1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đọc và phân tích một bài báo khoa học

23 1,5K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 430,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Mục đích của đánh giá một nghiên cứu là thông qua một quy trình đánh giá nghiêm túc để xem các thông tin được trình bày trong nghiên cứu đó có giá trị khoa học hay không... • Đối với

Trang 1

Đọc và phân tích một bài báo khoa học

Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đình Nguyên

Trang 2

Mục tiêu bài giảng

• Sau buổi trao đổi này, dự thính viên có

thể:

– Nắm được nguyên tắc căn bản để có thể đọc được một nghiên cứu dịch tễ học.

– Vận dụng các kiến thức để có thể phê bình một nghiên cứu dịch tễ học một cách nghiêm túc.

Trang 3

Các bước chính khi phân tích

một nghiên cứu dịch tễ học

Câu hỏi nghiên cứu là gì?

Nghiên cứu này thuộc loại gì?

Đối tượng và lựa chọn đối tượng?

Các đo lường (measurements)?

Sử dụng phương pháp thống kê

thích hợp?

Kết quả trình bày có rõ ràng.

bám vào mục tiêu nghiên cứu?

Bàn luận có đi vào vấn đề chính, Thảo luận và giải thích những “bất thường”

quan sát trong quá trình phân tích;

Có nêu ưu, nhược điểm của nghiên cứu?

Trang 4

Nghiên cứu dịch tễ vs thí nghiệm

• Dịch tễ học không phải là một khoa học phòng thí nghiệm.

• Không thể lặp lại được một nghiên cứu dịch tễ học một cách chuẩn xác như một thí nghiệm hoá học.

• Nghiên cứu dịch tễ học chấp nhận những errors và bias tiềm ẩn, thông qua đó để diễn dịch kết quả.

• Mục đích của đánh giá một nghiên cứu là thông

qua một quy trình đánh giá nghiêm túc để xem các thông tin được trình bày trong nghiên cứu đó có giá trị khoa học hay không.

Trang 5

Câu hỏi nghiên cứu là gì?

• Câu hỏi nghiên cứu mô tả hay nghiên cứu phân tích?

Có nghĩa là nghiên cứu này có mục đích

để điều tra một hay nhiều giả thuyết nào không hay chỉ đơn thuần là một thống kê

mô tả (tần suất bệnh chẳng hạn).

• Câu hỏi nghiên cứu có rõ ràng, mạch lạc

và ngắn gọn không?

Trang 6

Mô hình nghiên cứu?

• Đây là loại nghiên cứu gì?

• Loại nghiên cứu này có phù hợp với câu hỏi

nghiên cứu không?

• Đối với giả thuyết mới: mọi loại hình nghiên cứu đều có thể áp dụng.

• Đối với một vấn đề không mới: nếu đã có một

nghiên cứu có giá trị cao hơn và kết quả rõ ràng, thì nghiên cứu mới ở bậc thấp hơn sẽ ít có cơ

hội đóng góp thêm vào kho tàng tri thức.

Trang 7

Hiệu quả của BCG trong phòng chống bệnh

phong

Tạp chí Y học Thực hành, 10/2001

http://www.cimsi.org.vn/tapchi/tcyhth/nam2001/ bai21-10-2001.htm

Trang 8

Mục đích nghiên cứu

Nhận xét:

Mục đích nghiên cứu thích hợp hơn là: “Đánh giá mối tương quan giữa tiền sử tiêm vaccine BCG và nguy

cơ mắc bệnh phong”

Chính xác hơn: “Đánh giá mối tương quan giữa nguy

cơ mắc bệnh phong và tiền

sử tiêm chủng vaccine BCG”

Trang 9

Cách tuyển đối tượng?

• Địa điểm nghiên cứu: cộng đồng, bệnh viện…?

• Nghiên cứu bệnh-chứng: các đối tượng có được tuyển lựa ngẫu nhiên? Địa điểm nghiên cứu có tốt không? (Thí dụ cộng đồng tốt hơn bệnh viện).

• Nghiên cứu quan sát: tỷ lệ số đối tượng còn theo đuổi đến cuối kỳ nghiên cứu?

• Nghiên cứu can thiệp: Các đối tượng có được

sắp xếp ngẫu nhiên vào hai nhóm không?

Trang 10

Đo lường (measurements)

• Yếu tố nguy cơ hay biến độc lập: Các yếu tố đó

là gì? Được đo lường như thế nào? Trong

nghiên cứu bệnh-chứng: đo lường yếu tố phơi nhiễm có độc lập với tình trạng bệnh (case) và chứng (control)?

• Kết cục (outcome) hay biến phụ thuộc: là gì? Đo lường như thế nào?

• Cả hai yếu tố nguy cơ và kết cục có

non-different errors hoặc measurement bias?

Trang 11

Yếu tố gây nhiễu (confounder)

• Có nhận dạng được các yếu tố gây nhiễu?

• Có xử lý các yếu tố nhiễu thông qua thiết

kế nghiên cứu hoặc qua phân tích?

• Các yếu tố nhiễu có được lượng hoá với non-different errors và measurement bias?

Trang 12

Chất liệu và phương pháp

1 Ðối tượng:

a Bệnh nhân: 90 bệnh nhân

phong đã và đang được điều trị

bằng hóa trị liệu (MDT) tại các tỉnh

Các bệnh nhân phong được

nghiên cứu và nhóm chứng phải

có các đặc điểm tương đối giống

Nhận xét:

• Không nêu cụ thể đối tượng nghiên cứu lấy mẫu từ bệnh viện hay cộng đồng hay trong cộng đồng người bệnh phong (làng nuôi dưỡng, làng tự lập).

• Thời gian được chẩn đoán bệnh (phong) và không thấy nêu là phong mới phát (incident) hay phong đã cũ (prevalent).

• Nêu số lượng bệnh nhân và tỷ lệ kết xứng nhưng không nêu lý do lấy cỡ mẫu.

• Không định nghĩa và diễn dịch các thể bệnh.

• Không có tiêu chuẩn xác định thế nào là bệnh nhân phong (vì cho đến nay, chẩn đoán phong vẫn còn là một vấn đề tranh cãi, cần phải chọn một tiêu chuẩn xác định).

Trang 13

Phân tích thống kê

• Nghiên cứu có cân nhắc đến tính cỡ mẫu ban đầu không?

• Phương pháp thống kê áp dụng có thích hợp không?

• Hình thức trình bày thống kê có thích hợp không? Kết quả có nhất quán không? Đủ

để trả lời câu hỏi nghiên cứu không?

Trang 14

Chất liệu và phương pháp

2 Phương pháp nghiên cứu

Là phương pháp "Bệnh - Chứng",

điều tra, khám theo từng cặp và ghi

vào các mẫu riêng sau đây:

a Bệnh nhân gồm các thông

tin:

- Ðiều kiện kinh tế

- Tiêm BCG (tìm sẹo BCG)

- Bị bệnh lao không? Nếu có,

ngày bị? Ðã điều trị chưa?

- Bị bệnh lao không? Nếu có,

ngày bị? Ðã điều trị chưa?

- Kết quả

Nhận xét:

Bias về khả năng nhớ thông tin của bệnh nhân Không thấy nêu có cách nào kiểm chứng các thông tin này.

Không thấy mô tả các chất liệu nghiên cứu và cách thức tiến hành xét nghiệm (tiêm BCG), đánh giá kết quả.

Không thấy tìm hiểu vấn đề đáp ứng miễn dịch (BCG) theo thời gian dùng (sớm hay muộn), liều tới ngày khởi phát.

Không thấy nêu vấn đề cam đoan tham gia nghiên cứu của bệnh nhân và không có nêu nghiên cứu đã thông qua Uỷ ban Y đức cũng như tuân thủ theo hiệp ước Helsinki.

Không có đề cập yếu tố nhiễu và các yếu tố độc lập khác.

Trang 15

Kết quả nghiên cứu

I

TT

BT Nhóm PB

BB

PL

LL Nhóm MB

1 Nhóm bệnh nhân

Nhận xét thiếu hẳn phần mô tả đặc tính của đối tượng tham gia nghiên cứu, của nhóm bệnh cũng như nhóm chứng.

Trang 16

Kết quả nghiên cứu

        

<0,05    

     

>0,05 

Cộng  90  16  17,78  180  59  32,41    

Trang 17

Bàn luận và kết luận

• Bàn luận có bám sát vào các vấn đề nêu lên

trong kết quả không?

• Có giải thich những “bất thường” trong kết quả một cách thoả đáng không?

• Có đề cập đến điểm mạnh và yếu của nghiên cứu không?

• Kết luận có ăn nhập với kết quả tìm được và có trả lời được câu hỏi nghiên cứu không?

Trang 18

Bàn luận

Nhận xét và bàn luận

1 Vai trò của BCG trong việc kích thích đáp ứng miễn dịch:

Năm 1910 trực khuẩn lao bò đã được Calmette và Guérui cấy nhiều lần liên tiếp trong 13 năm trên môi trường mật bò để làm giảm độc lực, mất khả năng nhân lên nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên Chính

vì vậy, từ năm 1930, loại vacxin này đã được tiêm chủng để phòng bệnh lao Kết quả phòng chống lao của BCG đã được ghi nhận trên toàn thế giới Dựa vào những kết quả nghiên cứu về kích thích miễn dịch qua trung gian tế bào (CMI: Cell Mediated Immunity) của BCG, nhiều tác giả đã dùng BCG để điều trị một số bệnh có suy giảm sức đề kháng [1,2,3]

ở Việt Nam, Phạm Ngọc Thạch là người đầu tiên đề xuất sử dụng BCG để phòng lao, điều trị tăng

cường miễn dịch trong ung thư

Năm 1992, Gormus và cộng sự [5] đã thử nghiệm bằng cách tiêm cho khỉ (đã nhiễm M.leprae) BCG và BCG+M.leprae đã giết chết Kết quả cho thấy, so với nhóm chứng (không được tiêm BCG và

BCG+M.lepra chết) đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào ở nhóm thực nghiệm được tăng lên rõ rệt, đặc biệt là nhóm được tiêm BCG+M.leprae chết

Keya và cộng sự cũng nhận được kết quả tương tự khi thấy rằng BCG+M.leprae (chết) đã kích thích các đại thực bào, tăng cường đáp ứng CMI cho các khỉ đã tiêm M.leprae [6]

Water đã sử dụng BCG+Vaccin M.Vaccae để kích thích miễn dịch cho các bệnh nhân phong cũng thấy chỉ số (chuyển dạng lympho bào) tăng rõ rệt, và chỉ số vi trùng giảm một cách có ý nghĩa so với nhóm không được tiêm vaccin

Trần Hậu Khang (1983) đã sử dụng BCG kích thích miễn dịch cho các bệnh nhân phong thể u (BL và LL) và kết quả cho thấy: BCG đã hồi phục phản ứng Mantoux (từ âm tính trở thành dương tính) và làm

Trang 19

Bàn luận (tt)

2 Vai trò của BCG trong phòng bệnh phong

Trực khuẩn gây bệnh phong cùng họ Mycobacterium với trực khuẩn lao Chính

vì vậy người ta cho rằng có miễn dịch chéo giữa hai loại trực khuẩn này Convit

và cộng sự [2] cho rằng BCG kích thích các tế bào lympho T, hoạt hóa các đại thực bào để chống lại các tác nhân gây bệnh phong Các tác giả này đã tiến

hành các thử nghiệm điều trị các bệnh nhân phong bị suy giảm CMI (thể BL và LL) bằng BCG đơn thuần và BCG phối hợp với lepromin Kết quả cho thấy đáp ứng CMI với kháng nguyên M.leprae tăng lên rõ rệt Tuy nhiên vai trò của BCG trong phòng chống bệnh phong vẫn còn được tranh cãi Nhiều thực nghiệm ở các quốc gia khác nhau đã cho các kết quả khác nhau về hiệu quả của vaccin này trong bảo vệ cơ thể chống lại trực khuẩn M.leprae

ở Venizuela, một nghiên cứu hồi cứu 63.878 người tiếp xúc với bệnh nhân

phong cho một kết quả khá thú vị: tỷ lệ bị lây bệnh phong ở những người tiếp xúc song không được tiêm BCG cao gấp 4 lần so với những người tiếp xúc nhưng đã được tiêm phòng BCG [2]

Vai trò bảo vệ của BCG được đánh giá khác nhau khi thử nghiệm ở các nước

Trang 20

Bàn luận

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ sẹo BCG ở các bệnh nhân phong nhóm MB và những người chứng của họ là khác nhau

không đáng kể (P>0,05) ÐIều này có thể giảI thích rằng dù đã được

tiêm BCG nhưng những người này vẫn bị phong MB Hay nói cách

khác BCG không có khả năng bảo vệ con người khỏi bị phong thể

nhiều vi trùng

Tuy nhiên kết quả khá thú vị đối với nhóm bệnh nhân PB Tỷ lệ sẹo

BCG của nhóm này thấp hơn hẳn so với những người chứng của họ

(P<0,05) Hay nói cách khác nếu được tiêm BCG, những người này có khả năng không bị phong PB

Đây là phần duy nhất trong mục bàn luận nhận xét kết quả của nghiên cứu

Trang 21

Kết luận

Kết luận

Qua các kết quả thu được, chúng tôi có thể kết luận rằng:

- BCG không có hiệu lực bảo vệ cơ thể khỏi bị phong thể nhiều vi trùng

- BCG có tác dụng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi bị phong thể ít vi trùng

Nhận xét:

Phần phân tích số liệu không có tiến hành một phân tích tương quan để có thể nêu ra kết luận trên.

Phân nhóm thể tách biệt chỉ nên điều chỉnh trong quá trình phân tích, vì tác giả

đã không cân nhắc đến yếu tố này trong quá trình xác định cỡ mẫu.

Đây là một loại matched case-control study, số liệu trình bày như trong kết quả không cho phép tiến hành một phương pháp phân tích thích hợp.

Trang 22

Thực hành

• Đánh giá một bài báo (không cần đánh giá phần bàn luận), chú ý các điểm chính:

– Câu hỏi nghiên cứu chính.

– Loại nghiên cứu.

– Yếu tố nguy cơ và kết cục.

– Yếu tố nhiễu.

– Phân tích thống kê.

Trang 23

Lời Cảm tạ

• Chúng tôi xin chân thành cám

ơn Công ty Dược phẩm Bridge Healthcare, Australia

đã tài trợ cho chuyến đi.

Ngày đăng: 25/08/2017, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w