Vũ trụ bao gồm mọi thành phần của nó cũng như không gianvàthời gian.[8][9][10][11]Vũ trụ bao gồm các hành tinh,sao,thiên hà, các thành phần củakhông gian liên sao, nhữnghạt hạ nguyên tửn
Trang 1Vũ trụ bao gồm mọi thành phần của nó cũng như không gian và thời gian.
Vũ trụ bao gồm mọi thành phần của nó cũng như
không gianvàthời gian.[8][9][10][11]Vũ trụ bao gồm các
hành tinh,sao,thiên hà, các thành phần củakhông gian
liên sao, nhữnghạt hạ nguyên tửnhỏ nhất, và mọivật
chấtvànăng lượng.Vũ trụ quan sát đượccó đường kính
vào khoảng 28 tỷ parsec (91 tỷ năm ánh sáng) trong
thời điểm hiện tại.[2]Các nhà thiên văn chưa biết được
kích thước toàn thể của Vũ trụ là bao nhiêu và có thể là
vô hạn.[12]Những quan sát và phát triển của vật lý lý
thuyết đã giúp suy luận ra thành phần và sự tiến triển
của Vũ trụ
Xuyên suốt các thư tịch lịch sử, các thuyếtvũ trụ học
vàtinh nguyên học, bao gồm cácmô hình khoa học, đã
từng được đề xuất để giải thích những hiện tượng quan
sát của Vũ trụ Cácthuyết địa tâmđịnh lượng đầu tiên
đã được phát triển bởi cácnhà triết học Hy Lạp cổ đại
và triết học Ấn Độ.[13][14] Trải qua nhiều thế kỷ, các
quan sát thiên văn ngày càng chính xác hơn đã đưa tới
thuyết nhật tâmcủaNicolaus Copernicusvà, dựa trên
kết quả thu được từTycho Brahe,cải tiến cho thuyết đó
về quỹ đạo elip của hành tinhbởiJohannes Kepler, mà
cuối cùng đượcIsaac Newtongiải thích bằnglý thuyết
hấp dẫncủa ông Những cải tiến quan sát được xa hơn
trong Vũ trụ dẫn tới con người nhận ra rằngHệ Mặt
Trờinằm trong một thiên hàchứa hàng tỷ ngôi sao,
gọi làNgân Hà Sau đó các nhà thiên văn phát hiện ra
rằng thiên hà của chúng ta chỉ là một trong số hàng
trăm tỷ thiên hà khác Ở trên những quy mô lớn nhất,
sự phân bố các thiên hàđược giả địnhlàđồng nhấtvà
như nhau trong mọi hướng, có nghĩa là Vũ trụ không
có biên hay một tâm đặc biệt nào đó an sát về sự
phân bố vàvạch phổcủa các thiên hà đưa đến nhiều lý
thuyếtvật lý vũ trụ họchiện đại Khám phá trong đầu
thế kỷ 20 về sựdịch chuyển đỏtrongquang phổcủa các
thiên hà gợi ý rằngVũ trụ đang giãn nở, và khám phá ra
bức xạ nền vi sóng vũ trụcho thấy Vũ trụ phải có thời
điểm khởi đầu.[15]Gần đây, các quan sát vào cuối thập
niên 1990 chỉ ra sự giãn nở của Vũ trụđang gia tốc[16]
cho thấy thành phần năng lượng chủ yếu trong Vũ trụ
thuộc về một dạng chưa biết tới gọi lànăng lượng tối
Đa phần khối lượng trong Vũ trụ cũng tồn tại dưới một
dạng chưa từng biết đến hay làvật chất tối
Lý thuyếtVụ Nổ Lớnlà mô hình vũ trụ học được chấp
thuận rộng rãi, nó miêu tả về sự hình thành và tiến hóa
của Vũ trụ Không gian và thời gian được tạo ra trong
Vụ Nổ Lớn, và một lượng cố định năng lượng và vật
chất choán đầy trong nó; khi không gian giãn nở, mật
độ của vật chất và năng lượng giảm Sau sự giãn nở ban đầu, nhiệt độ Vũ trụ giảm xuống đủ lạnh cho phép hình thành lên những hạt hạ nguyên tử đầu tiên và tiếp sau là nhữngnguyên tửđơn giản Các đám mây khổng
lồ chứa những nguyên tố nguyên thủy này theo thời gian dưới ảnh hưởng củalực hấp dẫnkết tụ lại thành cácngôi sao Nếu giả sửmô hình phổ biến hiện naylà đúng, thìtuổi của Vũ trụcó giá trị tính được từ những
dữ liệu quan sát là 13,799 ± 0,021 tỷ năm.[1]
Có nhiều giả thiết đối nghịch nhau vềSố phận sau cùng của Vũ trụ Các nhà vật lý và triết học vẫn không biết chắc về những gì, nếu bất cứ điều gì, có trước Vụ Nổ Lớn Nhiều người phản bác những ước đoán, nghi ngờ bất kỳ thông tin nào từ trạng thái trước này có thể thu thập được Có nhiều giả thuyết vềđa vũ trụ, trong đó một vài nhà vũ trụ học đề xuất rằng Vũ trụ có thể là một trong nhiều vũ trụ cùng tồn tại song song với nhau [17][18]
1 Định nghĩa
Vũ trụ có thể được định nghĩa là mọi thứ đang tồn tại, mọi thứ đã tồn tại, và mọi thứ sẽ tồn tại.[19][20][21]eo như hiểu biết hiện tại, Vũ trụ chứa các thành phần: không thời gian, các dạngnăng lượng(bao gồmbức xạ điện từvàvật chất), và cácđịnh luật vật lýliên hệ giữa chúng Vũ trụ bao hàm mọi dạng sống, mọi lịch sử, và thậm chí một số nhà triết học và khoa học gợi ý rằng
nó bao hàm các ý tưởng nhưtoán họcvàlogic.[22][23][24]
2 Các tiến trình và Vụ Nổ Lớn
Mô hình được chấp thuận rộng rãi về nguồn gốc của
Vũ trụ đó là lý thuyết Vụ Nổ Lớn.[25][26] Mô hình Vụ
Nổ Lớn miêu tả trạng thái sớm nhất của Vũ trụ có mật
độ và nhiệt độ cực kỳ lớn và sau đó trạng thái này giãn
nở tại mọi điểm trong không gian Mô hình dựa trên thuyết tương đối rộngvà những giả thiết cơ bản như tính đồng nhất và đẳng hướng của không gian Phiên bản của mô hình vớihằng số vũ trụ học(Lambda) và vật chất tối lạnh, gọi làmô hình Lambda-CDM, là mô hình đơn giản nhất cung cấp cách giải thích hợp lý cho nhiều quan sát khác nhau trong Vũ trụ Mô hình Vụ Nổ 1
Trang 22 3 TÍNH CHẤT
Lớn giải thích cho những quan sát nhưsự tương quan
giữa khoảng cách vàdịch chuyển đỏcủa cácthiên hà,
tỉ lệ giữa số lượng nguyên tửhiđrôvới nguyên tửheli,
và bức xạ nền vi sóng vũ trụ
Trạng thái nóng, đặc ban đầu được gọi làkỷ nguyên
Planck, một giai đoạn ngắn kéo dài từ lúc thời gian bằng
0 cho tới một đơn vịthời gian Planckxấp xỉ bằng 10−43
giây Trong kỷ nguyên Planck, mọi loại vật chất và mọi
loại năng lượng đều tập trung trong một trạng thái đặc,
nơilực hấp dẫnđược cho là trở lên mạnh ngang với các
lực cơ bảnkhác, và tất cả các lực này có thể đãthống
nhấtlàm một Từ kỷ nguyên Planck,Vũ trụ đã giãn nở
cho tới hình dạng hiện tại, mà có khả năng nó đã trải
qua một giai đoạn lạm phátrất ngắn khiến cho kích
thước của Vũ trụ đạt tới kích thước lớn hơn nhiều chỉ
trong ít hơn10−32giây.[27]Giai đoạn này làm đều đặn đi
các khối cục vật chất nguyên sơ của Vũ trụ và để lại nó
trong trạng thái đồng đều và đẳng hướng như chúng ta
quan sát thấy ngày nay Các thăng giángcơ học lượng
tửtrong suốt quá trình này để lại các thăng giáng mật
độ trong Vũ trụ, mà sau đó trở thành mầm mống cho
sự hình thành các cấu trúc trong Vũ trụ.[28]
Sau kỷ nguyên Planck và lạm phát tới cáckỷ nguyên
quark,hadron, vàlepton eoSteven Weinberg, ba kỷ
nguyên này kéo dài khoảng 13,82 giây sau thời điểm
Vụ Nổ Lớn.[29]Sự xuất hiện của các nguyên tố nhẹ có
thể được giải thích bằng lý thuyết dựa trên sự giãn nở
của không gian kết hợp vớivật lý hạt nhânvàvật lý
nguyên tử.[30] Khi Vũ trụ giãn nở, mật độ năng lượng
củabức xạ điện từgiảm nhanh hơn so với mật độ của
vật chấtbởi vì năng lượng của một photon giảm theo
bước sóng của nó Cùng với Vũ trụ giãn nở và nhiệt
độ giảm đi, cáchạt cơ bảnkết hợp lại thành những hạt
tổ hợp lớn hơn và ổn định hơn Do vậy, chỉ vài giây
sau Vụ Nổ Lớn, hình thành các hạtprotonvàneutron
ổn định và rồi hình thành lên cáchạt nhân nguyên tử
thông qua cácphản ứng hạt nhân.[31][32]á trình này,
gọi làtổng hợp hạt nhân Vụ Nổ Lớn, dẫn tới sự có mặt
hiện nay của các hạt nhân nhẹ, bao gồmhiđrô,deuteri,
và heli Tổng hợp hạt nhân Vụ Nổ Lớn kết thúc sau
khoảng 20 phút, khi nhiệt độ Vũ trụ giảm xuống mức
không còn đủ để xảy ra các phản ứng tổng hợp hạt nhân
nữa.[33]Ở giai đoạn này, vật chất trong Vũ trụ chủ yếu
làplasmanóng đặc chứa cácelectronmang điện tích
âm, các hạtneutrinotrung hòa và các hạt nhân mang
điện tích dương Các hạt và phản hạt liên tục va chạm
và hủy thành cặp photon và ngược lại Kỷ nguyên này
được gọi làkỷ nguyên photon, kéo dài trong khoảng
380 nghìn năm.[34]
Với photon không còn tương tác với vật chất nữa, Vũ
trụ bước vào giai đoạn vật chất chiếm đa số về mật
độ (maer-dominated era; lưu ý là giai đoạn này sau
khoảng 47 nghìn năm kể từ Vụ Nổ Lớn,[35] bởi Vũ trụ
vẫn như màn sương mờ đục-optical thick-đối với bức
xạ Trước giai đoạn này là bức xạ chiếm đa số và động
lực của Vũ trụ bị chi phối bởi bức xạ.) Đến thời điểm
của kỷ nguyêntái kết hợp- sau khoảng 380 nghìn năm,
electron và các hạt nhân hình thành lên các nguyên tử
ổn định, cho phép Vũ trụ trở lên trong suốt với sóng điện từ Lúc này ánh sáng có thể lan truyền tự do trong không gian, và nó vẫn còn được quan sát cho tới tận ngày nay với tên gọibức xạ nền vi sóng vũ trụ(CMB) Sau khoảng 100 đến 300 triệu năm, nhữngngôi saođầu tiên bắt đầu hình thành; đây là những ngôi sao rất lớn, sáng và chịu trách nhiệm cho quá trình tái ion hóa của
Vũ trụ Bởi không cócác nguyên tố nặng hơn lititừ giai đoạn tổng hợp hạt nhân Vụ Nổ Lớn, những ngôi sao này đã tạo ra các nguyên tố nặng đầu tiên bởi quá trìnhtổng hợp hạt nhân sao.[36]Vũ trụ cũng chứa một dạng năng lượng bí ẩn gọi lànăng lượng tối; mật độ năng lượng của năng lượng tối không thay đổi theo thời gian Sau khoảng 9,8 tỷ năm, Vũ trụ đã giãn nở đến mức độ khiến cho mật độ của vật chất nhỏ hơn mật độ của năng lượng tối, đánh dấu bắt đầu của giai đoạn năng lượng tối thống lĩnh Vũ trụ (dark-energy-dominated era).[37]Trong giai đoạn này, sự giãn nởgia tăngcủa Vũ trụ là do năng lượng tối
3 Tính chất
Không thời gian của Vũ trụ thường được thể hiện từ khuôn khổ củakhông gian Euclid, khi coi không gian
có ba chiều vật lý, và thời gian là một chiều khác, trở thành “chiều thứ tư".[38]Bằng cách kết hợp không gian
và thời gian thành một thực thểđa tạptoán học duy nhất gọi làkhông gian Minkowski, các nhà vật lý đã đưa ra nhiềulý thuyết vật lýmiêu tả các hiện tượng trong Vũ trụ theo một cách thống nhất hơn từ phạm vi siêu thiên hàcho tới mức hạ nguyên tử
Cácsự kiệntrong không thời gian không được xác định tuyệt đối từ khoảng không gian và khoảng thời gian mà
có quan hệ tương đối với chuyển động của một quan sát viên Không gian Minkowski miêu tả gần đúng Vũ trụ khi không cólực hấp dẫn;đa tạp tựa-Riemanncủa thuyết tương đối rộngmiêu tả Vũ trụ chính xác hơn khi đưa trường hấp dẫn và vật chất vào không thời gian bốn chiều.Lý thuyết dâygiả thiết có tồn tại những chiều ngoại lai khác của không thời gian
Trong bốntương tác cơ bản, lực hấp dẫn thống trị Vũ trụ trên phạm vi kích thước lớn, bao gồm thiên hà và các cấu trúc lớn hơn Các hiệu ứng hấp dẫn có tính tích lũy; ngược lại, trong khi đó các hiệu ứng của điện tích
âm và điện tích dương có xu hướng hủy lẫn nhau, khiến cho lực điện từ không có ảnh hưởng nhiều trên quy mô lớn của Vũ trụ Hai tương tác còn lại, tương tác yếu
và tương tác mạnh, giảm cường độ tác dụng rất nhanh theo khoảng cách và các hiệu ứng của chúng chủ yếu đáng kể trên phạm vi hạ nguyên tử
Vũ trụ chứa vật chất nhiều hơn phản vật chất, một
sự chênh lệch có khả năng liên quan tới sự vi phạm
CPtrong tương tác yếu.[39] Dường như Vũ trụ cũng
Trang 33.2 Kích thước và các khu vực 3
không cóđộng lượnghaymômen động lượng Sự vắng
mặt của điện tích hay động lượng trên tổng thể có thể
xuất phát từ các định luật vật lý được đa số các nhà
khoa học công nhận (tương ứngđịnh luật Gauss và
tính không phân kỳ của giả tenxơ ứng suất-năng
lượng-động lượng) nếu Vũ trụ có biên giới hạn.[40]
Ba hình dạng có thể của vũ trụ.
uyết tương đối tổng quát miêu tả không thời gian bị
cong như thế nào do ảnh hưởng của vật chất và năng
lượng.Tô pôhayhình họccủa Vũ trụ bao gồm cảhình
học cục bộtrongvũ trụ quan sát đượcvàhình học toàn
cục Các nhà vũ trụ học thường nghiên cứu trên một
nhát cắt kiểu không gian nhất định của không thời gian
gọi làcác tọa độ đồng chuyển động Phần không thời
gian có thể quan sát được là phần nhìn ngược vềnón
ánh sángmà phân định rachân trời vũ trụ học Chân
trời vũ trụ học (cũng gọi là chân trời hạt hoặc chân trời
ánh sáng) là khoảng cách đo được mà từ đó có thể khôi
phục được thông tin[41] hay khoảng cách lớn nhất mà
hạt có thể đạt được để tới quan sát viên trong phạm vi
tuổi của Vũ trụ Chân trời này là ranh giới biên giữa
những vùng quan sát được và không quan sát được của
Vũ trụ.[42][43]Sự tồn tại, tính chất và ý nghĩa của chân
trời Vũ trụ học phụ thuộc vào từngmô hình vũ trụ học
cụ thể
Một tham số quan trọng xác định lên tương lai tiến hóa
của Vũ trụ đó làtham số mật độ, Omega (Ω), định nghĩa
bằng mật độ vật chất trung bình của Vũ trụ chia cho
một giá trị giới hạn của mật độ này Việc có một trong
ba khả năng của hình dạng Vũ trụ phụ thuộc vào Ω có
bằng, nhỏ hơn hay lớn hơn 1 Tương ứng với các giá trị
này là Vũ trụ phẳng, mở hay Vũ trụ đóng.[44]
Các quan sát, bao gồm từ các tàuCosmic Background Explorer(COBE),Tàu thăm dò Bất đẳng hướng Vi sóng Wilkinson (WMAP), và Planck vẽ bản đồ CMB, cho thấy Vũ trụ mở rộng vô hạn với tuổi hữu hạn như được miêu tả bởi mô hìnhFriedmann–Lemaître–Robertson– Walker(FLRW).[45][46][47][48]Mô hình FLRW cũng ủng
hộ các mô hình vũ trụ lạm phát và mô hình chuẩn của vũ trụ học, miêu tả vũ trụ phẳng và đồng nhất với
sự chiếm lĩnh chủ yếu củavật chất tốivànăng lượng tối.[49][50]
Tô pô toàn cục của Vũ trụ rất khó xác định và người
ta chưa biết chính xác tính chất này của Vũ trụ Từ các
dữ liệu quan trắc CMB của tàu Planck, một số nhà vật
lý cho rằng tô pô của vũ trụ là mở, lớn vô hạn có biên hoặc không có biên.[51][52]
3.2 Kích thước và các khu vực
Xác định kích thước chính xác của Vũ trụ là một vấn
đề khó khăn eo như định nghĩa có tính giới hạn, Vũ trụ là những thứ trong phạm vi không thời gian mà có thể có cơ hội tương tác với chúng ta và ngược lại.[53]
eo thuyết tương đối tổng quát, một số khu vực của không gian sẽ không bao giờ tương tác được với chúng
ta ngay cả trong thời gian tồn tại của Vũ trụ bởi vìtốc
độ ánh sánglà giới hạn và sựgiãn nở của không gian
Ví dụ, thông điệp vô tuyến gửi từ Trái Đất có thể không tới được một số khu vực của không gian, ngay cả nếu như Vũ trụ tồn tại mãi mãi: do không gian có thể giãn
nở nhanh hơn ánh sáng truyền bên trong nó.[54] Các vùng không gian ở xa được cho là tồn tại và là một phần thực tại như chúng ta, cho dù chúng ta không bao giờ chạm tới được chúng Vùng không gian mà chúng
ta có thể thu nhận được thông tin gọi là Vũ trụ quan sát được Nó phụ thuộc vào vị trí của người quan sát Bằng cách di chuyển, một quan sát viên có thể liên lạc được với một vùng không thời gian lớn hơn so với quan sát viên đứng yên Tuy vậy, ngay cả đối với quan sát viên di chuyển nhanh nhất cũng không thể tương tác được với toàn bộ không gian Nói chung, Vũ trụ quan sát được lấy theo nghĩa của phần không gian Vũ trụ được quan sát từ điểm thuận lợi của chúng ta từNgân Hà Khoảng cách riêng—khoảng cách được đo tại một thời điểm cụ thể, bao gồm vị trí hiện tại từ Trái Đất cho tới biên giới của Vũ trụ quan sát được là bằng 46 tỷ năm ánh sáng (14 tỷ parsec), do đó đường kính của Vũ trụ quan sát được vào khoảng 91 tỷ năm ánh sáng (28×109 pc) Khoảng cách ánh sáng từ biên của Vũ trụ quan sát được là xấp xỉ bằngtuổi của Vũ trụnhân với tốc độ ánh sáng, 13,8 tỷ năm ánh sáng (4,2×109 pc), nhưng khoảng cách này không biểu diễn cho một thời điểm bất kỳ khác, bởi vì biên giới của Vũ trụ và Trái Đất đang
di chuyển dần ra xa khỏi nhau.[55]Để so sánh, đường kính của mộtthiên hàđiển hình gần bằng 30.000 năm
Trang 44 3 TÍNH CHẤT
ánh sáng, và khoảng cách điển hình giữa hai thiên hà
lân cận nhau là khoảng 3 triệunăm ánh sáng.[56]Ví dụ,
đường kính của Ngân Hà vào khoảng 100.000 năm ánh
sáng,[57]và thiên hà lớn gần nhất với Ngân Hà,thiên
hà Andromeda, nằm cách xa khoảng 2,5 triệu năm ánh
sáng.[58]Bởi vì chúng ta không thể quan sát không gian
vượt ngoài biên giới của Vũ trụ quan sát được, chúng ta
không thể biết được kích thước của Vũ trụ là hữu hạn
hay vô hạn.[12][59][60]
3.3 Tuổi và sự giãn nở
Các nhà thiên văn tính toán tuổi của Vũ trụ bằng giả
thiết rằng mô hình Lambda-CDM miêu tả chính xác
sự tiến hóa của Vũ trụ từ một trạng thái nguyên thủy
rất nóng, đậm đặc và đồng nhất cho tới trạng thái hiện
tại và họ thực hiện đo các tham số vũ trụ học mà cấu
thành lên mô hình này Mô hình này được hiểu khá
tốt về mặt lý thuyết và được ủng hộ bởi nhữngquan
trắc thiên vănvới độ chính xác cao gần đây như từ các
tàu WMAPvà Planck Các kết quả này thường khớp
với các quan trắc từ các dự án khảo sát sự bất đẳng
hướng trong bức xạ vi sóng vũ trụ, mối liên hệ giữa
dịch chuyển đỏ và độ sáng từ các vụ nổsiêu tân tinh loại
Ia, và khảo sát cáccụm thiên hàtrên phạm vi lớn bao
gồm đặc điểmdao động baryon tựa âm thanh(baryon
acoustic oscillation) Những quan sát khác, như nghiên
cứu hằng số Hubble, sự phân bố các cụm thiên hà, hiện
tượngthấu kính hấp dẫn yếuvà tuổi của cáccụm sao
cầu, đều cho dữ liệu nhất quán với nhau, từ đó mang
lại phép thử chéo cho mô hình chuẩn của Vũ trụ học ở
giai đoạn trẻ của vũ trụ nhưng bớt chính xác hơn đối với
những đo đạc trong phạm vi gần Ngân Hà Vớisự ưu
tiênvề mô hình Lambda-CDM là đúng, sử dụng nhiều
kỹ thuật đo cho những tham số này cho phép thu được
giá trị xấp xỉ tốt nhất về tuổi của Vũ trụ vào khoảng
13,799±0,021 tỷ năm (tính đến năm 2015).[1]
eo thời gian Vũ trụ và các thành phần trong nó tiến
hóa, ví dụ số lượng và sự phân bố của cácchuẩn tinh
và các thiên hà đều thay đổi[61] và chính không gian
cũng giãn nở Vì sự giãn nở này, các nhà khoa học có
thể ghi lại được ánh sáng từ một thiên hà nằm cách
xa Trái Đất 30 tỷ năm ánh sáng cho dù ánh sáng mới
chỉ đi được khoảng thời gian khoảng 13 tỷ năm; lý do
không gian giữa chúng đã mở rộng ra Sự giãn nở này
phù hợp với quan sát rằng ánh sáng từ những thiên hà
ở xa khi tới được thiết bị đo thì đã bị dịch chuyển sáng
phía đỏ; cácphotonphát ra từ chúng đã mất dần năng
lượng và chuyển dịch sang bước sóng dài hơn (hay tần
số thấp hơn) trong suốt quãng đường hành trình của
chúng Phân tích phổ từ các siêu tân tinh loại Ia cho
thấy sự giãn nở không gian là đanggia tốc tăng.[62][63]
Càng nhiều vật chất trong Vũ trụ, lực hút hấp dẫn giữa
chúng càng mạnh Nếu Vũ trụ quá đậm đặc thì nó sẽ
sớm co lại thành mộtkỳ dị hấp dẫn Tuy nhiên, nếu Vũ
trụ chứa quá ít vật chất thì sự giãn nở sẽ gia tốc quá nhanh không đủ thời gian để các hành tinh và hệ hành tinh hình thành Sau Vụ Nổ Lớn, Vũ trụ giãn nở một cáchđơn điệu ật ngạc nhiên là, Vũ trụ của chúng ta
có mật độ khối lượng vừa đúng vào cỡ khoảng 5proton trên một mét khối cho phép sự giãn nở của không gian kéo dài trong suốt 13,8 tỷ năm qua, một quãng thời gian
đủ để hình thành lên vũ trụ quan sát được như ngày nay.[64]
Có những lực mang tính động lực tác động lên các hạt trong Vũ trụ mà ảnh hưởng tới tốc độ giãn nở Trước năm 1998, đa số các nhà vũ trụ học cho rằng sự tăng giá trị của hằng số Hubble sẽ tiến tới giảm dần theo thời gian do sự ảnh hưởng của tương tác hấp dẫn, do vậy họ đưa ra một đại lượng đo được trong Vũ trụ đó làtham
số giảm tốcmà họ hi vọng nó có liên hệ trực tiếp tới mật độ vật chất của Vũ trụ Vào năm 1998, hai nhóm các nhà thiên văn độc lập với nhau đã đo được tham số giảm tốc có giá trị xấp xỉ bằng −1 nhưng khác 0, hàm
ý rằng tốc độ giãn nở ngày nay của Vũ trụ là gia tăng theo thời gian.[16][65]
3.4 Không thời gian
Không thời gian là bối cảnh cho mọi sự kiện vật lý xảy ra—một sự kiện là một điểm trong không thời gian xác định bởi các tọa độ không gian và thời gian Các yếu tố
cơ bản của không thời gian là cácsự kiện Trong một không thời gian bất kỳ, sự kiện được xác định một cách duy nhất bởi vị trí và thời gian Bởi vì các sự kiện là các điểm không thời gian, trong vật lý tương đối tính cổ điển, vị trí của một hạt cơ bản (giống như hạt điểm) tại
một thời điểm cụ thể có thể được viết bằng (x, y, z, t)
Có thể định nghĩa không thời gian là hợp của mọi
sự kiện giống như cách một đường thẳng là hợp của mọi điểm trên nó, mà theo phát biểu toán học gọi làđa tạp.[66]
Vũ trụ dường như là mộtcontinumkhông thời gian chứa bachiều không gianmột chiều thời khoảng (thời gian) Trên trung bình, Vũ trụ có tính chất hình học gần phẳng (hayđộ congkhông gian xấp xỉ bằng 0), có nghĩa
làhình học Euclidlà mô hình xấp xỉ tốt về hình học của
Vũ trụ trên khoảng cách lớn của nó.[67]Ở cấu trúc toàn cục,tô pôcủa không thời gian có thể làkhông gian đơn liên(simply connected space), tương tự như với một mặt cầu, ít nhất trên phạm vi Vũ trụ quan sát được Tuy nhiên, các quan sát hiện tại không thể ngoại trừ một số khả năng rằng Vũ trụ có thêm nhiều chiều ẩn giấu và không thời gian của Vũ trụ có thể là không gian tô pô
đa liên toàn cục (multiply connected global topology), tương tự như tô pô của không gian hai chiều đối với mặt của hình trụ hoặc hình vòng xuyến.[46][68][69][70]
Trang 54.1 Năng lượng tối 5
Mô phỏng sự hình thành của các đám và sợi thiên hà trên quy
mô lớn theo mô hình Vật chất tối lạnh kết hợp với năng lượng
tối Khung hình chỉ ra tiến hóa của cấu trúc này trong hộp thể
tích 43 triệu parsec (hay 140 triệu năm ánh sáng) từ dịch chuyển
đỏ bằng 30 cho tới kỷ nguyên hiện tại (hộp trên cùng bên trái
z=30 tới hộp dưới cùng bên phải z=0).
Vũ trụ chứa phần lớn các thành phầnnăng lượng tối,
vật chất tối, vàvật chất thông thường Các thành phần
khác làbức xạ điện từ(ước tính chiếm từ 0,005% đến
gần 0,01%) vàphản vật chất.[71][72][73]Tổng lượng bức
xạ điện từ sản sinh ra trong Vũ trụ đã giảm đi một nửa
trong 2 tỷ năm qua.[74][75]
Tỷ lệ phần trăm của mọi loại vật chất và năng lượng
thay đổi trong suốt lịch sử của Vũ trụ.[76]Ngày nay, vật
chất thông thường, bao gồm nguyên tử, sao, thiên hà,
môi trường không gian liên sao, vàsự sống, chỉ chiếm
khoảng 4,9% thành phần của Vũ trụ.[6] Mật độ tổng
hiện tại của loại vật chất thông thường là rất thấp, chỉ
khoảng 4,5 × 10−31gram trên một centimét khối, tương
ứng với mật độ của một proton trong thể tích bốn mét
khối.[4]Các nhà khoa học vẫn chưa biết được bản chất
của cả năng lượng tối và vật chất tối Vật chất tối, một
dạng vật chất bí ẩn mà các nhà vật lý vẫn chưa nhận
ra dạng của nó, chiếm thành phần khoảng 26,8% Năng
lượng tối, có thể coi là năng lượng của chân không và
là nguyên nhân gây ra sự giãn nở gia tốc của Vũ trụ
trong lịch sử gần đây của nó, thành phần còn lại chiếm
khoảng 68,3%.[6][77][78]
Vật chất, vật chất tối, năng lượng tối phân bố đồng đều
trong toàn thể Vũ trụ khi xét phạm vi khoảng cách
trên 300 triệu năm ánh sáng.[79]Tuy nhiên, trên những
phạm vi nhỏ hơn, vật chất có xu hướng tập trung lại
thành cụm; nhiều nguyên tử tích tụ thành các ngôi sao,
các ngôi sao tập trung trong thiên hà và phần lớn các
thiên hà quần tụ lại thành các đám, siêu đám và cuối
cùng là những sợi thiên hà (galaxy filament) trên những
khoảng cách lớn nhất Vũ trụ quan sát được chứa xấp xỉ
Bản đồ vẽ các siêu đám thiên hà và khoảng trống gần Trái Đất nhất.
3×1023ngôi sao[80]và hơn 100 tỷ (1011) thiên hà.[81]Các thiên hà điển hình xếp từ loạithiên hà lùnvới vài chục triệu[82](107) sao cho tới những thiên hà chứa khoảng một nghìn tỷ (1012)[83] sao Giữa những cấu trúc này
là các khoảng trống (void) lớn, với đường kính vào cỡ 10–150 Mpc (33 triệu–490 triệu ly) Ngân Hà nằm trong Nhóm Địa Phương, rồi đến lượt nó thuộc vềsiêu đám Laniakea.[84]Siêu đám này trải rộng trên 500 triệu năm ánh sáng, trong khi Nhóm Địa Phương có đường kính xấp xỉ 10 triệu năm ánh sáng.[85]Vũ trụ cũng có những vùng trống hoang vu tương đối lớn; khoảng trống lớn nhất từng đo được có đường kính vào khoảng 1,8 tỷ ly (550 Mpc).[86]
Trên quy mô lớn hơn các siêu đám thiên hà, Vũ trụ quan sát được làđẳng hướng, có nghĩa rằng những dữ liệu mang tính chất thống kê của Vũ trụ có giá trị như nhau trong mọi hướng khi quan sát từ Trái Đất Vũ trụ chứa đầy bức xạvi sóng có độ đồng đều cao mà nó tương ứng vớiphổ bức xạ vật đentrong trạng tháicân bằng nhiệt độngở nhiệt độ gần 2,72548kelvin.[5]Tiên
đề coi Vũ trụ là đồng đều và đẳng hướng trên phạm vi khoảng cách lớn được gọi lànguyên lý vũ trụ học.[88] Nếu vật chất và năng lượng trong Vũ trụ phân bố đồng đều và đẳng hướng thì sẽ nhìn thấy mọi thứ như nhau khi quan sát từ mọi điểm[89] và Vũ trụ không có một tâm đặc biệt nào.[90]
4.1 Năng lượng tối
Tại sao sự giãn nở của Vũ trụ lại tăng tốc vẫn là một câu hỏi hóc búa đối với các nhà vũ trụ học Người ta thường cho rằng “năng lượng tối”, một dạng năng lượng bí ẩn với giả thuyết mật độ không đổi và có mặt khắp nơi trong Vũ trụ là nguyên nhân của sự giãn nở này.[91]
Trang 66 4 THÀNH PHẦN
Tỷ lệ phần trăm các thành phần của Vũ trụ ngày nay so với thời
điểm 380.000 năm sau Vụ Nổ Lớn, dữ liệu thu thập trong 5 năm
từ tàu WMAP (tính đến 2008) [87] (Do làm tròn, tổng các tỷ lệ
này không chính xác bằng 100%) Điều này phản ánh giới hạn
của WMAP khi xác định vật chất tối và năng lượng tối.
eonguyên lý tương đương khối lượng-năng lượng,
trong phạm vi cỡ thiên hà, mật độ của năng lượng tối
(~ 7 × 10−30 g/cm3) nhỏ hơn rất nhiều so với mật độ
của vật chất thông thường hay của năng lượng tối chứa
trong thể tích của một thiên hà điển hình Tuy nhiên,
trong thời kỳ năng lượng tối thống trị hiện nay, nó lấn
át thành phần khối lượng-năng lượng của Vũ trụ bởi vì
sự phân bố đồng đều của nó ở khắp nơi trong không
gian.[92][93]
Các nhà khoa học đã đề xuất hai dạng mà năng lượng
tối có thể gán cho đó làhằng số vũ trụ học, một mật
độ năng lượng không đổi choán đầy không gian vũ
trụ,[94]vàcác trường vô hướngnhưnguyên tố thứ năm
(quintessence) hoặc trườngmoduli, các đại lượng động
lực mà mật độ năng lượng có thể thay đổi theo không
gian và thời gian Các đóng góp từ những trường vô
hướng mà không đổi trong không gian cũng thường
được bao gồm trong hằng số vũ trụ học Ngoài ra, biến
đổi nhỏ ở giá trị trường vô hướng bởi sự phân bố bất
đồng nhất theo không gian khiến cho rất khó có thể
phân biệt những trường này với mô hình hằng số vũ
trụ Vật lý lượng tử cũng gợi ý hằng số này có thể có
nguồn gốc từnăng lượng chân không (ví dụ sự xuất
hiện của hiệu ứng Casimir) Tuy vậy giá trị đo được
của mật độ năng lượng tối lại nhỏ hơn 120 lần bậc độ
lớn so với giá trị tính toán củalý thuyết trường lượng
tử
4.2 Vật chất tối
Vật chất tối là loạivật chấtgiả thiết không thể quan sát được trongphổ điện từ, nhưng theo tính toán nó phải chiếm phần lớn vật chất trong Vũ trụ Sự tồn tại và tính chất của vật chất tối được suy luận từ ảnh hưởng hấp dẫn của nó lên vật chất baryon, bức xạ và các cấu trúc lớn trong Vũ trụ Ngoàineutrino, một loại được các nhà thiên văn vật lý xếp vào dạngvật chất tối nóng- có thể phát hiện thông qua các máy dò đặt dưới lòng đất, thì cho tới nay chưa thể phát hiện tác động trực tiếp của vật chất tối lên các thiết bị thí nghiệm, khiến cho nó trở thành một trong những bí ẩn lớn nhất của ngànhthiên văn vật lýhiện đại Vật chất tối không phát ra hay hấp thụ ánh sáng hay bất kỳbức xạ điện từnào ở mức đáng
kể eo kết quả quan trắc từ bức xạ nền vi sóng vũ trụ, vật chất tối chiếm khoảng 26,8% tổng thành phần năng lượng-vật chất và 84,5% tổng thành phần vật chất trong Vũ trụ quan sát được.[77][95]
4.3 Vật chất thường
Ảnh chụp của Hubble về cụm sao trẻ Westerlund 2 và môi trường xung quanh nó.
ành phần khối lượng-năng lượng chiếm 4,9% còn lại của Vũ trụ là “vật chất thông thường”, tức là bao gồm các loạinguyên tử,ion, electronvà các vật thể
mà chúng cấu thành lên Chúng bao gồm cácsao, loại thiên thể tạo ra phần lớn ánh sáng phát ra từ các thiên
hà, cũng như khí và bụi trongmôi trường liên sao(vd cáctinh vân) vàliên thiên hà, cáchành tinh, và mọi vật thể có mặt trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta có thể cầm nắm, sản xuất, nghiên cứu và phát hiện ra.[96] Vật chất thông thường tồn tại trong bốntrạng thái(hay pha):thể rắn,lỏng,khí, vàplasma Tuy nhiên, những
Trang 74.4 Hạt sơ cấp 7
tiến bộ trong kỹ thuật thực nghiệm đã cho phép hiện
thực hóa được những trạng thái mới của vật chất mà
trước đó chỉ được tiên toán tồn tại trên lý thuyết, đó là
ngưng tụ Bose–Einsteinvàngưng tụ fermion
Vật chất bình thường cấu thành từ hai loạihạt cơ bản:
quarkvàlepton.[97]Ví dụ, hạt proton hình thành từ hai
hạtquark lênvà một hạtquark xuống; hạt neutron hình
thành từ hai hạt quark xuống và một hạt quark lên;
và electron là một loại thuộc họ lepton Một nguyên
tử chứa mộthạt nhân nguyên tử, mà do các proton và
neutron liên kết với nhau, và các electron trên obitan
nguyên tử Bởi vì phần lớn khối lượng của nguyên tử
tập trung tại hạt nhân của nó, mà cấu thành từ các hạt
baryon, các nhà thiên văn học thường sử dụng thuật
ngữ vật chất baryon để miêu tả vật chất thông thường,
mặc dù một phần nhỏ của loại “vật chất baryon” này là
các electron và neutrino
Ngay sau vụ nổ Big Bang, các proton và neutron
nguyên thủy hình thành từ dạngplasma quark–gluon
của giai đoạn sơ khai khi Vũ trụ “nguội” đi dưới hai
nghìn tỷ độ Một vài phút sau, trong quá trình tổng
hợp hạt nhân Big Bang, các hạt nhân hình thành nhờ
sự kết hợp của các hạt proton và neutron nguyên thủy
á trình tổng hợp này tạo ra các nguyên tố nhẹ như
lithium và beryllium, trong khi các nguyên tố nặng
hơn chúng lại được sản sinh từ quá trình khác Một số
nguyên tửboroncó thể hình thành vào giai đoạn này,
nhưng đối với nguyên tố nặng hơn kế tiếp,carbon, đã
không hình thành ra một lượng đáng kể Tổng hợp hạt
nhân Vụ Nổ Lớn kết thúc sau khoảng 20 phút do sự
giảm nhanh chóng của nhiệt độ và mật độ bởi sự giãn
nở của Vũ trụ Sự hình thành các nguyên tố nặng hơn
là do kết quả của các quá trìnhtổng hợp hạt nhân sao
vàtổng hợp hạt nhân siêu tân tinh.[98]
Một số cấu trúc trong Vũ trụ
Tinh vân Đầu Ngựatrong chòm sao Orion
Cụm thiên hà Abell 1689 với hiệu ứngthấu kính hấp dẫn
Ngân
Hà trên bầu trời Paranal vớikính thiên văn VLT
4.4 Hạt sơ cấp
Vật chất thông thường và các lực tác dụng lên vật chất được miêu tả theo tính chất và hoạt động của cáchạt
sơ cấp.[99]Các hạt này đôi khi được miêu tả là cơ bản, bởi vì dường như chúng không có cấu trúc bên trong,
và người ta chưa biết liệu chúng có phải là hạt tổ hợp của những hạt nhỏ hơn hay không.[100][101]Lý thuyết quan trọng trung tâm miêu tả các hạt sơ cấp là Mô hình Chuẩn, lý thuyết đề cập đến cáctương tác điện từ, tương tác yếuvàtương tác mạnh.[102]Mô hình Chuẩn
đã được kiểm chứng và xác nhận bằng thực nghiệm liên quan tới sự tồn tại của các hạt cấu thành lên vật chất:
các hạtquarkvàlepton, và những "phản hạt" đối ngẫu với chúng, cũng như các hạt chịu trách nhiệm truyền
Trang 88 4 THÀNH PHẦN
Mô hình Chuẩn của các hạt sơ cấp: 12 fermion cơ bản và
4 boson cơ bản Các boson chuẩn (màu đỏ) bắt cặp với các
fermion (màu tím và xanh), phóng to hình vẽ để thấy Các cột
là ba thế hệ vật chất (những fermion) và những hạt trường của
tương tác (boson) Trong ba cột đầu tiên, hai hàng trên là các
hạt quarks và hai hàng dưới là các lepton Hai hàng trên lần
lượt là quark lên (u) và quark xuống (d), quark duyên (c) và
quark lạ (s), quark đỉnh (t) và quark đáy (b), và photon (γ) và
gluon (g), ngoài cùng là boson Higgs Hai hàng dưới chứa lần
lượt neutrino electron (νe) và electron (e), neutrino muon (νμ)
và muon (μ), neutrino tau (ντ) và tau (τ), và các boson mang
lực hạt nhân yếu Z0và W ± Khối lượng, điện tích, và spin được
viết ra cho mỗi loại hạt.
tương tác:photon, vàboson W và Z, vàgluon.[100]Mô
hình Chuẩn cũng tiên đoán sự tồn tại của loại hạt gần
đây mới được xác nhận tồn tại đó làboson Higgs, loại
hạt đặc trưng cho một trường trong Vũ trụ mà chịu
trách nhiệm cho khối lượng của các hạt sơ cấp.[103][104]
Bởi vì nó đã thành công trong giải thích rất nhiều kết
quả thí nghiệm, Mô hình Chuẩn đôi lúc được coi là “lý
thuyết của mọi thứ".[102] Tuy nhiên, Mô hình Chuẩn
không miêu tả lực hấp dẫn Một lý thuyết thực thụ
“cho tất cả" vẫn còn là mục tiêu xa của ngành vật lý
lý thuyết.[105]
4.4.1 Hadron
Hadron là những hạt tổ hợpchứa các quark liên kết
với nhau bởi lực hạt nhân mạnh Hadron được phân
thành hai họ:baryon(như proton và neutron) được cấu
thành từ ba hạt quark, vàmeson(như hạtpion) được
cấu thành từ một quark và mộtphản quark Trong các
hadron, proton là loại hạt ổn định với thời gian sống
rất lâu, và neutron khi liên kết trong hạt nhân nguyên
tử cũng là loại ổn định Các hadron khác rất không
bền dưới các điều kiện bình thường và do vậy chúng
là những thành phần không đáng kể trong Vũ trụ Từ
xấp xỉ 10−6giây sau vụ nổ Big Bang, trong giai đoạn gọi làkỷ nguyên hadron, nhiệt độ của Vũ trụ đã giảm đáng kể cho phép các hạt quark liên kết với các gluon
để tạo thành hadron, và khối lượng của Vũ trụ giai đoạn này chủ yếu đóng góp từ các hadron Nhiệt độ lúc đầu
đủ cao để cho phép hình thành các cặp hadron/phản-hadron, mà giữ cho vật chất và phản vật chất trong trạng thái cân bằng nhiệt động Tuy nhiên, khi nhiệt
độ Vũ trụ tiếp tục giảm, các cặp hadron/phản-hadron không còn tồn tại nữa Đa số các hadron và phản-hadron hủy lẫn nhau trong phản ứng hủy cặp hạt-phản hạt, chỉ để lại một lượng nhỏ hadron tại lúc Vũ trụ mới trải qua quãng thời gian một giây.[106] : 244–266
4.4.2 Lepton
Lepton là loại hạt sơ cấp có spin bán nguyênkhông tham gia vào tương tác mạnh nhưng nó tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli; không có hai lepton cùng một thế hệ nào có thể ở cùng một trạng thái tại cùng một thời gian.[107]Có hai lớp lepton: các lepton mangđiện tích(còn được biết đến lepton giống electron), và các
lepton trung hòa (hay các hạtneutrino) Electron là hạt
ổn định và là lepton mang điện phổ biến nhất trong Vũ trụ, trong khimuonvàtaulà những hạt không bền mà nhanh chóng phân rã sau khi được tạo ra từ các va chạm năng lượng cao, như ở phản ứngtia vũ trụbắn phá bầu khí quyển hoặc thực hiện trong cácmáy gia tốc.[108][109] Các lepton mang điện có thể kết hợp với các hạt khác
để tạo thành nhiều loạihạt tổ hợpkhác nhau như các nguyên tử vàpositronium Electron chi phối gần như mọi tính chấthóa họccủa các nguyên tố và hợp chất
do chúng tạo nên cácobitannguyên tử Neutrino tương tác rất hiếm với các hạt khác, và do vậy rất khó theo dõi được chúng Các dòng hạt chứa hàng tỷ tỷ neutrino bay khắp Vũ trụ nhưng hầu hất đều không tương tác với vật chất thông thường.[110]
Có mộtgiai đoạn ngắn trong quá trình tiến hóa lúc
sơ khai của Vũ trụ mà các hạt lepton chiếm lĩnh khối lượng chủ yếu Nó bắt đầu gần 1 giây sau Vụ Nổ Lớn, sau khi phần lớn các hadron và phản hadron hủy lẫn nhau khi kết thúckỷ nguyên hadron Trong kỷ nguyên lepton, nhiệt độ của Vũ trụ vẫn còn đủ cao để duy trì các phản ứng sinh cặp lepton/phản-lepton, do đó lúc này các lepton và phản-lepton ở trong trạng thái cân bằng nhiệt động Đến xấp xỉ 10 giây kể từ Vụ Nổ Lớn, nhiệt
độ của Vũ trụ giảm xuống dưới điểm mà cặp lepton và phản-lepton không thể tạo ra được nữa.[111] Gần như toàn bộ lepton và phản-lepton sau đó hủy lẫn nhau, chỉ còn lại dư một ít lepton Khối lượng-năng lượng của Vũ trụ khi đó chủ yếu do các photon đóng góp và Vũ trụ tiến tới giai đoạn kỷ nguyên photon.[112][113]
Trang 95.1 Mô hình dựa trên thuyết tương đối tổng quát 9
4.4.3 Photon
Photon là hạtlượng tửcủaánh sángvà tất cả cácbức xạ
điện từkhác Nó cũng là hạt truyền tương tác củalực
điện từ, thậm chí đối với trường hợp tương tác thông
qua các photon ảo Hiệu ứng của lực điện từ có thể dễ
dàng quan sát trêncấp vi môvàvĩ môbởi vì photon có
khối lượng nghỉbằng 0; điều này cho phép tương tác có
phạm vi tác dụng trên khoảng cách lớn Giống như tất
cả các hạt sơ cấp khác, photon được giải thích tốt bằng
cơ học lượng tửvà nó thể hiệnlưỡng tính sóng hạt, các
tính chất có củasónglẫn của hạt
Kỷ nguyên photon bắt đầu sau khi đa phần các lepton
và phản-lepton hủy lẫn nhau tại cuối kỷ nguyên lepton,
khoảng 10 giây sau Big Bang Hạt nhân nguyên tử được
tạo ra trong quá trình tổng hợp hạt nhân xuất hiện
trong thời gian một vài phút của kỷ nguyên photon Vũ
trụ trong kỷ nguyên này bao gồm trạng thái vật chất
plasmanóng đặc của các hạt nhân, electron và photon
Khoảng 380.000 năm sau Big Bang, nhiệt độ của Vũ trụ
giảm xuống tới giá trị cho phép các electron có thể kết
hợp với hạt nhân nguyên tử để tạo ra các nguyên tử
trung hòa Kết quả là, photon không còn thường xuyên
tương tác với vật chất nữa và Vũ trụ trở lên “sáng rõ"
hơn Các photon có dịch chuyển đỏ lớn từ giai đoạn tạo
nên bức xạ nền vi sóng vũ trụ Những thăng giáng nhỏ
trong nhiệt độ và mật độ phát hiện thấy trong CMB
chính là những “mầm mống” sơ khai mà từ đó các cấu
trúc trong Vũ trụ hình thành lên.[106] : 244–266
tổng quát
uyết tương đối rộnglàlý thuyết hình họcvềlực hấp
dẫndoAlbert Einsteinđưa ra vào năm 1915 và là miêu
tả hiện tại của hấp dẫn trongvật lý hiện đại Nó là cơ
sở cho các mô hìnhvật lý của Vũ trụ uyết tương
đối tổng quát mở rộng phạm vi củathuyết tương đối
hẹpvàđịnh luật vạn vật hấp dẫn của Newton, đưa đến
cách miêu tả thống nhất về hấp dẫn như là tính chất
hình học củakhông gianvàthời gian, haykhông thời
gian Đặc biệt,độ congcủa không thời gian có liên hệ
trực tiếp với năng lượngvàđộng lượngcủa vật chất
vàbức xạcó mặt trong một thể tích cho trước Liên hệ
này được xác định bằngphương trình trường Einstein,
một hệphương trình vi phân riêng phần Trong thuyết
tương đối rộng, sự phân bố của vật chất và năng lượng xác định ra hình học của không thời gian, từ đó miêu tả chuyển động cógia tốccủa vật chất Do vậy, một trong các nghiệm của phương trình trường Einstein miêu tả
sự tiến triển của Vũ trụ Kết hợp với các giá trị đo về
số lượng, loại và sự phân bố của vật chất trong Vũ trụ, các phương trình của thuyết tương đối tổng quát miêu
tả sự vận động của Vũ trụ theo thời gian.[114]
Với giả sử củanguyên lý vũ trụ họcvề Vũ trụ có tính chất đồng nhất và đẳng hướng ở khắp nơi, có một nghiệm cụ thể chính xác của phương trình trường miêu
tả Vũ trụ đó làtenxơ mêtricgọi làmêtric Friedmann– Lemaître–Robertson–Walker,
ds2=−c2dt2+R(t)2
(
dr2
1− kr2 + r2dθ2+ r2sin2θ dϕ2
)
trong đó (r, θ, φ) là các tọa độ tương ứng tronghệ tọa
độ cầu.Mêtricnày chỉ có hai tham số chưa xác định
Đó là tham số không thứ nguyên tỷ lệ dịch chuyển độ
dài (dimensionless length scale factor) R miêu tả kích
thước của Vũ trụ như là một hàm số của thời gian;
giá trị R tăng biểu thị chosự giãn nở của Vũ trụ.[115]
Chỉ số độ cong k miêu tả hình học của Vũ trụ Chỉ
số k được định nghĩa bằng 0 tương ứng chohình học Euclidphẳng, bằng 1 tương ứng với không gian có độ cong toàn phần dương, hoặc bằng −1 tương ứng với không gian có độ cong âm.[116] Giá trị của hàm số R theo biến thời gian t phụ thuộc vào chỉ số k vàhằng
số vũ trụ họcΛ.[114]Hằng số vũ trụ học biểu diễn cho mật độ năng lượng của chân không trong Vũ trụ và có khả năng liên hệ tớinăng lượng tối.[78]Phương trình
miêu tả R biến đổi như thế nào theo thời gian được
gọi là phương trình Friedmannmang tên nhà vật lý Alexander Friedmann.[117]
Kết quả thu được cho R(t) phụ thuộc vào k và Λ, nhưng
nó có một số đặc trưng tổng quát Đầu tiên và quan
trọng nhất, tỷ lệ dịch chuyển độ dài R của Vũ trụ sẽ không đổi chỉ khi nếu Vũ trụ là đẳng hướng hoàn hảo với độ cong toàn phần dương (k=1) và có một giá trị
chính xác về mật độ ở khắp nơi, như được lần đầu tiên chỉ ra bởi Albert Einstein.[114]Tuy vậy, trạng thái cân bằng này là không ổn định: bởi vì các quan sát cho thấy
Vũ trụ có vật chất phân bố bất đồng nhất trên phạm vi
nhỏ, R phải thay đổi theo thời gian Khi R thay đổi, mọi
khoảng cách không gian trong Vũ trụ cũng thay đổi tương ứng; dẫn tới có một sự giãn nở hoặc co lại trên tổng thể của không gian Vũ trụ Hiệu ứng này giải thích cho việc quan sát thấy các thiên hà dường như đang lùi
ra xa so với nhau; bởi vì không gian giữa chúng đang giãn ra Sự giãn nở của không gian cũng giải thích lý do
vì sao hai thiên hà có thể nằm cách nhau 40 tỷ năm ánh sáng, mặc dù chúng có thể hình thành ở một thời điểm nào đó cách đây gần 13,8 tỷ năm[118]và không bao giờ chuyển động đạt tới tốc độ ánh sáng
ứ hai, trong các nghiệm có một đặc tính đó là tồn tại
kỳ dị hấp dẫntrong quá khứ, khi R tiến tới 0 và năng
Trang 1010 7 THAM KHẢO
lượng và vật chất có mật độ lớn vô hạn Dường như đặc
điểm này là bất định bởi vì điều kiện biên ban đầu để
giải phương trình vi phân riêng phần dựa trên giả sử về
tính đồng nhất và đẳng hướng (nguyên lý vũ trụ học)
và chỉ xét tới tương tác hấp dẫn Tuy nhiên,định lý
kỳ dị Penrose–Hawkingchứng minh rằng đặc điểm kỳ
dị này xuất hiện trong những điều kiện rất tổng quát
Do vậy, theo phương trình trường Einstein, R lớn lên
nhanh chóng từ một trạng thái nóng đặc cực độ, xuất
hiện ngay lập tức sau kỳ dị hấp dẫn (tức khi R có giá trị
nhỏ hữu hạn); đây là tính chất cơ bản của mô hìnhVụ
Nổ Lớncủa Vũ trụ Để hiểu bản chất kỳ dị hấp dẫn của
Big Bang đòi hỏi mộtlý thuyết lượng tử về hấp dẫn,
mà vẫn chưa có lý thuyết nào thành công hay được xác
nhận bằng thực nghiệm.[119]
ứ ba, chỉ số độ cong k xác định dấu của độ cong
không gian trung bình của không-thời gian[116] trên
những khoảng cách lớn (lớn hơn khoảng 1 tỷnăm ánh
sáng) Nếu k=1, độ cong là dương và Vũ trụ có thể tích
hữu hạn.[120]Những vũ trụ như thế được hình dung là
một mặt cầu 3 chiều nhúng trong một không gian bốn
chiều Ngược lại, nếu k bằng 0 hoặc âm, Vũ trụ có thể
tích vô hạn.[120] Có một cảm nhận phản trực giác đó
là dường như một vũ trụ lớn vô hạn được tạo ra tức
thì từ thời điểm Vụ Nổ Lớn khi R=0 và mật độ vô hạn,
nhưng điều này đã được tiên đoán chính xác bằng toán
học khi k không bằng 1 Có thể hình dung một cách
tương tự, một mặt phẳng rộng vô hạn có độ cong bằng
0 và diện tích lớn vô hạn, trong khi một hình trụ dài
vô hạn có kích thước hữu hạn theo một hướng và một
hình xuyếncó cả hai đều là hữu hạn Vũ trụ với mô
hình dạng hình xuyến có tính chất giống với Vũ trụ
thông thường với điều kiện biên tuần hoàn (periodic
boundary conditions)
Số phận sau cùng của vũ trụvẫn còn là một câu hỏi
mở, bởi vì nó phụ thuộc chủ yếu vào chỉ số độ cong k
và hằng số vũ trụ Λ Nếu mật độ Vũ trụ là đủ đậm đặc,
k sẽ có thể bằng +1, có nghĩa rằng độ cong trung bình
của nó đa phần là dương và Vũ trụ cuối cùng sẽ tái suy
sụp trongVụ Co Lớn,[121]và có thể bắt đầu một vũ trụ
mới từVụ Nẩy Lớn(Big Bounce) Ngược lại, nếu Vũ trụ
không đủ đậm đặc, k sẽ bằng 0 hoặc −1 và Vũ trụ sẽ
giãn nở mãi mãi, nguội lạnh dần đi và cuối cùng đạt
tớiVụ đóng băng lớnvàcái chết nhiệt của vũ trụ.[114]
Các số liệu hiện tại cho thấy tốc độ giãn nở của Vũ trụ
không giảm dần, mà ngược lại tăng dần; nếu quá trình
này kéo dài mãi, Vũ trụ cuối cùng sẽ đạt tới Vụ Xé Lớn
(Big Rip) Trên phương diện quan trắc, Vũ trụ dường
như có hình học phẳng (k = 0), và mật độ trung bình
của nó rất gần với giá trị tới hạn giữa khả năng tái suy
sụp và giãn nở mãi mãi.[122]
• Vũ trụ song song
• Vụ Nổ Lớn
Các thiên hà qua mô hình 3 chiều của ảnh chụp Hubble Ultra Deep Field
• Vụ Co Lớn
• Vũ trụ luận
• Bản đồ vũ trụ 3 chiều
• Không thời gian nhiều chiều
• Lý thuyết dây
• Lý thuyết siêu dây
• Phản vũ trụ
• Toàn vũ trụ
• Đa vũ trụ
7 Tham khảo
[1] Planck Collaboration (2015) “Planck 2015 results XIII Cosmological parameters (See Table 4 on page 31 of pfd).”.arXiv:1502.01589
[2] Itzhak Bars; John Terning (2009).Extra Dimensions in Space and Time Springer tr 27ff.ISBN
978-0-387-77637-8 Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011
[3] Paul Davies (2006).e Goldilocks Enigma First Mariner Books tr 43ff.ISBN 978-0-618-59226-5 Truy cập ngày
1 tháng 7 năm 2013
[4] NASA/WMAP Science Team (ngày 24 tháng 1 năm 2014).“Universe 101: What is the Universe Made O?” NASA Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015
[5] Fixsen, D J (2009) “e Temperature of the Cosmic Microwave Background” e Astrophysical Journal
707 (2): 916–920 Bibcode:2009ApJ…707 916F
arXiv:0911.1955.doi:10.1088/0004-637X/707/2/916 [6] “First Planck results: the Universe is still weird and interesting” Mahew Francis Ars technica Ngày 21
tháng 3 năm 2013 Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015 [7] NASA/WMAP Science Team (ngày 24 tháng 1 năm 2014) “Universe 101: Will the Universe expand forever?” NASA Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015