1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BỘ TÀI LIỆU ÔN LUYỆN THPTQG MÔN NGỮ VĂN PHẦN 3 KÈM VIDEO BÀI GIẢNG

79 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 9,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 3 của bộ tài liệu là nói về giai đoạn 19301945 Truyện ngắn. Các tác phẩm trong giai đoạn này bao gồm: 1. Hai đứa trẻ (Thạch Lam) 2. Chí Phèo (Nam Cao) 3. Đời thừa (Nam Cao) 4. Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng) 5. Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) Để nhận được bài giảng các bạn vui long liên hệ với mình qua tin nhắn của 123doc hoặc gmail: 01633306424HVDgmail.com nhé. Chúc các bạn học tốt

Trang 1

MOON.V N

Mở đầu

- Người ta vẫn nói rằng, nghệ thuật phải nảy sinh từ những đối cực Cái bình thường là đất chết của nghệ thuật Điều đó thật đúng với Nguyễn Tuân, nhà văn chuyên đi tìm những vẻ đẹp rực rỡ, phi phàm; đúng với Nam Cao, người chuyên sục vào những mảnh đời gồ ghề, dị biệt; đúng với Vũ Trọng Phụng, người nung đốt tâm can mình và văn mình bằng thứ lửa của lòng căm thù mãnh liệt…Nhưng Thạch Lam lại khác Người không chịu viết về cái gì đặc biệt, những sự tích phi thường Cứ giản dị hiền lành như một bó rau quê, cứ đều đều rủ rỉ ân tình, người đi tìm “cái đẹp man mác khắp trong vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường”, và người đã thấy “cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, cái đẹp còn kín đáo và ẩn nấp” để rồi sẽ mang đến cho ta

“một bài học về sự trông nhìn và thưởng thức” (Thạch Lam- Một vài ý nghĩ- Trích lại Thạch Lam- văn và đời- NXB Văn học- H- 1999 tr 597)

- Ở lớp 7, các em phần nào đã cảm nhận được điều này qua áng văn như có nhung có tuyết:

Một thứ quà của lúa non, cốm Giờ học hôm nay, chúng ta cùng trở về bóng đêm u uất và nhẫn nại

của trời thôn quê Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám để thấy tấm lòng thiết tha trìu mến của Thạch Lam với cuộc sống, con người và nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật riêng, không trộn

lẫn với bất cứ nhà văn nào khác

I- Vµi nÐt vÒ t¸c gi¶

Thạch Lam sinh ngày 7-7-1910, tức ngày 1- 6 âm lịch, năm Canh Tuất tại Thái Hà Ấp, gần Hà

Nội; mất ngày 28-6-1942 tại làng Yên Phụ cạnh Hồ Tây, vì bệnh lao Số sáu có nhiều gắn bó với Thạch Lam, sinh vào tháng sáu âm lịch, mất tháng sáu dương lịch, là người con thứ sáu trong gia đình Nguyễn Tường, sáu năm đích thực viết văn, để lại sáu cuốn sách nhỏ: Gió đầu mùa, truyện ngắn, Ðời Nay, Hà nội, 1937 Nắng trong vườn, truyện ngắn, Ðời Nay, Hà nội, 1938 Ngày mới, truyện dài, Ðời Nay, Hà Nội, 1939 Theo giòng, tiểu luận văn học, Ðời Nay, Hà Nội, 1941 Sợi tóc,

truyện ngắn, Ðời Nay, Hà Nội, 1942 Hà Nội băm sáu phố phường, Ðời Nay, Hà Nội, 1943

Những truyện ngắn của Thạch Lam trong ba tập Gió đầu mùa, Nắng Trong vườn, Sợi tóc và tuỳ bút Hà Nội băm sáu phố phường là một chuỗi tác phẩm viết khá đều tay, mỗi quyển đều có một số

truyện thật hay, xứng đáng xếp vào loại những truyện ngắn giá trị của Việt nam trong thế kỷ hai mươi

(Quê nội làng Cẩm Phô, Hội An, Quảng Nam Quê ngoại: huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Năm lên bảy, cha qua đời Thủa nhỏ học trường sơ học Cẩm Giàng tới 14 tuổi Sau khi đỗ tú tài phần

thứ nhất (lớp 11), quyết định nghỉ trường, ở nhà học các anh Từ 1931, Thạch Lam bắt đầu làm báo Tác phẩm đầu tay Gió đầu mùa tuy được độc giả hoan nghênh, nhưng sách của Thạch Lam vẫn bán chậm nhất trong Tự Lực văn đoàn)

Thạch Lam khác với những người cùng thời, kể cả các anh Trong khi mọi người thi nhau viết tiểu thuyết luận đề, hoặc hiện thực xã hội, với những mục đích chính xác: lên án xã hội hoặc cổ vũ quần

chúng theo con đường mới Thạch Lam cũng muốn "tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác" như ông viết trong "Lời nói đầu" tập Gió đầu mùa, nhưng Thạch Lam không cải thiện, giáo huấn mà ông nhờ thiên nhiên, nhờ sự tình cờ nói hộ để gián tiếp "gơị ý" cho ta biết, ta có thể sống

cao hơn, nhân ái hơn Từ chối chỉ đạo mà chỉ gợi ý, Thạch Lam đã làm công việc của một nhà thơ

trong văn và ông coi ngẫu nhiên như một tất yếu của cuộc sống Với Thạch Lam, trong đời sống,

mỗi thực thể đều như có một "sự sống" riêng, kể cả sợi tóc, kể cả chiếc gạt tàn thuốc lá vấn đề là

HAI ĐỨA TRẺ - THẠCH LAM (tiết 1)

Trang 2

MOON.V N

bạn có đủ tinh tờ́ đờ̉ nhọ̃n ra và đủ óc tưởng tượng đờ̉ kờ́t nụ́i những tương quan trong trời đṍt, trong

đụ̀ vọ̃t, sự vọ̃t và con người với nhau khụng

Như vọ̃y, ta có thờ̉ khái quát những nét chính:

- Thạch Lam tuy có chân trong Tự lực văn đoàn, nh-ng t- t-ởng thẩm mĩ lại đi theo một

h-ớng riêng Thế giới nhân vật là những lớp ng-ời nghèo cơ cực, bế tắc

- Thạch Lam viết với tấm lòng th-ơng cảm sâu sắc của một tâm hồn đôn hậu, nhạy cảm, tinh

tế với mọi biến thái tâm trạng của con ng-ời đau khổ

- Ông sáng tác nhiều tác phẩm giá trị nh- “Gió lạnh đầu mùa”, “Nắng trong v-ờn”, “Sợi

tóc”, “Hà Nội băm sáu phố ph-ờng” đồng thời cũng là cây bút tiểu luận phê bình văn học xuất sắc

Nhưng sở tr-ờng về truyện ngắn – loại truyện tâm tình, tâm trạng, thiờn vờ̀ khai thác chất thơ của đời sống th-ờng ngày làm nên sự hấp dẫn của truyện Ông là ng-ời đem chất thơ vào văn xuôi

Đõy là cõu chuyợ̀n thọ̃t của hai chị em Thạch Lam, (theo lời kờ̉ của bà Nguyờ̃n Thị Thờ́, chị

ruụ̣t của Thạch Lam), mụ̣t trong những truyợ̀n ngắn hay nhṍt dựa nờ̀n trờn sự tương phản giữa ánh

sáng và bóng tụ́i Tóm tắt theo lối tóm tắt của Nguyễn Tuân:

" Truyện ngắn Hai đứa trẻ cốt truyện không có gì đặc biệt nh-ng đọc xong truyện, ng-ời đọc vẫn cảm nhận đ-ợc một d- vị đậm đà khó quên đ-ợc ẩn hiện thật kín đáo, thật lặng lẽ sau những hình ảnh, giữa những dòng chữ

Câu chuyện là mẩu sinh hoạt của hai chị em Liên và An, vì ng-ời cha mất việc làm ở Hà nội cả gia đình phải về quê để sinh sống, hai chị em đã thay mẹ trông nom một gian hàng bán các thứ vặt vãnh một gian hàng quá bé nhỏ ở một ga xép (loại ga phụ nhỏ trên một trục đ-ờng sắt)

Cứ đêm có những bóng ng-ời bình th-ờng lù đù đi qua Những bóng ng-ời ấy giống nh- ánh sáng lù mù của những chấm lửa, của những hột sáng, quầng sáng vốn là ánh sáng của phố huyện nghèo

Trong cái buồn bốn bề chìm chìm nhạt nhạt và mờ mờ ấy, bỗng có một tiếng động mạnh, một luồng ánh sáng rực rỡ của một chuyến xe lửa đi qua - hoạt động cuối cùng của một ngày và bao giờ cũng vào thời khắc đã định, cái âm thanh luồng sáng ấy đi qua nh- một tia chớp

Sau đó, sau những phút giây ngày nào cũng chờ chuyến tàu đi qua, chị em Liên lại b-ớc vào

giấc ngủ "giấc ngủ yên tĩnh cũng yên tĩnh nh- đêm ở phố, tịch mịch và đầy bóng tối"

3- Chia đoạn: Ba đoạn t-ơng ứng trong tác phẩm

III Đọc hiờ̉u văn bản

+ Hình ảnh "Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hụ̀ng như hòn than sắp tàn"

Phép so sánh kép làm nổi không gian buổi chiều quê nơi phố huyện Bức tranh có đường nét, màu sắc âm thanh nhưng tất cả đều gợi sự tàn tạ Dãy tre làng đen kịt in dấu trên nền trời Đoạn văn

mở đầu thiên truyện là phong cảnh làng quê lúc chiều tàn, được cảm nhận từ xa tới gần

+ Làm nền cho tiếng trống là bản nhạc dân dã, quen thuộc, tiếng rền rĩ của côn trùng, tiếng ếch nhái kờu ran ngoài đụ̀ng ruụ̣ng

+ Bóng tối là chi tiết đ-ợc miêu tả nhiều nhất nh- một ám ảnh đè nặng lên cảnh vật và mọi con ng-ời

Trang 3

MOON.V N

- Bóng tối đến với tiếng trống thu không

- Bóng tối đến với đám mây hồng nh- hòn than sắp tàn

- Bóng tối đến với cảnh muỗi bay vo ve

=> Nói tóm lại, bóng tối đang hành động, đang thâm nhập, luồn lách bám sát vào mọi cảnh vật, mọi trạng thái hành động âm thầm của mọi sinh vật Bóng tối v-ợt qua cái ranh giới tự nhiên thấm vào da thịt con ng-ời đem theo cái nỗi buồn của buổi chiều quê, thấm thía tới tận chỗ sâu kín nhất của tâm hồn con ng-ời nh- tâm hồn ngây thơ của Liên Thạch Lam đã dựng lên trong truyện của mình không gian bóng tối ánh sáng xuất hiện thì chỉ là thứ ánh sáng đang tàn dõ̀n làm cho đêm tối

trở nên mênh mông hơn

Trên cái nền không gian ấy, hình ảnh những con ng-ời trong bóng tối đ-ợc miêu tả nh- thế nào?

1.2 Cảnh những kiếp ng-ời tàn tạ

- Hiện lên trong bức tranh chiều tối ấy là những thân phận tàn tạ đang héo mòn

+ Liờn : ngụ̀i yờn lặng bờn quả thuụ́c sơn đen, cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, tụ́i, muụ̃i, gian hàng bé thuờ lại của bà lão móm, ngăn ra bằng tṍm phờn nứa dán giṍy nhọ̃t trình ; cái chõng tre sắp gõ̃y

+ Lũ trẻ nhặt rác bãi chợ xuất hiện với dỏng điợ̀u lom khom đi lại trờn mặt đṍt nhặt nhạnh, tỡm tòi bṍt cứ cỏi gỡ cú thờ̉ dựng được của cỏc người bỏn hàng đờ̉ lại- tuổi thơ đã sớm phải giã từ

+ Mẹ con chị Tí : thằng cu bé xỏch điếu đúm và khiờng hai cỏi ghế trờn lưng ở trong ngõ đi

ra, mẹ nú theo sau, đụ̣i cỏi chõng trờn đầu và tay mang khụng biết bao nhiờu là đụ̀ đạc : tṍt cả cỏi cửa hàng của chị (Cảnh hiợ̀n lờn qua cái nhìn của trẻ con ! Cửa hàng của chị chỉ có mụ̃i món nước

chè tươi và thuụ́c lào ! Cuụ̣c đời bị đè nặng bởi kiếp sống nghèo nàn) Tưởng như mụ̃i chi tiờ́t đờ̀u

được nhìn bằng tṍt cả sự chăm chú và thiờ́t tha, dõi theo từng đụ̣ng tác cử chỉ của họ, “Đọc văn Thạch Lam, thṍy bọ̃n bịu vụ hạn về mụ̣t tṍm lòng quờ hương ờm mỏt và sõu kín” (Nguyờ̃n Tuõn)

+ Cụ Thi điên mang đến và mang theo một tiếng c-ời khanh khách nhỏ dần Một cụ Thi điên cuộc đời không rõ ràng Giọng nói, lời khen, cử chỉ xoa đõ̀u thọ̃t hiờ̀n Nhưng cái cách ngửa cổ uụ́ng mụ̣t hơi cạn sạch, cái dáng lảo đảo, điợ̀u cười khanh khách rõ ràng đang ẩn chứa một nỗi lòng u uất

- Câu nói của chị Tí: “ối chao sớm với muộn mà có ăn thua gì”?

- Một sự mong đợi quen thuộc của mỗi ngày

- Sự lặp lại những động tác đơn điệu

=> Những nét vẽ về âm thanh, ánh sáng, con ng-ời của bức tranh phố huyện t-ởng nh- rời rạc nh-ng lại hoà quyện cộng h-ởng trong một hệ thống u buồn, trầm mặc thật thấm thía, xót xa

1.3 Tõm trạng của Liờn

+ Đụi mắt chị búng tụ́i ngọ̃p đầy dần…

+ Khụng hiờ̉u sao nhưng thṍy lòng buụ̀n man mỏc trước giờ khắc của ngày tàn

+ Nỗi buụ̀n của buổi chiều quờ thṍm thía vào tõm hụ̀n ngõy thơ của chị

+ Đụ̣ng lòng thương, nhưng chính chị khụng cú gỡ đờ̉ cho chúng

+ Trong lòng hơi run sợ, chị mong cho cụ chúng đi…Khụng cường điợ̀u, khụng lờn gõn

- Mụ̣t cụ bé tuổi thõ̀n tiờn mà Thạch Lam trõn trọng gọi bằng chị, chứ khụng bao giờ nỡ gọi nhõn vọ̃t của mình là y, thị, gã, hắn…dù họ có thuụ̣c tõ̀ng lớp thṍp kém, nghèo hèn Nhà mẹ Lờ, An, Liờn, Hiờn, Sơn, Thanh, Nga, những cái tờn khụng dṍu thanh gợi sự hiờ̀n lành…đờ́n cả những người

lỡ phải trở thành gái điờ́m, nhà văn cũng thương xót gọi nàng Đó khụng đơn thuõ̀n là cách xưng hụ,

mà là biờ̉u hiợ̀n của mụ̣t tṍm lòng quý yờu thành thực Đi qua khung cửa đõ̀y xao đụ̣ng của tuổi thơ

Liờn, An, mụ̃i chi tiờ́t đờ̀u có sức vang vọng, ngõn rung những sợi tơ lòng thõ̀m kín Không hẳn là

một cô gái thành thị, nhưng cũng chẳng phải là một cô gái quê, chưa phải người lớn mà cũng không còn là cô bé Bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà bức tranh tâm trạng của nhân vật Liên lại

mở ra từ giai điệu tiếng trống thu không

Trang 4

MOON.V N

- Văn Thạch Lam như có họa có nhạc Nét vẽ có màu - những gam màu không phải không có lúc chói gắt (Phương Tây đỏ rực,…đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn) đường nét không phải không có khi sắc cạnh gồ ghề (dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền

trời) Trên cái nền không gian ấy, một âm điệu một cảm hứng thơ tràn ngập cất lên " Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru" Có tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng nhạc đồng quê ấy

từ xa đa lại nên chỉ "văng vẳng" lúc có lúc không và "theo gió nhè nhẹ đưa vào" Khúc nhạc đồng

quê hợp với cái tôi đa cảm trầm tư của Liên: "Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen,

đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây

thơ của chị"…Đối thoại với Liên trong giờ phút ấy chỉ là những phản ứng tự nhiên của ngôn

từ, người nói không để tâm đến điều mình nói

"- Em thắp đèn lên chị Liên nhé ?

- Hẵng thong thả một lát cũng được…

- Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ ?

- ừ để chị bảo mẹ mua cái khác thay vào …."

Cũng như sau đó chị và em ngồi lên chõng tre để nhìn ra phố Điều Liên chú ý đến phải là

cùng một lúc hàng loạt đèn được thắp lên Cái hấp dẫn đối với Liên ở thời khắc ấy là từ cái khoảng không gian có ánh đèn: Là cảnh chợ vãn từ lâu, là cái mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc "Một cái gì rất đằm thắm, rất riêng t ư", "mùi riêng của đất, của quê hương này" Thạch Lam đã nhìn thấy cái không nhìn thấy Liên đã tiễn một ngày tàn trong tâm trạng như thế

- Suốt một ngày chợ phiên mà chị em Liên cũng không bán được gì, ngoài mấy thứ lặt vặt nhỏ mọn Tất cả những cảnh tượng vờ̀ cuụ̣c sụ́ng ở xung quanh đờ̀u tác động đến tâm hồn Liên, một cô bé mới lớn nhạy cảm Cái tôi không chịu ngủ yên ở một cô thiếu nữ

1.4 Về nghệ thuọ̃t:

- Văn Thạch Lam giàu chṍt nhạc, chṍt họa, chṍt thơ: “Nhà văn ṍy ngắt cõu bằng màu,

chṍm cõu bằng nụ́t nhạc, chuyờ̉n đoạn bằng hình ảnh” (Thụy Khuờ)

- Nghiờng về thờ̉ hiện cảm giác, chủ yờ́u khai thác thờ́ giới nụ̣i tõm, khéo lựa chọn những chi

tiết trong cảnh và tình để làm nổi bật chủ đề t- t-ởng của tác phẩm Thạch Lam lặng lẽ nhặt lờn "từng hụ̣t sỏng", dõ̃n chúng ta trở vờ̀ lụ́i cũ, dưới gụ́c hoàng lan, hưởng lại những mùi xưa, mùi tuổi thơ,

mùi quờ hương đã tàn phai trong trí nhớ truõn chuyờn phủ nhiờ̀u bụi bặm chua chát Phải thính và tinh lắm mới nhìn được những màu sắc như thờ́, nghe được những tiờ́ng đụ̣ng như thờ́, hoặc bắt gặp

được "đụi mắt chị búng tụ́i ngọ̃p đầy dần" như thờ́ Với giác quan "thứ sáu", Thạch Lam có khả năng

làm cho cái tĩnh trở thành cái đụ̣ng, cái đụ̣ng trở thành cái tĩnh, đụi khi cả tĩnh lõ̃n đụ̣ng cùng lờn tiờ́ng mụ̣t lúc ; giác quan bí mọ̃t của nhà văn cụ̣ng hưởng với óc tưởng tượng của chúng ta; và đờ̉ tạo nhạc, nhà văn khụng cõ̀n đờ́n những tiờ́ng đụ̣ng có sẵn, ụ̀n ào bờn ngoài

- Nghệ thuọ̃t miờu tả từ cao xuụ́ng thṍp, từ xa tới gõ̀n, từ rộng đờ́n hẹp Tṍt cả như nhỏ dõ̀n

đi, tụ́i dõ̀n lờn, thắt chặt lại, nghẹn ngào Cõu chuyợ̀n bắt đõ̀u từ ban chiờ̀u, buổi chiờ̀u tàn với

những nét rực rỡ: "Phương Tõy đỏ rực như lửa chỏy và những đỏm mõy ỏnh hụ̀ng như hòn than sắp tàn Dẫy tre làng trước mặt đen lại và cắt hỡnh rõ rợ̀t trờn nền trời" Các nguụ̀n sáng toả ra từ mụ̣t

đám cháy: mặt trời và mõy cùng bụ́c hoả, đụ́t dãy tre làng đen lại -đen lại chứ khụng phải đen- từ đen đờ́n đen lại đã có chuyờ̉n đụ̣ng, rụ̀i chính rặng tre đen, lại cắt hình trờn nờ̀n trời như mụ̣t nghợ̀ sĩ tạo

hình Và chuyờ̉n đụ̣ng võ̃n tiờ́t tục: "Cỏc nhà đã lờn đèn cả rụ̀i…; chợ họp giữa phụ́ đã vãn từ lõu…Trời nhỏ nhem tụ́i…và sang đoạn sau là: Tụ́i hết cả, con đường thăm thẳm ra sụng, con đường qua chợ về nhà, cỏc ngõ vào làng lại xẫm đen hơn nữa” Từ vĩ mụ đờ́n vi mụ, thoạt tiờn, ụ́ng kớnh

nhà văn hướng vờ̀ mặt trời, từ từ chuyờ̉n sang mõy rụ̀i di xuụ́ng những con đường làng và "zoom" lại trờn ngọn đèn của chị Tý, quay sang bờ́p lửa bác Siờu, dừng lại trờn ngọn đèn con của chị em Liờn rụ̀i chiờ́u xuụ́ng cả những "hụ̣t sáng" lọt qua phờn nứa éṍy mới là phõ̀n "ngoại cảnh" Vờ̀ phía "nụ̣i dung", ngòi bút của Thạch Lam nhẹ nhàng lướt qua phụ́ huyợ̀n ban đờm, bút dạo mụ̣t vòng phụ́

huyợ̀n, đờ́n từng trạm sỏng, ở mụ̃i trạm bút rực lờn mụ̣t chút, như đờ̉ táp sáng cho người và vọ̃t, tỏ sự

Trang 5

MOON.V N

hân hoan mừng rỡ chào đón một nguồn sáng mới Không ai bị bỏ quên, từ hạt cát, hòn đá, đến vỏ

bưởi, vỏ nhãn, vỏ thị, lá nhãn, bã mía, rồi chuyển sang mùi: mùi cát bụi, mùi đất, và mùi quê hương, lần này nhà văn lại đi từ cái nhỏ nhất, hạt cát, để đến cái lớn nhất, mùi quê hương Ðời sống phố huyện đêm, từ từ mở ra với những điểm sáng lác đác ở nhà bác phở Mỹ, nhà ông Cửu, ở hiệu khách càng về đêm càng khép lại, càng thu nhỏ đi, tàn lụi dần với những điểm sáng cô đơn cuối cùng, leo lét bên những thân phận nhỏ nhoi, xoay quanh ngọn đèn chị Tý…

- Có biÖt tµi ph©n tÝch t©m lÝ nh©n vËt cña t¸c gi¶ Ng«n ng÷ x¸c thùc, sóc tÝch vµ giµu tÝnh

biÓu c¶m

Kết: Đẹp mà lành, dịu mà xót, yên ả mà khuấy động, Thạch Lam có nói gì nhiều đâu, (khác các

nhân vật của Vũ Trọng Phụng đều nói rất nhiều), còn Liên và An hay những người dân phố Huyện chỉ yên lặng lắng nghe và lặng nhìn…vậy mà mỗi thời khắc đi qua đều để lại những dư vị khó quên, xao xuyến như thịt da, sâu thẳm như tâm hồn, khẽ gợi trong ta bao nỗi niềm thổn thức, có phải điệu hồn dân tộc cũng đang lên tiếng nói?

Trang 6

MOON.V N

2 Cảnh phố huyện lỳc về đờm- tõm trạng của Liờn- buồn thấm thía hơn khi chứng kiờ́n

những kiờ́p người bé nhỏ sụ́ng buụ̀n tẻ, đơn điợ̀u, tụ́i tăm

2.1 Bức tranh thiờn nhiờn

+ Võ̃n ánh lờn vẻ thơ mụ̣ng, ờm đờ̀m trong những cõu văn đõ̀y chṍt nhạc, chṍt thơ quyờ́n rũ: “Trời đã

bắt đõ̀u đờm Mụ̣t đờm mùa hạ ờm như nhung và thoảng qua gió mát”; "vũm trời hàng ngàn ngụi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là trờn mặt đất hay len vào cành

cõy", "Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lỏnh; mụ̣t con đom đóm bám vào dưới mặt lá,

vựng sỏng nhỏ xanh nhấp nhỏy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liờn khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt

mụ̣t éặt ngàn sao bờn mụ̣t con đom đúm, hài hoà cái lớn và cái nhỏ Phố huyện Thạch Lam thõ̀m thỡ

những tiờ́ng bớ mật như thờ́, tiờ́ng của thanh vắng, của đờm khuya, của thiờn nhiờn và con người im lặng giao cảm với nhau trong vũ trụ

+ Không gian phải tĩnh mịch lắm mới cú thờ̉ nghe được cả tiờ́ng hoa bàng rụng khe khẽ trờn vai

Liờn, nhưng thời gian từ từ trụi như con thuyờ̀n dạt vào bờ́n bờ mù sương từ hoàng hôn - đêm -

đêm khuya Cảnh mỗi lúc một tối hơn, cuộc sống của con người phố huyện mỗi lúc một hiu hắt, tàn lụi

+ Trong con mắt Liên bóng tối bao trùm vây phủ tất cả Những khoảng tối với ma lực gợi cảm

của nó thường trở đi trở lại trong văn Thạch Lam (Cô hàng xén, Tối ba mươi…) Nhưng trong

truyện này, bóng tối đặc biệt gây ấn tượng "Trời bắt đầu đêm…Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối" "Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa…"

2.2 Bức tranh đời sụ́ng, con người

- éời sống phố huyện đờm từ từ mở ra với những điờ̉m sáng lác đác ở nhà bác phở Mỹ, nhà ụng Cửu,

ở hiệu khách càng vờ̀ đờm càng khộp lại, càng thu nhỏ đi, tàn lụi dõ̀n với những điờ̉m sáng cụ đơn cuối cùng, leo lột bờn những thõn phận nhỏ nhoi, xoay quanh ngọn đốn chị Tớ, bờ́p lửa bác Siờu, gia đỡnh bác Xẩm với chiờ́c thau sắt trắng và ngọn đốn con của chị em Liờn Trong cảnh chiờ̀u tàn cú mụ̣t khụng gian lớn Vờ̀ đờm là khụng gian thu nhỏ lại theo cṍu trúc đụ̀ng tõm: cả phố Huyện bõy giờ thu vờ̀ nơi hàng nước chị Tớ

- Trong thế giới đầy bóng tối, ánh sáng thật nhỏ nhoi và đơn độc: ánh đèn của bác phở Siêu chỉ là

một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm; ánh đèn trong cửa hàng Liên, An thì "thưa thớt từng hụ̣t sáng lọt qua phên nứa" Cánh cửa nhà ai hé mở thì cũng chỉ để lọt ra "một khe ánh

sáng" Thạch Lam miêu tả ánh sáng quá riết róng qua các từ (chấm, hụ̣t, khe) ánh sáng sao mà

nhỏ nhoi đơn độc, đối lập với bóng tối tràn lan đậm đặc: Tối hết cả từ con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa Con người đi trong

đêm tối, Liên An ngồi dưới gốc bàng giữa cái tối bao quanh, trống cầm canh cũng chìm vào bóng

HAI ĐỨA TRẺ - THẠCH LAM (tiết 2)

Trang 7

cú rṍt nhiờ̀u ánh lửa nhưng nú đờ̀u nhỏ bộ yờ́u ớt Thực chṍt, Thạch Lam chỉ dùng ánh sáng để tả bóng tối Sự có mặt của những ngọn đèn không xua đi được bóng tối, mà trái lại, càng làm cho bóng tối trở nên dày đặc và mênh mông hơn Hình ảnh bóng tối gợi nỗi buồn đau bế tắc của cuộc sống tối tăm tù đọng Cuộc sống không có ánh sáng của hy vọng

Con người:

- Về đêm, bác phở Siêu mới xuất hiện nh- một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm, mất đi

rồi lại hiện ra “ kìa hàng phở … đến kia rồi” Trong đêm tối, “bóng bác mênh mang … hai bên ngõ”

Bóng bác mênh mông ngả xuống đất và kéo dài đến tận hàng rào" => Cuộc đời con ng-ời giống nh- cái bóng, cái bóng ấy cứ kéo dài mãi lại ẩn hiện để thấy đ-ợc một kiếp ng-ời lam lũ mờ nhạt và buồn

tẻ của con ng-ời

- Vợ chồng, con cái bác Xẩm thu gọn trên manh chiếu chật hẹp, bám sát mặt đất trong bóng tối của

đêm khuya Cuộc sống của họ gần với cuộc sống của loài bò sát hơn là cuộc sống của con ng-ời khi bác Xẩm sờ soạng trên manh chiếu rách "Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng" => Hàm chứa sự đau đớn run rẩy tủi hờn của cái nghèo khổ hiu hắt

- Đêm: "Chị em Liên lặng ngắm nhìn sao, mỏi mắt lại chúi nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật

của chị Tí" -> cuộc sống của Liên cứ lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, nó nói lên cái buồn, mòn mỏi Liên đã cố gắng đi tìm ánh sáng nh-ng không thoát khỏi đ-ợc cuộc sống tăm tối ấy

=> Bóng đêm che lấp đi ánh sáng của đôi mắt họ và xoá đi g-ơng mặt đời của họ, để cho g-ơng mặt

họ lẫn cùng bóng tối Con ng-ời thực chất chỉ là những cái bóng vật vờ, lay lắt, mong manh trôi theo dòng thời gian.“Chừng ấy ng-ời trong bóng tối mong đợi mụ̣t cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khụ̉ hàng ngày của họ” Một câu văn khái quát lên cả cuộc đời tăm tối của những kiếp ng-ời nghèo khổ,

bế tắc đến tội nghiệp

- Hình ảnh ngọn đèn dầu của hàng n-ớc chị Tí đ-ợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần là chi tiết nghệ thuật

có ý nghĩa Đó là hình ảnh thực nh-ng lại gợi lên trong ta liên t-ởng về số phận những con ng-ời

nhỏ bé tội nghiệp đang sống lay lắt trong đêm dài của xã hội cũ, mỗi c- dân nơi phố huyện ban đêm

đều mang theo một ngọn đèn và chính họ cũng leo lét tù mù nh- những ngọn đèn ấy Những ng-ời

cảm nhận truyện ngắn Thạch Lam giàu chất trữ tình nh- một bài thơ trong đó có nhiều chi tiết nghệ

thuật nh- những nhãn tự tập trung thể hiện t- t-ởng chủ đề tác phẩm, chi tiết ngọn đèn dầu của

hàng n-ớc mẹ con chị Tí là chi tiết nghệ thuật nh- thế

- Những cõu núi rời rạc đơn điệu mà xiờ́t bao mong mỏi: Muụ̣n thờ́ này mà họ chưa ra Mṍy chộn

nước chố thụi mà ruụ̀i cũng bò đờ̉ chị Tớ phải phe phẩy cành chuối khụ Càng mong chờ, càng khụng

hi vọng: Hụm nay trong ụng giáo cũng có tụ̉ tụm Dờ̃ họ khụng phải đi gọi đõu Nghĩa là khụng hi

vọng gỡ Vậy mà chừng ṍy người trong búng tối võ̃n ngày ngày dọn hàng ra, võ̃n mong đợi mụ̣t cái gỡ

tươi sáng hơn cho sự sống nghốo khụ̉ hàng ngày của họ Mụ̣t cái gì là mụ̣t cái gỡ? Họ cũng khụng

biờ́t Hi vọng quá đụ̃i mong manh, nhưng họ võ̃n kiờn nhõ̃n, bờ̀n bỉ, bờ̀n chớ, bờ̀n lòng Cú tiờ́ng thở dài, nhưng khụng kờu than, hằn học

- Cảnh cuộc sống lặp lại nơi phố huyện những quẩn quanh bế tắc lúc đêm về Ngày hôm sau sẽ lại là sự tiếp diễn y nguyên những gì xảy ra hôm tr-ớc Mẹ con chị Tí lại dọn hàng n-ớc, bác phở Siêu lại nhóm lửa, gia đình bác Xẩm lại xuất hiện với tiờ́ng đàn bật trong yờn lặng, thằng cu bộ bò ra

Trang 8

MOON.V N

ngoài manh chiờ́u rách; ng-òi nhà cụ Thừa, cụ Lục lại lục đục gọi nhau đi đánh tổ tôm Có cảm giác

phố huyện nh- một sân khấu cuộc đời, chỉ độc diễn có một màn, không hề có sự thay ng-ời, đổi

cảnh Cuộc sống nơi phố huyện khiến ta liên t-ởng đến chiếc Ao Đời phẳng lặng nh-ng đã từng dìm

chết bao nhiệt huyết, sinh lực Chợt nhớ đến câu thơ Huy Cận viết về xã hội Việt nam tr-ớc Cách mạng tháng Tám :

Quanh quẩn mãi vẫn vài ba dáng điệu Tới hay lui cũng từng ấy mặt ng-ời

Nhân vật trong truyện không nhiều, họ hầu nh- rất ít nói, họ nh- cái bóng chập chờn lay động (rṍt nhiờ̀u lõ̀n nhà văn miờu tả cái búng) Nếu có đối thoại chỉ là những lời đối thoại cộc lốc và nhát gừng

Cuộc sống của những con ng-ời này thật phẳng lặng, thật đơn điệu Nếp sinh hoạt của họ cứ lặp đi lặp lại một cách quen thuộc Họ đâu có bị giằng xé về chuyện áo cơm, họ chỉ có sự giằng xé về nội tâm bởi họ sống một cuộc sống hiu hắt không hi vọng Thạch Lam muốn gửi vào đây một niềm cảm

thông chia sẻ với những kiếp ng-ời đau khổ

2.3 Tõm trạng của Liên: buồn thấm thía hơn khi chứng kiến cảnh đêm về

- Khi đêm về cả phố huyện ngập chìm trong bóng đêm Ngoài tiờ́ng cười khanh khách của người

điờn, nơi này, ta cũng nghe thṍy tiờ́ng cười vụ tư trong sáng của các bé em Chúng tụ họp nhau ở thờ̀m hố, núi cười vui vẻ Nhưng cái vui này làm nụ̉i rõ cái buụ̀n kia An thèm muụ́n biờ́t bao được nhập bọn với chúng đờ̉ nụ đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng nờn đành ngụ̀i yờn, dõi theo

những búng người lõ̀n lượt đi trong đờm Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối lập t-ơng phản để gợi tả

nụ̃i buụ̀n của những đứa trẻ mới lớn lờn đã phải lao vào cuụ̣c mưu sinh

- Hai chị em lặng người ngước nhìn lờn các vì sao, tìm vờ̀ thờ́ giới cụ̉ tích Nhưng vũ trụ bao la, thăm thẳm với tõm hụ̀n hai đứa trẻ như bớ mật và xa lạ làm mỏi trí nghĩ, nờn chỉ mụ̣t lát, hai chị em lại cúi nhìn vờ̀ mặt đṍt, vờ̀ quõ̀ng sáng thõn mọ̃t Đờm tụ́i với Liờn quen lắm, chị khụng sợ nó nữa (đã từng sợ) Cái quen này cú tụ̣i nghiệp khụng?

- Sự xuṍt hiện của ánh lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đờm của bác phở Siờu…Ngửi thṍy mùi phở thơm, nhưng đú là thứ quà xa xỉ, hai chị em khụng bao giờ mua được Văn Thạch Lam quả

luụn giữ được sự chừng mực, khoan hòa, khụng bao giờ đẩy sự vật lờn cao quá nốt của nú Chỉ thờ́ thụi, trõ̀m lắng, trải nghiệm và sõu, ẩn bờn dưới những cõu chữ bỡnh thường tưởng như là con tim đang se lại vỡ đau xút Giá như chưa từng được biờ́t đờ́n mùi phở đờ̉ nụ đùa như những đứa trẻ kia Quá khứ òa ập dụ̣i vờ̀, mang theo màu Hà Nụ̣i (cốc nước lạnh xanh đỏ); mùi của cuụ̣c sống sang giàu

(thơm); kỉ niệm là mụ̣t vùng sáng rực Từ ngày vờ̀ đõy, ngày nào hai chị em cũng phải ngụ̀i trờn chõng tre dưới gốc cõy bàng với cái tụ́i của quang cảnh phố chung quanh Trong khi búng tối sẽ phủ

xuống mái đõ̀u xanh lúc nào khụng biờ́t?

- Như vậy, cú thờ̉ khái quát tõm trạng của Liờn: Từ chụ̃ buụ̀n man mác trước giờ khắc ngày tàn- xót thương những kiờ́p người tàn, giờ đõy là những quan sát, chờ đợi, hoài niợ̀m, nuụ́i tiờ́c

và khát khao, nhưng đã hoàn toàn bị tàn lụi: Hiện tại và quá khứ như những đợt súng vụ̃ vào tõm

hụ̀n, đờ̉ rụ̀i buụ̀n hơn, day dứt hơn

+ Nhỡn thṍy bọn trẻ, thốm chơi- khụng dám, vỡ sợ trái lời mẹ (rṍt ngoan, nhưng cũng thụ đụ̣ng)

vỡ phải mưu sinh

+ Tỡm sao trờn trời- nhưng trời cao quá làm mỏi trớ nghĩ, chúng lại quay vờ̀ mặt đṍt

+ Ngửi thṍy mùi phở thơm- quà xa xỉ, chị em Liờn khụng bao giờ mua được

+ Nhớ Hà Nụ̣i- khụng vờ̀ được, ngóng vọng vờ̀ mụ̣t miờ̀n sáng rực

+ Nghe tiờ́ng đàn bật trong yờn lặng- khụng có người nghe

+ Ruụ̀i bò trờn chộn nước- khụng có người uụ́ng

Trang 9

MOON.V N

+ Buụ̀n ngủ rớu cả mắt- cụ́ thức đờ̉ nhỡn chuyờ́n tàu

+ Vuốt túc cho em, thṍy tõm hụ̀n yờn tĩnh hẳn, nhưng võ̃n cú cảm giác mơ hụ̀ khụng hiờ̉u

- Trong toàn bộ truyện ngắn nhà văn đã cho ng-ời đọc thấy đ-ợc: trong cuộc sống tăm tối không có

t-ơng lai không có hi vọng, không có niềm vui thì ng-ời khổ nhất sẽ là những ng-ời hiểu đ-ợc nỗi buồn của hiu hắt tàn lụi, ng-ời khổ nhất trong thiên truyện ngắn lại là cô bé Liên, bởi vì Liên biết buồn cho cuộc sống mà mình đang sống, biờ́t nhớ quá khứ của những ngày sống ở Hà Nội khi còn nhỏ, biờ́t chờ đợi một khoảnh khắc đem đến cho cô niềm vui và hi vọng

+ T-ơng phản giữa cái tĩnh và cái động

+ T-ơng phản giữa nếp sống đơn điệu nhàm chán lặp lại một cách phẳng lặng với những khuâý động mạnh mẽ rực rỡ dù chỉ trong một khoảnh khắc rất nhỏ Trong những sự t-ơng phản ấy nỏi bật là sự t-ơng phản giữa ánh sáng và bóng tối ánh sáng thì nhỏ bé hiếm hoi đơn độc và sâu lặng Bút pháp t-ơng phản này càng làm nổi bật hơn cái nhìn th-ơng cảm của tác giả (ánh sáng: "quầng sáng", "hột sáng, khe sáng, đom đóm bay, ánh sáng của ngàn ngôi sao"- Bóng tối: "Tối hết tất cả, con đ-ờng thăm thẳm "-> Bóng tối làm chủ, ánh sáng lẻ loi đơn độc và quá nhỏ nhoi)

+ T-ơng phản âm thanh: Tiếng động th-a thớt, tiếng c-ời khanh khách, tiếng đàn run bần bật trong bóng tối => Cái động ấy càng làm tăng cái tĩnh

+ Tương phản giữa quá khứ và hiện tại

+ Tương phản giữa thành thị và nụng thụn

+ Tương phản giữa thiờn nhiờn và con người

+ Tương phản giữa khụng gian rụ̣ng và hẹp,

+ Tương phản giữa cái cao cả và cái bõ̀n hàn…

* Tṍt cả làm nụ̉i bật lờn cuụ̣c sống tù túng nghèo nàn của những con ng-ời không có ngày mai Thạch Lam chủ yếu đi vào miêu tả sự giằng xé nội tâm chứ không đi vào giằng xé cơm áo gạo

tiền Nếu chỉ thế thôi, truyện ngắn Hai đứa trẻ sẽ khó để lại ấn t-ợng sâu bền trong lòng bao thế hệ

ng-ời đọc Cũng nh- trong một truyện ngắn của Andersen, Thạch Lam khá dụng công trong việc tạo

dựng hai mảng màu sáng – tối (cũng có thể nói : diễn biến của truyện chủ yếu dựa trên nền của sự

t-ơng phản giữa ánh sáng và bóng tối) để mỗi lúc một đốm lửa bùng lên, bóng tối dạt đi, ng-ời đọc lại có cơ hội quan sát một cảnh t-ợng trong bức tranh đời sống nơi phố huyện hay một góc tâm t- của hai đứa trẻ Bút pháp tinh tế đó khiến cho ánh sáng của những ngọn đèn trên phố, của bầu trời h- ảo trên cao, của con tàu từ Hà Nội mang một chức năng kép : vừa soi rạng cho ta tận mắt chứng kiến bao kiếp ng-ời nghèo khổ, lầm lũi kiếm ăn trong mòn mỏi, vô vọng, vừa soi rạng tâm hồn hai đứa trẻ cho

ta thấy bao khát vọng mơ hồ trong những tâm hồn trẻ thơ

- Kết cấu vòng tròn nh- cấu tứ một bài thơ:

Trang 10

MOON.V N

Nhìn từ ph-ơng diện kết cấu, truyện ngắn Hai đứa trẻ đ-ợc tổ chức tựa nh- một bài thơ Bóng

tối có mặt ở đầu truyện, thân truyện và cuối truyện Bóng tối đeo bám dai dẳng gợi liên t-ởng và suy ngẫm đến từng số phận: Chị Tí, bác Siêu, bác Xẩm và cả bé Liên

- Câu văn mềm mại, trong sáng, thi vị:

Giọng văn đượm buụ̀n, cú gỡ xa xăm lắm, nhưng đõ̀y tỡnh thương yờu Trong trang viờ́t của

Thạch Lam, mụ̃i chữ như cú linh hụ̀n Những chữ: mãi, tung, ganh, nhấp nháy như võ̃n giữ nguyờn chṍt quyờ́n rũ bớ mật Tại sao lại mói, lại tung, lại ganh, lại nhấp nháy? Bởi vỡ những chữ ṍy đã tách biệt thờ́ giới Thạch Lam với những thờ́ giới khác, mụ̣t thờ́ giới cú những ngụi sao ganh nhau, những con đom đúm tỏa vùng ánh sáng xanh nhấp nháy bung ra như những cánh hoa khe khẽ "rụng " xuống vai Liờn (Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Thế, chị gái của nhà văn, truyện ngắn Hai đứa trẻ

là câu chuyện thật về hai chị em quãng thời gian sống với mẹ ở Cẩm Giàng, Hải D-ơng Tác phẩm, vì thế, còn phảng phất một tự truyện Đây cũng có thể là lý do khiến câu văn của thiên truyện trở nên mềm mại, trong sáng, bình dị, mang âm điệu du d-ơng phù hợp với tâm hồn êm dịu, sâu lắng và tế nhị chứa nỗi buồn man mác của nhân vật chính trong truyện và cũng là của tác giả khi hồi cố tuổi thơ của chính mình)

- Hiện thực và lãng mạn:

+ Hiện thực: Thạch Lam viờ́t vờ̀ hai đứa bộ sống ở mụ̣t huyện lỵ, tối tối, sau khi đúng cửa hàng tạp húa nhỏ và nghốo của mẹ- Hiện thực; khi đờm tối bao trùm, hai chị em lại hướng vờ̀ ánh đốn chị Tớ- Hiện thực Lõ̀n thứ nhṍt, khi màn đờm buụng xuống, hai chị em nhỡn ánh đốn treo trong nhà bác phở

Mĩ, đốn hoa kỡ trong nhà ụng Cửu, đốn dõy sáng xanh trong hiệu khách, những nguụ̀n sáng đờ̀u chiờ́u

ra ngoài phố khiờ́n cát lṍp lánh từng chụ̃ và đường mṍp mụ thờm vỡ những hòn đá nhỏ mụ̣t bờn sáng

mụ̣t bờn tối- Hiện thực

+ Lãng mạn: Giàu cảm xúc, yờu thiờn nhiờn, cái tụi tự ý thức, cảm nhận cái vụ nghĩa của cuụ̣c sống

quanh mỡnh Trong búng tối, hai chị em ngụ̀i chõng ngắm sao, ngắm phố, lặng nhỡn, hướng vờ̀ những

nguụ̀n sáng- lãng mạn Khi trời vào đờm, hai chị em ngước nhỡn những vỡ sao- lãng mạn; Mụ̃i lõ̀n

gặp mụ̣t đốm sáng, cuụ̣c sống nụ̣i tõm của hai chị em lại bừng lờn Những điờ̉m sỏng loộ lờn trong đờm tối tựa như những ánh diờm soi đờm đụng buốt giá sưởi ṍm những giṍc mơ của đứa nhỏ trong

truyện cụ̉ tớch Andersen- lãng mạn Mụ̃i đờm, chúng sống mụ̣t hiợ̀n thực đõ̀y mụ̣ng tưởng, mụ̃i hỡnh

ảnh tạt ngang qua mắt, mụ̃i õm thanh vẳng đờ́n bờn tai gieo vào lòng hai chị em mụ̣t mảnh đời, gợi

lại trong ký ức chúng những lam lũ chung quanh Hai đứa bộ nghốo khụng cú gia sản gỡ, trừ búng

tối, và từ búng tối ṍy, dṍy lờn những đốm lửa- lãng mạn- soi rạng tõm hụ̀n chúng Ba lõ̀n hướng vờ̀

ánh sáng cho đỡ buụ̀n, lõ̀n thứ tư, ánh sáng đoàn tõ̀u mới là niờ̀m mong mỏi của chị em Liờn, đờ̉ từ đú

cháy lờn niờ̀m khao khát vờ̀ mụ̣t thờ́ giới tươi sáng hơn- lãng mạn

=> Nhà văn bộc lộ cảm xúc của mình khi đ-ợc trân trọng niềm vui nho nhỏ của những con ng-ời đau khổ và cũng qua đó ta thấy đ-ợc ngòi bút của Thạch Lam thực sự nhạy cảm với những biến thái của tâm trạng con ng-ời -> Truyện ngắn Thạch Lam là bài thơ trữ tình đầy xót th-ơng

Trang 11

MOON.V N

3.1- Bức tranh đời sụ́ng

- Tiờ́ng trụ́ng cõ̀m canh đánh tung lờn, tiếng trống tha thớt, rời rạc điểm nhịp cho cuộc sống nặng nề trôi Âm thanh ấy là nhịp thở của cuộc đời khô khốc chìm lấp trong đêm tối, không đủ sức ngân vang

mặc dù đợc đánh “tung” lên nh muốn khuấy động cả không gian tù đọng, u uất này

- “Người vắng mói”, một chữ mói ẩn bao nhiờu ngụ ý: người chờ người, người mong người, quán

đờm vắng chờ khách, chờ sự sụ́ng, chờ ngày mai

- Trờn hàng ghờ́ chị Tí, có vài ba bác phu ngụ̀i uụ́ng nước và hút thuụ́c lào Một lát từ phụ́ huyợ̀n đi

ra, hai ba người cõ̀m đèn lụ̀ng lung lay các bóng dài: mṍy người làm cụng đón bà chủ ở tỉnh vờ̀…

- éụ́i diợ̀n với cái nhỏ nhoi tăm tụ́i của người dõn nghèo trong phụ́ huyợ̀n là một vũ trụ bao la đõ̀y ánh sáng huyờ̀n ảo của thiờn nhiờn và vạn vật, nhưng với chị em An, Liờn trạm sáng đẹp nhṍt của

mỗi đờm là chuyến tầu qua tỉnh lỵ

3.2 Tõm trạng của chị em Liờn khi đợi tàu

3.2.1 Cảnh đợi tàu được diờ̃n tả thọ̃t chõn thọ̃t và cảm đụ̣ng

+ An: mi mắt sắp sửa rơi xuụ́ng, võ̃n cụ́ dặn chị

+ Chăm chú đờ̉ ý từ đèn ghi (tiờ́ng reo, động tác nghờ̉n cụ̉) ngọn lửa xanh biờ́c (đẹp như một giṍc

mơ); tiờ́ng còi ở đõu vang lại, kéo dài ra theo ngọn gió xa xụi, chao ụi là tiờ́ng lòng ngóng đợi

+ Tiờ́ng gọi em : cuụ́ng quýt, giục giã, nờ́u chậm một chút thụi, sẽ mṍt một cái gì lớn lắm, tiờ́c lắm

An nhỏm dậy, lṍy tay giụi mắt cho tỉnh hẳn, thật ngõy thơ, đáng yờu và đáng thương

- Sống trong cảnh đời tù túng quẩn quanh bế tắc ấy chị em Liên cũng nh con ngời nơi phố huyện mong mỏi một điều gì đó tốt đẹp sẽ đến với cuộc sống của họ Không hy vọng thì làm sao sống nổi

và chuyến tàu đêm qua phố huyện đã đáp ứng đợc nhu cầu tinh thần ấy Trong cả chuỗi ngày buồn tẻ thì chờ đợi con tàu là niềm vui duy nhất đối với hai chị em Hai đứa trẻ thật ngoan ngoãn biết vâng lời

mẹ Chúng thức đợi tầu không vì mục đích bán hàng nh lời mẹ dặn, bởi lẽ mấy năm nay mùa màng kém, ngời buôn bán, ngời đi lại ít Nếu có khách họ chỉ mua bao diêm hoặc phong thuốc lào là cùng, hai chị em thức chờ tàu là xuất phát từ nhu cầu của đời sống tinh thần

3.2.2 Tàu đờ́n

- Khi con tàu rầm rộ đi tới, Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua Dù chỉ trong chốc

lát nhng hình ảnh “các toa đèn sáng trng, chiếu ánh cả xuống đờng Liên thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những ngời, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng” thì đọng lại mãi

- Đứng lặng ngắm con tàu qua, Liên không trả lời câu hỏi của em, trong tâm hồn cô, cơn xúc

động vẫn cha lắng xuống “Liên lặng theo mơ tởng Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”…Những cõu chữ reo vui như nụ́t nhạc Có thể trong phút ấy, khát vọng đổi đời đã đợc đánh thức

: “tầu đã đem một chút thế giới khác đi qua Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn với vầng

HAI ĐỨA TRẺ - THẠCH LAM (tiết 3)

Trang 12

MOON.V N

sáng ngọn đèn chị Tí và ánh lửa của bác Siêu” Chữ “khác” điệp ba lần để diễn tả niềm khao khát âm

thầm mà mãnh liệt

- Cùng với con tàu, hai chị em đợc trở về với quá khứ tơi đẹp, con tàu chạy tới từ Hà nội, chạy tới từ

tuổi thơ đã mất, con tàu chính là tia hồi quang để hai chị em đợc nhìn về quá khứ Ngày ấy Liên và

An còn cùng với gia đình sống ở thủ đô, nhà còn khá giả Hai chị em vẫn thờng dạo chơi quanh hồ trong những buổi chiều đợc uống những cốc nớc xanh đỏ

- Cùng với con tàu, hai chị em còn đợc sống trong một thế giới mới tốt hơn, một thế giới sáng sủa

hơn, sôi động hơn Con tàu mang về phố huyện luồng ánh sáng rực rỡ, từ ánh sáng của ngọn đèn pha

đến ánh sáng từ các toa xe chiếu khắp cả xuống mặt đờng trên những toa xe sang trọng, điện sáng

tr-ng, đồtr-ng, màu kền sáng loáng Cái ánh sáng rực rỡ ấy khác hẳn ánh sáng ngọn đèn dầu tù mù nơi hàng nớc chị Tí, khác hẳn ánh lửa bác phở Siêu Con tàu còn mang về phố huyện những âm thanh náo nhiệt, từ tiếng bánh xe lăn trên đờng thép đến tiếng ngời huyên náo khi lên, khi xuống tàu và những tiếng ngời trò chuyện trong toa xe, khác hẳn õm thanh rời rạc đơn điợ̀u của người dõn phụ́ huyợ̀n trong cảnh đõ̀u Con tàu đã xua đi bóng đêm dày đặc và không khí tĩnh lặng của phố huyện nghèo

- Với chị em Liên con tàu nh chứa bao điều huyền thoại, nó nh một giấc mơ để bù đắp lại cái phần

đời thực tại lam lũ nghèo khổ không tơng lai Chính vì vậy hai chị em chờ đợi con tàu nh chờ đợi một

điều thiêng liêng, khi con tàu đến cả hai chị em đều đứng cả dậy hớng về phía con tàu

- Dù võ̃n biờ́t tàu hụm nay khụng đụng và kém sáng hơn mọi khi, nhưng họ cõ̀n gì đõu, chỉ cõ̀n họ ở

Hà Nội vờ̀! Liờn lặng theo mơ tưởng

3.2.2 Tàu đi

- Phụ́ huyợ̀n với từng ṍy tõm hụ̀n "trong búng tối mong đợi một cỏi gỡ tươi sỏng cho sự sống nghốo khổ hàng ngày của họ" và ánh sáng Hà thành do con tõ̀u chở đờ́n, đem lại cho huyợ̀n nhỏ vài

phút mộng mơ Nhưng con tàu chở ánh sáng ṍy, chưa đờ́n đã vội bước đi, như một niờ̀m vui vừa

bùng lờn đã lụi tàn trong khoảnh khắc, "chiếc tầu đi vào đờm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung

trờn đường sắt Hai chị em cũn nhỡn theo cỏi chấm nhỏ của chiếc đốn xanh treo trờn toa sau cựng,

xa xa mói rồi khuất sau rặng tre." Con tõ̀u như chiờ́c que diờm của đứa bé trong truyợ̀n cụ̉ tích Anderson, lóe lờn ánh lửa rụ̀i tàn ngay trờn những kiờ́p người cụ đơn bỏ lại trong con phụ́ tịch mịch

và đầy búng tối

- Khi con tàu đi, hai chị em lại trở về với tâm trạng buồn nh cuộc sống thờng ngày nơi phố huyện, tàu chỉ dừng lại nơi sân ga trong chốc lát, nó đến rồi lại đi còn nhanh hơn cả một giấc mơ, con tàu đi để lại phía sau nó bóng đêm mịt mùng và sự tĩnh lặng Niềm vui của hai chị em loé lên trong chốc lát rồi vụt tắt trong chốc lát nh những đốm than hay ngợc phía con tàu vừa bùng sáng lên rồi lại chìm trong

đêm đen dày đặc kết thúc câu chuyện lại là ngọn đèn dầu nơi hàng nớc chị Tí, ngọn đèn tù mù chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ lại chập chờn đi vào giấc ngủ của Liên

Cảnh đời nơi phố huyện đợc cảm nhận qua tâm trạng của Liên là bức tranh hiện thực giàu ý nghĩa

và qua đó ta thấy đợc chiều sâu tình cảm nhân đạo của ngòi bút Thạch Lam

3.3 Ý nghĩa

- Đối với cuộc sống nơi phố huyện, hình ảnh đoàn tàu mang đến một thế giới khác Nó nh

một con thoi với ánh sáng xuyên thủng màn đêm đem đến cho phố huyện cái ánh sáng xa lạ của thế giới thị thành Âm thanh mãnh liệt của tiếng còi tàu, của bánh xe rít trên đờng ray và tiếng ồn ào của

hành khách đi lại đủ sức át đi bản hoà tấu đều đều, buồn tẻ, đơn điệu của phố huyện Con tàu tác

Trang 13

MOON.V N

động vào lòng ngời một ấn tợng mạnh mẽ đa cả phố huyện ra khỏi cảnh sống tù đọng u uất, đợi tàu

trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày

- Liên chờ đợi con tàu đến không phải vì mục đích bán hàng mà vì một mục đích khác là đợc nhìn thấy chuyến tàu qua, nghĩa là nhìn thấy một cái gì đó khác với cuộc đời mà hai chị em Liên

đang sống Con tàu đối với chị em Liên là một niềm say mê vì nó đi qua sự phẳng lặng, tẻ nhạt của

đời sống phố huyện

- Con tàu mang đến thế giới của kỉ niệm, đánh thức dậy trong chị em Liên những kỉ niệm về

Hà Nội nơi mà ở đó chúng đã sống những ngày đẹp đẽ Hà Nội đối với Liên vẫn là mơ ớc thiết tha Vì vậy, dẫu chuyến tàu tối nay không có gì đặc biệt, thậm chí kém sáng hơn, ít ngời hơn nhng với Liên,

điều đó không có gì hệ trọng, nguồn sáng ấy vẫn tinh khôi, mới mẻ vì nó ở Hà nội về, vì nó khác với những nguồn sáng hắt hiu của phố huyện

- Đợi tàu là nhu cầu không thể thiếu Hoạt động đó lấp đầy những khoảng trống mênh mông trong tâm hồn chị em Liên bằng những hoài niệm, những ớc mơ Từ chuyến tàu chợt đến, chợt đi ấy

Liên nhìn thấy rõ hơn, sâu hơn sự ngng đọng, tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối, hèn mọn,

nghèo nàn của cuộc đời mình và của những ngời xung quanh mình

=> Từ đây, Thạch Lam bày tỏ nỗi xót xa về những kiếp ngời cơ cực, sống lay lắt mỏi mòn Họ nghèo về vật chất, nghèo cả về tinh thần Đến ngay cả ớc mơ cũng không dám mơ ớc gì hơn là đợc nhìn một chuyến tầu đêm đi qua phố huyện, qua cuộc đời mình

3.4 Cảm nhọ̃n vờ̀ nhõn vọ̃t Liờn

- Một đứa trẻ nghèo: Cái nghèo đã cớp đi niềm vui và quyền lợi của một đứa trẻ nh Liên Cuộc sống cơm áo đã trói buộc Liên vào với chõng hàng tre từ sáng sớm tới đêm khuya Liên sống mòn mỏi trong đợi chờ, đến một bát phở trong phố huyện nghèo cũng chẳng dám mơ ớc

Liên là một đứa trẻ giàu tình yêu thơng: thơng những đứa trẻ con nhà nghèo, quan tâm đến những ngời xung quanh Liên là một đứa trẻ có đời sống tâm hồn và biết ớc mơ Đời sống bên trong, nội tâm của Liên đã làm nên chất thơ của truyện Nhà văn không đặc tả nhiều, kĩ càng về đôi mắt của Liên nhng lại cho thấy một tâm trạng lắng đọng, sâu xa Chính đôi mắt ấy đã nhìn ra, đã thấu hiểu và cảm nhận mùi riêng của đất, của quê hơng Chất tự sự đã đợc trữ tình hóa qua tâm trạng và đôi mắt Liên

Liên là nhân vật duy nhất đã ý thức đợc đầy đủ và sâu sắc cuộc sống buồn tẻ, tù đọng của mình: “Đọc

truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam … yêu thơng trẻ con’’ (Nguyễn Tuân)

Qua nhân vật này, Thạch Lam đã thức tỉnh ngời đọc về cuộc sống tù đọng buồn tẻ

III- Tổng kết:

Hai đứa trẻ là bức tranh của đời sống thực ở một thời đã qua Đó là cuộc đời của ngời dân phố

huyện chỉ sáng lên một phút trong ngày Những cuộc đời nh Liên có nắng nhng chỉ là thứ nắng trong vờn Qua những cuộc đời đó, nhà văn làm sống lại số phận của một thời, họ không hẳn là những ngời

bị áp bức nhng từ cuộc đời họ, Thạch Lam đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để thay đổi cuộc đời ? Câu

chuyện đã gợi cho ngời đọc sự thơng cảm vì vậy mà nó vừa có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân

đạo

Nghệ thuật:

- Đây là tác phẩm mang nét riêng trong truyện ngắn của Thạch Lam: truyện không cốt truyện

Nó chỉ là những mảnh đời nhỏ hẹp nơi phố huyện nghèo song không vì thế mà kém đi phần hấp dẫn Tác giả đã khéo lựa chọn những chi tiết trong cảnh và tình để làm nổi bật chủ đề t tởng của tác phẩm

- Diễn biến tâm trạng của Liên qua cảnh đợi tàu càng cho thấy biệt tài phân tích tâm lí nhân vật của tác giả

- Ngôn ngữ xác thực, súc tích và giàu tính biểu cảm

IV Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn Hai đứa trẻ:

1- Giá trị hiện thực

Trang 14

MOON.V N

- Phản ánh một cách chân thực cảnh phố huyện nghèo - một miền đất một miền đời bị quên lãng

- Ngòi bút hiện thực giàu chất trữ tình (cảm hứng lãng mạn chi phối ngòi bút hiện thực cảnh phố huyện chính là ký ức tuổi thơ của Thạch Lam)

2- Giá trị nhân đạo

- Niềm thơng cảm của nhà văn hớng về những con ngời nhỏ bé, vô danh chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, đồng thời rung tiếng chuông cảnh tỉnh: những con ngời nhỏ bé vô danh nhng đừng để trở thành vô nghĩa Nhà văn đòi quyền sống cho những con ngời nhỏ bé vô danh có ý nghĩa

- Khẳng định đề cao khát vọng cuộc sống, hạnh phúc có ý nghĩa, khát vọng thay đổi cuộc đời (ý nghĩa chi tiết nghệ thuật hình ảnh con tàu đem một thế giới mới sáng sủa hơn và sôi động đến phố huyện tăm tối buồn tẻ)

- Bớc phát triển của t tởng nhân đạo trong văn học (1930- 1945): Sự thức tỉnh ý thức cá nhân con ngời đã ý thức đợc ý nghĩa cuộc sống cá nhân, sự tồn tại của mỗi cá nhân trong cuộc sống (chính vì ý thức đợc điều này Thạch Lam mới hớng ngòi bút đến những con ngời nhỏ bé vô danh khẳng định

cuộc sống của họ Có thể so sánh mở rộng nội dung nhân đạo này với truyện ngắn: Toả nhị kiều, Đời thừa)

Trang 15

MOON.V N

IV GIỚI THIậ́U Mệ̃T Sễ́ ĐỀ LIấN QUAN Đấ́N TÁC PHẨM

Đề 1 Giả sử, cõ̀n phải viờ́t phõ̀n thuyờ́t minh vờ̀ nhà văn Thạch Lam và truyợ̀n ngắn Hai đứa trẻ,

anh/chị sẽ giới thiợ̀u như thờ́ nào với bạn đọc vờ̀ tác giả tác phõ̉m này?

Đề 2 Phân tích bức tranh chiều tối đ-ợc mô tả trong tác phẩm?

Đề 3 Vì sao đêm đêm, chị em Liên cố thức để đợi chuyến tầu đi qua? Thể hiện tâm trạng đợi tàu của

hai đứa trẻ, tác phẩm muốn gửi gắm điều gì với độc giả?

Đề 4 Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn Hai đứa trẻ

Đề 5 So sánh truyện ngắn Hai đứa trẻ với Tỏa nhị kiều, Đời thừa, Tắt đèn, Chí phèo để thấy đ-ợc

sự t-ơng đồng và khác biợ̀t trong việc miêu tả con ng-ời và cảnh đời của xã hội ta những năm tr-ớc Cách mạng tháng Tám

Đề 6: Thạch Lam là nhà văn lóng mạn hay hiợ̀n thực? Từ cảm nhận của anh/ chị vờ̀ truyợ̀n ngắn Hai

đứa trẻ hóy trả lời cho cõu hỏi trờn

Đề 7: Chṍt thơ trong truyợ̀n ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

HƯỚNG DẪN GIẢI Mệ̃T Sễ́ ĐỀ

Đề 1

- Tác giả: Ông là một trong những cây bút chủ chốt của nhóm văn ch-ơng Tự lực văn đoàn

Tự lực văn đoàn là nhóm văn học tập hợp các nhà văn thơ phụng thờ quan điểm "nghệ thuật vị nghệ thuật", nghệ thuật vì cái đẹp Nhóm văn học này có bụ́n nhà văn đóng vai trò chủ chốt: cây bút chính là 3 anh em ruột: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, cây bút thứ t- là Khái H-ng Họ làm văn thơ theo cảm hứng lãng mạn là cảm hứng của một cái tôi trữ tình tràn đầy cảm xúc, phát huy cao độ trí t-ởng t-ợng để diễn tả khát vọng -ớc mơ, thể hiện những quan hệ riêng t- và số phận cá nhân bằng một thái độ bất hoà và bất lực tr-ớc chế độ thực dân nô lệ và môi tr-ờng xã hội tầm th-ờng giả dối tù túng

Mặc dù tham gia tự lực văn đoàn nh-ng Thạch Lam lại có một t- t-ởng thẩm mĩ theo một h-ớng đi khác với các nhà văn trong tự lực văn đoàn, h-ớng này đ-ợc bộc lộ ở những truyện ngắn của ng-ời nông dân, ng-ời tiểu t- sản, những thị dân nghèo (mà truyện ngắn hai đứa trẻ là một thí dụ), ngoài ra còn có những truyện ngắn của Thạch Lam còn đi vào những khía cạnh bình th-ờng và nên thơ trong cuộc sống nh- (Gió lạnh đầu mùa) Thạch Lam là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa đ-ợc biểu hiện ở:

+ Không có cốt truyện đặc biệt

+ Mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đ-ợm buồn

+ Nhà văn th-ờng đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của nhân vật, những cảm xúc tinh tế, những cảm giác mong manh

+ Yếu tố hiện thực và trữ tình đan cài vào nhau tạo nên nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam

- Truyện ngắn Hai đứa trẻ

A- Xuất xứ:

Truyện ngắn này nằm trong tập truyện Nắng trong v-ờn xuất bản năm 1938 của Thạch Lam

HAI ĐỨA TRẺ - THẠCH LAM (tiết 4)

Trang 16

MOON.V N

Truyện ngắn Hai đứa trẻ là truyện ngắn hay nhất của tập truyện, của đời viết truyện ngắn Thạch Lam

B- Cốt truyện:

Tóm tắt theo lối tóm tắt của Nguyễn Tuân:

" Truyện ngắn Hai đứa trẻ cốt truyện không có gì đặc biệt nh-ng đọc xong truyện, ng-ời đọc vẫn cảm nhận đ-ợc một d- vị đậm đà khó quên đ-ợc ẩn hiện thật kín đáo, thật lặng lẽ sau những hình ảnh, giữa những dòng chữ

Câu chuyện là mẩu sinh hoạt của hai chị em Liên và An, vì ng-ời cha mất việc làm ở Hà nội cả gia đình phải về quê để sinh sống, hai chị em đã thay mẹ trông nom một gian hàng bán các thứ vặt vãnh một gian hàng quá bé nhỏ ở một ga xép (loại ga phụ nhỏ trên một trục đ-ờng sắt)

Cứ đêm có những bóng ng-ời bình th-ờng lù đù đi qua Những bóng ng-ời ấy giống nh- ánh sáng lù mù của những chấm lửa, của những hột sáng, quầng sáng vốn là ánh sáng của phố huyện nghèo

Trong cái buồn bốn bề chìm chìm nhạt nhạt và mờ mờ ấy, bỗng có một tiếng động mạnh, một luồng ánh sáng rực rỡ của một chuyến xe lửa đi qua - hoạt động cuối cùng của một ngày và bao giờ cũng vào thời khắc đã định, cái âm thanh luồng sáng ấy đi qua nh- một tia chớp

Sau đó, sau những phút giây ngày nào cũng chờ chuyến tàu đi qua, chị em Liên lại b-ớc vào

giấc ngủ "giấc ngủ yên tĩnh cũng yên tĩnh nh- đêm ở phố, tịch mịch và đầy bóng tối"

C- Chủ đề:

Qua truyện ngắn, Thạch Lam muốn khẳng định: "Những kiếp ng-ời sống mờ mờ nhân ảnh,

họ hoàn toàn xa lạ với ánh sáng và niềm vui Họ mang cái -ớc mơ thật nhỏ bé, thật vô nghĩa nh-ng nếu không có những -ớc mơ ấy khuấy động thì cuộc sống của họ càng trở lên nhàm chán và đơn

điệu Nhà văn muốn bộc lộ sự thức tỉnh ý thức về sự sống cá nhân đối với những kiếp ng-ời t-ơng lai

mù mịt này và để từ đó bộc lộ một niềm xót th-ơng sâu sắc một cái nhìn nhân đạo đối với con ng-ời"

D- Nhan đề: Hai đứa trẻ

Tức là muốn nói tâm hồn trong sáng tinh khiết thơ ngây Nhà văn muốn ca ngợi vẻ đẹp của sự trong sáng thơ ngây tinh khiết của tâm hồn con ng-ời để đem đối lập với xã hội đầy bóng tối tầm th-ờng nhỏ nhen, nhà văn gửi vào đó niềm khát khao sẽ giữ đ-ợc sự trong sáng tinh khiết của tâm hồn cho dù có phải sống trong một hiện thực đau đớn

E- Những vấn đề cần chú ý:

1- Không gian và thời gian truyện ngắn miêu tả:

Thời gian đ-ợc miêu tả là thời gian rất ngắn bắt đầu từ hoàng hôn cho đến tối và đêm khuya Thời gian đó động có sự chuyển biến

Không gian đ-ợc miêu tả là không gian nhỏ bé, hẹp Đó là phố huyện tĩnh lặng, nhỏ bé với dăm ba khuôn mặt ng-ời qua lại

Toàn bộ bức tranh không gian và thời gian ấy đ-ợc thể hiện qua cái nhìn của nhân vật chính trong tác phẩm: cô bé Liên

2- Nhân vật trong truyện ngắn:

Nhân vật trong truyện không nhiều, họ hầu nh- rất ít nói, họ nh- cái bóng chập chờn lay

động Nếu có đối thoại chỉ là những lời đối thoại cộc lốc và nhát gừng Họ bao gồm: Chị Tí, bác Sẩm,

bà cụ Thi điên, bác Siêu bán phở, hai chị em Liên An, mấy đứa trẻ nhặt rác

a Chị Tí: Hiện lên qua mẩu đối thoại: "ối chao ôi, sớm với muộn mà có ăn thua gì" Cuộc sống của chị chỉ là cuộc sống cầm cự với cái đói nghèo cho qua ngày đoạn tháng không biết bao giờ mới kết thúc

Trang 17

MOON.V N

b- Bà cụ Thi điên: Qua cách uống r-ợu; uống một hơi cạn sạch và cái c-ời khanh khách nhỏ dần về phía bóng tối => Cuộc sống mòn mỏi lặp đi lặp lại vô nghĩa, hiu hắt không chịu nổi đến phát

điên

c- Bác Xẩm: "Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng" => Hàm chứa sự

đau đớn run rẩy tủi hơn của cái nghèo khổ hiu hắt

đ Bác phở Siêu: " Một chấm lửa nhỏ vàng lơ lửng đi trong đêm tói, mất đi rồi lại hiện ra Bóng bác mênh mông ngả xuống đất và kéo dài đến tận hàng rào" => Cuộc đời con ng-ời giống nh- cái bóng, cái bóng ấy cứ kéo dài mãi lại ẩn hiện để thấy đ-ợc một kiếp ng-ời lam lũ mờ nhạt và buồn

tẻ của con ng-ời

e- Mấy đứa trẻ nhặt rác: "nhặt nhạnh bất cứ thứ gì còn dùng đ-ợc mà những ng-ời bán hàng

để lại" => Nổi bật sự héo úa và tàn tạ

g- Chị em Liên: Tâm trạng của cô bé Liên trong khoảnh khắc thời gian chiều tối đêm khuya:

"chiều chiều rồi Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần" -> Cảm giác cuộc sống ng-ng đọng và đầy tiếng thở dài

Đêm: "Chị em Liên lặng ngắm nhìn sao, mỏi mắt lại chúi nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật của chị Tí" -> cuộc sống của Liên cứ lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, nó nói lên cái buồn, mòn mỏi Liên đã cố gắng đi tìm ánh sáng nh-ng không thoát khỏi đ-ợc cuộc sống tăm tối ấy

Đêm khuya thì Liên lại ngập vào giấc ngủ yên tĩnh tịch mịch và đầy bóng tối

* Kết luận:

Cuộc sống của những con ng-ời này thật phẳng lặng, thật đơn điệu nếp sinh hoạt của họ cứ lặp đi lặp lại một cách quen thuộc Họ đâu có bị giằng xé về chuyện áo cơm, họ chỉ có sự giằng xé về nội tâm bởi họ sống một cuộc sống hiu hắt không hi vọng Thạch Lam muốn gửi vào đây một niềm cảm thông chia sẻ với những kiếp ng-ời đau khổ ấy

3- Bút pháp t-ơng phản: Tác phẩm đã sử dụng bút pháp t-ơng phản khá sâu sắc:

+ T-ơng phản giữa bóng tối và ánh sáng

+ T-ơng phản giữa cái tĩnh và cái động

+ T-ơng phản giữa nếp sống đơn điệu nhàm chán lặp lại ột cách phẳng lặng với những khuyâý

động mạnh mẽ rực rỡ dù chỉ trong một khoảnh khắn rất nhỏ Trong những sự t-ơng phản ấy nỏi bật là

sự t-ơng phản giữa ánh sáng và bóng tối ánh sáng thì nhỏ bé hiếm hoi đơn độc và sâu lặng Bút pháp t-ơng phản này càng làm nổi bật hơn cái nhìn th-ơng cảm của tác giả

ánh sáng: "quầng sáng", "hột sáng, khe sáng, đom đóm bay ánh sáng của ngàn ngôi sao"

- Bóng tối: "Tối hết tất cả, con đ-ờng thăm thẳm "-> Bóng tối làm chủ, ánh sáng đơn độc lẻ loi đơn độc và quá hiếm hoi

+ T-ơng phản âm thanh: Tiếng động th-a thớt, ánh sáng kêuvăng vẳng, tiếng c-ời khanh khách, tiếng đàn run bần bật trong bóng tối => Cái động ấy càng làm tăng cái tĩnh

+ T-ơng phản cuộc sống nhàm chán đơn điệu và cái khuấy động mạnh mẽ: Hình ảnh cuộc sống đơn điệu đối lập với cái mạnh mẽ rực rỡ khi chuyến tàu đêm đi qua bới nó mang đến âm thanh mạnh mẽ, tiếng rít ầm ầm, ánh sáng rực rỡ nh-ng khoảng khắc ấy lại qua ngay tiếp tục nh-ờng chỗ cho đêm tối mênh mang và yên lặng

* Cuộc sống tù túng nghèo nàn của những con ng-ời không có ngày mai Thạch Lam chủ yếu

đi vào miêu tả sự giằng xé nội tâm chứ không đi vào giằng xé cơm áo gạo tiền

4- Trong toàn bộ truyện ngắn nhà văn đã cố gắng cho ng-ời đọc thấy đ-ợc: cuộc sống tăm tối

không có t-ơng lai không có hi vọng, không có niềm vui thì ng-ời khổ nhất sẽ là những ng-ời hiểu

đ-ợc nỗi buồn của hiu hắt tàn lụi và hi vọng và -ớc mơ cho dù bé nhỏ nhất một điều gì khác với cuộc sống mà họ đang sống Cho nên ng-ời khổ nhất trong thiên truyện ngắn lại là cô bé Liên bởi vì Liên cũng nh- con ng-ời khác, cũng sống một cuộc sống tăm tối nghèo khổ đơn điệu (có thể cuộc sống nghèo túng của Liên ch-a chắc đã quá túng quẫn nh- họ) Liên khổ chính vì Liên biết buồn cho cuộc

Trang 18

MOON.V N

sống mà mình đang sống, mỗi khi nhớ lại quá khứ của những ngày sống ở Hà Nội khi còn nhỏ cho nên Liên đã có một tâng trạng đợi tầu rất cảm động, chờ đợi một khoảng khắc đem đến cho cô niềm vui và hi vọng đem đén cho cô những -ớc mơ nhỏ bé và để rồi sau khi đoàn tàu đã đi qua Liên lại trở

về thực tại buồn th-ơng đầy bóng tối, hiu hắt xa lạ cới ánh sáng Liên biết mình khổ nên chỉ biết thoát ra khỏi nỗi buồn ấy bằng cách chờ tàu, sau mỗi lần tàu qua lại gợi cho Liên nhớ về sống lại niềm vui mơ -ớc về Hà nội t-ơi đẹp Nhân vật Liên tuy là cô bé mới lớn song đã ý thức đ-ợc cuộc sống khổ cực của mình

=> Nhà văn bộc lộ cảm xúc của mình khi đ-ợc trân trọng niềm vui nho nhỏ của những con ng-ời đau khổ và cũng qua đó ta thấy đ-ợc ngòi bút của Thạch Lam thực sự nhạy cảm với những biến thái của tâm trạng con ng-ời -> Truyện ngắn Thạch Lam là bài thơ trữ tình đầy xót th-ơng (bởi nó là cảm xúc của Thạch Lam)

Đề 2: "Bức tranh phố huyện và tâm trạng nhân vật Liên qua ngòi bút Thạch Lam trong truyện

ngắn Hai đứa trẻ từ đó rút ra ý nghĩa của tác phẩm

* Yêu cầu:

+ T- liệu: Truyện ngắn: Hai đứa trẻ

Là truyện ngắn lãng mạn viết năm 1938 rút ra từ tập Nắng trong v-ờn của nhà văn Thạch Lam

+ Cốt truyện, nhan đề, chủ đề

+ Bút pháp t-ơng phản, nhân vật, không gian, thời gian

* Kiểu bài: (ý nghĩa t- t-ởng là suy nghĩ từ bức tranh phố huyện từ nhân vật Liên và rút ra vấn

I- Mở bài: Thạch Lam là cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học lãng mạn Việt Nam 1930 -

1945 Các tác phẩm của Thạch Lam cho dù cốt truyện không đặc biệt nh-ng với cách đi sâu khai thác nội tâm nhân vật một cách tinh tế, tác giả đã giúp ng-ời đọc thấy đ-ợc một Thạch Lam đôn hậu nhạy cảm, một cuộc sống của phố huyện nghèo, một cuộc sống vùng ngoại ô Hà nội tối tăm xơ xác bế tắc

mù mịt

Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" đ-ợc rút ra từ tập truyện ngắn "Nắng trong v-ờn" (1938) là một truyện ngắn hay tài hoa cho nhà văn bởi đã bộc lộ đ-ợc những điều nói về tác phẩm của nhà văn đã nêu ở trên

Trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" nhà văn đã tạo dựng một hình ảnh một bức tranh phố huyện

đã thể hiện tâm trạng nhân vật chính cô bé Liên và qua sự thể hiện bức tranh và tâm trạng ấy, nhà văn

đã gửi vào đây trong chính truyện ngắn này một ý nghĩa t- t-ởng thật sâu sắc

II- Thân bài:

A- Tóm tắt gọn gàng cốt truyện "Hai đứa trẻ"

B- Giải quyết nội dung: "Bức tranh phố huyện và tâm trạng Liên qua ngòi bút Thạch Lam và ý nghĩa t- t-ởng của tác phẩm

1- Bức tranh phố huyện và tâm trạng Liên qua ngòi bút của Thạch Lam:

a- Bức tranh phố huyện: Thời gian của bức tranh ấy là một thời gian rất ngắn ngủi, đó là thời gian từ chiều, từ hoàng hôn đến đêm khuya Hay nói một cách khác đó là một thời gian ngắn ngủi đã

Trang 19

MOON.V N

đ-ợc lặp đi lặp lại hàng ngày vào những giây phút tàn lụi cuối cùng của một ngày Thời gian ấy đã

đ-ợc tác giả thể hiện khá cụ thể:

+ Âm thanh của tiếng trống thu không (trống đánh để chuẩn bị đóng cổng thành khi chiều xuống) là thứ âm thanh "từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều" đến đêm thì lại là tiếng trống cầm canh (trống đánh để tính thời gian của đêm), tiếng trống ấy đã tung lên một tiếng ngắn khô khan, khong vang động ra xa rồi chìm ngay vào bóng tối Cách miêu tả thời gian bằng tiếng trống nh- thế càng thấy rõ thời gian tuy rất ngắn ngủi nh-ng lại trôi chảy một cách quá chậm chạp và d-ờng nh- ng-ng đọng

- Không gian trong tác phẩm hẹp tập trung trong một phố huyện nghèo ở một ga xép nhỏ mà

đêm đêm xuất hiện một chuyến xe lửa đi qua mang đến thứ ánh sáng rực rỡ và tiếng động mạnh để rồi lại lùi xa và chìm vào bóng tối dày đặc

+ Không gian ấy còn đ-ợc tác giả ghi nhận rất cụ thể qua cảnh vật mà nhà văn đã quan sát

đ-ợc bằng cách nhập vào sự quan sát của nhân vật chính: Liên để thấy đ-ợc không gian ấy hiện lên thật sinh động và gợi cảm

+ Đó là một buổi chiều "văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng theo gió nhẹ đ-a vào" Cách miêu tả ấy gợi trong lòng ng-ời đọc sự thảng thốt cùng một nỗi buồn mơ hồ ngấm ngầm trong cảnh vật

+ Không gian ấy chính là hình ảnh của một cái chợ nghèo nh-ng đã vãn từ lâu Sinh hoạt chợ vốn là một sinh hoạt bình th-ờng của đời sống ng-ời Việt Nh-ng sinh hoạt chợ này lại đ-ợc tác giả thể hiện vào lúc chợ đã tàn Ng-ời hết và tiếng ồn ào cũng mất chỉ còn trơ lại trên nền chợ rác r-ởi vỏ b-ởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía " Còn lại ở đó là hình ảnh mấy đứa trẻ con nhà nghèo đang lom khom nhặt nhạnh những thanh nứa thanh tre hay những gì còn dùng đ-ợc do những ng-ời bán hàng để lại Tát cả những hình ảnh ấy gợi lên sự tiêu điều xơ xác sự tàn tạ và héo úa của một cuộc sống nghèo nàn tăm tối

Bức tranh phố huyện còn đ-ợc thể hiện ở sự t-ơng phản thật sâu sắc và đậm đà giữa ánh sáng

và bóng tối Hay nói theo cách khác đó là sự xung đột giữa ánh sáng và bóng tối

Sử dụng bút pháp t-ơng phản tạo nên những xung đột sâu sắc và mạnh mẽ vốn là cách thức biêu hiện của các truyện ngắn lãng mạn Thạch Lam cũng đã sử dụng triệt để thủ pháp này ở trong tác phẩm của mình để thể hiện bức tranh phố huyện qua bút pháp t-ơng phản giữa ánh sáng và bóng tối

- Phố huyện đủ các loại đèn để chiếu sáng tranh chấp với bóng tối Thôi thì không còn thiếu thứ đèn gì: đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn Hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, đèn dây sáng xanh trong hiệu khách nhà nào cũng lên đèn Và tất cả những nguồn sáng ấy đều tập trung chiếu ra ngoài phố nhằm giúp cho phố huyện sáng tỏ Thế nh-ng chính thứ ánh sáng của đủ loại đèn đó lại khiến

"cho đ-ờng mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối" Hoá ra nếu không có ánh sáng của đủ loại đèn ấy thì có lẽ con đ-ờng trở nên dễ đi hơn và đỡ xấu hơn

b Tâm trạng Liên

c Ý nghĩa t- t-ởng của tác phẩm (Xem phõ̀n giá trị hiợ̀n thực và nhõn đạo của đờ̀ 4)

(Hai phõ̀n này trong bài cụ đó nói rõ lắm rụ̀i, các em suy nghĩ thờm và tự làm nhé!)

Đề 3 Phân tích cảnh chị em Liên chờ chuyến tàu đêm qua phố huyện

a- Khái quát tâm trạng Liên ở hai cảnh tr-ớc

Trang 20

MOON.V N

Chú ý hình ảnh chung của xã hội cũng nh- hình ảnh riêng của chị em Liên đều có cái buồn tẻ, bế tắc cần phải có sự giải thoát

b- Lý giải nguyên nhân chờ đợi và diễn biến tâm trạng

- Không xuất phát từ nhu cầu của đời sống vật chất (không thức để bán hàng)

- Xuất phát từ nhu cầu của đời sống tinh thần: Muốn thoát khỏi cuộc sống buồn tẻ bế tắc để sống trong một thế giới tốt đẹp hơn

- Chờ đợi con tàu nh- chờ đợi một điều gì thiêng liêng (buồn ngủ ríu cả mắt vẫn đứng đợi Khi con tàu đến hai chị em đứng dậy h-ớng về phía con tàu, đắm chìm trong ánh sáng rực rỡ và trong những âm thanh náo nhiệt của con tàu mang đến Khi con tàu đi còn lặng nhìn theo mơ t-ởng)

c- ý nghĩa của hai chị em trong cảnh đợi tàu (ba nội dung trong giá trị, nhân đạo của tác phẩm )

* Ngoài ra cần l-u ý :

+ Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam :

- Truyện d-ờng nh- không có cốt truyện, giàu cảm xúc, nhẹ nhàng mà thấm thía, loại truyện ngắn trữ tình - tâm tình

- Khi miêu tả nhân vật tác giả không chú ý miêu tả diện mạo bên ngoài mà chú ý miêu tả tâm trạng đời sống tâm lý, chứ không đi sâu vào khía cạnh suy nghĩ t- t-ởng mà đi sâu vào tình cảm, tâm

lý, tâm hồn

- Lời văn của tác giả rất tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, những cảnh vật đời th-ờng quen thuộc đều nhẹ nhàng mà thấm thía

Nội dung của truyện đ-ợc thể hiện qua diễn biến tâm trạng của nhân vật chính (so sánh với

kiểu Truyện ý t-ởng Xuân Diệu để thấy đ-ợc sự giống và khác nhau )

Giống nhau : D-ờng nh- không có cốt truyện, giàu cảm xúc suy t-

Khác nhau : Trong truyện của Xuân Diệu thì nội dung tình cảm đ-ợc thể hiện qua cảm xúc suy

t- của chính tác giả - nhân vật “tôi” Còn trong truyện của Thạch Lam thì nội dung tình cảm được thể hiện qua cảm xúc suy t- của nhân vật chính trong tác phẩm

Điều cần nhớ : Văn của Thạch Lam nằm ở điểm giao thoa giữa hiện thực và lãng mạn giữa văn

xuôi và thơ, ánh sáng là -ớc mơ, bóng tối là nghèo nàn và cô đơn

Đề 4 Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn Hai đứa trẻ (Xem bài giảng tiờ́t 3)

Đề 6: Thạch Lam là nhà văn lóng mạn hay hiện thực? Từ cảm nhận của anh/ chị về truyện

ngắn Hai đứa trẻ hóy trả lời cho cõu hỏi trờn (Các em xem phõ̀n dàn ý chi tiờ́t cụ làm trong Tư

liợ̀u tham khảo Đờ̀ này dành cho các bạn HSG em ạ)

Đề 7: Chṍt thơ trong truyợ̀n ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

1, Mở bài

– Dẫn dắt vấn đờ̀: giới thiợ̀u vờ̀ nhà văn Thạch Lam và phong cách văn chương của ụng

– Nờu vấn đờ̀: chất thơ trong “Hai đứa trẻ”

2, Thõn bài

a Giải thớch: Chất thơ là gỡ?

Chất thơ là mụ̣t thuật ngữ lý luận chỉ phẩm chất đặc biợ̀t của văn xuụi Tác phẩm văn xuụi được xem là cú chất thơ khi nụ̣i dung của nú đi sõu vào trạng thái cảm xỳc diễn tả diễn biờ́n trong trạng thái chủ quan với những rung đụ̣ng tinh tờ́

b Phõn tớch: Chất thơ được thể hiợ̀n trong “Hai đứa trẻ” như thờ́ nào?

Trang 21

MOON.V N

– Kết cấu truyện ngắn: “Hai đứa trẻ” dường như không có cốt truyện Tuy chỉ tập trung vào những diễn biến nội tâm của nhân vật, những mảnh ghép của bức tranh phố huyện nhạt nhòa, mòn mỏi, song Thạch Lam đã để lại ấn tượng đầy ám ảnh cho tác phẩm

– Khung cảnh thiên nhiên: Đó là một mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát với vòm trời huyền bí lấp lánh những vì sao, những con đom đóm lập lòe… Những chi tiết thơ mộng đã làm giảm bớt màu sắc ảm đạm u tối của bức tranh đời

- Chất thơ tỏa ra từ bức tranh đời sống: cảnh chợ tàn vẫn ánh lên vẻ thân thương trìu mến Cách ứng xử của những người dân phố Huyện…

- Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật

Nếu Nam cao thường đi vào phân tích những quá trình tâm lý phức tạp thì Thạch Lam lại chủ yếu đi sâu vào những trạng thái của tâm hồn mà tâm hồn mới là đối tượng của chất thơ Nếu Nguyễn Tuân thường đi sâu vào miêu tả những cảm xúc mạnh mẽ dữ dội thì Thạch Lam lại cố vẽ nên hình những cảm giác mong manh, mơ hồ, tinh tế “như những rung động của một cánh bướm non”

– Nghệ thuật ngôn từ: Giọng điệu nhẹ nhàng, truyền cảm Ngôn ngữ vừa giàu nhạc điệu vừa giàu tính tạo hình

c Bình luận: Ý nghĩa của chất thơ?

Chất thơ trong “Hai đứa trẻ” đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của truyện ngắn này, Thạch Lam đã phát hiện ra được “cái đẹp chứa ở chỗ không ai ngờ tới” Đó là cái đẹp kín đáo bị khuất lấp bởi đời sống nhọc nhằn, cái đẹp mà chỉ tâm hồn tinh tế hồn hậu mới có thể cảm nhận hết được Chất thơ trong truyện ngắn của Thạch Lam thể hiện một trong những tôn chỉ của ông trong việc sáng tạo nghệ thuật Đó là làm cho tâm hồn con người “thêm trong sạch và phong phú hơn”

3, Kết luận

– Khẳng định lại vấn đề

– Bài học rút ra

Trang 22

MOON.V N

* Lời vào bài:

Nazim – Hikmet (1902- 1963)- nhà thơ, nhà hoạt động chính trị Thổ Nhĩ Kỳ từng có lời tha thiết: “Con hãy nghe nỗi buồn của rừng cây héo khô, của hành tinh lạnh ngắt, của chim muông què quặt…nhưng trước nhất, xin con hãy nghe tiếng kêu thống thiết của nỗi đau con người”

Vâng, từ bao giờ đến bây giờ, tiếng kêu con người bao giờ cũng khiến lòng ta đau đớn Điều đó lại càng đúng với những nghệ sĩ chân chính, những nhà nhân đạo chủ nghĩa từ trong cốt tủy như Nam Cao

Ở lớp 8, các em đã cảm nhận nỗi buồn cắn xé từng trang trong nỗi đau của Lão Hạc khi con người đáng kính ấy thà chịu chết để cố giữ bằng được mảnh vườn cho con, giữ tròn nhân cách Cùng viết về đề tài người nông dân, nhưng giờ học này, chúng ta sẽ chứng kiến một nỗi đau khác, day dứt, dữ dội hơn trong nỗi đau của một thân phận sinh ra là người nhưng không được làm người qua truyện ngắn Chí Phèo

* Giới thiệu cấu trúc bài học:

Tiết 1: Tác giả, tác phẩm, tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật Chí Phèo: quãng đời lương thiện) Tiết 2: Tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật Chí Phèo: bi kịch bị từ chối quyền làm người)

Tiết 3: Tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật thị Nở, Bá Kiến- giá trị của tác phẩm

I - Tìm hiểu chung

1 Tác giả: (1915-1951)

- Nhà văn hiện thực xuất sắc của nền VHVN hiện đại

- Tác phẩm xoay quanh hai đề tài chính: người trí thức nghèo và người nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám

- Nhưng dù viết về đề tài nào, Nam Cao vẫn trăn trở, day dứt đến đau đớn trước vấn đề nhân phẩm, đạo đức của con người bị xói mòn, thậm chí bị hủy hoại cả về nhân hình lẫn nhân tính Điều đó được

thể hiện tập trung và xuất sắc trong tác phẩm Chí Phèo

- Đặt tên truyện là Cái lò gạch cũ :

+ sự luẩn quẩn bế tắc của những người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám, gắn với hình

ảnh Chí Phèo ở đầu truyện , cuối truyện Cái lò gạch cũ như là biểu tượng tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm

+ Mặt khác, hình ảnh cái lò gạch cũ còn đổ bóng xuống không gian và thời gian của tác phẩm, hằn

in trên số phận các nhân vật, định vị trong ta mảnh đất chật hẹp khép kín của làng Vũ Đại ngày xưa Không gian tù túng, chật hẹp, bức bối; sự hoang vắng, trống trải, ảm đạm, u buồn Nếu một lần đặt chân lên mảnh đất của làng Đại Hoàng xưa, bên bờ sông Châu, với những vườn chuối dài ngút mắt,

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 1)

Trang 23

MOON.V N

những ngụi nhà nằm rải rác, đõy đó lách cách tiờ́ng thoi đưa người cần cù dợ̀t vải, ta võ̃n cảm nhọ̃n khụng khớ Nam Cao đã miờu tả trong truyợ̀n ngắn Chớ Phèo Dù cảnh vọ̃t và con người đã khác xưa

nhiờ̀u lắm

- Nhan đờ̀ Đụi lứa xứng đụi :

+ Hướng sự chú ý vào Chớ Phèo và Thị Nở, một con “quỷ dữ của làng Vũ Đại” mặt mũi bị vằm

ngang dọc và một mụ đàn bà xṍu “ma chờ quỷ hờn” Cách đặt tờn Đụi lứa xứng đụi là một cách gõy

sự tò mò, kớch thớch thị hiờ́u tầm thường của một lớp cụng chúng bạn đọc

+ Tác phẩm khụng tọ̃p trung vào chuyợ̀n ái tỡnh, nhưng với độc giả, cái tờn ṍy ớt nhiờ̀u võ̃n gợi sự xa xót : họ là đụi lứa nhưng chẳng được xứng đụi Cái khát vọng nhỏ nhoi được có một gia đỡnh với người vợ xṍu ma chờ quỷ hờn như thị Nở, với Chớ Phèo võ̃n ngoài tầm tay với Như vọ̃y, xét vờ̀ một phương diợ̀n nào đó, cái tờn đó khụng phải khụng có ý nghĩa

- Dùng tờn nhõn vọ̃t chớnh Chí Phèo làm tờn truyợ̀n, đó khụng phải là điờ̀u mới mẻ Nhưng sức sụ́ng

tự thõn của nhõn vọ̃t khiờ́n ta có cảm giác dứt khoát cái tờn ṍy phải là của nhà văn ṍy, tác phẩm ṍy, khụng thờ̉ khác Chúng sinh ra là phải thuộc vờ̀ nhau, giả sử Nam Cao có đặt lại tờn nhõn vọ̃t một lần

nữa, bạn đọc võ̃n cứ gọi tác phẩm là Chớ Phèo, như nhõn dõn võ̃n gọi Đoạn trường tõn thanh của Nguyờ̃n Du là truyện Kiều Nói như vọ̃y đờ̉ thṍy rằng :

+ Chớ Phốo là nhõn vọ̃t trung tõm, là nơi hội tụ sức sụ́ng và linh hụ̀n của tác phẩm, là nhõn vọ̃t làm

nờn sức mạnh tư tưởng và nghợ̀ thuọ̃t của văn- nhõn vọ̃t độc đáo, có một khụng hai trong lịch sử văn học Viợ̀t Nam Toàn bộ ý nghĩa của nội dung truyợ̀n ngắn hầu như toát ra từ hỡnh tượng nhõn vọ̃t này ; Chớ Phèo “là kờ́t tinh những thành cụng của Nam Cao trong đờ̀ tài nụng dõn”

+ Một cái tờn giản dị, bỡnh thường, dờ̃ nhớ và đã trở nờn đáng nhớ nhṍt của văn học hiợ̀n thực phờ phán Viợ̀t Nam 1930-1945

2.3 Đề tài

- Tác phẩm viết về đề tài ng-ời nông dân tr-ớc Cách mạng tháng Tám nh-ng có sự khám phá

hết sức mới mẻ Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố quá đau đớn khi phải bán con, bán sữa, bán

chó của mình trong mùa s-u thuế nh-ng Chí Phèo đi đến tột cùng của nỗi đau vì phải bán dần nhân phẩm, linh hồn của mình cho Bá Kiến mà bán rất rẻ, mỗi lần chỉ lấy một vài đồng uống r-ợu Vì thế,

khi tiểu thuyết “B-ớc đ-ờng cùng” của Nguyễn Công Hoan ra đời năm 1938, “Tắt đèn” của Ngô Tất

Tố ra đời năm 1939, ng-ời ta nghĩ rằng khó có thể nói gì thêm về nỗi đau thân phận ng-ời nông dân

Vậy mà năm 1941, “Chí Phèo” ngọ̃t ngưỡng bước ra từ trang sách của Nam Cao, người ta mới nhọ̃n

ra “đây mới là hình ảnh thê thảm nhất của kiếp sống ng-ời dân cày trong xã hội thực dân phong kiến”

(GS Nguyễn Đăng Mạnh) Như vọ̃y, vṍn đờ̀ của Chớ Phèo khụng phải bi kịch cơm áo gạo tiờ̀n, mà là

bi kịch bị xói mòn vờ̀ nhõn phõ̉m Đó là cạnh sắc khỏc trong tác phẩm của Nam Cao khiờ́n ụng

vượt hơn hẳn những tác phẩm viờ́t vờ̀ nụng dõn và nụng thụn cùng thời

- Chớ Phèo trước hờ́t là vṍn đờ̀ nụng dõn và nụng thụn Viợ̀t Nam trước Cách mạng tháng Tám, nhưng nó khụng chỉ là vṍn đờ̀ nụng dõn và nụng thụn, đó còn là vṍn đờ̀ con người, là bi kịch của con người

bị từ chụ́i quyờ̀n làm người, vṍn đờ̀ có tính triết học và mang ý nghĩa khái quát xã hụ̣i Chớ Phèo

vừa tiờu biờ̉u cho sụ́ phọ̃n cùng cực của người nụng dõn bị đè nén, bóc lột, vừa tiờu biờ̉u cho sự tha hóa phổ biờ́n trong xã hội tàn phá tõm hụ̀n con người, đó là sự phờ phán mãnh liợ̀t, sõu sắc ớt có ở ngòi bút Nam Cao

2.4 Chủ đề tỏc phẩm

Qua tác phẩm Chớ Phèo, Nam Cao

+ tố cáo mạnh mẽ xã hội thực dõn nửa phong kiờ́n tàn bạo đã cướp đi của người dõn lương thiợ̀n cả

nhõn hỡnh lõ̃n nhõn tớnh

+ Đụ̀ng thời nhà văn cũng trõn trọng phát hiợ̀n và khẳng định bản chṍt tụ́t đẹp của những con

người này ngay khi tưởng chừng họ đã bị biờ́n thành quỷ dữ

Trang 24

MOON.V N

II Đọc hiểu văn bản

1 Tóm tắt cốt truyện

- Xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính ;

+ Chí Phèo sinh ra trong thân phận một đứa trẻ bị bỏ rơi- Bất hạnh nhưng lớn lên, vẫn trở thành anh

canh điền khỏe m ạnh, hiền lành, có lòng tự trọng Khi ấy, anh khoảng 20 tuổi, làm thuê cho nhà lí

Kiến- Đoạn đời 1 : Bất hạnh nhưng lương thiện- Sự vận động tính cách Chí Phèo khá thuần nhất

+ Chỉ vì ghen tuông vô cớ, bị đẩy vào tù Sau 7,8 năm, ra tù, trở thành lưu manh, quỷ dữ, làm tay sai cho Bá Kiến- Đoạn đời 2 : Bi kịch bị tha hóa- tính cách lưỡng hóa, phức tạp

+ Gặp thị Nở, muốn được trở lại làm người Bị bà cô thị Nở + định kiến xã hội ngăn cản, tuyệt vọng, CP đã tìm đến cái chết đau đớn trong tiếng kêu bàng hoàng nhân thế- Đoạn đời 3 : Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

(Sơ đồ hóa bằng bốn hình tượng không gian : Đoạn đời 1: Cái lò gạch- Nhà Bá Kiến- Lương thiện Đoạn đời 2 : Nhà Bá Kiến- Nhà tù- Túp lều làng Vũ Đại : Quỷ dữ Đoạn đời 3 : Túp lều- Cái lò gạch : bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người)

2 Cấu trúc thời gian, không gian và kết cấu của truyện

- Thời gian : Tác phẩm mở đầu bằng cái buổi chiều Chí Phèo uống say và lên cơn chửi Buổi chiều đó kéo dài qua những đoạn hồi cố nhằm dựng lại cuộc đời Chí, trượt xuống thành buổi tối khi cái

bóng xệch xạc dưới trăng làm hắn quên ý định báo thù, nảy sinh từ sự vô vọng của tiếng chửi, và rẽ

vào nhà Tự Lãng Sau cuộc rượu với kẻ tri kỷ cuồng, đêm đó hắn gặp kẻ tri âm của đời mình: Thị

Nở Sáng hôm sau hắn tỉnh, không chỉ là tỉnh khỏi giấc ngủ đêm hôm trước, mà tỉnh khỏi cơn say mênh mông suốt đời hắn, tỉnh khỏi kiếp sống sinh vật, kiếp quỷ dữ Và năm ngày tiếp theo, quãng

thời gian sống trong tình yêu với Thị Nở, hắn đã làm một người lương thiện thực sự Câu chuyện về

Chí dừng lại ở cái buổi trưa ngày thứ sáu, sau khi bị Thị Nở chối từ, Chí Phèo giết Bá Kiến và tự vẫn Nhưng tác phẩm chỉ thực sự kết thúc với những lời bàn tán xì xầm của làng Vũ Đại và thái độ của Thị Nở một ngày sau khi Chí chết (sang ngày thứ 7) Như vậy, Chí Phèo - con quỷ dữ và quá trình biến thành quỷ dữ đã thuộc về quá khứ, còn hiện tại của câu chuyện được mở ra từ cái thời điểm khởi đầu cho sự hồi sinh của Chí, cũng là khởi đầu cho một kết thúc đau đớn sẽ đến kề

ngay sau đó

- Không gian: Cái lò gạch- Nhà Bá Kiến- Nhà tù- Túp lều- Cái lò gạch- những không gian nghệ

thuật giàu ý nghĩa, góp phần thể hiện sâu sắc nội dung hiện thực và nhân đạo của tác phẩm, đem lại những giá trị thẩm mĩ cao

- Cấu trúc dồn nén sự kiện, vừa có những biến hóa bất ngờ, độc đáo Toàn tác phẩm là một sức

căng Vừa diễn đạt tính quyết liệt của mâu thuẫn xã hội, vừa làm nổi bật tính cách nhân vật, tạo sức

hấp dẫn cho người tiếp nhận

3 Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo

Bước 1 : Khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí của nhân vật (Đây là nhân vật trung tâm, hội tụ những giá trị đặc sắc của tác phẩm)

Bước 2 : Sơ lược về cốt truyện và cuộc đời nhân vật (các em nói như phần tóm tắt)

Có thể chia cuộc đời Chí Phèo làm ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất: từ lúc Chí ra đời tới lúc bị đẩy

vào tù: Quãng đời lương thiện Giai đoạn hai: từ khi Chí Phèo ra tù tới khi gặp thị Nở : Bi kịch tha

hóa Giai đoạn ba: từ khi gặp thị Nở đến khi bị thị Nở khước từ tình yêu: Bi kịch bị từ chối quyền làm người

Bước 3: Phân tích hình tượng nhân vật

a Sự xuất hiện của nhân vật :

- Thường có ý nghĩa quan trọng, tạo ấn tượng ban đầu với bạn đọc

Trang 25

MOON.V N

- Một trong những nét đặc sắc của Nam Cao là vào truyện rất nhanh, bỏ qua bằng hết những chi tiết

thừa Chưa kịp bước chân vào làng Vũ Đại, ta đã gặp hắn, chưa kịp biết hắn là ai, diện mạo, lai lịch

thế nào, ta đã phải nghe một tràng chửi tới tấp Thế là, giữa buổi trưa hè nắng gắt trên con đường làng Vũ Đại vắng ngơ vắng ngắt, Chí Phèo đột ngột xuất hiện với bước chân ngật ngưỡng và những

tiếng lè bè của một kẻ say, một loạt đối thoại chỉ có một phía: Hắn vừa đi vừa chửi

- Đó là sự xuất hiện tự nhiên (như là nhìn thấy hắn đi, nghe thấy hắn chửi, rút gần khoảng cách với nhân vật); hấp dẫn, độc đáo (Có đối tượng nhưng đối tượng luân chuyển, không hướng về ai Thông thường không ai thích nghe người ta chửi lại, nhưng ở đây ngược lại, hắn rất thèm nghe chửi Chửi

mà không hả dạ, ngược lại, càng chửi càng tức tối) LẠ ! => thu hút sự chú ý của người đọc, tạo nên sức căng cho tác phẩm, cuốn ta vào không khí âm ỉ, quyết liệt của hận thù đòi được trả thù, báo hiệu cuộc đời đầy giông bão của nhân vật Hãy nghe cụ thể xem Chí Phèo chửi ai ? Chửi cái gì ? Vì sao lại thế ?

Trời Có hề gì ? Trời có của riêng nhà

nào ? Đời Cũng chẳng sao ! Đời là tất cả

nhưng chẳng là ai Tất cả làng Vũ Đại Không ai lên tiếng (chắc nó trừ

mình ra)

Tức thật ! Ờ ! Thế này thì tức thật ! Tức đến chết được mất ! Đã thế, hắn chửi cha đứa nào

không chửi nhau với hắn

Không ai ra điều Mẹ kiếp ! Thế có phí rượu

không ? Thế thì có khổ hắn không ?

Đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn

(Trong câu nói đã có ngấn

nước mắt rồi !)

Hắn không biết Cả làng Vũ Đại cũng không ai biết

A ha ! Phải đấy hắn cứ nghiến răng vào mà chửi

THU HẸP DẦN

Nhu cầu thèm được giao

tiếp

ĐÔNG ĐẢO- IM LẶNG

(Tiếng chửi rơi tõm vào khoảng không, Chí xa lạ với chính mình, lạc lõng với đồng loại)

ỒN ÀO, SÔI SỤC- CÔ ĐƠN Ngày càng vật vã, đau đớn

khủng khiếp

- Đoạn văn không một trạng ngữ chỉ thời gian, như những tháng năm triền miên trong cơn say của Chí là dài vô tận ; không một trạng ngữ chỉ không gian, như con đường say mà Chí đang đi thăm thẳm vô cùng Cuộc đời như bóng đen khủng khiếp mà càng khao khát sẻ chia càng nhận về hoang

mạc Nhà phê bình Chu Văn Sơn cho rằng : tiếng chửi của Chí Phèo là tiếng hát lộn ngược của tâm hồn méo mó Có phải vậy chăng mà trong im lặng, ta nghe âm vang tiếng lòng đang quằn quại của

một nhân cách đòi được sống làm người ? Ta lắng nghe khát khao giao cảm trong tiếng chửi Chí Phèo, ta lặng người trước khoảng không đáng sợ của sự hững hờ vô cảm ?

- Tại sao hắn phải chửi vung lên như thế ? Tại rượu ? Đúng ! Từng tiếng chửi như phả ra nồng nặc men rượu Câu chữ, giọng điệu Nam Cao cũng như ngất ngưởng chuệnh choạng, con đường làng (hẳn thế !) cũng ngả nghiêng theo bước chân ngật ngưỡng Vừa đi vừa chửi, rõ là hắn đã say mèm!

- Nhưng nếu để ý, không khó để nhận thấy, đối tượng của tiếng chửi ngày càng thu hẹp dần và trở

nên tấy buốt : dám chửi Trời : đấng linh thiêng, tối cao của muôn loài : thật là phạm thượng ! Không biết kiêng nể một ai- Kế đó là Đời : to tát nhưng vu vơ ; Làng : không gian sinh tồn, cộng đồng làng xã là đất sống, nếu phải bỏ làng mà đi, bị làng chối bỏ là chết Đứa nào không chửi nhau với hắn-

Trang 26

MOON.V N

tột cùng của sự tha hóa Chụ́i bỏ nguụ̀n gụ́c, giụ́ng nòi Một sự miờu tả như vọ̃y, hẳn khụng phải là vụ tỡnh

- Qua tiờ́ng chửi, hiợ̀n lờn hai tầng chõn dung nhõn vọ̃t :

+ Kẻ lưu manh cụn đụ̀, cứ rượu vào là chửi

+ Nạn nhõn đau khổ cùng cực, ra sức quõ̃y cựa, như con cá mắc cạn, càng quõ̃y càng đau Có lẽ chưa bao giờ người ta được chứng kiờ́n nụ̃i khát thèm hơi ṍm của cộng đụ̀ng đau đớn như thờ́ : thèm được nghe người ta chửi nhau với mỡnh đờ̉ còn được thṍy mỡnh cũng được là người bỡnh thường như họ !

- Với ngụn ngữ đa thanh đa giọng, vừa trần thuọ̃t, vừa bỡnh luọ̃n, người trần thuọ̃t và nhõn vọ̃t đa giọng, song thanh, ta thṍy nụ̃i trăn trở và hơi thở nóng hực của nhà văn, xót thương cho kiờ́p người đau khổ, sinh ra nhưng khụng được là người

- Tiờ́ng chửi mở đầu và kờ́t thúc cõu chuyợ̀n (hiờ̉u theo cả nghĩa bóng), lặp đi lặp lại nhiờ̀u lần trong tác phẩm, tạo nờn kờ́t cṍu liờn hoàn, làm tăng tớnh kịch cho cõu chuyợ̀n Cả cuộc đời Chớ Phèo sẽ nằm trọn trong những tiờ́ng chửi ṍy Như vọ̃y, ngay từ đầu, với tiờ́ng chửi này, ta đã nhọ̃n ra vṍn đờ̀ trung tõm của tác phẩm : bi kịch bị từ chụ́i quyờ̀n làm người Nhưng làm sao đờ́n nụng nụ̃i ṍy ? Nam Cao đã khụng vội vàng Từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, Nam Cao sẽ dõ̃n ta ngược dòng thời gian, truy

tỡm nguyờn nhõn, nguụ̀n cội đờ̉ trả lời cõu hỏi: ai đã đẻ ra Chí Phèo !

b Lai lịch cuụ̣c đời- quãng đời bṍt hạnh nhưng lương thiợ̀n

- Lai lịch : Con sụ́ Khụng- Khụng gia đỡnh, khụng ai làm giṍy khai sinh cho Chớ

Sau dòng đời sụi sục, ngả nghiờng, giọng văn trở nờn trầm lắng, xa xụi trong hụ̀i ức Tác giả đưa ta vờ̀ với một buổi sáng tinh sương, người ta nhặt được đứa trẻ trần truụ̀ng, xám ngắt trong một cái váy đụp đờ̉ bờn một cái lò gạch bỏ khụng Như vọ̃y, khổ hơn cả phọ̃n mụ̀ cụi, ngay từ thuở lọt lòng, Chớ đã khụng biờ́t đõu là nguụ̀n cội, chưa bao giờ biờ́t đờ́n bàn tay chăm sóc của mẹ cha, thiờ́u hẳn tỡnh ṍp ủ yờu thương của những người thõn, khụng biờ́t ai là ruột thịt Trở thành vọ̃t trao tay hờ́t người này

đờ́n người khác : anh thả ụ́ng lươn rước lấy, người đàn bà góa mù đem về nuụi, bán cho bác phó cụ́i

khụng con, rụ̀i bác phó cụ́i qua đời, Chớ lại trở vờ̀ khụng nơi nương tựa

- Số phọ̃n, tính cách : Đau đớn tủi nhục như thờ́ nhưng Chớ võ̃n lăn lóc sụ́ng như một mầm cõy

mạnh mẽ Dù tuổi thơ bơ vơ đi ở cho hờ́t nhà này đờ́n nhà khác, khụng một ai thõn thớch họ hàng, khụng một mái nhà che thõn, nhưng những người như Chớ hỡnh như cũng tuyợ̀t nhiờn khụng biờ́t đờ́n tủi cực oán hờn, khụng kờu than cho sụ́ phọ̃n Từ trong lṍm láp, lầm lũi, Chớ võ̃n cứ lớn lờn, trở thành anh canh điờ̀n khỏe mạnh, mang bản tớnh tụ́t đẹp của những người dõn lương thiợ̀n: thọ̃t thà, chṍt phác, ngay thẳng, trung thực, làm thuờ làm mướn tự kiờ́m sụ́ng nuụi thõn, khụng nhờ vả cướp giọ̃t

của ai “hiờ̀n như đṍt” là bản tớnh đã được chớnh Bá Kiến, Nam Cao, sau này là thị Nở xác nhọ̃n, hiờ̀n đờ́n mức nhỳt nhỏt, đáng thương, nhưng đằng sau vẻ nhát sợ và nhịn nhục cụ́ hữu của những người yờ́u thờ́, ta thṍy ở trong con người ṍy có hạt nhõn cụ́t lõi của lòng tự trọng Vỡ tự trọng nờn

anh nụng dõn hai mươi tuổi này chỉ thṍy nhục khi bị bà ba bóc lột Còn biờ́t nhục, chứng tỏ Chí có

nhân phẩm của một con ng-ời biết phân biệt giữa cao th-ợng- thấp hèn; biờ́t đõu là tỡnh yờu chõn chớnh và đõu là những cái xấu xa cần khinh bỉ Không có tầm hiểu biết cao rộng nh-ng Chí có nhân cách “20 tuổi, ng-ời ta không là gỗ đá nh-ng cũng không hoàn toàn là xác thịt” Còn lí trí, Chớ không

chấp nhận cuộc sống bản năng, thú vật Đõy là điểm sáng lṍp lánh của nhõn cách Chớ Phèo trong thử thách đầu tiờn của hoàn cảnh

- Những phõ̉m chṍt tốt đẹp của Chí :

+ Chớ thọ̃t thà, chṍt phác, ngay thẳng, trung thực, làm thuờ làm mướn tự kiờ́m sụ́ng nuụi thõn + Bản tớnh rṍt hiờ̀n lành, có phần nhút nhát

+ Có lòng tự trọng

Trang 27

MOON.V N

+ Có ước muốn giản dị về một cuộc sống gia đình- “có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn, cày thuê Vợ dệt vải Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm

ba sào ruộng làm”

- Giai đoạn thứ nhất- Đoạn đời lương thiện lướt qua cuộc đời Chí Phèo như cơn gió thoảng, lướt

qua bằng mấy câu ở đầu tác phẩm, đến giữa truyện mới có một số chi tiết như là ngẫu nhiên kể tạt

ngang, tất cả chỉ gói gọn trong không quá mươi dòng Còn lại phải chăng chỉ là những năm tháng tù

tội, những lần rạch mặt ăn vạ và sự khinh miệt của người đời ? Không ! Hai chữ lương thiện hiện ra

không chỉ trong một đoạn đời, nó vừa là Khát vọng, cũng là Bi kịch, là vấn đề cốt lõi trở đi trở lại trong suốt mấy chục trang văn, làm nên hạt nhân cơ bản của cả tác phẩm

- Như vậy, quãng đời lương thiện đúng nghĩa của Chí chỉ nằm trong 20 năm đầu cuộc đời- tuổi ấu

thơ và thời trai trẻ- nhưng lại được kể quá ngắn ngủi, chưa đầy 01 trang trong tổng số 25 trang truyện với 14 ngàn chữ Ngắn vì nó nhanh chóng bị cướp mất, ngắn vì nó bị tầng tầng lớp lớp những tủi nhục và định kiến đè lên Nhưng ngắn ngủi mà không mờ nhạt, cái gì làm cho người ta đau khổ

người ta thường nhớ về nó rất lâu Sau này, khi gặp thị Nở, sự lương thiện lại hiện hữu trong âm

thanh cuộc sống đời thường với tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ, là xã hội bằng phẳng thân thiện mà Chí mơ ước được làm hòa, là thị Nở và hơi cháo hành; là những giây phút được

khóc cười và hạnh phúc bên thị Nở Nó là quá khứ để anh Chí nhớ về, là ảo ảnh để anh mơ mộng, là sợi dây hiện thực đã níu Chí ở lại được với cõi người Từ trong hố sâu tuyệt vọng, Chí đã cố sức bám lấy và leo lên, nhưng gần đến nơi, anh lại bị định kiến xã hội đẩy xuống sâu hơn Khao khát được quay trở về quãng đời lương thiện cuối cùng chỉ là giấc mơ khởi đầu bằng nước mắt (hắn thấy mắt hình như ươn ướt) và khép lại cũng bằng nước mắt (hắn ôm mặt khóc rưng rức)

- Tác phẩm kết thúc trong một dấu chấm hết bằng máu, khi Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu

là máu tươi, miệng còn ngáp ngáp như muốn nói điều gì? Chí muốn nói điều gì với chúng ta? Những điều mà Chí muốn nói với dân làng, với cái xã hội của những người lương thiện không bao giờ còn

được nói ra nữa Chí Phèo đã dám chết để không phải tiếp tục phạm tội nhưng lại không thể làm một thành viên của xã hội lương thiện Nam Cao đã đẩy Chí tới tận cùng nỗi bất hạnh khi sự lương thiện của Chí lại phụ thuộc vào người khác chứ không phải vào chính bản thân hắn

Để được làm người lương thiện thực sự sao mà khó khăn? Bao năm rồi, câu hỏi ấy vẫn có giá trị thức tỉnh lương tâm con người mỗi khi bị đặt trong những hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ gìn nhân cách Nam Cao lớn vì thế, người vẫn đàng hoàng sống giữa cõi bất diệt của đời sống nhân sinh bởi đã gợi nên được những vấn đề lớn lao và tầm vóc

* Kết thúc giờ học: Trong cuốn “Chí Phèo mất tích”, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đề dòng chữ:

“Kính tặng hương hồn nhà văn Nam Cao”, dưới đó có bốn câu thơ:

"Nam Cao mất và Chí Phèo vẫn sống Nào có dài chi một kiếp người Nhà văn chết, nhân vật từ trang sách Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai"

Gần một thế kỉ đã trôi qua, vượt qua gió bụi thời gian, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm đã chứng minh sức sống mạnh mẽ của Chí Phèo Thậm chí, chỉ cần với hình tượng nhân vật này, Nam Cao có thể đàng hoàng đi vào cõi bất diệt Mỗi thời đại, với mỗi góc nhìn, ta lại phát hiện

ra những giá trị và vẻ đẹp khác nhau của tác phẩm

Trang 28

MOON.V N

* Lời vào bài:

Nazim – Hikmet (1902- 1963)- nhà thơ, nhà hoạt động chính trị Thổ Nhĩ Kỳ từng có lời tha thiết: “Con hãy nghe nỗi buồn của rừng cây héo khô, của hành tinh lạnh ngắt, của chim muông què quặt…nhưng trước nhất, xin con hãy nghe tiếng kêu thống thiết của nỗi đau con người”

Vâng, từ bao giờ đến bây giờ, tiếng kêu con người bao giờ cũng khiến lòng ta đau đớn Điều đó lại càng đúng với những nghệ sĩ chân chính, những nhà nhân đạo chủ nghĩa từ trong cốt tủy như Nam Cao

Ở lớp 8, các em đã cảm nhận nỗi buồn cắn xé từng trang trong nỗi đau của Lão Hạc khi con người đáng kính ấy thà chịu chết để cố giữ bằng được mảnh vườn cho con, giữ tròn nhân cách Cùng viết về đề tài người nông dân, nhưng giờ học này, chúng ta sẽ chứng kiến một nỗi đau khác, day dứt, dữ dội hơn trong nỗi đau của một thân phận sinh ra là người nhưng không được làm người qua truyện ngắn Chí Phèo

* Giới thiệu cấu trúc bài học:

Tiết 1: Tác giả, tác phẩm, tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật Chí Phèo: quãng đời lương thiện) Tiết 2: Tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật Chí Phèo: bi kịch bị từ chối quyền làm người)

Tiết 3: Tìm hiểu văn bản (Hình tượng nhân vật thị Nở, Bá Kiến- giá trị của tác phẩm

I - Tìm hiểu chung

1 Tác giả: (1915-1951)

- Nhà văn hiện thực xuất sắc của nền VHVN hiện đại

- Tác phẩm xoay quanh hai đề tài chính: người trí thức nghèo và người nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám

- Nhưng dù viết về đề tài nào, Nam Cao vẫn trăn trở, day dứt đến đau đớn trước vấn đề nhân phẩm, đạo đức của con người bị xói mòn, thậm chí bị hủy hoại cả về nhân hình lẫn nhân tính Điều đó được

thể hiện tập trung và xuất sắc trong tác phẩm Chí Phèo

- Đặt tên truyện là Cái lò gạch cũ :

+ sự luẩn quẩn bế tắc của những người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám, gắn với hình

ảnh Chí Phèo ở đầu truyện , cuối truyện Cái lò gạch cũ như là biểu tượng tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm

+ Mặt khác, hình ảnh cái lò gạch cũ còn đổ bóng xuống không gian và thời gian của tác phẩm, hằn

in trên số phận các nhân vật, định vị trong ta mảnh đất chật hẹp khép kín của làng Vũ Đại ngày xưa Không gian tù túng, chật hẹp, bức bối; sự hoang vắng, trống trải, ảm đạm, u buồn Nếu một lần đặt chân lên mảnh đất của làng Đại Hoàng xưa, bên bờ sông Châu, với những vườn chuối dài ngút mắt,

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 2)

Trang 29

MOON.V N

những ngụi nhà nằm rải rác, đõy đó lách cách tiờ́ng thoi đưa người cần cù dợ̀t vải, ta võ̃n cảm nhọ̃n khụng khớ Nam Cao đã miờu tả trong truyợ̀n ngắn Chớ Phèo Dù cảnh vọ̃t và con người đã khác xưa

nhiờ̀u lắm

- Nhan đờ̀ Đụi lứa xứng đụi :

+ Hướng sự chú ý vào Chớ Phèo và Thị Nở, một con “quỷ dữ của làng Vũ Đại” mặt mũi bị vằm

ngang dọc và một mụ đàn bà xṍu “ma chờ quỷ hờn” Cách đặt tờn Đụi lứa xứng đụi là một cách gõy

sự tò mò, kớch thớch thị hiờ́u tầm thường của một lớp cụng chúng bạn đọc

+ Tác phẩm khụng tọ̃p trung vào chuyợ̀n ái tỡnh, nhưng với độc giả, cái tờn ṍy ớt nhiờ̀u võ̃n gợi sự xa xót : họ là đụi lứa nhưng chẳng được xứng đụi Cái khát vọng nhỏ nhoi được có một gia đỡnh với người vợ xṍu ma chờ quỷ hờn như thị Nở, với Chớ Phèo võ̃n ngoài tầm tay với Như vọ̃y, xét vờ̀ một phương diợ̀n nào đó, cái tờn đó khụng phải khụng có ý nghĩa

- Dùng tờn nhõn vọ̃t chớnh Chí Phèo làm tờn truyợ̀n, đó khụng phải là điờ̀u mới mẻ Nhưng sức sụ́ng

tự thõn của nhõn vọ̃t khiờ́n ta có cảm giác dứt khoát cái tờn ṍy phải là của nhà văn ṍy, tác phẩm ṍy, khụng thờ̉ khác Chúng sinh ra là phải thuộc vờ̀ nhau, giả sử Nam Cao có đặt lại tờn nhõn vọ̃t một lần

nữa, bạn đọc võ̃n cứ gọi tác phẩm là Chớ Phèo, như nhõn dõn võ̃n gọi Đoạn trường tõn thanh của Nguyờ̃n Du là truyện Kiều Nói như vọ̃y đờ̉ thṍy rằng :

+ Chớ Phốo là nhõn vọ̃t trung tõm, là nơi hội tụ sức sụ́ng và linh hụ̀n của tác phẩm, là nhõn vọ̃t làm

nờn sức mạnh tư tưởng và nghợ̀ thuọ̃t của văn- nhõn vọ̃t độc đáo, có một khụng hai trong lịch sử văn học Viợ̀t Nam Toàn bộ ý nghĩa của nội dung truyợ̀n ngắn hầu như toát ra từ hỡnh tượng nhõn vọ̃t này ; Chớ Phèo “là kờ́t tinh những thành cụng của Nam Cao trong đờ̀ tài nụng dõn”

+ Một cái tờn giản dị, bỡnh thường, dờ̃ nhớ và đã trở nờn đáng nhớ nhṍt của văn học hiợ̀n thực phờ phán Viợ̀t Nam 1930-1945

2.3 Đề tài

- Tác phẩm viết về đề tài ng-ời nông dân tr-ớc Cách mạng tháng Tám nh-ng có sự khám phá

hết sức mới mẻ Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố quá đau đớn khi phải bán con, bán sữa, bán

chó của mình trong mùa s-u thuế nh-ng Chí Phèo đi đến tột cùng của nỗi đau vì phải bán dần nhân phẩm, linh hồn của mình cho Bá Kiến mà bán rất rẻ, mỗi lần chỉ lấy một vài đồng uống r-ợu Vì thế,

khi tiểu thuyết “B-ớc đ-ờng cùng” của Nguyễn Công Hoan ra đời năm 1938, “Tắt đèn” của Ngô Tất

Tố ra đời năm 1939, ng-ời ta nghĩ rằng khó có thể nói gì thêm về nỗi đau thân phận ng-ời nông dân

Vậy mà năm 1941, “Chí Phèo” ngọ̃t ngưỡng bước ra từ trang sách của Nam Cao, người ta mới nhọ̃n

ra “đây mới là hình ảnh thê thảm nhất của kiếp sống ng-ời dân cày trong xã hội thực dân phong kiến”

(GS Nguyễn Đăng Mạnh) Như vọ̃y, vṍn đờ̀ của Chớ Phèo khụng phải bi kịch cơm áo gạo tiờ̀n, mà là

bi kịch bị xói mòn vờ̀ nhõn phõ̉m Đó là cạnh sắc khỏc trong tác phẩm của Nam Cao khiờ́n ụng

vượt hơn hẳn những tác phẩm viờ́t vờ̀ nụng dõn và nụng thụn cùng thời

- Chớ Phèo trước hờ́t là vṍn đờ̀ nụng dõn và nụng thụn Viợ̀t Nam trước Cách mạng tháng Tám, nhưng nó khụng chỉ là vṍn đờ̀ nụng dõn và nụng thụn, đó còn là vṍn đờ̀ con người, là bi kịch của con người

bị từ chụ́i quyờ̀n làm người, vṍn đờ̀ có tính triết học và mang ý nghĩa khái quát xã hụ̣i Chớ Phèo

vừa tiờu biờ̉u cho sụ́ phọ̃n cùng cực của người nụng dõn bị đè nén, bóc lột, vừa tiờu biờ̉u cho sự tha hóa phổ biờ́n trong xã hội tàn phá tõm hụ̀n con người, đó là sự phờ phán mãnh liợ̀t, sõu sắc ớt có ở ngòi bút Nam Cao

2.4 Chủ đề tỏc phẩm

Qua tác phẩm Chớ Phèo, Nam Cao

+ tố cáo mạnh mẽ xã hội thực dõn nửa phong kiờ́n tàn bạo đã cướp đi của người dõn lương thiợ̀n cả

nhõn hỡnh lõ̃n nhõn tớnh

+ Đụ̀ng thời nhà văn cũng trõn trọng phát hiợ̀n và khẳng định bản chṍt tụ́t đẹp của những con

người này ngay khi tưởng chừng họ đã bị biờ́n thành quỷ dữ

Trang 30

MOON.V N

II Đọc hiểu văn bản

1 Tóm tắt cốt truyện

- Xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính ;

+ Chí Phèo sinh ra trong thân phận một đứa trẻ bị bỏ rơi- Bất hạnh nhưng lớn lên, vẫn trở thành anh

canh điền khỏe m ạnh, hiền lành, có lòng tự trọng Khi ấy, anh khoảng 20 tuổi, làm thuê cho nhà lí

Kiến- Đoạn đời 1 : Bất hạnh nhưng lương thiện- Sự vận động tính cách Chí Phèo khá thuần nhất

+ Chỉ vì ghen tuông vô cớ, bị đẩy vào tù Sau 7,8 năm, ra tù, trở thành lưu manh, quỷ dữ, làm tay sai cho Bá Kiến- Đoạn đời 2 : Bi kịch bị tha hóa- tính cách lưỡng hóa, phức tạp

+ Gặp thị Nở, muốn được trở lại làm người Bị bà cô thị Nở + định kiến xã hội ngăn cản, tuyệt vọng, CP đã tìm đến cái chết đau đớn trong tiếng kêu bàng hoàng nhân thế- Đoạn đời 3 : Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

(Sơ đồ hóa bằng bốn hình tượng không gian : Đoạn đời 1: Cái lò gạch- Nhà Bá Kiến- Lương thiện Đoạn đời 2 : Nhà Bá Kiến- Nhà tù- Túp lều làng Vũ Đại : Quỷ dữ Đoạn đời 3 : Túp lều- Cái lò gạch : bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người)

2 Cấu trúc thời gian, không gian và kết cấu của truyện

- Thời gian : Tác phẩm mở đầu bằng cái buổi chiều Chí Phèo uống say và lên cơn chửi Buổi chiều đó kéo dài qua những đoạn hồi cố nhằm dựng lại cuộc đời Chí, trượt xuống thành buổi tối khi cái

bóng xệch xạc dưới trăng làm hắn quên ý định báo thù, nảy sinh từ sự vô vọng của tiếng chửi, và rẽ

vào nhà Tự Lãng Sau cuộc rượu với kẻ tri kỷ cuồng, đêm đó hắn gặp kẻ tri âm của đời mình: Thị

Nở Sáng hôm sau hắn tỉnh, không chỉ là tỉnh khỏi giấc ngủ đêm hôm trước, mà tỉnh khỏi cơn say mênh mông suốt đời hắn, tỉnh khỏi kiếp sống sinh vật, kiếp quỷ dữ Và năm ngày tiếp theo, quãng

thời gian sống trong tình yêu với Thị Nở, hắn đã làm một người lương thiện thực sự Câu chuyện về

Chí dừng lại ở cái buổi trưa ngày thứ sáu, sau khi bị Thị Nở chối từ, Chí Phèo giết Bá Kiến và tự vẫn Nhưng tác phẩm chỉ thực sự kết thúc với những lời bàn tán xì xầm của làng Vũ Đại và thái độ của Thị Nở một ngày sau khi Chí chết (sang ngày thứ 7) Như vậy, Chí Phèo - con quỷ dữ và quá trình biến thành quỷ dữ đã thuộc về quá khứ, còn hiện tại của câu chuyện được mở ra từ cái thời điểm khởi đầu cho sự hồi sinh của Chí, cũng là khởi đầu cho một kết thúc đau đớn sẽ đến kề

ngay sau đó

- Không gian: Cái lò gạch- Nhà Bá Kiến- Nhà tù- Túp lều- Cái lò gạch- những không gian nghệ

thuật giàu ý nghĩa, góp phần thể hiện sâu sắc nội dung hiện thực và nhân đạo của tác phẩm, đem lại những giá trị thẩm mĩ cao

- Cấu trúc dồn nén sự kiện, vừa có những biến hóa bất ngờ, độc đáo Toàn tác phẩm là một sức

căng Vừa diễn đạt tính quyết liệt của mâu thuẫn xã hội, vừa làm nổi bật tính cách nhân vật, tạo sức

hấp dẫn cho người tiếp nhận

3 Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo

Bước 1 : Khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí của nhân vật (Đây là nhân vật trung tâm, hội tụ những giá trị đặc sắc của tác phẩm)

Bước 2 : Sơ lược về cốt truyện và cuộc đời nhân vật (các em nói như phần tóm tắt)

Có thể chia cuộc đời Chí Phèo làm ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất: từ lúc Chí ra đời tới lúc bị đẩy

vào tù: Quãng đời lương thiện Giai đoạn hai: từ khi Chí Phèo ra tù tới khi gặp thị Nở : Bi kịch tha

hóa Giai đoạn ba: từ khi gặp thị Nở đến khi bị thị Nở khước từ tình yêu: Bi kịch bị từ chối quyền làm người

Bước 3: Phân tích hình tượng nhân vật

a Sự xuất hiện của nhân vật :

- Thường có ý nghĩa quan trọng, tạo ấn tượng ban đầu với bạn đọc

Trang 31

MOON.V N

- Một trong những nét đặc sắc của Nam Cao là vào truyện rất nhanh, bỏ qua bằng hết những chi tiết

thừa Chưa kịp bước chân vào làng Vũ Đại, ta đã gặp hắn, chưa kịp biết hắn là ai, diện mạo, lai lịch

thế nào, ta đã phải nghe một tràng chửi tới tấp Thế là, giữa buổi trưa hè nắng gắt trên con đường làng Vũ Đại vắng ngơ vắng ngắt, Chí Phèo đột ngột xuất hiện với bước chân ngật ngưỡng và những

tiếng lè bè của một kẻ say, một loạt đối thoại chỉ có một phía: Hắn vừa đi vừa chửi

- Đó là sự xuất hiện tự nhiên (như là nhìn thấy hắn đi, nghe thấy hắn chửi, rút gần khoảng cách với nhân vật); hấp dẫn, độc đáo (Có đối tượng nhưng đối tượng luân chuyển, không hướng về ai Thông thường không ai thích nghe người ta chửi lại, nhưng ở đây ngược lại, hắn rất thèm nghe chửi Chửi

mà không hả dạ, ngược lại, càng chửi càng tức tối) LẠ ! => thu hút sự chú ý của người đọc, tạo nên sức căng cho tác phẩm, cuốn ta vào không khí âm ỉ, quyết liệt của hận thù đòi được trả thù, báo hiệu cuộc đời đầy giông bão của nhân vật Hãy nghe cụ thể xem Chí Phèo chửi ai ? Chửi cái gì ? Vì sao lại thế ?

Trời Có hề gì ? Trời có của riêng nhà

nào ? Đời Cũng chẳng sao ! Đời là tất cả

nhưng chẳng là ai Tất cả làng Vũ Đại Không ai lên tiếng (chắc nó trừ

mình ra)

Tức thật ! Ờ ! Thế này thì tức thật ! Tức đến chết được mất ! Đã thế, hắn chửi cha đứa nào

không chửi nhau với hắn

Không ai ra điều Mẹ kiếp ! Thế có phí rượu

không ? Thế thì có khổ hắn không ?

Đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn

(Trong câu nói đã có ngấn

nước mắt rồi !)

Hắn không biết Cả làng Vũ Đại cũng không ai biết

A ha ! Phải đấy hắn cứ nghiến răng vào mà chửi

THU HẸP DẦN

Nhu cầu thèm được giao

tiếp

ĐÔNG ĐẢO- IM LẶNG

(Tiếng chửi rơi tõm vào khoảng không, Chí xa lạ với chính mình, lạc lõng với đồng loại)

ỒN ÀO, SÔI SỤC- CÔ ĐƠN Ngày càng vật vã, đau đớn

khủng khiếp

- Đoạn văn không một trạng ngữ chỉ thời gian, như những tháng năm triền miên trong cơn say của Chí là dài vô tận ; không một trạng ngữ chỉ không gian, như con đường say mà Chí đang đi thăm thẳm vô cùng Cuộc đời như bóng đen khủng khiếp mà càng khao khát sẻ chia càng nhận về hoang

mạc Nhà phê bình Chu Văn Sơn cho rằng : tiếng chửi của Chí Phèo là tiếng hát lộn ngược của tâm hồn méo mó Có phải vậy chăng mà trong im lặng, ta nghe âm vang tiếng lòng đang quằn quại của

một nhân cách đòi được sống làm người ? Ta lắng nghe khát khao giao cảm trong tiếng chửi Chí Phèo, ta lặng người trước khoảng không đáng sợ của sự hững hờ vô cảm ?

- Tại sao hắn phải chửi vung lên như thế ? Tại rượu ? Đúng ! Từng tiếng chửi như phả ra nồng nặc men rượu Câu chữ, giọng điệu Nam Cao cũng như ngất ngưởng chuệnh choạng, con đường làng (hẳn thế !) cũng ngả nghiêng theo bước chân ngật ngưỡng Vừa đi vừa chửi, rõ là hắn đã say mèm!

- Nhưng nếu để ý, không khó để nhận thấy, đối tượng của tiếng chửi ngày càng thu hẹp dần và trở

nên tấy buốt : dám chửi Trời : đấng linh thiêng, tối cao của muôn loài : thật là phạm thượng ! Không biết kiêng nể một ai- Kế đó là Đời : to tát nhưng vu vơ ; Làng : không gian sinh tồn, cộng đồng làng xã là đất sống, nếu phải bỏ làng mà đi, bị làng chối bỏ là chết Đứa nào không chửi nhau với hắn-

Trang 32

MOON.V N

tột cùng của sự tha hóa Chụ́i bỏ nguụ̀n gụ́c, giụ́ng nòi Một sự miờu tả như vọ̃y, hẳn khụng phải là vụ tỡnh

- Qua tiờ́ng chửi, hiợ̀n lờn hai tầng chõn dung nhõn vọ̃t :

+ Kẻ lưu manh cụn đụ̀, cứ rượu vào là chửi

+ Nạn nhõn đau khổ cùng cực, ra sức quõ̃y cựa, như con cá mắc cạn, càng quõ̃y càng đau Có lẽ chưa bao giờ người ta được chứng kiờ́n nụ̃i khát thèm hơi ṍm của cộng đụ̀ng đau đớn như thờ́ : thèm được nghe người ta chửi nhau với mỡnh đờ̉ còn được thṍy mỡnh cũng được là người bỡnh thường như họ !

- Với ngụn ngữ đa thanh đa giọng, vừa trần thuọ̃t, vừa bỡnh luọ̃n, người trần thuọ̃t và nhõn vọ̃t đa giọng, song thanh, ta thṍy nụ̃i trăn trở và hơi thở nóng hực của nhà văn, xót thương cho kiờ́p người đau khổ, sinh ra nhưng khụng được là người

- Tiờ́ng chửi mở đầu và kờ́t thúc cõu chuyợ̀n (hiờ̉u theo cả nghĩa bóng), lặp đi lặp lại nhiờ̀u lần trong tác phẩm, tạo nờn kờ́t cṍu liờn hoàn, làm tăng tớnh kịch cho cõu chuyợ̀n Cả cuộc đời Chớ Phèo sẽ nằm trọn trong những tiờ́ng chửi ṍy Như vọ̃y, ngay từ đầu, với tiờ́ng chửi này, ta đã nhọ̃n ra vṍn đờ̀ trung tõm của tác phẩm : bi kịch bị từ chụ́i quyờ̀n làm người Nhưng làm sao đờ́n nụng nụ̃i ṍy ? Nam Cao đã khụng vội vàng Từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, Nam Cao sẽ dõ̃n ta ngược dòng thời gian, truy

tỡm nguyờn nhõn, nguụ̀n cội đờ̉ trả lời cõu hỏi: ai đã đẻ ra Chí Phèo !

b Lai lịch cuụ̣c đời- quãng đời bṍt hạnh nhưng lương thiợ̀n

- Lai lịch : Con sụ́ Khụng- Khụng gia đỡnh, khụng ai làm giṍy khai sinh cho Chớ

Sau dòng đời sụi sục, ngả nghiờng, giọng văn trở nờn trầm lắng, xa xụi trong hụ̀i ức Tác giả đưa ta vờ̀ với một buổi sáng tinh sương, người ta nhặt được đứa trẻ trần truụ̀ng, xám ngắt trong một cái váy đụp đờ̉ bờn một cái lò gạch bỏ khụng Như vọ̃y, khổ hơn cả phọ̃n mụ̀ cụi, ngay từ thuở lọt lòng, Chớ đã khụng biờ́t đõu là nguụ̀n cội, chưa bao giờ biờ́t đờ́n bàn tay chăm sóc của mẹ cha, thiờ́u hẳn tỡnh ṍp ủ yờu thương của những người thõn, khụng biờ́t ai là ruột thịt Trở thành vọ̃t trao tay hờ́t người này

đờ́n người khác : anh thả ụ́ng lươn rước lấy, người đàn bà góa mù đem về nuụi, bán cho bác phó cụ́i

khụng con, rụ̀i bác phó cụ́i qua đời, Chớ lại trở vờ̀ khụng nơi nương tựa

- Số phọ̃n, tính cách : Đau đớn tủi nhục như thờ́ nhưng Chớ võ̃n lăn lóc sụ́ng như một mầm cõy

mạnh mẽ Dù tuổi thơ bơ vơ đi ở cho hờ́t nhà này đờ́n nhà khác, khụng một ai thõn thớch họ hàng, khụng một mái nhà che thõn, nhưng những người như Chớ hỡnh như cũng tuyợ̀t nhiờn khụng biờ́t đờ́n tủi cực oán hờn, khụng kờu than cho sụ́ phọ̃n Từ trong lṍm láp, lầm lũi, Chớ võ̃n cứ lớn lờn, trở thành anh canh điờ̀n khỏe mạnh, mang bản tớnh tụ́t đẹp của những người dõn lương thiợ̀n: thọ̃t thà, chṍt phác, ngay thẳng, trung thực, làm thuờ làm mướn tự kiờ́m sụ́ng nuụi thõn, khụng nhờ vả cướp giọ̃t

của ai “hiờ̀n như đṍt” là bản tớnh đã được chớnh Bá Kiến, Nam Cao, sau này là thị Nở xác nhọ̃n, hiờ̀n đờ́n mức nhỳt nhỏt, đáng thương, nhưng đằng sau vẻ nhát sợ và nhịn nhục cụ́ hữu của những người yờ́u thờ́, ta thṍy ở trong con người ṍy có hạt nhõn cụ́t lõi của lòng tự trọng Vỡ tự trọng nờn

anh nụng dõn hai mươi tuổi này chỉ thṍy nhục khi bị bà ba bóc lột Còn biờ́t nhục, chứng tỏ Chí có

nhân phẩm của một con ng-ời biết phân biệt giữa cao th-ợng- thấp hèn; biờ́t đõu là tỡnh yờu chõn chớnh và đõu là những cái xấu xa cần khinh bỉ Không có tầm hiểu biết cao rộng nh-ng Chí có nhân cách “20 tuổi, ng-ời ta không là gỗ đá nh-ng cũng không hoàn toàn là xác thịt” Còn lí trí, Chớ không

chấp nhận cuộc sống bản năng, thú vật Đõy là điểm sáng lṍp lánh của nhõn cách Chớ Phèo trong thử thách đầu tiờn của hoàn cảnh

- Những phõ̉m chṍt tốt đẹp của Chí :

+ Chớ thọ̃t thà, chṍt phác, ngay thẳng, trung thực, làm thuờ làm mướn tự kiờ́m sụ́ng nuụi thõn + Bản tớnh rṍt hiờ̀n lành, có phần nhút nhát

+ Có lòng tự trọng

Trang 33

MOON.V N

+ Có ước muốn giản dị về một cuộc sống gia đình- “có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn, cày thuê Vợ dệt vải Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm

ba sào ruộng làm”

- Giai đoạn thứ nhất- Đoạn đời lương thiện lướt qua cuộc đời Chí Phèo như cơn gió thoảng, lướt

qua bằng mấy câu ở đầu tác phẩm, đến giữa truyện mới có một số chi tiết như là ngẫu nhiên kể tạt

ngang, tất cả chỉ gói gọn trong không quá mươi dòng Còn lại phải chăng chỉ là những năm tháng tù

tội, những lần rạch mặt ăn vạ và sự khinh miệt của người đời ? Không ! Hai chữ lương thiện hiện ra

không chỉ trong một đoạn đời, nó vừa là Khát vọng, cũng là Bi kịch, là vấn đề cốt lõi trở đi trở lại trong suốt mấy chục trang văn, làm nên hạt nhân cơ bản của cả tác phẩm

- Như vậy, quãng đời lương thiện đúng nghĩa của Chí chỉ nằm trong 20 năm đầu cuộc đời- tuổi ấu

thơ và thời trai trẻ- nhưng lại được kể quá ngắn ngủi, chưa đầy 01 trang trong tổng số 25 trang truyện với 14 ngàn chữ Ngắn vì nó nhanh chóng bị cướp mất, ngắn vì nó bị tầng tầng lớp lớp những tủi nhục và định kiến đè lên Nhưng ngắn ngủi mà không mờ nhạt, cái gì làm cho người ta đau khổ

người ta thường nhớ về nó rất lâu Sau này, khi gặp thị Nở, sự lương thiện lại hiện hữu trong âm

thanh cuộc sống đời thường với tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ, là xã hội bằng phẳng thân thiện mà Chí mơ ước được làm hòa, là thị Nở và hơi cháo hành; là những giây phút được

khóc cười và hạnh phúc bên thị Nở Nó là quá khứ để anh Chí nhớ về, là ảo ảnh để anh mơ mộng, là sợi dây hiện thực đã níu Chí ở lại được với cõi người Từ trong hố sâu tuyệt vọng, Chí đã cố sức bám lấy và leo lên, nhưng gần đến nơi, anh lại bị định kiến xã hội đẩy xuống sâu hơn Khao khát được quay trở về quãng đời lương thiện cuối cùng chỉ là giấc mơ khởi đầu bằng nước mắt (hắn thấy mắt hình như ươn ướt) và khép lại cũng bằng nước mắt (hắn ôm mặt khóc rưng rức)

- Tác phẩm kết thúc trong một dấu chấm hết bằng máu, khi Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu

là máu tươi, miệng còn ngáp ngáp như muốn nói điều gì? Chí muốn nói điều gì với chúng ta? Những điều mà Chí muốn nói với dân làng, với cái xã hội của những người lương thiện không bao giờ còn

được nói ra nữa Chí Phèo đã dám chết để không phải tiếp tục phạm tội nhưng lại không thể làm một thành viên của xã hội lương thiện Nam Cao đã đẩy Chí tới tận cùng nỗi bất hạnh khi sự lương thiện của Chí lại phụ thuộc vào người khác chứ không phải vào chính bản thân hắn

Để được làm người lương thiện thực sự sao mà khó khăn? Bao năm rồi, câu hỏi ấy vẫn có giá trị thức tỉnh lương tâm con người mỗi khi bị đặt trong những hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ gìn nhân cách Nam Cao lớn vì thế, người vẫn đàng hoàng sống giữa cõi bất diệt của đời sống nhân sinh bởi đã gợi nên được những vấn đề lớn lao và tầm vóc

* Kết thúc giờ học: Trong cuốn “Chí Phèo mất tích”, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đề dòng chữ:

“Kính tặng hương hồn nhà văn Nam Cao”, dưới đó có bốn câu thơ:

"Nam Cao mất và Chí Phèo vẫn sống Nào có dài chi một kiếp người Nhà văn chết, nhân vật từ trang sách Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai"

Gần một thế kỉ đã trôi qua, vượt qua gió bụi thời gian, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm đã chứng minh sức sống mạnh mẽ của Chí Phèo Thậm chí, chỉ cần với hình tượng nhân vật này, Nam Cao có thể đàng hoàng đi vào cõi bất diệt Mỗi thời đại, với mỗi góc nhìn, ta lại phát hiện

ra những giá trị và vẻ đẹp khác nhau của tác phẩm

Trang 34

3.2 Sự xuất hiện của Bá Kiến

- Xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm với giọng nói đầy uy quyền: “Nhưng kìa, cụ ông đã về…Cụ cất

tiếng rất sang hỏi: “Cái gì mà đông thế này?” Chỗ này “lạy cụ”, chỗ kia “lạy cụ”, người ta kính cẩn đứng dãn ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích”…

- Nhớ đến Bá Kiến, người ta không hình dung được khuôn mặt (bộ mặt thật rất khó nhận diện), mà

ấn tượng nhất tiếng cười Đó là điệu cười rất sang, ngay cả khi cười nhạt (kiểu cười xã giao), tiếng

cười vẫn giòn giã lắm (như là chân tình, nồng mặn) Đó là tiếng cười ẩn chứa sự ranh mãnh, tinh quái, độc ác Tiếng cười khanh khách để thử thần kinh con người- Điệu cười Tào Tháo là dấu hiệu

riêng chỉ có ở Bá Kiến, vừa bộc lộ một phần tính cách Giọng cười ha hả đắc thắng khi hắn tưởng

“đọc vị” được Chí Phèo Người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười đó; bao nhiêu người chết cũng

vì cái cười và giọng nói ấy…Tiếng cười ấy đi kèm với những cử chỉ, hành động Ta hãy xem cụ làm

gì khi có thằng như Chí Phèo đến nhà ăn vạ?

- Hành động: Quát mấy bà vợ…quay lại người làng, dịu giọng hơn, lay gọi Chí Phèo bằng giọng

thân mật, xốc Chí Phèo, mắng con…Bên trong, là kẻ khôn lõi đời Khác với Nghị Hách (Giông tố –

Vũ Trọng Phụng) dâm ô, Nghị Lại (Bước đường cùng- Nguyễn Công Hoan) tàn ác, Nghị Quế hủ lậu, Bá Kiến điển hình là con cáo già lọc lõi, lắm mưu nhiều kế, vô cùng nham hiểm và thâm độc Khắc họa nhân vật này, Nam Cao không chỉ nhấn mạnh khía cạnh áp bức bóc lột người nông dân mà

khắc sâu một nét bản chất đặc biệt của lão Đó là một tên cường hào có nghệ thuật thống trị, đàn

áp người nông dân rất thâm hiểm Đây là nhân vật mang rõ nét phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao

3.3 Nghệ thuật “dùng người” của Bá Kiến

Nam Cao để cho nhân vật Bá Kiến độc thoại nội tâm, nhằm phơi bày những suy nghĩ tỉnh táo, nham hiểm, tự rút ra được những phương châm, thủ đoạn thống trị người nông dân rất khôn ngoan và hiệu quả mà Bá Kiến đã đúc rút từ bốn đời làm tổng lý

+ Trị không được thì cụ dùng

+ Lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò

+ Ngấm ngầm cho nhau ăn bùn

3.4 Trong quan hệ với tầng lớp những người cùng đinh, bá Kiến bộc lộ bản chất: nham hiểm

và thâm độc, già đời trong nghề đục khoét

- Một mặt lão tìm cách bóp nặn đám dân hiền lành và yên phận vào những vụ thuế;

- Mặt khác, lão thu dụng những tên “bạt mạng” sinh chuyện với những kẻ có máu mặt trong làng

để mà ăn, mà kiếm

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 3)

Trang 35

MOON.V N

- Nhờ biết mờ̀m, biết cứng, lão biết thu dụng những kẻ bạt mạng, khụng sợ chết và khụng sợ bị tù, rất được việc trong chuyện đối phú với bất cứ anh nào khụng nghe mỡnh, mà Bỏ Kiến tập hợp được mụ̣t phe cỏnh, bè đảng xung quanh lão đầy thế lực Một tay hắn đã đẩy bao người nụng dõn lương thiện vào con đường tha húa, cựng quẫn, làm tay sai cho hắn Chớnh tờn cỏo già lọc lõi, gian hùng

ấy đã đưa Binh Chức, Năm Thọ vào tù, vào con đường tha hoỏ, bị đày đoạ, và khi cần thỡ sẵn sàng thớ mạng những con người khốn khổ đú Việc Bỏ Kiến xỳi Chớ Phèo đi đòi tiờ̀n Đội Tảo chẳng khỏc nào cài sẵn một cỏi bõ̃y để mượn tay Đội Tảo giết chết Chớ Phèo Với những thủ đoạn nham hiểm, Bá

Kiến có thể biến tội nhân thành ân nhân, biến một nạn nhân trở thành tội nhân Chính Bá Kiến

đã đẩy ng-ời lao động l-ơng thiện vào con đ-ờng tha hoá, cấu kết với nhà tù thực dân cào xé, c-ớp

đoạt nhân hình và nhân tính của ng-ời dân l-ơng thiện

3.5 Trong quan hệ với tõ̀ng lớp thống trị: bờ̀ ngoài bằng mặt, bờn trong luụn sắp sẵn ý định cho

nhau ăn bùn Với tầng lớp bị trị, chỳng bộc lộ mõu thuõ̃n gay gắt, với tầng lớp thống trị, chỳng cũng xõu xộ vỡ quyờ̀n lực, vỡ lợi lộc ở mảnh đất quần ngư tranh thực Nội bộ lục đục trong tầng lớp thống trị làng xã là dự cảm vờ̀ một “đờm trước của cỏch mạng” trong cảm quan nhạy bộn và tinh tế của người cầm bỳt

3.6 Trong quan hệ gia đình: bỏ Kiến còn bụ̣c lụ̣ sự ớch kỉ, xṍu xa, đồi bại

Dù đã ngoài 60 tuổi, một lỳc cú đến bốn vợ, nhưng võ̃n chưa vừa lòng, võ̃n hay ghen búng ghen giú với những trai trẻ Nhưng chớnh lão cỏo già hỏo sắc và thớch chơi “trống bỏi” ấy lại bớ mọ̃t đi lại với

vợ Binh Chức đã cú bốn con, rồi còn lờn tỉnh ngồi chung xe, chơi bời trỏc tỏng

3.7 Cỏi chết bṍt ngờ của Bá Kiến: Khụn ngoan lọc lõi đến vọ̃y, nhưng húa ra hắn võ̃n khụng hiểu

được Chớ Phèo, khụng sao hiểu nổi khỏt vọng hoàn lương đang gào thột Tiếng cười khanh khỏch cùng cõu mai mỉa: “ễ̀ tưởng gỡ! Tụi chỉ cần anh lương thiện cho thiờn hạ nhờ” đã cứa vào tõm can Chớ, chạm đỳng nụ̃i đau của Chớ Như giọt nước tràn li, Chớ đã thột lờn: “Khụng được! Ai cho tao lương thiện? chỉ còn một cỏch này là…biết khụng?” Bỏ Kiến đã đõ̉y Chớ vào con đường cùng, kẻ thủ phạm đã phải nhọ̃n lấy nhỏt dao đổi mạng

Với tất cả tội ỏc của mỡnh, Bỏ Kiến đã phải chết như một điờ̀u tất yếu- kẻ gieo giú sẽ phải gặt bão

Cảm quan hiện thực sõu sắc của nhà văn cho ta thấy tỡnh trạng xung đột giai cấp ở nụng thụn Việt

Nam là hết sức gay gắt và chỉ cú thể được giải quyết bằng những biện phỏp quyết liệt Lưỡi dao Chớ Phèo vung lờn tuy đơn độc, tự phỏt, nhưng nú là tia chớp bỏo hiệu sấm rung bão tỏp cỏch mạng sẽ nổ

ra trong nay mai

3.8 Nghệ thuật

- Bỏ Kiến là nhõn vọ̃t điển hỡnh

+ Bỏ Kiến cú nột chung của giai cấp thống trị tham lam tàn bạo khụng từ một thủ đoạn nào để búc lột người nghốo (giống Nghị Quế, Nghị Lại…)

+ Bỏ Kiến cú nột riờng của tờn ỏc bỏ gian hựng, nham hiểm, thủ đoạn (cỏi cười để thử dõy thần kinh người, lối núi giả dối…)

+ Nghệ thuọ̃t độc đỏo, sắc sảo của Nam Cao: Cỏc nhà văn hiện thực khỏc chỉ chỳ ý miờu tả ngoại hỡnh giai cấp thống trị, cũn Nam Cao ớt chỳ ý ngoại hỡnh khi xõy dựng nhõn vọ̃t Bỏ Kiến ễng chủ

yếu khắc họa tõm địa “Cụ cười nhạt nhưng giòn giã lắm”, “Bao giờ cụ cũng quát để thử dõy thần kinh người”, “tiờ́ng cười Tào Tháo”…Bỏ Kiến là nhõn vọ̃t tiờu biểu cho giai cấp thống trị đương thời, hội

tụ những nột tàn bạo, xảo quyệt, đểu cỏng của bọn người búc lột Truyện ngắn Chớ Phốo thể hiện cuộc đấu

tranh khụng khoan nhượng giữa người nụng dõn và bọn ỏc bỏ phong kiến  giỏ trị tố cỏo hiện thực của tỏc phõ̉m Nam Cao là đồng minh khụng ngờ của cỏch mạng.

Kết luận

Bỏ Kiến là tờn cường hào điển hỡnh sắc sảo, vừa cú những nột cỏ tớnh sinh động vừa cú những nột chung phổ biến, tiờu biểu cho bọn cường hào, địa chủ gian ỏc Nhõn vọ̃t Bỏ Kiến cũng là một hỡnh tượng mang rõ nột tài năng của Nam Cao Trong dòng văn học hiện thực phờ phỏn lỳc bấy giờ, ớt cú ngòi bỳt nào khắc hoạ được một hỡnh tượng sinh động, bộc lộ giỏ trị hiện thực mới mẻ và sõu sắc đến thế

Trang 36

MOON.V N

4 Nhõn vật Thị Nở

Giới thiệu: Cú hai người đàn bà tạo nờn những bước ngoặt lớn trong cuộc đời Chớ Phèo (7 ý) Nếu bà

ba xinh đẹp thỡ Thị Nở lại là một sự “mỉa mai của húa cụng” Bà ba lẳng lơ một cỏch ranh mãnh còn Thị Nở thỡ vụ tõm “ngõ̉n ngơ như những người đần trong cổ tích” Bà ba chủ động tỡm cỏch “tiếp

cọ̃n” Chớ Phèo còn Thị Nở lỳc đầu hoàn toàn bị động trong cuộc gặp gỡ với Chớ Sự “ưu ỏi” của bà

ba dành cho Chớ chỉ để thỏa mãn nhục dục còn sự chăm chỳt của Thị Nở là hoàn toàn tự nguyện Với

bà ba, Chớ tuy “khụng phải là đá” nhưng chỉ cảm thấy nhục vỡ phải phục dịch còn khi được Thị Nở chăm chỳt, Chớ chỉ mong “giá cứ thờ́ này mãi thì thích nhỉ” Việc buộc phải quan hệ với bà ba là

nguyờn nhõn trực tiếp đầu tiờn để Chớ trở thành con quỷ dữ thỡ sự kiện gặp gỡ với Thị Nở lại là

nguyờn nhõn quan trọng để Chớ Phèo dần thức tỉnh ý thức làm người Bà ba như “con quỷ cái”, còn

thị Nở như một “thiờn thần” cứu rụ̃i linh hồn của Chớ

4.1 Giới thiệu, vị trớ của nhõn vật

- Truyện "Chí Phèo" đ-ợc Nam Cao viết năm 1941 để phản ánh hiện thực về con ng-ời nông thôn Việt nam tr-ớc cách mạng tháng Tám Bức tranh hiện thực mà Nam Cao tạo ra trong "Chí Phèo" vô cùng phong phú với những mối quan hệ phức tạp, chồng chéo, vừa gắn bó, phụ thuộc vào nhau, vừa mâu thuẫn, xung đột với nhau Từ những mối quan hệ phức tạp ấy, cả một hệ thống các nhân vật hiện lên cũng sinh động và đa dạng không kém giỳp nhà văn bộc lộ cách nhìn và thể hiện ý đồ t- t-ởng- nghệ thuật

- Trong thế giới nhân vật mà Nam Cao xây dựng ở "Chí Phèo", Thị Nở tuy chỉ là một nhân vật phụ song lại có một vai trò vô cùng quan trọng trong cấu trúc hình thức cũng nh- ý nghĩa nội dung của toàn tác phẩm

4.2 Phân tích cụ thể

a Thị Nở thuộc loại nhân vật cá biệt với ngoại hình bất thành nhân dạng (xấu dị dạng)

- Đõy là loại nhân vật đ-ợc xây dựng khá nhiều trong những sáng tác của Nam Cao tr-ớc cách mạng Cũng nh- những nhân vật khác thuộc loại này, Thị Nở đ-ợc ngòi bút Nam Cao đặc tả thật khách quan, thật trần trụi để hiện lên nh- là nơi hội tụ tất cả những gì kém cỏi nhất của cõi ng-ời "Một ng-ời ngẩn ngơ nh- những ng-ời đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn"

- Đần (dở hơi, ngẩn ngơ): hành động hoàn toàn theo bản năng và không có khả năng nghĩ tới hậu quả, nghĩ rất lâu mới xong cả những chuyện đơn giản nhất

- Xấu ma chê quỷ hờn: từng đ-ờng nét trên g-ơng mặt đều không giống với những gì có thể có

và nên có trên g-ơng mặt con ng-ời (mũi, răng, môi, g-ơng mặt )

- Nghèo và có mả hủi: l-ớt qua nh-ng đủ để gợi cho ng-ời đọc hiểu rằng đó là những thứ "tội nợ" trong lý lịch để ngăn cản hạnh phúc Đây là sự cố ý của nhà văn Cả giọng điệu và từ ngữ

mà Nam Cao sử dụng đều cho thấy rõ điều đó: giọng hài h-ớc lẫn chua chát

b Đối lập với ngoại hình bất thành nhân dạng là một nội tâm tràn đầy nhân tính

Mục đích của Nam Cao khi xây dựng nhận vật Thị Nở không phải để miệt thị, hạ thấp con ng-ời mà tr-ớc hết là để làm nổi bật những giá trị chân chính Nam Cao đã cố ý sử dụng thủ pháp đối lập để thể hiện một quan điểm rất hiện đại về hai chữ "con ng-ời": không có con ng-ời hoàn toàn thánh thiện, không có con ng-ời hoàn toàn xấu xa, con ng-ời hiện diện với tất cả sự phức tạp của những mặt đối lập Đối lập với ngoại hình bất thành nhân dạng là một nội tâm tràn đầy nhân tính

Trang 37

MOON.V N

+ Giá trị: giải cảm và cũng giải độc cho Chí Phèo để Chí rũ bỏ cái vỏ quỷ dữ mà trở lại với bản tính ng-ời vốn có Điờ̀u đú khiến cho chính thị cũng trở nên có giá trị hơn: có duyên, đáng yêu

và đáng là ng-ời (khác hẳn với bà ba Bá Kiến là quỷ cái - khiến Chí khinh bỉ và ghê sợ)

- Tình nghĩa: ý thức trách nhiệm trong mối quan hệ với Chí khiến thị không bỏ mặc Chí khi

ốm đau, khiến thị tự nguyện chăm sóc Chí

- Khao khát hạnh phúc: thích cuộc sống gia đình có vợ có chồng và nghĩ rất nghiêm túc về

mối quan hệ với Chí (cảm giác "ng-ờng ng-ợng và thinh thích", hành động về xin phép bà cô, cám giác tức giận khi bị bà cô từ chối)

-> Đây là chỗ rất nhân đạo của ngòi bút Nam Cao khi cảm thông với những khát khao chính

đáng trân trọng những giá trị ng-ời trong con ng-ời Chỗ nhân đạo nhất của ngòi bút Nam Ca o

là phát hiện ra vai trò, giá trị và sức mạnh của tình th-ơng trong cuộc sống con ng-ời

c Thị Nở là chất "xúc tác" làm hiện hình trọn vẹn vấn đề trung tâm của tác phẩm: tính chất bi thảm trong bi kịch cuộc đời của Chí Phèo

Mục đích lớn nhất của Nam Cao khi xây dựng nhân vật Thị Nở không ở việc làm hoàn chỉnh

chân dung nhân vật này mà là để tạo ra một chất "xúc tác" làm hiện hình trọn vẹn vấn đề trung tâm của tác phẩm: tính chất bi thảm trong bi kịch cuộc đời của Chí Phèo

+ Ban đầu Thị Nở chỉ khơi dậy bản năng sinh vật ở gã đàn ông Chí Phèo Nhưng sự chung đụng xỏc

thịt giữa đờm trăng giú lạnh ngoài bờ sụng khi đang say rượu chỉ đem lại cho Chớ trọ̃n ốm thọ̃p tử

nhất sinh

+ Sau đó, nhờ tình thương và sự chăm sóc õn cõ̀n, giản dị (gắn với hình ảnh bỏt chỏo hành)

mới làm thức dậy nhõn tớnh: (Chớ Phèo chưa ăn cỏc em nhộ!) Ban đầu thằng này rất ngạc nhiờn

Hết ngạc nhiờn thỡ hắn thấy mắt mình hình như -ơn -ớt- nước mắt hiếm hoi giữa sa mạc khụ hộo tỡnh người Cũng nh- những nhân vật khác của Nam Cao trên hành trình trở về luơng thiện cũng bắt

đầu từ n-ớc mắt (còn biết khúc, biết đau khổ ăn năn, lương tri còn cơ hội thức tỉnh- chợt nhớ giọt nước mắt cay đắng của Hộ trong “Đời thừa”; hàng lệ chúi ngời nhõn cỏch của lão Hạc) Một bát cháo

bình th-ờng được đón nhọ̃n vô cùng cảm động, hắn nhìn bát cháo mà bâng khuâng Thị Nở nhìn

trụ̣m hắn rụ̀i toe toét cười (lòng tốt giản dị, mộc mạc) Hắn vừa vui vừa buồn, một cỏi gỡ như là ăn

năn…(Cụ Mai lưu ý: chi tiết Chớ Phèo ăn chỏo và liờn quan đến chỏo- giữa nú là những hồi ức, so sỏnh, liờn tưởng, cảm xỳc…được miờu tả rất kĩ lưỡng, chi li đến từng chi tiết suốt 2,5 trang (khoảng

86 dòng- 1500 chữ/ trờn tổng số tỏc phõ̉m là 25 trang, 14 ngàn chữ) Tỡnh thương của Nam Cao như

bao bọc trong từng cõu chữ: Thị cắp mụ̣t cái rụ̉, trong cú một nồi gì đọ̃y vung Đú là nụ̀i cháo còn

nóng nguyờn…vừa sáng thị đã đi tìm gạo, hành thì nhà may lại còn Thị nấu bỏ vào cỏi rổ, mang

ra cho Chớ Phèo… nhỡn bỏt chỏo bốc khói, cầm lấy bỏt chỏo đưa lờn mồm Trời ơi chỏo mới thơm làm sao! Chỉ khói xụng vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm Hắn húp mụ̣t húp và nhận ra

rằng: …bỏt chỏo húp xong rồi, thị Nở đỡ lṍy bát cháo và múc thờm bát cháo nữa…mấy bỏt chỏo

ý chừng đã ngṍm…sau này, cứ thoang thoảng thấy hơi chỏo hành) Đến bên kia dốc của cuộc đời Chí mới biết rằng: cháo hành ăn rất ngon

+ Như vọ̃y, bỏt chỏo hành là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, là hương vị quyến rũ của hạnh phỳc,

tỡnh yờu, biểu tượng thơm tho của tỡnh người Đú cũng là yếu tố chuyển húa tớnh cỏch Chớ Phèo sang điờ̀u tốt lành, là liờ̀u khỏng sinh cực mạnh trong một ca cấp cứu, một chiếc thang từ bi vớt Chớ Phèo lờn từ đỏy vực, là cỏi bản lờ̀ khẽ xoay nghiờng để mở ra một giai đoạn mới trong đời Chớ, tuy khụng

đổi được số phọ̃n, nhưng đã cứu mụ̣t tõm hồn Lần đầu tiờn sau bấy nhiờu năm người ta lại thấy Chớ

Phèo khúc, lần đầu tiờn sau bấy nhiờu năm lại thấy Chớ Phèo cười (còn biết khúc biết cười là còn cú cảm xỳc và ý thức của người) Tuy là tỡnh yờu của hai kẻ khụng được coi là người nhưng Nam Cao đã trõn trọng và chăm chỳ phỏt hiện, diờ̃n tả, lắng nghe từng rung động nhỏ nhoi trong đỏy sõu tõm

hồn nhõn vọ̃t Nhìn Thị hắn cảm đụ̣ng "Hắn cảm thṍy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với

thị như làm nũng với mẹ ” Đú là giõy phỳt người nhất của Chớ Ta quen nhỡn đụi lứa này bằng con

mắt cười cợt, rẻ rỳng, nhưng những cụ gỏi thời này cú làm được như thị khụng?

- Dỏm đi ngược lại định kiến đờ̉ vờ̀ với Chớ Phèo Và chỉ gần Chớ thị mới biết rằng: “ễi sao mà

hắn hiờ̀n!" rồi “hắn cười nghe thật hiờ̀n” Cảm giỏc được yờu thương và chở che đã làm Chớ trụ̃i dọ̃y một tỡnh yờu cuộc sống Phần quỷ tạm thời rũ bỏ, Chớ "thèm lương thiện và khát khao làm hòa với

Trang 38

MOON.V N

mọi người" Cảm giỏc hạnh phỳc khiến con người ta trở nờn hiờ̀n lành hơn bao giờ hết: "Giá cứ như

thờ́ này mãi thì thích nhỉ? “Hay là mình sang đõy ở với tớ mụ̣t nhà cho vui" ễi! Phải là lời của Chớ

Phèo đú khụng? Nghe sao ngờ nghệch, hồn nhiờn mà lại rất đụ̃i chõn thành Lời cầu hụn khụng tỡnh tứ nhưng lại khiến cho trỏi tim chỳng ta nghẹn ngào thương cảm Từ một con quỉ dữ, nhờ tỡnh thương của Thị Nở, Chớ thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn cú Một chỳt tỡnh thương, dù là tỡnh thương của một con người dở hơi, thụ kệch, xấu xớ, cũng đủ để làm sống dọ̃y cả một bản tớnh người nơi Chớ Phèo Thế mới biết sức cảm húa của tỡnh thương kỳ diệu biết nhường nào! Bỳt phỏp phõn tớch tõm lớ sắc sảo cùng những yờu thương õm thầm sõu sắc của Nam

Cao giỳp người đọc dần bước vào những ngõ nẻo sõu kớn khuất, nao nao theo nụ̃i lòng Chớ

- Như vậy, khi Thị Nở xuất hiện với t- cách một con ng-ời có tình ng-ời ở bên cạnh Chí, Thị

Nở khiến Chí hồi sinh: thoạt đầu là tỉnh r-ợu, tiếp đó là tỉnh ngộ rồi cuối cùng khao khát làm

ng-ời l-ơng thiện, khao khát hoàn l-ơng Nghĩa là trong mối quan hệ với Thị Nở, Chí Phèo đã trở lại với tính ng-ời trọn vẹn

- Khi Thị Nở từ chối Chí, sự từ chối ấy đẩy Chí từ đỉnh cao của khát khao hạnh phúc xuống đáy cùng của nỗi bất hạnh: tủi nhục, khốn khổ vì bị một ng-ời đàn bà "xấu ma chê quỷ

hờn, bị cả làng tránh nh- tránh vật gì rất tởm" từ chối Đau đớn tuyệt vọng vì cánh cửa trở vào thế giới l-ơng thiện đã đóng lại, con d-ờng trở lại làm ng -ời l-ơng thiện bị chặn đứng Uất ức, thù hận vì bị khinh bỉ, coi th-ờng, bị t-ớc đi cơ hội đ-ợc sống nh- một con ng-ời (khi Thị Nở trút vào mặt Chí những lời của bà cô, khi Chí đùng đùng xách dao đi "trả thù") Tất cả những yếu tố ấy đẩy Chí đến chỗ tự sát một cách nhanh chóng, quyết liệt và bi thảm

3 Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao đã làm nổi bật khao khát sống l-ơng thiện của Chí Phèo Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao cũng đã làm nổi bật thực tế tàn bạo của xã hội Việt Nam thời ấy: con ng-ời mốn sống l-ơng thiện thì đồng thời phải chọn cho mình cái

chết đề tự bảo vệ phần ng-ời l-ơng thiện ấy

4.3 Tổng kết, đánh giá

- Thị Nở đ-ợc xây dựng nh- một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên một tình huống đặc biệt của truyện (cuộc gặp gỡ Chí Phèo- Thị Nở) và thúc đẩy quá trình diễn tiến của cốt truyện Trong tình huống truyện mà Nam Cao xây dựng, cả Chí Phèo và Thị Nở đều bộc lộ trọn vẹn

những gì tốt đẹp bấy lâu vẫn bị che khuất Ả ngớ ngõ̉n gã khùng điờn, khi tình yờu đờ́n bụ̃ng nhiờn thành người (Lờ Đình Cánh- Trăng nở nụ cười) Trong diễn tiến của cốt truyện "Chí

Phèo", sự hiện diện của Thị Nở một mặt tạo cho truyện cái ý vị trữ tình đặc biệt qua sự tỏa sáng của tình th-ơng, tình ng-ời, một mặt khác tạo ra tính b-ớc ngoặt cho mạch truyện khiến ch ủ đề của tác phẩm trở nên sáng rõ

- Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao đã hé mở một phần hiện thực cuộc sống của ng-ời phụ nữ ở nông thôn và thể hiện sâu sắc tấn bi kịch của ng-ời nông dân tr-ớc cách mạng, bị đẩy

đến chỗ cùng đ-ờng, tha hóa, biến chất và tuyệt vọng trên con đ-ờng tìm về l-ơng thiện Cách xây dựng nhân vật nhìn từ bề ngoài có vẻ theo chủ nghĩa tự nhiên, song trong chiều sâu ý nghĩa của nó lại là tinh thần nhân đạo sâu sắc (Đề cao vai trò, sức mạnh của tình th-ơng)

Trang 39

MOON.V N

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI VÀ LÀM CÁC ĐỀ LUYỆN TẬP

1 Dạng đề Đọc- hiểu: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“Và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, thị đã nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng:

- Nói dại, nếu mình chửa, giờ hắn chết rồi thì làm ăn thế nào?

Đột nhiên, thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”

(Ngữ văn 11, tập 1, tr.155)

1 Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Của ai? Vị trí của đoạn trích trong tác phẩm?

2 Nhân vật “thị” và “hắn” trong đoạn văn trên là ai? Xác định mối quan hệ của hai người trong tác phẩm

3 Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn bản

3 Lời thoại của nhân vật thuộc loại nào trong các phương án dưới đây:

a Độc thoại

b Đối thoại

c Độc thoại nội tâm

4 Vì sao nhân vật “thị” phải nhìn trộm bà cô rồi nhìn nhanh xuống bụng? Chi tiết đó đã bộc lộ khía cạnh nào trong tính cách nhân vật?

5 Hình ảnh cái lò gạch cũ ở đoạn văn trên có ý nghĩa gì?

Hướng dẫn trả lời các câu hỏi

1: Tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao Đoạn trích thuộc phần kết của tác phẩm

2 Phương thức tự sự: Độc thoại

3 Vì nhân vật chợt nghĩ đến một điều đáng sợ, nếu “chửa hoang” thì không biết sẽ phải chịu sự trừng phạt của lệ làng và của bà cô thị như thế nào Chi tiết bộc lộ khía cạnh nhạy cảm rất đàn bà của thị Lúc này, thị rất tỉnh táo, biết lo xa Về cơ bản, thị vẫn là số phận hoàn toàn bị lệ thuộc vào những định kiến, luật lệ khắt khe ở nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ

4 Hình tượng cái lò gạch:

- Nam Cao có một cái kết đầy ám ảnh, nó không chỉ tạo nên một kiểu kết thúc khép kín, đầu cuối tương ứng mà còn để lại một nỗi day dứt và bi thương trong lòng độc giả “Cái lò gạch cũ” đầu tác phẩm là nơi mở đầu một số phận, một kiếp người đau khổ đầy bi kịch thương tâm Hình ảnh “cái lò gạch cũ” ở cuối tác phẩm không phải là một hình ảnh thực mà là một hình ảnh tưởng tượng nói lên rằng: Rất có thể từ cái lò gạch cũ ấy, Thị Nở lại cho ra đời một Chí Phèo con ngỗ ngược hơn bố nó để nối nghiệp Chừng nào còn tồn tại xã hội “người ăn thịt người”, thì còn tồn tại hiện tượng Chí Phèo

- Nghĩa là Chí Phèo chết, nhưng hiện tượng Chí Phèo chưa chấm dứt (Hiện tượng Chí Phèo là hiện tượng hàng vạn người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và khi ý thức nhân phẩm trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt để phải tìm đến cái chết thảm thương) - Chi tiết này cho thấy số phận người nông dân như rơi vào một vòng luẩn quẩn “Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào” không lối thoát Đây là một cái kết đầy bi quan, phản ánh giá trị hiện thực sâu sắc Nó khác xa với kết thúc của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) với hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ báo hiệu cách mạng đã trở về Qua đó, nhà văn ngầm đưa ra một thông điệp mang tính dự báo: chỉ có cách mạng mới có thể giải phóng cho nỗi thống khổ của nhân dân

2 Dạng đề phân tích các nhân vật (Các em dựa vào bài giảng của cô và tư liệu tham khảo)

2.1 Nhân vật Chí Phèo với bi kịch bị từ chối quyền làm người

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 4)

Ngày đăng: 25/08/2017, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w