Hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương với việc nâng cao hiệu quả sử dụng người lao động củai doanh nghiệp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Qua nghiên cứu, chúng ta đã nhận thấy trong quản lý kinh tế, quản lý con
người là vấn đề cốt lõi nhất, cũng đồng thời là vấn đề kinh tế, phức tạp nhất Khai
thác được những tiềm năng của nguồn lực con người chính là chìa khóa để mỗi
doanh nghiệp đạt được thành công trong sản xuất kinh doanh Vì vậy, việc phân
chia và kết hợp với lợi ích phải được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng Các lợi ích đó
bao gồm: lợi ích cá nhân người lao động, lợi ích của ông chủ (hay của doanh
nghiệp) và lợi ích xã hội Lợi ích vật chất của cá nhân người lao động được thể
hiện ở thu nhập của người đó
Thu nhập và tiền lương đối với người lao động là hai phạm trù kinh tế khác
nhau Tiền lương dùng để chỉ số tiền nhà nước trả cho người lao động trong khu
vực nhà nước thông qua các thang, bảng lương và phụ cấp Để tạo ra động lực to
lớn, giải phóng được sức sản xuất thì cần có quỹ tiền lương đủ lớn để chi trả cho
người lao động Tuy nhiên, việc quản lý, phân phối quỹ tiền lương đó theo cách
thức nào sao cho công bằng, hợp lý, đúng pháp luật, kích thích tinh thần hăng say
làm việc và khả năng sáng tạo của mọi người lao động, phát huy tác dụng đòn bẩy
kinh tế của tiền lương trong sản xuất, đồng thời đảm bảo sản xuất kinh doanh có
lãi, lại là một vấn đề không đơn giản đối với các doanh nghiệp
Bưu điện Trung tâm 5 là đơn vị có nhiều đóng góp nỗ lực cho sự phát triển
vượt bậc của ngành Bưu điện Ngay từ những ngày đầu thành lập, Bưu điện Trung
tâm 5 đã tự khẳng định mình trên thương trường Công ty đã có những bước đi
vững chắc, phát triển một cách toàn diện và nhanh chóng hội nhập vào mạng lưới
thông tin quốc gia, quốc tế Những thành tựu của ngành Bưu điện nói chung và
của quốc gia nói riêng đã góp phần to lớn vào công việc của xã hội hóa thông tin
của đất nước
Là sinh viên lớp Kế toán – Kiểm toán Khoa Quản trị kinh doanh Trường
Đại học Dân lập Đông đô, qua thời gian thực tập tại Bưu điện Trung tâm 5, tôi đã
có điều kiện củng cố, tích lũy, làm sáng tỏ những kiến thức tiếp thu được trong
Trang 2nhà trường về cách thức tổ chức, nội dung trình tự công tác trong các doanh
nghiệp Đồng thời, quá trình thực tập tốt ngiệp đã giúp tôi có thêm những kiến
thức thực tế về lĩnh vực mà tôi mong muốn tìm hiểu kỹ hơn Đó là vấn đề “Hạch
toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương với việc nâng cao hiệu
quả sử dụng người lao động tại doanh nghiệp.”
Nội dung bản Báo cáo thực tập tốt nghiệp này ngoài lời mở đầu và kết luận
bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương trong các doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương
tại Công ty Bưu điện Gia lâm Hà nội
Chương III: Phương hướng hoàn thiện hạch toán tiền lương với viếc nâng
cao hiệu quả sử dụng người lao động
Vì lĩnh vực nghiên cữu này còn mới mẻ đối với bản thân tôi cho nên bản
báo cáo này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi xin chân thành cảm ơn và rất
mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn của các thầy cô giáo trong khoa
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với sự hướng
dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của Thày giáo và Bưu điện Trung tâm 5 đã tạo mọi điều
kiện để tôi hoàn thành Chuyên đề tốt nghiệp này
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN
TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG
1 Khái niệm, nguồn gốc và bản chất của tiền lương
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao
các yếu tố cơ bản (lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động) Trong đó lao
động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng các tư liệu
lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có
ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình
Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất trước hết cần phải bảo
đảm tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải
được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động Tiền lương (tiền công) chính là phần
thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động Mặt khác tiền
lương còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích
thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ Về
bản chất, tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động Nói cách
khác, tiền lương chính là nhân tố thúc đẩy tăng năng xuất lao động
2 Quỹ tiền lương và thành phần của quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả
cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý Thành phần quỹ tiền lương bao
gồm nhiều khoản như lượng thời gian (ngày, tháng, giờ), lương sản phẩm, phụ
cấp (cấp bậc, khu vực, chức vụ…), tiền thưởng trong sản xuất Quỹ tiền lương
(hay tiền công) bao gồm nhiều loại, tuy nhiên về mặt hạch toán có thể chia thành
tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp, trong đó chi tiết
theo tiền lương chính và tiền lương phụ
Trang 43 Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp (chế độ tiền lương)
a Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian là hình thức trả lương theo thời gian làm
việc trong tháng, theo trình độ kỹ thuật và thang lương của công nhân viên
Chế độ trả lương theo thời gian có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán nhưng
nhược điểm là chỉ mới xem xét đến mặt số lượng, chưa quan tâm đến chất lượng
nên vai trò kích thích sản xuất của tiền lương hạn chế Để khắc phục nhược điểm
của phương pháp trả lương theo thời gian, người ta áp dụng trả lương theo thời
gian có thưởng
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn áp dụng hình thức trả lương theo thời gian để
trả cho đối tượng công nhân chưa xây dựng được định mức lao động cho công
việc của họ, hoặc cho công việc sản xuất những sản phẩm yêu cầu độ chính xác
cao
b Hình thức trả lương theo sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương theo khối lượng
sản phẩm công việc đã hoàn thành trong tháng đảm bảo yêu cầu chất lượng và
đơn giá tính cho một đơn vị sản phẩm
Số lượng sản phẩm làm ra do thống kê ghi chép Đơn giá tiền công phụ
thuộc vào hai yếu tố: Cấp bậc công việc và định mức thời gian hoàn thành công
việc đó
Trong giai đoạn hiện nay thì hình thức tiền lương sản phẩm đang là hình
thức tiền lương chủ yếu được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp Để đảm
bảo hình thức tiền lương này có hiệu quả cần 4 điều kiện sau:
- Có hệ thống định mức chính xác
- Phải thường xuyên củng cố, hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất để đảm
bảo dây chuyền sản xuất luôn luôn cần đối
- Phải tổ chức tốt công tác phục vụ cho sản xuất như: Việc cung cấp nguyên
liệu, bán thành phẩm, tổ chức sủa chữa thiết bị kịp thời khi hư hỏng và tổ chức
nghiệm thu sản phẩm kịp thời
Trang 5- Hoàn thiện công tác thống kê kế toán, đặc biệt là công tác thống kê theo
dõi tình hình thực hiện mức để làm cơ sở cho việc điều chỉnh mức
Trong thực tế chúng ta thường áp dụng 4 hình thức trả lương theo sản phẩm
sau:
Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Hình thức này được áp dụng rộng rãi đối với người trực tiếp sản xuất trong
điều kiện quá trình lao động của họ mang tính chất độc lập tương đối Đơn giá xác
định như sau:
ĐG = L/Q hoặc ĐG = L x T Trong đó: ĐG : Đơn giá sản phẩm
L : Lương theo cấp bậc
` Q : Mức sản lượng
T : Mức thời gian
Trả lương tính theo sản phẩm tập thể:
Là một hình thức tiền lương áp dụng cho những công việc nặng nhọc có
định mức thời gian dài, cá nhân từng người không thể làm được hoặc làm được
nhưng không thể đảm bảo tiến độ, đòi hỏi phải áp dụng lương sản phẩm tập thể
Khi áp dụng hình thức này cần phải đặc biệt chú ý tới cách chia lương sao
cho đảm bảo công bằng hợp lý, phải chú ý tới tình hình thực tế của từng công
nhân về sức khỏe, về sự cố gắng trong lao động
Trả lương theo sản phẩm gián tiếp:
Thường áp dụng để trả cho cán bộ quản lý và công nhân phục vụ Khi áp
dụng hình thức này có hai tác dụng lớn:
Thắt chặt mối quan hệ giữa cán bộ quản lý, công nhân phục vụ với công
nhân trực tiếp sản xuất và tạo điều kiện cho cán bộ quản lý phải quan tâm tới việc
thúc đẩy sản xuất phát triển Để áp dụng nó, cần tiến hành qua hai bước:
Bước 1: Xác định đơn giá gián tiếp (ĐGGT)
ĐGGT = Sản lượng định mức bình quân của công nhân trực tiếp trong tháng
Trang 6Lương cấp bậc tháng của gián tiếp
Bước 2: Tính lương sản phẩm gián tiếp (L)
L = Sản phẩm thực tế của
công nhân sản xuất
x đơn giá
gián tiếp
Lương theo sản phẩm lũy tiến:
Là một hình thức tiền lương sản phẩm nhưng dùng nhiều đơn giá khác nhau
để trả cho công nhân tăng sản lượng ở mức độ khác nhau, theo nguyên tắc: Những
sản phẩm trong định mức thì trả theo đơn giá chung thống nhất, còn những sản
phẩm vượt định mức thì trả theo đơn giá lũy tiến (Đơn giá này lớn hơn đơn giá
chung) Chế độ lương này chỉ áp dụng vào thời điểm nhu cầu của thị trường cần
số lượng lớn sản phẩm
Song song với lương sản phẩm lũy tiến ta có lương sản phẩm lũy lùi Áp
dụng với trường hợp nguy cơ thị trường bị thu hẹp, không có khả năng tiêu thụ
sản phẩm sản xuất ra Áp dụng lương sản phẩm lũy lùi là để hạn chế sản xuất và
kìm hãm nó
c Lương khoán
Tiền lương khoán là hình thức trả lương cho người lao động theo khối
lượng và chất lượng công việc mà họ hoàn thành
Để áp dụng lương khoán cần chú ý hai vấn đề sau: Tăng cường công tác
kiểm tra để đảm bảo đúng tiến độ lẫn chất lượng và thực hiện thật nghiêm chỉnh
chế độ khuyến khích lợi ích vật chất
4 Nội dung hạch toán tiền lương
a Nhiệm vụ hạch toán tiền lương trong doanh nghiệp
Để đáp ứng được các yêu cầu quản lý, kế toán tiền lương trong các doanh
nghiệp cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Ghi chép, phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời ngày công thực tế làm
việc, nghỉ việc, ngừng việc… của người lao động để có căn cứ tính trả lương
Trang 7- Theo dõi, ghi chép việc hình thành quỹ tiền lương, tình hình chi trả quỹ
lương của doanh nghiệp Việc trích lập và chi trả các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
- Cung cấp những số liệu cần thiết cho việc hạch toán cho phí sản xuất, tính
giá thành sản phẩm, hạch toán thu nhập và một số nội dung khác có liên quan
b Tài khoản sủ dụng
Để hạch toán tiền lương kế toán sử dụng tài khoản 334 (Phải trả nhân viên):
Dùng để phản ánh các khoản thanh toán với công nhân viên của doanh nghiệp về
tiền lương, tiền công, phụ cấp, BHXH, tiền thưởng và các khoản khác thuộc thu
nhập của họ Nội dung của tài khoản này như sau:
Bên nợ:
- Các khoản khấu trừ vào tiền công, tiền lương của công nhân viên
- Tiền lương, tiền công và các khoản đã trả cho công nhân viên
- Kết chuyển tiền lương công nhân, viên chức chưa lĩnh
Bên có:
- Tiền lương, tiền công và các khoản khác còn phải trả cho các công nhân
viên chức
Dư Nợ (Nếu có): Số trả thừa cho công nhân viên chức
Dư Có: Tiền lương, tiền công và các khoản khác còn phải trả cho các công
nhân viên chức
c Trình tự và phương pháp hạch toán
Trình tự:
Để thanh toán tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho
người lao động Hàng tháng kế toán doanh nghiệp phải lập “Bảng thanh toán tiền
lương” cho từng tổ, đội, phân xưởng sản xuất và các phòng ban căn cứ vào kết
quả để tính lương cho từng người Trên bảng tính lương cần ghi rõ từng khoản
tiền lương (lương sản phẩm, lương thời gian), các khoản phụ cấp, trợ cấp, các
khoản khấu trừ và số tiền người lao động còn được lĩnh Khoản thanh toán về trợ
cấp BHXH cũng được lập tương tự Sau khi kế toán trưởng kiểm tra, xác nhận và
ký, Giám đốc duyệt thì “Bảng thanh toán tiền lương và BHXH” sẽ được làm căn
Trang 8cứ để thanh toán lương và BHXH cho người lao động Thông thường tại các
doanh nghiệp, việc thanh toán lương và các khoản khác cho người lao động được
chia làm 2 kỳ: Kỳ 1 tạm ứng còn kỳ 2 sẽ nhận số còn lại sau khi đã trừ các khoản
khấu trừ và thu nhập Các khoản thanh toán BHXH, bảng kê danh sách những
người chưa lĩnh lương cùng với các chứng từ và báo cáo thu chi tiền mặt phải
chuyển kịp thời cho phòng kế toán để kiểm tra, ghi sổ
Phương pháp hạch toán:
- Hàng tháng tính ra tổng số tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất
tiền lương phải trả cho công nhân viên (Bao gồm tiền lương, tiền công, phụ cấp
khu vực, chức vụ, tiền ăn giữa ca, tiền thưởng…) và phân bổ cho các đối tượng sử
dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 622 (chi tiết đối tượng): Phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo
sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ
Nợ TK 627 (6271_Chi tiết cho phân xưởng): Phải trả nhân viên quản lý phân
xưởng
Nợ TK 641 (6411): Phải trả cho nhân viên bán hàng, tiêu thụ sản phẩm, lao vị,
dịch vụ
Nợ TK 642 (6421): Phải trả cho bộ phận nhân công quản lý doanh nghiệp
Có TK 334: Tổng số thù lao lao động phải trả
- Khi tính ra tiền lương nghỉ phép thực tế phải trả công nhân viên, kế toán
ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK 622 (Hoặc TK 335)
Nợ TK 641, 642, 627
Có TK 334
- Thanh toán thù lao (Tiền công, tiền lương):
Việc thanh toán thù lao cho người lao động được khái quát bằng sơ đồ đối
ứng tài khoản chủ yếu sau:
Trang 9SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG
VÀ THANH TOÁN VỚI CÔNG NHÂN VIÊN
II TỔ CHỨC HẠCH TOÁN BHXH, BHYT, KPCĐ
a Khái niệm BHXH, BHYT, KPCĐ
Quỹ BHXH dùng để trợ cấp cho người lao động có thời gian đóng góp quỹ
trong các trường hợp họ mất khả năng lao động
Quỹ BHYT dùng để đài thọ cho những người lao động có thời gian đóng
góp quỹ trong các trường hợp khám chữa bệnh
Quỹ KPCĐ dùng để tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng đều phải theo dõi việc hình thành các
quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ và việc hạch toán sử dụng các quỹ đó Các quỹ trên
được trích lập theo tỷ lệ quy định, nó được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và có một tỷ lệ phần trăm đóng góp của người lao động
Trích trước TL nghỉ phép của CNSX
Tiền thưởng thi đua, trợ cấp khó khăn phải trả CNV
Chi trả TL, thưởng, BHXH, các khoản khác của CNV
BHXH phải trả CNV
về
Trang 10b Sự hình thành và sử dụng quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
Quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng
số quỹ tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (Chức vụ, khu vực, thâm liên…)
của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng Theo chế độ hiện hành, tỷ
lệ trích BHXH là 20%, trong đó 15% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động nộp
Quỹ BHXH được chi tiêu cho các trường hợp người lao động ốm đau, tai nạn,
hưu trí… Quỹ này do cơ quan BHXH quản lý
Quỹ BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa bệnh,
viện phí… cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ Quỹ này được
hình thành bằng trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương của công nhân
viên chức thực tế phát sinh trong tháng Tỷ lệ trích BHYT hiện hành là 3%, trong
đó 2% tính vào chi phí kinh doanh, 1% trừ vào thu nhập của người lao động Còn
phải trích theo một tỷ lệ quy định với tổng số quỹ tiền, tiền công và phụ cấp đắt
đỏ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp độc hại, phụ cấp thâm niên…
thực tế phải trả cho người lao động, kể cả lao động hợp đồng tính vào chi phí kinh
doanh để hình thành KPCĐ Tỷ lệ KPCĐ theo chế độ hiện hành là 2%
c Nội dung hạch toán
Để thanh toán các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người lao động, hàng tháng
kế toán phải lập “Bảng thanh toán tiền lương cho từng tổ đội, phân xưởng và các
phòng ban” căn cứ vào kết quả tính lương cho từng người Trên bảng tính lương
cần ghi rõ các khoản phụ cấp, trợ cấp, các khoản khấu trừ và số lương người lao
động còn được lĩnh Khoản thanh toán về trợ cấp BHXH cũng được lập tương tự
Sau khi kế toán trưởng kiểm tra, xác nhận và ký rồi trình lên Giám đốc, nếu Giám
đốc duyệt thì “Bảng thanh toán tiền lương và BHXH” sẽ được làm căn cứ để
thanh toán tiền lương và BHXH cho người lao động
Tài khoản hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ là TK 338 (Phải trả và nộp
khác): Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản phải trả và phải nộp cho cơ
quan pháp luật, cho các tổ chức, đoàn thể xã hội, doanh thu của khách hàng… Nội
dung của tài khoản này như sau:
Trang 11Bên Nợ:
- Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lý các quỹ
- Các khoản đã chi về KPCĐ
- Xử lý giá trị tài sản thừa
- Kết chuyển doanh thu nhận trước vào doanh thu bán hàng tương ứng từng
kỳ
Bên Có:
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định
- Các khoản đã trả, đã nộp hay đã thu hộ
- Giá trị tài sản thừa chờ xử lý
- Số đã trả, đã nộp lớn hơn số phải trả, phải nộp hoàn lại
Dư Nợ (Nếu có): Số trả thừa, nộp thừa, vượt chi chưa được thanh toán
Dư Có: Số tiền còn phải trả, phải nộp và già trị tài sản thừa chờ xử lý
Việc hạch toán các khoản trích theo lương được thể hiện bằng sơ đồ đối
ứng tài khoản sau:
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN BHXH, BHYT, KPCĐ
Chi tiêu KPCĐ tại doanh
nghiệp
Trích BHXH, BHYT, KPCĐ trừ v o TL của người lao động Chi trả BHXH
cho người lao
động
BHXH phải trả cho CNV
TK 662, 627, 641,642
Trang 12Các khoản khấu trừ vào thu nhập của công nhân viên: Theo quy định, sau
khi đóng BHXH, BHYT, KPCĐ và thuế thu nhập cá nhân, tổng số các khoản
khấu trừ không được vượt quá 30% số còn lại
III HẠCH TOÁN CÁC KHOẢN THU NHẬP KHÁC CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG
Ngoài chế độ tiền lương, các doanh nghiệp còn tiến hành xây dựng chế độ
tiền thưởng cho các cá nhân, tập thể có thành tích trong hoạt động sản xuất kinh
doanh Tiền thưởng bao gồm tiền thưởng thi đua (lấy từ quỹ khen thưởng) và
thưởng trong sản xuất kinh doanh (Thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng
tiết kiệm vật tư, sáng kiến ) Ngoài ra các doanh nghiệp còn xây dựng chế độ trợ
cấp cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn, sinh đẻ, ốm đau…
Khi tính ra tiền thưởng thi đua chi từ quỹ khen thưởng, trợ cấp khó khăn chi
từ quỹ phúc lợi phải trả công nhân viên, kế toán ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK 4311 (Thưởng thi đua)
Nợ TK 4312 (Trợ cấp khó khăn)
Có TK 334
Khi thanh toán tiền thưởng và trợ cấp khó khăn cho công nhân viên kế toán
ghi sổ theo định khoản:
Trang 13CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH
THEO LƯƠNG TẠI BƯU ĐIỆN TRUNG TÂM 5
IV ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÔNG TÁC KẾ TOÁN
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tiền thân của Bưu điện Trung tâm 5 là Bưu điện Huyện Gia lâm là doanh
nghiệp Nhà nước, có tên giao dịch là GIALAM POST OFFICE, trụ sở dặt tại 147
Ngô Gia Tự - Đức Giang – Gia Lâm – Hà Nội, được thành lập theo quyết định số
4361/ QĐ - TCCB ngày 18 tháng 12 năm 1996 của Tổng Giám đốc Tổng Công ty
Bưu chính - Viễn thông Việt Nam Bưu điện Gia lâm có nhiệm vụ quản lý, vận
hành, khai thác và phát triển mạng lưới Bưu chính – Viễn thông trên địa bàn, để
phục vụ và kinh doanh, đáp ứng đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu thông tin liên lạc
phục vụ sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, ban ngành và nhu
cầu sử dụng của nhân dân trên địa bàn cũng như toàn Thành phố
Gia lâm là một Huyện ven đô ở cửa ngõ phía Bắc Thủ đô, địa bàn tương đối
rộng, những năm qua có tốc độ đô thị hóa nhanh, các khu công nghiệp mới ra đời,
sự phát triển Kinh tế – Xã hội và mức sống nhân dân chưa đồng đều giữa các
vùng Chính vì vậy yêu cầu mạng lưới Bưu chính – Viễn thông không ngừng phát
triển, đòi hỏi công tác quản lý, sản xuất, trình độ của lãnh đạo toàn thể CBCNV
Bưu điện Huyện Gia lâm cũng phải được nâng lên để theo kịp và hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ mà Bưu điện thành phố giao Những năm qua dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Đảng ủy và Giám Đốc BĐHN, sự giúp đỡ tạo điều kiện có hiệu quả của
Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, các ban ngành trên địa bàn Huyện và BĐHN, tập
thể CBCNV Bưu điện Huyện Gia lâm đã đoàn kết phấn đấu xây dựng đơn vị trở
thành một trong những đơn vị vững mạnh toàn diện, nhiều năm dẫn đầu trong
khối các Huyện, hoàn thành xuất sắc mọi chỉ tiêu kế hoạch được giao Ngay từ
Trang 14đầu năm 2003, toàn thể CBCNV Bưu điện Huyện Gia lâm đã phát huy hết mọi
khả năng, với tinh thần thi đua lao động sáng tạo, quyết tâm phấn đấu hoàn thành
tốt kế hoạch trên giao Trình độ chuyên môn của CBCNV tính đến 31/12/2003,
100% đã được đào tạo qua các trường chuyên ngành: Có 57% trình độ Cao
đẳng_Đại học, 7% trình độ trung cấp, 36% đều đã qua các trường đào tạo chuyên
ngành
+ Nhận rõ chức năng nhiệm vụ của đơn vị, bám sát chủ trương định hướng
của ngành và BĐHN, lấy phục vụ tốt làm trọng tâm, tạo động lực cho sản xuất kinh
doanh phát triển Tranh thủ cao nhất, có hiệu quả sự lãnh đạo của BĐHN và Huyện
trong đầu tư phát triển mạng lưới Những năm qua Bưu điện Huyện Gia lâm đã:
+ Chú trọng đổi mới tổ chức sản xuất, bố trí hợp lý lao động, đổi mới
phong cách phục vụ, tổ chức vận động cán bộ công nhân viên thực hiện tốt chỉ thị
số 27/CT-ĐU của Đảng ủy Bưu điện Hà Nội
+ đẩy mạnh tiếp thị, tìm hiểu nắm bắt nhu cầu thị trường, đề ra chương
trình phát triển mạng lưới để vừa phục vụ tốt vừa kinh doanh đạt hiệu quả cao
+ Thường xuyên duy trì, củng cố sự đoàn kết nhất trí trong tập thể lãnh đạo
đơn vị, đề cao vai trò cá nhân, phát huy dân chủ, công khai làm rõ trách nhiệm và
quyền lợi của mọi người
+ Hợp lý hóa dây chuyền, tổ chức sản xuất hợp lý, giảm trung gian, không
ngừng nâng cao chất lượng mạng thông tin, cải tạo mạng đi dôi với phát triển
+ Quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ và tăng cường các biện
pháp kiểm tra để phát hiện sai sót, có biện pháp uốn nắn kịp thời nên giữ vững chất
lượng thông tin và chất lượng các khâu nghiệp vụ
Cùng với đà phát triển của đất nước vào ngày 01/03/2004 Bưu điện Huyện
Gia lâm đổi tên thành Bưu điện Trung tâm 5 theo quyết định của Tổng Giám đốc
Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Giám đốc Bưu điện Hà Nội
(BĐHN) và có tên giao dịch là THE CENTER POST OFFICE 5
Trang 152 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Tại Việt Nam, Bưu điện được coi là một ngành cung cấp dịch vụ cơ sở hạ
tầng kinh tế xã hội phục vụ chính sách phát triển của Đảng và nhà nước trong việc
thực hiện đường lối chiến lược và sách lược về Kinh tế, Chính trị, Văn hóa, Xã
hội, An ninh - Quốc phòng Do vậy, Bưu chính Viễn thông của ta mang tính chất
vừa kinh doanh vừa phục vụ
Bưu điện Trung tâm 5 được Nhà nước mà trực tiếp là BĐHN quản lý nên
bộ máy quản lý và sản xuất kinh doanh của công ty do BĐHN tổ chức và quản
lý.cụ thể sơ đồ bộ máy quản lý và kinh doanh của Công ty như sau:
Giám đốc:
- Phụ trách chung
- Trực tiếp chỉ đạo các công tác sau:
+ Công tác tài chính, kế toán, kiểm toán
+ Công tác kế hoạch đầu tư, xây dựng cơ bản
+ Công tác quản lý khối Bưu chính
Phó Giám đốc:
- Công tác TCCB – LĐTL
- Công tác kỹ thuật, các nghiệp vụ về Bưu chính và Phát hành Báo chí
- Công tác an toàn lao động
Các phòng ban chức năng:
Trang 16Bộ phận sản xuất kinh doanh trực tiếp:
- Khai thác Đức giang, Gia lâm, Yên viên, Trâu quỳ
- Vận chuyển Bưu chính
3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán
Bộ máy kế toán của công ty Bưu điện Trung tâm 5 hình thành và phát triển
cùng với sự ra đời và phát triển của công ty Bộ máy này được tổ chức gọn nhẹ,
phù hợp với cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty Do đặc điểm là một đơn vị
trực thuộc Bưu điện TP Hà Nội và ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam lên
Khai thác
Đức
giang
Khai thác Gia lâm
Khai thác Yên viên
Khai thác Châu quỳ
Vận chuyển Bưu chính
KT
Phòng TC-PTTB
Phòng K.Soát
Phòng T.Hợ
p
Phòng
NV BC-P.GIÁM ĐỐC
Trang 17được hạch toán toàn ngành, công tác kế toán của công ty mang tính chất độc lập
chưa đầy đủ
Bộ phận kế toán của Công ty sau khi đã hoàn thành các bảng cân đối kế
toán, báo cáo tài chính theo biểu mẫu quy định sẽ chuyển lên Phòng Kế toán Tài
chính của BĐHN là đơn vị ngành dọc quản lý trực tiếp Một chuyên viên chuyên
quản của Phòng Tài chính – Kế toán thống kê BĐHN chịu trách nhiệm theo dõi
hoạt động kế toán tài chính cho Công ty Sau khi các dữ liệu kế toán của các đơn
vị trực thuộc BĐHN, trong đó có Bưu điện Trung tâm 5 được tập hợp, cân đối,
kiểm tra…Phòng Tài chính – Kế toán Bưu điện Hà Nội sẽ tiếp tục báo cáo lên
Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam để xác định kết quả kinh doanh,
hạch toán lỗ lãi toàn ngành
Phòng Tài chính – Kế toán của Công ty có chức năng giúp Giám đốc chỉ
đạo và thực hiện toàn bộ công tác kế toán tài chính theo quy định của Nhà nước,
tổ chức thu thập và xử lý thông tin kinh tế phục vụ cho công tác quản lý Thúc
đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh và thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo theo quy định Sau đây là sơ đồ bộ
máy kế toán của Bưu điện Trung tâm 5:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN
Kế toán trưởng
Thủ quỹ
Kế toán
Thanh
toán
Kế toán Tổng hợp
Kế toán Vật tư
Kế toán của các đơn vị trực thuộc
Kế toán Ngân
h ng
Kế toán
H ng hóa
Trang 18Trong bộ máy kế toán ở Công ty, Kế toán trưởng là người đứng đầu, chịu
trách nhiệm chung về công tác kế toán tài chính của Công ty Phân công công việc
cụ thể trong phòng Kế toán Tài chính như sau:
- Kế toán thanh toán: Làm nhiệm vụ viết phiếu thu chi, theo dõi thanh toán
- Kế toán ngân hàng: phụ trách tài khoản 112
- Thủ quỹ: Làm nhiệm vụ thu chi tiền mặt, lập báo cáo quỹ hàng ngày
- Kế toán tổng hợp: Tổng hợp toàn bộ về mặt vật liệu, giá thành, tài sản cố
định, lập các báo biểu kế toán, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh
doanh vào cuối quý…
Các phần hành kế toán của Công ty tuy nhiệm vụ khác nhau nhưng giữa các
bộ phận có sự liên kết chặt chẽ, mật thiết trong phạm vi chức năng và quyền hạn
của mình
V THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG, PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG
TY
1 Các loại lao động trong công ty
Lao động trong công ty có tính chuyên môn hóa rất cao Mỗi loại lao động
đảm nhiệm một lĩnh vực dịch vụ riêng biệt, ngoài bộ máy quản lý và các phòng
ban chức năng Công ty Bưu điện Trung tâm 5 có các loại lao động sau:
Các chuyên viên, kỹ sư, kỹ thuật viên phụ trách các vấn đề về kỹ thuật của
công ty
Nhân viên vận chuyển, nhân viên thu cước, nhân viên bảo vệ, nhân viên
lao công tạp vụ…
Trang 192 Hình thức lương hiện nay ở công ty
Như đã trình bày ở phần trước, Công ty Bưu điện Trung tâm 5 là đơn vị
trực thuộc Bưu điện TP Hà Nội và tuân thủ quy định hạch toán toàn ngành của
ngành Bưu chính Quỹ tiền lương của Công ty được xác định căn cứ vào các yếu
tố: Mức độ thực hiện doanh thu trong tháng, đơn giá tiền lương Đơn giá tiền
lương của Công ty được cơ quan quản lý cấp trên là Bưu điện TP Hà Nội tính
toán Công thức xác định quỹ lương của Công ty như sau:
Quỹ lương thực hiện năm = Đơn giá tiền lương x Doanh thu thực hiện
Ví dụ: Trong năm 2000, đơn giá tiền lương của công ty là 41đ/1000đ doanh thu
Nghĩa là: với doanh thu thực hiện trong năm 42 tỷ, chất lượng loại I ta có thể tính
toán quỹ lương tối đa của công ty trong năm là: 42tỷ x 41/1000 = 1,722tỷ đồng
3 Thực trạng phân phối tiền lương tại Công ty trong 3 năm gần đây
Để phân tích tình hình phân phối tiền lương của Công ty ta có thể xem xét
các số liệu sau:
Quỹ lương thực hiện trong các năm: 2001, 2002, 2003
Năm Doanh thu
thực hiện
(Tỷ đồng)
Quỹ lương thực hiện (Tỷ đồng)
Đơn giá tiền lương thực hiện (/ 1000đ doanh thu)
Mức lương trung bình thực hiện (Triệu)
Theo như bảng số liệu trên thì mức chi phí tiền lương so với doanh thu
chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong doanh thu Tỷ lệ chi phí như trên rất có lợi cho sản xuất
kinh doanh (Ví dụ số liệu năm 2002: Lương 2,026 tỷ đồng so với 58 tỷ đồng
doanh thu, đạt 3%)
Nhìn vào bảng số liệu cho ta thấy đơn giá tiền lương (Tính trên 1000đ
doanh thu) liên tục giảm từ năm 2001 đến 2003, mặc dù doanh thu liên tục tăng
điều đó không tạo động lực để CBCNV trong toàn bộ Công ty tìm mọi cách để
nâng cao doanh thu, vượt kế hoạch ở mức cao hơn
Trang 20Tại Bưu điện Trung tâm 5, quỹ lương thực hiện bao gồm 2 thành phần:
Lương chính sách và phần lương khoán
Phần lương chính sách gồm:
- Lương cấp bậc (sx) thực tế của CB-CNV
- Các loại phụ cấp khác
Phần lương khoán:
Là quỹ thực hịên sau khi đã trừ vào phần lương chính sách Phần lương
khoán được trả cho các bộ phận theo các chỉ tiêu khoán và phần lương khoán dựa
vào các chỉ tiêu khoán sau: Tổng hệ số chức danh của tổ (đội), mức độ hoàn thành
kế hoạch và chất lượng công tác
Việc thanh toán lương hàng tháng cho CNV được tiến hành thành 3 kỳ: 2
kỳ tạm ứng vào các ngày 05 và 15 hàng tháng, kỳ quyết toán vào ngày cuối tháng
Do đặc thù SXKD và hạch toán của Công ty và nhằm đảm bảo mức thu
nhập tương đối ổn định cho CNV Hàng tháng, kế toán lương căn cứ vào chất
lượng công tác của các đơn vị phân bổ quỹ lương cho các đơn vị từ tổng quỹ
lương tháng tạm tính của Công ty
Mức lương bình quân đầu người của mỗi tháng được tạm tính dựa trên cơ
sở mức độ hoàn thành doanh thu của tháng trước đó, có nghĩa là doanh thu của
tháng 2 sẽ được dùng làm căn cứ để tính lương tháng 3 Cần nhấn mạnh mức
lương bình quân đầu người hàng tháng chỉ là tạm tính vì chỉ đến thời điểm cuối
năm, sau khi khóa sổ kế toán và Bưu điện TP Hà Nội duyệt báo cáo doanh thu
thực hiện của Công ty thì Công ty mới có số liệu quỹ lương năm chính xác Từ
đó, kế toán lương mới có cơ sở quyết toán lương năm Nếu trong năm chưa chia
hết quỹ lương thì sẽ chia bổ sung lương khoán cho CNV trong Công ty
Trang 21VI HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
1 Hạch toán tiền lương
Hach toán tiền lương chính sách
Vào ngày đầu tiên của tháng các đơn vị thuộc Công ty hoàn thành bảng
chấm công của tháng trước, tập hợp các chứng từ hưởng lương BHXH và gửi tới
bộ phận kế toán để kiểm tra đối chiếu Trên cơ sở các chứng từ lao động tiền
lương, kế toán sẽ tính toán lương chính sách cho các đơn vị theo quy định và
Đối tượng đang trong thời gian thử việc hoặc tập sự được trả bằng 80%
mức lương nghề hoặc công việc được thỏa thuận trong hợp đồng thử việc hoặc
hợp đồng lao động
Tính các loại phụ cấp:
- Phụ cấp chức vụ lãnh đạo: Tính cho các chức vụ Giám đốc, Phó Giám đốc,
Trưởng Phó Phòng ban Chức năng
- Phụ cấp lưu động: Tính theo mức 3 hệ số 0,2 của mức lương tối thiểu
290.000đ là 58.000đ Nếu làm việc trên 4 giờ thì được tính cả ngày, nếu làm từ 2
đến 4 giờ thì được tính nửa ngày còn nếu dưới 2 giờ thì không được tính phụ cấp
Những ngày nghỉ việc như: Nghỉ lễ, ốm đau, điều trị, điều dưỡng…đều không
được hưởng phụ cấp lưu động
- Phụ cấp trách nhiệm: Cách tính trả phụ cấp:
Mức phụ cấp 1 tháng = Mức lương tối thiểu * Hệ số phụ cấp theo quy định
- Phụ cấp làm đêm: Tính theo công thức:
Phụ cấp = Tiền lương cấp bậc hoặc
chức vụ (Kể cả PC chức vụ)
x Số giờ làm đêm
x 30% (Hoặc
40%)
Trang 22Số giờ tiêu chuẩn quy định trong tháng (208)
thực tế
Trong đó mức 30% áp dụng chung đối với những công việc không thường
xuyên làm việc vào ban đêm, mức 40% áp dụng đối với những công việc thường
xuyên làm việc về theo ca (Chế độ làm 3 ca)
Các chế độ phụ cấp khác như phụ cấp độc hại, phụ cấp thâm niên ngành
thực hiện theo mức quy định của ngành Bưu điện: Có 4 mức (Hệ số: 0,1- 0,2-
0,3-0,4) so với mức lương tối thiểu
Công ty Bưu điện Trung tâm 5 áp dụng chương trình tính lương trên máy vi
tính Kế toán lương cập nhật số liệu, những thay đổi về bậc lương, hệ số phụ cấp,
những biến động về nhân sự (Nếu có) và in ra bảng tổng hợp thanh toán lương
chính sách
Sau đây là cách hạch toán lương chính sách tại một bộ phận cụ thể trong
công ty Bưu điện Trung tâm 5:
Ví dụ: Chị Lương Thị Liêu Chức danh: Thủ trưởng đơn vị Hệ số: 2,3
Lương cấp bậc = Hệ số lương cấp bậc x 290.000
= 2,3 x 290.000 = 667.000 Lương sx = 667.000/26 x 25 = 641.346 đ
Phụ cấp thâm liên = 290.000 x 0,1 = 29.000
Tổng lương chính sách = Lương sx + Phụ cấp
= 29000 + 641.346 = 673.046 đ Sau khi các đơn vị thanh toán tiền lương chính sách, kế toán ghi sổ chi tiết
TK 3341101 như sau: (Xem bảng 1_Phần phụ lục)
Hạch toán tiền lương khoán
Quỹ lương khoán của Công ty cũng như các đơn vị khác:
Σ Quỹ lương khoán của Cty = Σ Quỹ lương khoán - Σ Quỹ lương chính sách
Căn cứ để phân bổ lương khoán cho các đơn vị gồm: Nội quy lương khoán,
Σ Hệ số lương khoán theo chức danh của CBCNV trong đơn vị, hệ số chất lượng
Trang 23= Σ Quỹ lương khoán của Công ty x Σ Hệ số lương
khoán phân phối của đơn vị
Σ Hệ số lương khoán theo chức danh
x Hệ số chất lượng
NỘI QUY LƯƠNG KHOÁN
PHẦN I: QUY ĐINH ĐỐI VỚI CÁC TẬP THỂ, ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC BƯU
ĐIỆN HÀ NỘI:
Nguồn để trả lương bao gồm:
- Quỹ lương của đơn vị trực thuộc BĐHN giao
- Kết quả sản xuất kinh doanh khác
Phân cấp sử dụng quỹ tiền lương:
- Căn cứ vào quỹ lương kế hoạch được Tổng công ty giao sau khi đã để lại
5% lập quỹ lương dự phòng, Giám đốc Bưu điện TP Hà Nội giao quyền cho các
đơn vị quỹ tiền lương kế hoạch trên cơ sở các yếu tố sau:
+ Kế hoạch doanh thu của các đơn vị được Giám đốc giao
+ Lao động định biên
+ Các hệ số lương (Lương cấp bậc và các khoản phụ cấp lương)
- Quỹ lương dự phòng phải được phân bổ trước khi quyết toán năm tài
chính
- Quỹ tiền lương kế hoạch các đơn vị được giao tương ứng với tỷ lệ % hoàn
thành kế hoạch là 100% và bảo đảm chất lượng tốt Nếu không hoàn thành kế
hoạch và không đảm bảo chất lượng phải giảm trừ theo quy định của BĐHN
- Quỹ tiền lương gồm 2 phần:
+ Phần lương chính sách: Được trả căn cứ vào thời gian công tác, hệ số
lương cấp bậc, các khoản phụ cấp và lương Bưu chính xã (Nếu có)
Trang 24+ Phần lương khoán: Chỉ sử dụng vào trả lương khoán cho CBCNV và
không được sử dụng vào bất kỳ mục đích nào
Cách phân phối lương khoán:
- Quỹ tiền lương khoán là quỹ tiên lương thực hiện sau khi đã trừ phần
lương chính sách Phần lương khoán được trả cho các đơn vị theo chỉ tiêu:
+ Doanh thu hoặc khối lượng nhiệm vụ được giao
+ Tổng hệ số chức danh của đơn vị
+ Chỉ tiêu chất lượng công tác
- Giám đốc giao quyền cho Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc xem xét tùy
thuộc chất lượng của từng đơn vị mà quyết định giao kế hoạch quỹ lương cho các
đơn vị cấp dưới và xây dựng công khai 1 bản quy đinh về chấm điểm chất lượng
công tác cho tổ
PHẦN II: PHÂN PHỐI THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG:
Các chỉ tiêu khoán cá nhân:
- Hệ số chức danh cá nhân
- Điểm năng suất
- Chất lượng công tác
Cách tính lương khoán cá nhân:
Lương khoán cá nhân = Quỹ lương khoán tổ/ Tổng hệ số khoán cá nhân x Hệ
+ Tiền lương khoán
+ Các khoản thu nhập từ
sx khác
- Các khoản phải nộp theo quy định
PHẦN III: TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Thành lập hội đồng phân phối lương khoán:
- BĐHN có Hội đồng phân phối lương khoán gồm:
Trang 25+ Giám đốc là chủ tịch Hội đồng
+ Chủ tịch Công đoàn là Phó chủ tịch Hội đồng
+ Bí thư hoặc Phó bí thư Đảng ủy là ủy viên
+ Trưởng phòng TCCB-LĐTL và một số phòng ban chức năng là ủy viên
+ Giúp việc Hội đồng có Tổ chuyên viên thường trực Hội đồng
- Tại các Công ty, Trung tâm, Bưu điện Huyện có Hội đồng phân phối lương
khoán ở cấp đơn vị cà có chuyên viên giúp việc Hội đồng
Phân công trách nhiệm và chế độ làm việc:
- Phân công trách nhiệm:
+ Lãnh đạo các đơn vị phải xem xét và xác định hệ số chức danh cho từng
cá nhân thuộc đơn vị mình căn cứ vào chức danh, nhiệm vụ công việc của mỗi
người
+ Các chức năng của từng đơn vị quản lý BĐHN cung cấp đầy đủ số liệu
chấm điểm cho Tổ thường trực Hội đồng đúng thời gian và lịch quy định theo biểu
thống nhất của từng loại nghiệp vụ
+ Các đơn vị trực thuộc phải tự gửi bảng chấm điểm các chỉ tiêu yêu cầu
để thường trực tập hợp, theo dõi, đối soát với bảng chấm điểm của các chức năng và
lập bảng tổng hợp trình Hội đồng
- Chế độ làm việc của Hội đồng:
+ Tập trung, dân chủ, Chủ tịch Hội đồng là người quyết định và chịu trách
nhiệm
+ Hàng tháng, nhóm thường trực tổng hợp số liệu và dự thảo quyết định
xếp loại chất lượng cho các đơn vị
+ Sau khi có quyết định, nếu có gì chưa rõ thì các đơn vị có quyền khiếu
nại để Hội đồng xem xét điều chỉnh vào tháng sau (Nếu có)
Quy đinh thời gian làm việc của Hội đồng:
- Hàng tháng, từ ngày 26 đến ngày 30 các đơn vị sản xuất và chức năng báo
cáo số liệu cho tổ thường trực Hội đồng lương khoán