1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Thần học là ngành nghiên cứu về thiên chúa

3 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 104,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ần học giúp các nhà thần học hiểu rõ hơn về truyền thống tôn giáo của chính mình,[1] về các truyền thống tôn giáo khác,[2]cũng như so sánh giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau,[3] …

Trang 1

ần học là ngành nghiên cứu về iên chúa

Thánh Alberto Cả

ần học là ngành nghiên cứu vềiên chúa, hay rộng

hơn là về niềm tin tôn giáo, thực hành và trải nghiệm

tôn giáo, về linh hồn ần học giúp các nhà thần học

hiểu rõ hơn về truyền thống tôn giáo của chính mình,[1]

về các truyền thống tôn giáo khác,[2]cũng như so sánh

giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau,[3] … ần

học, nguyên nghĩa trong tiếng La Tinh là eologia,

ghép 2 từ trong tiếng Hy Lạp là eos (nghĩa là thần

linh) và logos (nghĩa là lời); vậy eologia là môn học

nghiên cứu về những lời, lý lẽ phù hợp với iên Chúa

Ngày nay, thần học được giảng dạy trong các chủng

viện, trường dòng, học viện, đại học của các tôn giáo

Định nghĩa

Cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về thần học

ánh Augustine định nghĩa thần học là những tranh

luận, lập luận liên quan đến iên Chúa Richchard

Hooker thì cho rằng thần học là khoa học về những

điều thiêng liêng ần học bắt đầu với giả thuyết cho

rằng sự thiêng liêng hiện hữu trong 1 số hình thái như

vật lý, siêu nhiên, tâm lý hay các thực thể xã hội; đó

là những sự hiển nhiên xảy ra trong cuộc sống khi con

người trải nghiệm về tôn giáo, tâm linh hay trong các

ghi chép lịch sử về các trải nghiệm như thế trong suốt

dòng lịch sử con người Việc nghiên cứu các giả thuyết

này không phải là 1 phần của các chuyên ngành thần

học riêng biệt nhưng được tìm thấy trong triết học tôn

giáo, tâm lý tôn giáo và thần kinh học Với tư cách là 1

khoa học, thần học nhắm tới thiết lập và đào sâu những

kinh nghiệm và khái niệm, sử dụng những điều đó để

đi tìm bằng chứng cho việc các hữu thể tồn tại và phát triển như thế nào, cuối cùng là đi đến việc khám phá những điều huyền bí

Các thần học gia sử dụng nhiều hình thức phân tích và

lý lẽ (kinh nghiệm, triết học, nhân chủng học, lịch sử)

để tìm hiểu, giải thích, kiểm tra, phê bình, bảo vệ hay phát triển bất cứ chủ đề thần học nào Trong triết học đạo đức và luật tố tụng, các tranh luận thường thừa nhận sự tồn tại của những vấn đề đã được giải quyết trước đó, các tranh luận được nâng cao bởi việc tạo ra những so sánh giữa chúng để dẫn đến những suy luận mới trong những hoàn cảnh mới

Bản chất của thần học là tìm hiểu, suy tư về các vấn đề siêu nhiên và thiêng liêng bằng phương diện đức tin Bất cứ thắc mắc hay câu hỏi có liên quan đến những điều thiêng liêng như thần linh, ma quỷ, thiên đàng, hỏa ngục,… đều liên quan đến thần học Việc nghiên cứu thần học giúp các thần học gia hiểu biết sâu sắc về truyền thống tôn giáo của họ, truyền thống các tôn giáo khác, tư tưởng thần học chứa đựng trong thần thoại các tộc người, nó có thể giúp các thần học gia khám phá sự

tự nhiên của thần học ngoài các suy luận tới truyền thống riêng biệt ần học có thể được sử dụng để lưu truyền, phục dựng, biện minh cho 1 truyền thống tôn giáo hoặc nó có thể được dùng để so sánh, thách thức hay chống lại 1 truyền thống tôn giáo ần học cũng

có thể giúp các thần học gia chuyển tải những tình huống hiện thời hay điều cần thiết qua 1 truyền thống tôn giáo, hoặc tìm ra những cách thức có thể để lý giải thế giới

Xét theo tôn giáo thì có thần học Do ái giáo, thần học Ki-tô giáo, thần học Hồi giáo, thần học Ấn Độ giáo Trong thần học Ki-tô giáo có thần học Công giáo, thần học Tin Lành, thần học Chính ống giáo, thần học Anh giáo Những suy tư về thần linh của các triết gia

Hy Lạp cổ đại cũng có thể coi là suy tư thần học

ần học của các tôn giáo

Ấn Độ giáo

Trong triết học Ấn Độ giáo, có 1 truyền thống cổ xưa

và vững chắc trong việc suy đoán triết học về tự nhiên của vũ trụ, của ượng Đế (sử dụng các thuật ngữ Brahman, Paramatma hay Bhagavan), của Atman (linh hồn) Ngôn từ Sankrit được sử dụng trong nhiều trường phái triết học Ấn Độ giáo là Darshana, có nghĩa là quan điểm ần học Vaishnava có 1 lĩnh vực nghiên cứu cho nhiều tín đồ sùng đạo, các triết gia, các nhà thông thái trong nhiều thế kỷ Một bộ phận lớn của việc nghiên

1

Trang 2

2 1 CHÚ THÍCH

cứu này nằm trong việc sắp xếp và cấu hình sự biểu lộ

của hàng ngàn các vị thần cùng những đặc trưng của

họ Trong những thập kỷ gần đây, lĩnh vực nghiên cứu

này được đảm nhận bởi những tổ chức hàn lâm ở châu

Âu, ví dụ như Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ giáo của

đại học Oxford, trường cao đẳng Bhaktivedanta,…

Do ái giáo

Trong thần học Do ái giáo, sự thiếu vắng mang tính

lịch sử của quyền lực chính trị có ý nghĩa rằng sự phản

chiếu mang tính thần học nhất đã hiện diện trong bối

cảnh của cộng đoàn và hội đường Do thái giáo, hơn là

trong các tổ chức hàn lâm đặc thù, bao gồm các tranh

luận về giáo lý của các Rabbi (các thầy tư tế và luật

sĩ Do ái giáo) trong luật Do ái và các lời chú giải

Kinh ánh Do ái Về mặt lịch sử, nó rất hiệu quả, có

ý nghĩa cao lớn đối với thần học Ki-tô giáo và Hồi giáo

và có tính chất tốt đẹp đối với thần học Do ái giáo

Ki-tô giáo

ần học Ki-tô giáo là việc nghiên cứu niềm tin và thực

hành đức tin Ki-tô giáo Việc nghiên cứu như vậy trước

hết tập trung vào các bản văn Cựu Ước và Tân Ước

cúng như truyền thống Ki-tô giáo Các nhà thần học

Ki-tô giáo sử dụng các lời giải thích Kinh ánh, các

phân tích và tranh luận hợp lý ần học cũng có thể

được thực hiện để giúp các nhà thần học hiểu rõ hơn

các giáo lý Ki-tô giáo, để tạo nên sự so sánh giữa Ki-tô

giáo với các truyền thống khác, để bảo vệ Ki-tô giáo

trước những lời phản đối và phê bình, để làm dễ dàng

hơn cho các sửa đổi bên trong Ki-tô giáo, để hỗ trợ cho

việc rao giảng Ki-tô giáo, để đưa những cách thức của

truyền thống Ki-tô giáo nhằm chuyển tải những tình

huống hiện thời hay cần thiết, hoặc nhiều lý do khác

ần học Ki-tô giáo sở hữu 1 nền tảng vô cùng vững

chắc, đó là triết học Hy Lạp Khi Ki-tô giáo vượt ra ngoài

biên giới của đất nước Do ái để vươn đến những vùng

đất mới, Ki-tô giáo đã đối mặt với triết học Hy Lạp

Để rao giảng thành công tín lý Ki-tô giáo cũng như để

thuyết phục người ngoại giáo đến với giáo hội, các giáo

phụ thời kỳ đầu đã can đảm sử dụng triết học Hy Lạp để

giải thích các mầu nhiệm Ki-tô giáo Triết học Hy Lạp

cung cấp các thuật ngữ, triết lý để các nhà tư tưởng

Ki-tô giáo trình bày thần học; ví dụ khái niệm Logos của

Heraclitus và thuyết ý niệm của Plato đã được sử dụng

để giải thích mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời Do đó,

triết học Hy Lạp đã trở thành nữ tỳ phục vụ nữ hoàng

thần học Ki-tô giáo

ần học Ki-tô giáo có nhiều chuyên ngành như thần

học mạc khải, thần học ánh Kinh, thần học luân lý,

thần học tu đức, thần học hệ thống, thần học Chúa Ba

Ngôi, thần học về Đức Ki-tô, thần học về giáo hội,… và

có nhiều thần học gia nổi tiếng như thánh Augustine,

thánh Albert Cả, thánh omas Aquinas,…

Tuy thần học Ki-tô giáo có nhiều chuyên ngành nhưng

để suy tư thần học, bắt buộc phải dựa vào Kinh ánh

cũng như tư tưởng của các giáo phụ

Hồi giáo

Sự tranh luận về thần học Hồi giáo song hành với tranh luận thần học Ki-tô giáo được gọi là “Kalam”, thuật ngữ này xuất hiện vào thời Trung cổ và “Kalam” được xem là thần học kinh viện của Hồi giáo Những điểm tương tự về Hồi giáo trong các tranh luận thần học

Ki-tô giáo sẽ trở nên những nghiên cứu và chi tiết đặc thù hơn trong bộ luật Sharia hay Fiqh (sự hiểu biết về các hướng dẫn hợp lý trong Hồi giáo) ần học Hồi giáo đa dạng với nhiều trường phái tư tưởng như Sunni, Shia, Kharijites; những trường phái này ra đời vào những thế kỷ đầu của Hồi giáo, sau này có trường phái Sufi chuyên nghiên cứu về những điều huyền nhiệm, có 1 nhà tư tưởng vô cùng nổi tiếng đi theo trường phái này,

đó là Abu Hamid Muhammad al-Ghazali Tuy có những khác biệt về tư tưởng, các trường phái nói trên đều tập trung vào tín lý Hồi giáo (Aqidah)

Cũng giống như thần học Ki-tô giáo, thần học Hồi giáo đưa ra những suy tư dựa trên ánh Kinh ran ần học Hồi giáo cũng từng lấy triết học Hy Lạp làm nền tảng, tuy nhiên đã có 1 số nhà tư tưởng Hồi giáo quá chú trọng đức tin (nguồn tri thức thần học) hơn lý trí (nguồn tri thức triết học) nên tư tưởng Hồi giáo đã đi

xa con đường lý trí

1 Chú thích

[1] See, e.g., Daniel L Migliore, Faith Seeking Understanding: An Introduction to Christian eology.

2nd ed.(Grand Rapids: Eerdmans, 2004)

[2] See, e.g., Michael S Kogan, “Toward a Jewish eology

of Christianity” in e Journal of Ecumenical Studies.

32.1 (Winter 1995), 89–106; available online atwww icjs.org/scholars/kogan.html

[3] See, e.g., David Burrell, Freedom and Creation in ree

Traditions (Notre Dame: University of Notre Dame

Press, 1994)

Trang 3

2 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh

• ần học Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_h%E1%BB%8Dc?oldid=26793203 Người đóng góp: TXiKiBoT,

Langtucodoc, Callidior, Luckas-bot, Xqbot, angbao, KamikazeBot, TjBot, TuHan-Bot, EmausBot, ZéroBot, ChuispastonBot, WikitanvirBot, Cheers!-bot, MerlIwBot, Vagobot, TuanUt, AlphamaBot2, Addbot, Sumohuy, Tran trubg và 5 người vô danh

• Tập_tin:AlbertusMagnus.jpg Nguồn:https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d0/AlbertusMagnus.jpgGiấy phép: Public

domain Người đóng góp: First uploaded bysv:Användare:Lamré to Swedish Wikipedia as sv:Bild:AlbertusMagnus.jpgNghệ sĩ đầu tiên:

Tommaso da Modena

• Tập_tin:Wikiquote-logo.svg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/fa/Wikiquote-logo.svg Giấy phép: Public

domain Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên:Rei-artur

• Tập_tin:Wiktionary_small.svg Nguồn:https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f9/Wiktionary_small.svgGiấy phép: CC

BY-SA 3.0 Người đóng góp: ? Nghệ sĩ đầu tiên: ?

2.3 Giấy phép nội dung

Creative Commons Aribution-Share Alike 3.0

Ngày đăng: 25/08/2017, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w