có tư tưởng, lý tưởng

nghệ thuật cao cả, ông muốn xây dựng một toà lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện” ; muốn xây dựng một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sông đất nước Ông mong muốn cho người đời biết những khát vọng cao đẹp của ông Đó là ông chỉ

có một hoài bão muốn tô điểm cho đất nước, đem hết tài năng ra xây cho nòi giống một toà lâu đài hoa lệ,thách cả những công trình trước sau, tranh tinh xảo với hoá công “để ta xây một Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn thành, cao cả huy hoàng, giữa cõi trần lao lực có một cảnh Bồng Lai Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài” Hồn ông để cả nơi

VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI - NGUYỄN HUY TƯỞNG

(TIẾT 3)

Trang 9

đấy Nhìn một cách đơn giản thì mục đích và nguyện vọng của Vũ Như Tô là hết sức cao đẹp Nó xuất phát từ thiên chức của người nghệ sĩ, từ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Vũ Như Tô vô cùng say mê với mơ ước của mình

d Nhưng Vũ Như Tô nào có hiểu được sâu xa, trên thực tế, Cửu Trùng Đài đã xây dựng bằng mồ

hôi xương máu của nhân dân và nếu được hoàn thành thì nó cũng chỉ là nơi ăn chơi xa xỉ, sa đoạ của vua chúa, giống như công trình kiến trúc “Vạn Niên” của triều đình Nguyễn sau này : “Vạn niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân” Như vậy, Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình.Chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ thuần tuý nên đã vô hình chung, trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân, gây đau khổ cho nhân dân

e Nhân dân căm giận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền rủa, thậm chí là oán hận kiến

trúc sư đầy tài năng Vũ Như Tô và cuối cùng đã giết chết cả tên hôn quan bạo chúa Lê Tương Dực lẫn Vũ Như Tô, đốt cháy cả Cửu Trùng Đài.Vũ Như Tô đúng là một nhân vật bi kịch Ông không thể nào trả lời câu hỏi “xây dựng Cửu Trùng Đài là đúng hay sai, là có công hay có tội? ” Là một nghệ

sĩ đầy tài năng và giàu sáng tạo, Vũ Như Tô muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô điểm cho đất nước, muốn làm đẹp cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật và đam mê sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc chốn, lạc điệu với thời thế, xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của bản thân và của cả công trình thấm đẫm mồ hôi tâm não của mình.Thật đau đớn thay, bi kịch thay cho đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn hột máu, hốt hoảng đến báo cho Vũ Như Tô, nếu không chạy trốn thì ông sẽ bị giết, nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi và vẫn day dứt một câu hỏi: “Tôi có tội gì? Tôi làm gì nên tội? Làm gì phải trốn?” Và vẫn hi vọng thuyết phục được

An Hoà Hầu, một kẻ cầm đầu một phe nổi loạn, song sự thực đã diễn ra một cách phũ phàng tàn nhẫn, không như ảo tưởng của Vũ Như Tô Khi tất cả chỉ là ảo vọng Đan Thiềm và ông bị bắt, Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ thì ông mới bừng tỉnh, ngửa mặt lên trời mà cất lên tiếng than ai oán tuỵệt vọng “Đốt thực rồi! Ôi Đảng ác! Trời ơi! Phú cho ta cái tài để làm gì Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm!

Ôi Cửu Trùng Đài! Thôi thế là hết! Dẫn ta đến pháp trường” Trong tiếng kêu than ấy, tiếng “Đan Thiềm, mộng lớn Cửu Trùng Đài” dồn dập vang lên hoà nhập vào nhau thành khúc ca bi tráng, ai oán, đầy tiếc thương Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”

3 Phát biểu cảm nghĩ

3.1 Thương người nghệ sĩ có tài có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh

tất cả cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm huyết sáng tạo cuả mình

3.2 Hiểu được rằng không có cái đẹp tách rời cái chân cái thiện Tác phẩm nghệ thuật không thể

chỉ mang cái đẹp thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời

“Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi

đi tới của văn chương” Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình

vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn dân

3.3 Rút ra bài học nhận thức: xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài

năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực

C Kết luận

Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhân dân Vì vậy vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ mới, nó vẫn còn nguyên

giá trị

Trang 10

Đề 2- (câu 5/10 điểm dành cho đề thi Đại học hoặc 12/20 điểm- dành cho đề thi học sinh giỏi)

- "Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa"

(Đời thừa - Nam Cao)

- "Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!"

(Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng)

Nỗi day dứt của Hộ và tiếng kêu đau đớn tuyệt vọng của Vũ Như Tô gợi cho anh (chị) suy nghĩ

gì về tấn bi kịch của người nghệ sỹ trong xã hội cũ? Những vấn đề nào đã được đặt ra qua tấn bi kịch của họ?

Gợi ý về đáp án:

I Yêu cầu chung: nắm vững kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học (dạng đề đối sánh)

Bố cục hợp lí, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo Diễn đạt, hành văn trong sáng, lời văn đẹp, ấn

tượng

II Định hướng làm bài và biểu điểm

1 Giới thiệu khái quát vấn đề: Kịch Vũ Như Tô được viết năm 1941 Truyện ngắn Đời

thừa được Nam Cao sáng tác năm 1943 Mặc dù khai thác hai đề tài khác nhau, viết bằng

hai thể loại khác nhau, nhưng tư tưởng của họ đã gặp nhau ở nhiều điểm: mối quan tâm đến

số phận của người nghệ sỹ tài năng; những suy tư về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc

đời; vấn đề phẩm chất của người nghệ sỹ Tất cả đều được thể hiện qua tấn bi kịch của hai

nhân vật: Vũ Như Tô và Hộ

2 Triển khai vấn đề

2.1 Phân tích tấn bi kịch của hai nhân vật

2.1.1 Giống nhau

2.1.1.1 Địa vị: mặc dù sống ở hai thời đại cách xa nhau, song cả hai đều là nghệ sỹ: Vũ

Như Tô là một kiến trúc sư, còn Hộ là một nhà văn

2.1.1.2 Phẩm chất

- Là người nghệ sỹ, ở họ đều cháy bỏng một niềm đam mê nghệ thuật

+ Vũ Như Tô: khao khát điểm tô đất nước, đem hết tài ra xây cho đất nước một tòa đài hoa

lệ, "thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công"

+ Hộ: ấp ủ một hoài bão: viết được một tác phẩm "làm mờ hết những tác phẩm cùng ra

một thời”.“Tác phẩm ấy sẽ ăn giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu”

- Ở góc độ con người, họ đều là những nhân cách đáng trọng:

+ Vũ Như Tô: có phẩm chất của một đấng trượng phu ở nhân cách cứng cỏi, thái độ coi

thường danh lợi

+ Hộ: một người giàu lòng nhân ái, vị tha

2.1.1.3 Số phận: qua tiếng kêu đau đớn của Vũ Như Tô “Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm

gì? và nỗi day dứt của Hộ “Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Thế nghĩa là hắn là một kẻ

vô ích, một người thừa” Người đọc có thể nhận ra: Họ đều lâm vào bi kịch đổ vỡ lý

tưởng, bi kịch phải sống một cuộc đời thừa

2.1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến tấn bi kịch của hai nhân vật: đều dựa trên cơ sở mâu thuẫn

giữa một bên là niềm khát khao sáng tạo, khát khao khẳng định tài năng, khẳng định ý

nghĩa sự tồn tại của cá nhân với một bên là hoàn cảnh, điều kiện sống không cho phép họ

thực hiện khát vọng của mình

2.1.1.5 Diễn biến mâu thuẫn:

* Hộ:

- Trước khi gặp Từ, Hộ chưa có bi kịch vì lúc ấy Hộ chỉ có một mình “Đói rét không có

nghĩa lí gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng”

- Mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh từ khi Hộ ghép cuộc đời mình vào cuộc đời Từ, bởi từ đó Hộ

0.5đ

5,0 đ

Trang 11

có cả một gia đình để chăm lo Để làm tròn bổn phận một người chồng, một người cha, Hộ

phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi

quên ngay sau lúc đọc Cuộc sống cơm áo không cho phép Hộ đầu tư công sức vào nghệ

thuật Hộ phải “viết để sống”, lấy văn chương làm kế mưu sinh Cách viết đó không đáp

ứng, thậm chí đi ngược lại yêu cầu của nghệ thuật chân chính “Văn chương không cần…

chưa có” Ý thức được điều đó, Hộ vô cùng đau khổ “Chao ôi! Hắn đã viết những gì? một

người thừa”

* Vũ Như Tô:

- Mâu thuẫn dẫn đến bi kịch: đó là mâu thuẫn giữa niềm khát khao sáng tạo, quan niệm

nghệ thuật cao siêu thuần tuý với lợi ích trực tiếp, thiết thực của đời sống nhân dân

- Mâu thuẫn nảy sinh từ khi Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm, quyết định

xây Cửu Trùng Đài (Lí do: sưu thuế tăng, thợ giỏi bị bắt bớ, người bị tai nạn, bị chết nhiều

vô kể…)

- Mâu thuẫn được thể hiện:

+ Qua những lời oán thán của nhân dân “Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông,

dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần dân trách móc là vì ông…”

+ Lời kết tội của bọn nội giám: việc sinh ra quân phản loạn trong triều cũng là vì Vũ Như

- Diễn biến của mâu thuẫn:

+ Năm lớp kịch đầu: mâu thuẫn giữa Vũ Như Tô, thợ thuyền và nhân dân chưa bị đặt vào

thế đối đầu trực tiếp Nó chỉ mới thể hiện gián tiếp qua lời của các nhân vật trung gian: Đan

Thiềm, bọn nội giám…

+ Kịch tính được đẩy lên từ lớp kịch thứ 6 (khi quân khởi loạn kéo vào nơi Vũ Như Tô

làm việc, gươm giáo sáng loà) Và càng căng thẳng hơn ở lớp kịch 7,8 khi quân khởi loạn

xúc phạm Vũ Như Tô, Đan Thiềm, truy bắt lũ cung nữ, cuối cùng bắt trói cả Đan Thiềm và

Vũ Như Tô

+ Mâu thuẫn được giải quyết ở lớp kịch thứ 9 với hai sự việc:

Nhân dân đốt phá Cửu Trùng Đài

Vũ Như Tô bị giải ra pháp trường

* Thái độ của nhà văn trước tấn bi kịch của hai nhân vật:

- Nam Cao: thấy rõ nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Hộ là do xã hội thực dân phong kiến

Qua tấn bi kịch của Hộ, Nam Cao lên án xã hội thực dân phong kiến đã bóp chết ước mơ,

tước đi ý nghĩa sự sống chân chính của con người

- Nguyễn Huy Tưởng: không giải thích được “Than ôi! Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết

Như Tô phải? Ta chẳng biết Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm!”

- Trong cái nhìn của chúng ta hôm nay thì cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều có cái phải và

cái không phải:

+ Những kẻ giết Vũ Như Tô:

Phải: ở chỗ đã không đồng tình với việc xây Cửu Trùng Đài

Không phải: ở hành động phá một công trình nghệ thuật to lớn; giết một nhân tài kiệt xuất

+ Vũ Như Tô:

Phải ở hoài bão, ước mơ, khát vọng

Không phải: ở con đường thực hiện lý tưởng (mượn uy quyền, tiền bạc của bạo chúa); ở

lòng đam mê nghệ thuật một cách mù quáng (thứ nghệ thuật Vũ Như Tô đam mê là thứ

nghệ thuật cao siêu thuần tuý, nó xa rời thậm chí đối lập với cuộc sống của nhân dân lúc

bấy giờ)

2.1.2 Khác nhau: ở kết cục của mỗi số phận

- Tấn bi kịch của Hộ tuy đau đớn, dai dẳng và thầm lặng ( sau bi kịch đời thừa, Hộ lâm tiếp

vào bi kịch thứ 2: một con người vốn tôn thờ lẽ sống tình thương, cuối cùng lại vi phạm

chính lẽ sống đó, trở thành một kẻ vũ phu, tàn nhẫn) Nhưng Hộ còn được sống (sống

thừa) Kết cục không đến nỗi quá bi đát

- Còn Vũ Như Tô:

Trang 12

+ Không thực hiện yêu cầu của Lê Tương Dực -> bị giết, bị tru di cửu tộc (chết vào tay Lê

Tương Dực)

+ Thực hiện yêu cầu của Lê Tương Dực -> Chết vào tay quân khởi loạn và nhân dân

=> Đằng nào cũng bế tắc! Người nghệ sỹ thiên tài này rơi vào cảnh cùng đường tuyệt lộ

(chỉ có một con đường chết)

2.2 Những vấn đề đặt ra qua tấn bi kịch của hai nhân vật

- Số phận của những nghệ sỹ tài năng trong xã hội cũ (xã hội ấy không có đất dụng võ, đất

sống cho những người tài Đây có lẽ cũng là tâm sự sâu kín của hai người nghệ sỹ Nguyễn

Huy Tưởng và Nam Cao)

- Cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ nghệ thuật – cuộc đời:

+ Đặt cuộc đời lên trên nghệ thuật -> Người nghệ sỹ phải sống một cuộc sống thừa

+ Đặt nghệ thuật lên trên cuộc đời -> Người nghệ sỹ có thể sẽ đánh mất nhiều thứ quý

giá khác (nhân phẩm - Hộ, thậm chí phải chết như Vũ Như Tô)

- Vấn đề phẩm chất nghệ sỹ:

+ Chữ tài phải đi liền với chữ tâm (không thể nói Vũ Như Tô có một cái tâm và một cái trí

sáng suốt khi mượn uy quyền tiền bạc của bạo chúa để thoả mãn khát vọng nghệ thuật của

mình)

+ Cái đẹp phải đi liền với cái thiện thì mới là cái đẹp đáng được tôn thờ

3 Kết luận

Cả hai tác phẩm đều rất xuất sắc

- Không chỉ đặt ra những vấn đề của đời sống mà còn rút ra những bài học có ý nghĩa

sâu sắc cho những người làm nghệ thuật Đồng thời được viết bởi những ngòi bút tài hoa,

điêu luyện

- Thể hiện sự thức tỉnh sâu sắc ý thức cá nhân của tầng lớp trí thức đương thời

0.5 đ

Trang 13

Lời vào bài: Có thể trước khi đến với bài học ngày hôm nay, cái tên Hoài Thanh đối với nhiều em đã

rất quen thuộc Học văn, có lẽ ai cũng có trong hành trang của mình những lời bình duyên dáng của ông Ví như với câu thơ của Xuân Diệu:

Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang, nắng trở chiều

ông viết: “ cảnh như muốn theo lời thơ mà tan ra Câu thơ chỉ mất đi một tí rõ ràng để được

thêm rất nhiều thơ mộng ”

Khó có thể kể hết được những lời bình hay của Hoài Thanh mà chúng ta đã được thưởng thức trong hành trình đi tìm kiếm vẻ đẹp của văn chương Trong khuôn khổ giờ học hôm nay, chúng ta cùng đến với một tiểu luận của ông Từ đó, các em có thể hình dung phần nào diện mạo, dáng hình của nhà phê bình nổi tiếng này

Tiểu luận có nhan đề là:

Một thời đại trong thi ca

(Trích)

Hoài Thanh

Có những nhà văn đa tài, sáng tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau Nhưng với Hoài Thanh, trước

sau ông chỉ đi về trên một thể loại: phê bình văn học Mà chức năng của văn phê bình là thẩm bình, đánh giá và lý giải về các hiện tượng văn học Đặc điểm cơ bản nhất: là một dạng văn nghị

luận, đối tượng là sản phẩm nghệ thuật Do đó, văn phê bình vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ

thuật

Đọc – hiểu một tác phẩm phê bình, chúng ta phải rất chú ý đến đặc điểm này

I Tìm hiểu chung

1) Tác giả (1909 -1982)

- Hoài Thanh là nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại Cả cuộc

đời ông là chuỗi dài những cuộc tìm kiếm đầy thích thú, mê say cái hay và vẻ đẹp của văn chương Như một nhà địa chất cần mẫn, yêu nghề, Hoài Thanh đã phát hiện được không ít vàng ngọc của thơ

ẩn trong lớp cát bụi của thời gian hay trong các mạch chìm nổi của cuộc đời

- Sự nghiệp phê bình của ông khá đồ sộ, nhưng tiêu biểu nhất phải kể đến là công trình Tuyển tập

đầu tiên về Thơ mới: cuốn Thi nhân Việt Nam (1942) Cho đến nay, công trình này vẫn khẳng định

được tác động sâu rộng của nó với đời sống văn học Từ trước tới nay, ít có công trình nghị luận văn chương nào được tái bản nhiều lần như vậy (Tính đến năm 2008, nó đã được in lại tới 34 lần)

- Ông là người ý thức sâu sắc về công việc của nhà phê bình Ông đã từng phát biểu:“Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật Tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình” và chọn cho mình lối phê bình “Lấy hồn tôi để hiểu hồn người”

- Ông đã in dấu được phong cách riêng của mình trên từng trang viết Đó là lối phê bình thiên về thưởng thức và ghi nhận ấn tượng, với giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế mà tài hoa, hóm hỉnh Điều đó có

lẽ được thể hiện đầy đủ và sinh động hơn cả trong “áng văn phê bình bất hủ” (Nguyễn Đăng Mạnh)

mà chúng ta sẽ tìm hiểu ngay sau đây

2) Đoạn trích

a) Xuất xứ và vị trí

MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA - HOÀI THANH (tiết 1)

Trang 14

- Bài tiểu luận thuộc phần đầu của tuyển thơ Thi nhân Việt Nam, nó có ý nghĩa quan trọng trong

việc định hướng cho độc giả đón nhận tuyển thơ này

- Đoạn trích thuộc phần cuối bài tiểu luận Nó đã thâu tóm vấn đề cốt tuỷ nhất là Tinh thần thơ

mới và kết tinh tất cả những tinh hoa của ngòi bút phê bình này

b) Nội dung và bố cục

- Nội dung: Vấn đề “Tinh thần thơ mới”

- Bố cục: 2 phần

+ Phần 1: Nguyên tắc để xác định Tinh thần thơ mới

+ Phần 2: Thâu tóm Tinh thần thơ mới trong khuôn khổ “chữ tôi” và sự vận động của thơ mới

xung quanh cái “tôi” và bi kịch của nó

Có thể nói, thơ mới là một hiện tượng hấp dẫn nhưng phức tạp Đánh giá về nó đã có bao công trình đồ sộ, công phu, nhưng cho đến nay chưa có ai vượt được Hoài Thanh về sự khúc chiết, giản dị mà tinh tế, tài hoa Để hiểu rõ hơn, chúng ta đi vào đọc hiểu văn bản cụ thể

II Đọc – hiểu văn bản:

Đứng trước một văn bản nghị luận nói chung, chúng ta có thể tìm hiểu theo hai cách:

+ Theo mạch lập luận của tác giả (lối cắt ngang)

+ Theo đặc trưng của thể loại văn nghị luận: cách lập luận, hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng (lối bổ dọc) Ở đây, chúng ta chọn cách tìm hiểu theo mạch lập luận của tác giả để dễ theo dõi

1 Nguyên tắc để xác định Tinh thần thơ mới

- Mục đích của việc nêu lên nguyên tắc này là Để giới hạn và thống nhất về đối tượng phê bình

- Việc này rất cần thiết Nếu không giới hạn và thống nhất được đối tượng phê bình, có thể sẽ có hiện tượng:

+ Người bênh thơ cũ: chỉ đề cập đến tinh hoa của mấy nghìn năm văn học

+ Người bênh thơ mới: chỉ nhắc đến những bài thơ Đường luật vô vị, nhạt nhẽo, “những cặn

bã của một lối thơ đã đến lúc tàn”

* Như thế, cuộc tranh luận sẽ thiếu tính khoa học và không đi đến đâu cả Vậy đây là công việc

rất cần thiết và quan trọng, là nền tảng khoa học cho tác phẩm

Nhà phê bình không nêu lên nguyên tắc ngay Ông đã trình bày theo trật tự:

- Bắt đầu từ việc trích dẫn thơ

+ Hai câu của Xuân Diệu: nặng tính ước lệ, cổ điển + Hai câu của một nhà thơ cũ nổi tiếng: giọng điệu trẻ trung, hiện đại

- Tiếp theo là quá trình lập luận:

+ Mỗi nhà thơ nổi danh đều có thể có những câu thơ hay nhưng không tiêu biểu + Mỗi thời đại đều có những bài thơ dở, những tác giả kém cỏi, bất tài

+ Đã không tiêu biểu thì không thể đại diện cho thời đại, đã tầm thường, lố lăng thì không có tinh thần để mà tìm hiểu

- Cuối cùng: Nêu lên hai nguyên tắc cần triệt để tuân theo về đối tượng phê bình

+ Căn cứ vào cái hay + Căn cứ vào đại thể

- Nhận xét về cách lập luận của tác giả:

+ Nhà phê bình không áp đặt suy nghĩ chủ quan của mình Ông đã chọn cách lập luận theo lối quy nạp để thuyết phục người đọc bằng luận chứng tiêu biểu, luận cứ xác đáng và luận điểm rõ ràng Do

đó, vấn đề được trình bày giản dị, sinh động mà biện chứng, khách quan

2 Tinh thần thơ mới: cái tôi

Trang 15

- Nhận xét về cách dùng từ “Tinh thần thơ mới” Thực chất của việc xác định tinh thần thơ mới là gì? Tinh thần (hay linh hồn) cùng với hình xác là hai phương diện trong sự tồn tại của một cá thể Để nhận biết và đánh giá, người ta có thể căn cứ vào hình xác bên ngoài, nhưng có thể căn cứ vào tinh thần bên trong của nó Cách dùng từ này cho thấy quan niệm biện chứng của tác giả về đối tượng, lối nói gợi cảm mà chính xác của ông Thực chất, việc xác định tinh thần thơ mới là xác định bản chất, đặc trưng của nó

Việc xác định đặc trưng của thơ mới – “một thời đại trong thơ ca”, “một cuộc cách mạng trong thơ ca” - là công việc lớn lao, phức tạp, khó khăn Một thời đại kéo dài 10 năm, hàng

nghìn bài thơ, hàng trăm tác giả, phân hoá theo hàng chục trường phái khác nhau Vấn đề Tinh thần,

bản chất mang tính trừu tượng, khó hình dung Nó ngang tầm với một đề tài khoa học lớn

Vấn đề lớn lao, phức tạp ấy đã được tác giả thâu tóm bằng cách đối sánh thơ mới và thơ cũ ở phương diện chủ thể sáng tạo

Cách nói: Vừa hàm súc, vừa ấn tượng, vừa lạ lại vừa hay Lạ vì từ xưa tới nay chưa ai thâu tóm vấn đề ngắn gọn mà giản đơn như thế Hay vì nó đã bắt trúng mạch hai dòng chảy thi ca của hai thời đại này

- Cách khẳng định vấn đề: hai cách: Hoặc là chứng minh cái tôi chỉ có ở thơ nay Hoặc chứng minh

cái tôi không có ở thơ xưa Tác giả đã chọn cách thứ hai

+ Trên đại thể: Xã hội Việt Nam xưa không có cái tôi Cá nhân, bản sắc cá nhân chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả Cách nói giàu hình ảnh, giúp người đọc

hình dung ý thức cá nhân trong thơ xưa mờ nhạt như thế nào

+ Cá biệt: Vẫn có những bậc kỳ tài ghi hình ảnh của họ vào trong thơ Nhưng đó không phải là cái tôi với ý nghĩa tuyệt đối của nó

- Giọng điệu tranh biện như đang đối thoại cùng người đọc, lôi kéo sự nhập cuộc của họ Cách dùng

từ xưng hô đặc biệt: dùng từ “họ” để chỉ những bậc kỳ tài của thơ cũ Từ họ được lặp lại với mật độ dày đặc (10 lần trên 9 dòng văn) không chỉ là đại từ thay thế, tạo tính liên kết mà còn phản ánh sự khác biệt cũng như khoảng cách giữa người thời đại sau (nhà phê bình) với người thời đại trước (các thi nhân thơ cũ) Hệ thống ngôn từ có tính chất biểu cảm, chứa đựng một cách nhìn chưa từng có về những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương Cũng như hầu hết mọi người, nhà phê bình nhìn về họ với đôi mắt kính nể (vì tài năng của họ), nhưng khác mọi người,

ông còn nhìn họ với đôi mắt thương cảm (vì sự nhút nhát của họ) Đây không phải là thái độ phạm thượng, vì bao bọc câu chữ là niềm cảm thông sâu xa với những bậc kỳ tài đã nhìn thấy giới hạn của thời đại, đã cố gắng vượt qua nhưng không thể có sự vươn mình trọn vẹn

Nhận xét:

Với lập luận chặt chẽ, sắc sảo, cách nói giàu hình ảnh, cảm xúc, giọng điệu tranh biện sôi nổi mà tha thiết, ngôn từ gần với cách nói hàng ngày, giản dị, hóm hỉnh mà chứa đựng một trí tuệ sáng suốt, một học vấn uyên bác, một tâm hồn giàu rung cảm, đây là áng văn vừa có tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Phẩm chất khoa học bộc lộ ở những luận điểm mới mẻ, sâu sắc, phản ánh được bản chất của sự vật, được luận giải một cách chặt chẽ khúc chiết, có tính thuyết phục cao Còn phẩm chất nghệ thuật được bộc lộ ở những cảm xúc thẩm mĩ tinh tế, hoá thân thành giọng điệu riêng của tác giả, thành hình ảnh diễn đạt, thành lối dẫn dắt, thành thứ ngôn ngữ vừa chính xác, hàm súc vừa uyển chuyển gợi cảm Cả hai bình diện khoa học và nghệ thuật cùng hoà hợp với nhau nhuần nhuyễn và sống động Không phải ngòi bút phê bình nào cũng đạt được sự nhuần nhuyễn như vậy

Trang 16

Giờ trước, chúng ta đã tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm, nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới -

sự xuất hiện của cái Tôi và phản ứng của xã hội trong quá trình tiếp nhận nó Vậy, cái tôi ấy có đặc điểm như thế nào? Bi kịch của nó ra sao? Giờ học này, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu những nội dung này trên cơ sở tiếp nối hệ thống kiến thức của giờ học trước:

I Tìm hiểu chung

II Đọc hiểu văn bản

1 Nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới

2 Tinh thần thơ mới: cái tôi- Sự vận động của thơ mới xung quanh cái “tôi” và bi kịch của nó 2.1 Tinh thần thơ mới: cái Tôi (so sánh với cái Ta)

+ Nội dung của chữ "Tôi" là ý thức cá nhân cá thể trong đời sống tinh thần con người

+ Nội dung của chữ "Ta" là phần ý thức cộng đồng (chữ dùng của Hoài Thanh là "đoàn thể") trong đời sống tinh thần của con người

- Hai ý thức này là hai tiếng nói tồn tại trong mỗi người Ở thời trước, cái Ta lấn át hoàn toàn, cái Tôi không có cơ hội để nảy nở Còn thời đại này, cái Tôi trỗi dậy giành quyền sống Phong trào Thơ mới nảy sinh từ sự trỗi dậy của cái Tôi đó

Tác giả nhìn nhận, đánh giá đối tượng không phải bằng con mắt giản đơn, tĩnh tại, ở đây, nhà phê bình đã giúp ta chú ý đến sự xuất hiện làm xôn xao dư luận của chữ tôi cá nhân, khắc hoạ sự vận động của một sinh thể đẹp đẽ nhưng rất mong manh trên hành trình chiếm lĩnh vị trí của nó trong đời sống văn học

2.2 Sự vận động của cái tôi thơ mới

+ Ban đầu: “Ngày thứ nhất”: Xuất hiện với vẻ ngoài khác lạ, dáng điệu bỡ ngỡ

Mọi người đón nhận với thái độ khó chịu, xét nét đầy ác cảm Ta có thể liên tưởng đến tình cảnh của

một người khách không mời, có người cho rằng đó là cảnh ngộ của một cô dâu mới Lại có ý kiến cho rằng đó là tình cảnh của kẻ ngụ cư

+ Về sau: “Ngày một ngày hai”, cái tôi đã được quen dần Mọi người có một thái độ khác: nhìn bằng đôi mắt thương cảm và có sự đồng cảm

Nhà phê bình đã giúp chúng ta hình dung về chữ tôi trong thơ mới như bằng lối nói hình tượng đặc sắc: chữ tôi như một con người có diện mạo, cảnh ngộ, số phận, cũng phải chịu áp lực của dư luận như một con người Nhưng bi kịch của nó không chỉ là thế Thậm chí, ngay cả khi thái độ của mọi

người đã thân thiện hơn, bi kịch của nó cũng không vì thế mà giảm bớt

2.3 Bi kịch của cái tôi: đáng thương, tội nghiệp

- Đáng thương vì nó nhỏ bé và cô đơn Tội nghiệp vì nó mang thể trạng yếu đuối và có cuộc sống

bế tắc Những câu văn sau đây có thể giúp ta hình dung về điều đó:

- Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi

Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi

Chữ ta với họ to rộng quá

So sánh mang tính hình tượng, trong sự đối lập chữ tôi với chữ ta để thấy vóc hình nhỏ bé, lại bị ràng buộc chật chội nên tù túng, bế tắc Phải chăng, đó cũng là một thứ giường chiếu hẹp của

những cuộc đời con mà ta được gợi liên tưởng từ đoạn thơ của nhà thơ Chế Lan Viên:

“ Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA - HOÀI THANH (tiết 2)

Trang 17

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn ”

- Vẻ tội nghiệp của cái tôi còn được gợi ra qua so sánh: cùng viết về cái nghèo, nếu Nguyễn Công

Trứ cười cợt với cảnh nghèo, Xuân Diệu lại rên rỉ khóc than Qua đó, có thể thấy thi nhân ta cơ hồ đã

mất hết cốt cách hiên ngang thuở trước; họ yếu đuối đến khổ sở, thảm hại Đến đây, ta chợt nhớ đến

những lời tự bạch, tự thương của những cái tôi trong thơ mới: họ thấy mình như con nai bị chiều đánh lưới, không biết đi đâu đứng sầu bóng tối; họ thấy mình như ở giữa tinh cầu giá lạnh; một vì sao trơ trọi cuối trời xa; thấy mình là hoa trong rừng thẳm nở trong vô tình; mình khờ khạo lắm ngu ngơ quá…Rõ ràng, so với những vần thơ khí cốt cách của Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn

Công Trứ, Cao Bá Quát, cái tôi thơ mới tội nghiệp hơn hẳn Có ý kiến cho rằng: trích thơ Nguyễn Công Trứ ở đây không thật hợp, vì cảnh nghèo của Nguyễn Công Trứ là cái nghèo có phần nhếch nhác, tiếng cười ở đây mang sắc thái chua chát Nên trích thơ Nguyễn Khuyến, vì cảnh nghèo trong thơ ông đẹp và sang, tiếng cười của ông hóm nhẹ, thanh thản Nhưng thực ra, không phải bao giờ Nguyễn Khuyến cũng có thể vui trước cảnh nghèo như vậy Một số bài cũng cay đắng và chua chát không kém

- Trở lại với sự so sánh Nguyễn Công Trứ với Xuân Diệu, như thế không phải Hoài Thanh hạ thấp

thơ mới, mà là một cách bênh vực có tình của tác giả Bởi lẽ con người ấy là sản phẩm của thời đại,

là tiếng nói của thời đại Ta có thể nhận thấy rất rõ điều này qua cách xưng hô của tác giả ở phần

tiếp theo, nói về các hướng lớn của Thơ mới khi đào sâu vào cái Tôi (hay là những biểu hiện của cái tôi thơ mới:

“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn, trở về hồn ta cùng Huy Cận ”

+ Từ “ta” ở đây không giống với từ “ta” khi nói về tinh thần thơ cũ Cách xưng hô của tác giả

đã thay đổi: từ TA và HỌ sang CHÚNG TA, TA Chữ “HỌ” hoàn toàn biến mất, ở đây là chữ TA nặng trĩu ý thức cá nhân của các nhà thơ mới, trong đó có tác giả Dường như khoảng cách giữa nhà phê bình với các thi nhân thơ mới đã bị xoá bỏ hoàn toàn Từ việc lấy hồn ta để hiểu hồn người, nhà phê bình đã đồng cảm, hoá thân vào người, nói về nỗi niềm, tình cảnh của người cũng là của chính mình “Nếu các nhà thơ trong phong trào Thơ mới là Bá Nha thì họ đã có một Tử Kỳ chính là Hoài Thanh” (Ngô Văn Phú) Là con đẻ của một thời đại trong thi ca, sống hết mình với lịch sử dân tộc,

ông không thể bặm miệng (lời Hoài Thanh) mà không trải hết mọi vui buồn trên trang giấy Điều đó

làm nên một hình tượng cái tôi khá hấp dẫn trong những trang văn

Nhận xét về đoạn văn:

- Đặc sắc của đoạn này là những khái quát rất chính xác, súc tích, lại được viết bằng một lối văn giàu nhịp điệu khiến cho văn phê bình mang đậm chất thơ

+ Về ý tứ: chủ đề bao trùm là nỗ lực đào sâu vào ý thức cá nhân của Thơ mới Chủ đề được triển

khai thành hai phần chính: một là, khái quát về hướng tìm tòi và hệ quả chung; hai là, điểm qua những gương mặt điển hình cùng những lãnh địa cá nhân điển hình của Thơ mới để thấy được sự phân hoá đa dạng cùng sự quẩn quanh bế tắc của ý thức cá nhân

+ Về văn phong: có dạng ngôn từ phi khái niệm (không phải là những khái niệm trừu tượng) dung dị

dễ hiểu mà vẫn súc tích, diễn đạt được bản chất của đối tượng

+ Cách cấu tứ: tạo ra hình ảnh một độc giả cứ theo chân của những nhà thơ tiêu biểu bước vào cõi thơ riêng của mỗi vị

Trang 18

+ Đặc biệt, nhịp điệu của đoạn văn hết sức dồi dào Những câu văn dài, gồm nhiều vế nhịp nhàng, có

sự đắp đổi luân phiên về bằng trắc, tạo giọng điệu du dương, tha thiết như tác giả đang nói về chính

mình Hệ thống các vế câu có cùng cấu trúc ngữ pháp, với chủ thể được lặp lại liên tiếp, kết hợp hệ

thống cụm từ chỉ cảm xúc, cảm giác, tâm trạng , diễn tả sự khao khát, đắm say dạt dào của chủ thể

sáng tạo trong nỗ lực tự giải thoát và của nhà phê bình trong sự nhập cuộc Hệ thống từ ngữ giàu

hình ảnh, kết hợp với một loạt tên tuổi các thi nhân thơ mới đã diễn tả hàm súc, chính xác sự phân

hoá của thơ mới gắn với những phong cách và tên tuổi tiêu biểu Nhà nghiên cứu phê bình Lê Bá Hán

có nhận xét : “Anh có thể nắm bắt bén nhạy cái “thần” của một tác giả, khái quát được khá tập trung phần tinh túy nhất của một hồn thơ Có khi, chỉ với vài từ hoặc một câu ngắn gọn, Hoài Thanh đã diễn đạt được cái cốt cách của một “nhà”

- Đây quả là những câu văn đầy chất trí tuệ và cảm xúc Nhạc tính của nó không chỉ ở sự du dương trầm bổng của âm điệu mà còn ở sự sôi nổi tha thiết của tâm hồn Những câu văn được chia thành nhiều vế đối thanh, đối ý, đối lời, đối nhịp, tạo nên tầng tầng lớp lớp những hình ảnh “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” Cảm xúc cứ căng tràn để rồi lại chùng xuống thẫn thờ ở câu cuối đoạn Đây là đoạn văn thể hiện rõ nhất chất thơ trong văn phê bình của Hoài Thanh Nó đã giúp người đọc cùng đồng cảm, thương cảm cho bi kịch của cái Tôi thơ mới

- Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra điểm thiếu hụt trong ý thức của cái Tôi “Thời trước, dầu bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dầu bị khinh bỉ như cô phụ trên bến Tầm Dương, vẫn còn có thể nương tựa vào một cái gì không di dịch Ngày nay lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hòe phủ trên thi tứ Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều : một điều cần hơn trăm nghìn điều khác : một lòng tin đầy đủ” Bằng sự giản dị và cô đọng trong bút pháp mà vẫn không làm mất đi sự mềm mại, quyến rũ của nghệ thuật văn chương với những câu văn thật trang nhã, đầy chất thơ, tác giả cũng chỉ ra điểm thiếu hụt trong ý thức của cái Tôi một cách nghệ thuật

- Tuy nhiên cái tôi thơ mới không chỉ tội nghiệp, đáng thương, nhà phê bình không chỉ nhìn nó không chỉ với đôi mắt tràn đầy thương cảm Nhan đề “Một thời đại trong thi ca” đã phần nào hé mở cho chúng ta câu trả lời cho giải pháp của bi kịch

2.4 Giải pháp cho bi kịch: dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt Trên cơ sở giá trị

truyện Kiều, tác giả đã khái quát về vấn đề dân tộc Theo tác giả, khi gửi tình yêu nước vào tình yêu tiếng Việt thì trong thất vọng sẽ nảy mầm hi vọng, thấy tinh thần nói giống chỉ có biến thiên chứ không thay đổi Dân tộc, ngôn ngữ không bị mất đi Tìm về tiếng Việt, họ vin vào những gì bất diệt, cần tìm về dĩ vãng đủ để đảm bảo cho ngày mai Lòng yêu nước có thể biểu hiện phong phú đa dạng, trong lao động, trong chiến đấu, yêu giang san, tự hào trước nền văn hóa dân tộc Ở đây, lòng yêu nước biểu hiện qua tình yêu ngôn ngữ Nhìn chung, lòng yêu nước trong văn học lãng mạn được thể hiện gián tiếp, thầm kín, không trực tiếp, sôi nổi, mạnh mẽ như trong văn học cách mạng

3 Những thành công về nghệ thuật của bài tiểu luận

3.1 Kết cấu chặt chẽ, lập luận khoa học

3.2 Trình tự lập luận: nêu những biểu hiện khái quát, sau đó, đi vào những dẫn chứng cụ thể Ví

dụ, đoạn văn nhận định về sự bế tắc của cái tôi Đời chúng ta khái quát, sau đó chỉ ra biểu hiện cụ

thể của từng nhà thơ, làm sáng tỏ bằng những dẫn chứng ngay trong nhận định về từng nhà thơ cũng khái quát

3.3 Sự cảm nhận tinh tế bằng văn chương giàu chất nghệ thuật, giàu chất thơ

+ Lời văn giàu cảm xúc, viết văn nghị luận bằng giọng của người trong cuộc, chia sẻ, đồng cảm Lấy hồn tôi để hiểu hồn người

Ngày đăng: 25/08/2017, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w