1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG Thiền định và khoa học thần kinh

58 297 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sigmund Freud bắt đầu bằng con đường nghiên cứu giải phẫu học thần kinh , và tuyên bố năm 1914: « Chúng ta phải nhớ rằng tất cả những ý kiến tạm thời của chúng ta về tâm lý học sẽ có th

Trang 1

Thiền định và khoa học thần

kinh

Nguyên Phước

Trịnh Đình Hỷ

02/2011

Trang 2

• Não loài người: cơ quan phức tạp, tinh

vi, tuyệt diệu nhất

• được kiến tạo công phu, rốt ráo nhất trong lịch sử tiến hóa các loài vật

Sợi dây nối liền thể xác và

tâm thức: « chiếc nút của

thế giới » (Schopenhauer)

Trang 4

• Phát triển của tâm lý học :

– cuối thế kỷ 19 : tâm lý học thực

nghiệm (psychologie expérimentale), rồi tâm lý học ứng xử (psychologie

béhavioriste) : mọi quá trình tâm lý

phức tạp đều có thể đo được bằng thí nghiệm và sự quan sát ứng xử

– đầu thế kỷ 20 : phân tâm học

(psychanalyse), Freud, vai trò của

tiềm thức

Trang 5

Sigmund Freud bắt đầu bằng con đường nghiên cứu giải phẫu học thần kinh , và tuyên bố năm 1914:

« Chúng ta phải nhớ rằng tất cả những ý kiến tạm thời của chúng ta

về tâm lý học sẽ có thể tìm thấy một ngày kia một cấu trúc hữu cơ (organique) làm nền tảng ».

Trang 6

• Phong trào khoa học nhận thức :

(psychologie), nhằm tìm hiểu trực tiếp

sự vận hành của tâm não bằng các

phương pháp khoa học (lý, hóa,v.v.)

Trang 7

nhờ những tiến bộ của chẩn đoán hình

ảnh

Khoa học thần kinh (neurosciences) :

« khoa học của thế kỷ XXI »?

Trang 8

« Thế kỷ vừa qua quan tâm nhiều đến axit nucleic và

protein Thế kỷ sắp tới sẽ tập trung vào ký ức và sự ham

muốn Liệu sẽ trả lời được những câu hỏi đó chăng ?»

François Jacob (giải Nobel Y học 1965)

« Thế kỷ XX là thế kỷ của di truyền học, thế kỷ XXI sẽ là thế

kỷ của khoa học thần kinh »

Francis Crick (giải Nobel Y học 1962)

Trang 9

Thiền định được đặc biệt khoa

học chú ý

• như một hoạt động tâm thức, đặc biệt

phát triển trong Phật giáo, nhưng không phải chỉ riêng trong Phật giáo, và ngay cả thế tục

• đã mang lại thêm hiểu biết về chức năng cao

• mở ra một con đường mới trong y học

• phương pháp tập luyện tâm thức  thăng bằng và sức khoẻ tâm-thân / điều trị được một số bệnh liên quan đến stress

Trang 11

• « Trước hết, hãy nghiên cứu về những tác dụng tích cực của thiền định Nếu thấy kết quả tốt, xin quí vị hãy dậy lại điều đó cho xã hội, trong tinh thần hoàn toàn thế tục, để cho mọi người

đều lợi lạc »

(First investigate the positive effects of meditation If you find it successful, please teach it to your society in a purely secular manner in order to benefit everyone).

Tenzin Gyatso, đức

Đạt Lai Lạt Ma thứ

14, mở đầu Hội

thảo năm 1987

Trang 12

• « Đây không phải là một vấn đề niềm tin và tín ngưỡng, mà đúng hơn là một

ưu tư về đạo đức và luân lý

Trách nhiệm làm người thúc đẩy chúng

ta phải dùng trí tuệ để hiểu biết thiên nhiên và sự vận hành của tâm thức »

(Il ne s’agit pas d’une affaire de foi et de croyance , mais plutôt d’une préoccupation éthique et morale

Il est de notre responsabilité d’être humain d’utiliser notre intelligence pour comprendre la nature et le fonctionnement de notre esprit). 

Trang 13

• Đóng góp tích cực của các tăng sĩ,

thiền giả vào các thí nghiệm khoa

học, như ghi và đo hoạt động các

vùng não trong khi thiền định, bằng những máy móc hiện đại, như điện não đồ (EEG) đa điện cực , thế điện gợi nên (ERP), từ trường đồ (MEG),

cắt lớp phát positons (PET-scan) và

cộng hưởng từ chức năng (fMRI)

• Những phương tiện này cho phép đo

và định vị hoạt động của các vùng

não mỗi ngày một thêm tinh vi,

chính xác ( 1 mm , vài chục milli giây ).

Trang 14

nhìn nghe

đọc Braille suy nghĩ

Trang 15

fMRI

Trang 16

.EEG 124-256 điện cực

Trang 17

Thiền định dưới mắt

nhà khoa học

• Định nghĩa: hoạt động tâm linh (hay tâm

thức) nhằm tập trung sự chú ý vào một vật (hay một việc), hoặc quan sát những gì xẩy

ra trong tâm thức, không gây tác động về trí thức cũng như cảm xúc

• Tiếng Anh và Pháp: meditation, nhưng

hoàn toàn khác với nghĩa meditation thông thường (suy nghĩ sâu về một vấn đề)

Trang 18

Tại Tây phương, người ta thường phân

biệt:

– thiền «siêu nghiệm» (transcendantal),

phát xuất từ truyền thống yoga Ấn Độ

– thiền «tỉnh thức» (mindfulness, pleine

conscience), là hình thức chính của

thiền trong đạo Phật, nhưng cũng có thể dùng trong khuôn khổ thế tục, như

phương pháp MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction).

Hai loại thiền

Trang 19

Khoa học thần kinh còn phân biệt :

1) Thiền « tập trung » (concentrative, focus attention), tương đương với

samatha (chỉ) trong đạo Phật Đối

tượng tập trung chú ý là một vật

hay một tác động (như hơi thở).

2) Thiền « mở rộng » (ouverte, open monitoring), tương đương với

vipassana (quán) trong đạo Phật

Người ta chỉ theo dõi kinh nghiệm tâm thức, mỗi lúc, không phản ứng.

Trang 20

Kết quả nghiên cứu khoa học trên thiền định

Còn sơ khởi, giới hạn và tạm thời, nhưng cho phép nghĩ rằng :

1) Thiền định có thể gia tăng sự chú ý và xử lý thông tin bởi não.

- Sự chú ý (attention): điểm gặp gỡ giữa khoa học thần kinh và đạo Phật

Trang 21

• Mỗi năm có khoảng 2000 báo cáo khoa học trên thế giới về « sự chú ý »!

• Sự chú ý (p sati , s smrti , hv niệm) , là

điểm then chốt của đạo Phật sati : chánh niệm

samma-• Satipatthana sutta (Kinh Tứ niệm xứ) :

Trang 22

• Mối quan tâm chính yếu của

thiền sinh.

• Câu chuyện của Thiền sư Ikkyu (Nhất Hưu), dòng Rinzai, thế kỷ XV:

- Nen (niệm) *

- Nen Nen

- Nen Nen Nen

- Nen có nghĩa là Nen

(*gồm chữ kim = hiện tại, trên chữ

tâm)

Trang 23

Thiền tập trung chú ý (méditation concentrative,

focus attention, FA)

Có 3 hệ thống thần kinh chuyên biệt liên quan tới trạng thái FA :

– 1) chú ý chọn lọc (attention

sélective)

– 2) chú ý kéo dài (attention

soutenue)

– 3) quan sát các mâu thuẫn

(monitoring des conflits)

Trang 24

• Chúng ta sẽ không đi vào chi tiết

của những kết quả thí nghiệm trên những phần khởi đầu, theo dõi và định hướng chú ý

• Nhưng chỉ tóm tắt là các nghiên

cứu thần kinh học cho thấy, về lâu dài, thiền tập trung mang lại những thay đổi như: ít cần cố gắng hơn,

tập trung chú ý có hiệu quả hơn, và trong một thời gian lâu hơn.

Trang 25

• EEG đa điện cực trên các vị tăng Tây Tạng có nhiều kinh nghiệm thiền :

– ngay từ khi bắt đầu thiền (quán từ

bi), xuất hiện những làn sóng dao động (oscillations) gamma cao tần,

biên độ rất cao và kéo dài, đặc biệt tại vùng trán-đỉnh bên

– cũng có mặt trên những người mới tập thiền, nhưng không rõ bằng

Trang 27

• Những dao động gamma này (gọi là dao động 40 Hz) cũng có mặt trong những

điều kiện tri giác (perception) bình

thường Nguồn gốc của chúng chưa được sáng tỏ lắm, nhưng có thể là một sự đồng

bộ hóa (synchronization) của hoạt động nơron, đưa tới một sự tri giác trọn vẹn và

ý thức

• Trong thiền định, dao động gamma đồng

bộ này làm cho tiếng động ồn ào

(background noise) thường có trong não tạm ngừng, và các vị thiền sư có khả

năng đặc biệt đưa tâm não của họ tới một trạng thái nhạy cảm (sensitivity) tối đa vàtiêu thụ năng lượng tối thiểu

Trang 28

2) Thiền có th ể ảnh hưởng

lâu dài trên cảm xúc

• Người ta thường cho rằng ảnh hưởng quan trọng nhất của thiền định là

trên sự chú ý, trên chất lượng trí

thức; người thiền nhiều sẽ tinh anh, sáng suốt, thông minh hơn

• Nhưng thật ra, những nghiên cứu

khoa học cho thấy rằng ảnh hưởng lớn nhất của thiền định là trên cảm xúc+++, chỉ số EQ.

Trang 29

• Trên mọi động vật, chức năng ban đầu của cảm xúc là gây nên một phản ứng thích hợp

để bảo tồn sự sống.

• Nhờ cảm xúc sợ hãi gây nên bởi sự phát

hiện một sự hăm dọa, cho nên con vật mới

có phản ứng tự vệ « chống trả hoặc trốn

chạy » (fight or flight), để tự cứu sống mình.

• Nhưng dĩ nhiên, khi cảm xúc tiêu cực như

vậy trở thành thường xuyên, quá độ, không kiểm soát nổi, không phù hợp với bối cảnh , thì chúng gây nên những rối loạn thần kinh

và ngay cả trên cơ thể.

Trang 30

• Đối với nhà thần kinh học, đa số các

bệnh tâm thần là do rối loạn cảm xúc :

lo lắng (anxiété), stress sau chấn

thương, trầm cảm (dépression), v.v và ngay cả bệnh tâm thần phân liệt

(schizophrénie)

• Đối với đạo Phật, cảm xúc tiêu cực

chính là vấn đề trung tâm của con

người Khổ là gì, nếu không phải là một

cảm xúc ? Và trong « tam độc », thì ít

ra thamsân đều thuộc về cảm xúc

Trang 31

Các vùng não liên quan

đến cảm xúc

Đường vòng viền (circuit limbique)

Hồi đai

Trang 32

Nhiều vùng tương tác, phối

Trang 33

• Thiền định làm cho người ta

nhạy cảm hơn trước những cảm xúc của tha nhân

Người ta có thể tưởng rằng thiền định làm cho con người trở nên lãnh đạm, vô tình trước những cảm xúc của người khác.

Kết quả nghiên cứu cho thấy ngược lại:

Hoạt động các vùng não liên quan tới sự

chia xẻ cảm xúc và sự đồng cảm

(empathy) (vùng đảo, chỗ nối thái đỉnh, đo bằng fMRI) gia tăng nhiều trong khi thiền định, so với lúc nghỉ ngơi

Trang 34

dương-• Thiền có thể làm giảm sự khởi

phát của những cảm xúc tiêu cực

Các thí nghiệm cho thấy có một tương quan ngược lại rất rõ rệt giữa kinh

nghiệm thiền định và sự kích hoạt của

hạch hạnh (amiđan): càng nhiều kinh nghiệm thiền thì amiđan càng ít bị

kích hoạt

Trang 35

Amiđan (thuộc vòng viền) = điểm khởi phát của

những cảm xúc tiêu cực (sợ hãi,

lo lắng, stress…)

Trang 36

EEG và fMRI trên các vị thiền sư có

nhiều kinh nghiệm thiền: có nhiều

dao động gamma rất mạnh tại

- hồi trước trán (prefrontal) giữa TRÁI

(chủ về cảm xúc tích cực ),

- nhất là trong quán từ bi ,

- với một tỉ số hoạt động trước trán T/

P rất cao (điểm số « không đối xứng

trước trán », prefrontal asymetry)

3) Thiền định có thể mang lại

sự an lành và hạnh phúc

Trang 37

một vị géshé rất

Trang 38

- Hoạt động trước trán TRÁI

cảm xúc tích cực (vui vẻ, lạc quan, năng động)

- Hoạt động trước trán PHẢI

cảm xúc tiêu cực (buồn bã, bi quan, thụ động)

Trang 39

• Trong khi thiền, những người có

nhiều kinh nghiệm thiền cảm thấy ở trong một trạng thái hết sức thoải mái, an lành, hạnh phúc

• « Điều này không làm tôi ngạc

nhiên Từ lâu, tôi vẫn nghĩ rằng

người đầu tiên được hưởng lợi lạc

khi thiền từ bi là chính mình» (Đức Đạt Lai Lạt Ma).

Trang 40

4) Thiền có tác dụng tốt trên

cơ thể

• Trong khi thiền định, có một số hiện

tượng thường gặp : nhịp tim, huyết áp

và chuyển hóa cơ sở (basal metabolism)giảm xuống

• Điều đó là do tác động trên hệ thần kinh thực vật (neuro–vegetative system)(hay

tự trị), điều hành nhiều cơ quan nội

tạng, bằng cách ức chế hoạt động hệ

giao cảm và kích thích hệ đối giao cảm

Trang 41

• Rất có thể ảnh hưởng tốt của thiền định là qua tác động giảm stress :

– giảm huyết áp

– giảm tỉ lệ cortisol trong máu

– gia tăng miễn dịch (phản ứng vắc xin tốt hơn, sức đề kháng nhiễm trùng và chống tế bào ung thư tốt hơn)

• Nhưng hiện nay, chưa có bằng

chứng khoa học nào là thiền định

có thể chữa khỏi ung thư và các

bệnh nặng khác

Trang 42

5) Làm sao giải thích được trạng thái chứng ngộ ?

• Nghiên cứu của Andrew Newberg,

Eugene d’Aquili (ĐH Pennsylvania,

2001)

• Dùng SPECT trên một số người hành

thiền và sơ franciscaine trong khi cầu nguyện, lúc họ đạt tới trạng thái hòa đồng với vũ trụ, không còn biên giới

giữa mình và chung quanh

• Đồng lúc đó : gia tăng hoạt động vùng

trước trán (chú ý), sút giảm mạnh hoạt động thùy đỉnh sau (posterior parietal lobe, định hướng cơ thể trong không gian)

Trang 43

Hình SPECT lúc bình thường và khi đạt tới

điểm cao độ của thiền

Lúc đó, có một sự giảm sút hoạt động

bỗng nhiên của thùy đỉnh sau phía trên

(superior posterior parietal lobe) bên trái

Trang 44

• Các tác giả gọi vùng trước trán là vùng liên hợp chú ý (aire associative d’attention ,

hướng (aire associative d’orientation , AAO)

động » (désafférentation) bỗng nhiên của

không gian ), gây nên cảm giác lâng lâng,

hòa đồng với vũ trụ, hòa mình vào Tuyệt

đối hay chứng ngộ Họ gọi trạng thái đó là

« kinh nghiệm đồng nhất tuyệt đối »

(expérience unitaire absolue) , chia xẻ bởi tất cả những ai có kinh nghiệm thần bí

(mystiques).

Trang 46

• « Tỉnh thức = một trạng thái tâm thức tới từ sự chú ý có chủ đích, trong hiện tại, không phê phán, vào kinh nghiệmxẩy ra từng lúc một. »

• Chương trình kéo dài 8 tuần, kết thúc bằng 1 ngày nhập thất Mỗi tuần có 2 buổi thiền hướng dẫn trong 2 – 3 g,

cộng thêm mỗi ngày 45 phút thiền tại nhà riêng

Trang 47

• Từ 25 năm nay, hơn 15000 người đã

được điều trị nhiều loại bệnh : tim mạch, tiêu hóa, da, đau mạn tính, nhức đầu,

mất ngủ, lo lắng, v.v., chủ yếu là những bệnh liên quan tới stress , với kết quả

rất tốt

• Hiện nay phương pháp MBSR rất được hưởng ứng bởi các nhà khoa học và

được giảng dậy cho sinh viên tại 30

trường Đại học Y khoa tại Hoa Kỳ.

• Tại Âu châu, phương pháp này mới bắt đầu được phát triển từ vài năm nay.

Trang 48

• Một nghiên cứu qui mô rộng lớn

hơn đã được thực hiện bởi R

Massachusetts, trên các nhân viên

(biotechnologie) muốn học thiền.

• Những người này được chia ra một cách ngẫu nhiên làm hai nhóm :

Trang 49

• Nhóm được dậy thiền (dưới sự hướng

tuần một lần trong 2 - 3 g , trong 8

vào tuần thứ 6 Ngoài ra, mỗi người

thực sự.

• Ngoài ra, vào cuối khóa thiền tập (cố ý nhằm vào tháng 11), cả hai nhóm đều

Trang 50

• 4 tháng sau , một khóa thứ hai được lập lại

cho cùng một nhóm, trong khi nhóm đối

chứng cũng sẽ được thực tập thiền sau này

• Kết quả :

– Các EEG đầu tiên tỏ ra không khác nhau

gì , về hoạt động trước trán, giữa hai

nhóm thiền và không thiền.

– Ngược lại, xét nghiệm này 4 tháng sau

cho thấy một sự gia tăng hoạt động rất rõ

thiền Những người trong nhóm này cũng đồng thời cảm thấy thêm nhiều cảm xúc

ngày.

Trang 51

– Một điểm đáng ghi nhận nữa là phản ứng miễn dịch với vắcxin cúm tốt hơn

trong nhóm thiền, có thể là qua ảnh

người ta biết stress là một yếu tố gây cản trở cho miễn dịch.

• Như vậy, người ta đã có thêm bằng

trán trái , tính khí vui vẻ, lạc quan,

thương người , và một hệ thống miễn

dịch tốt

Trang 52

• Một phương pháp tương tự,

MBCT (mindfulness-based

cognitive therapy , trị liệu

nhận thức dựa lên tỉnh thức ), được phát triển bởi Zindel

Segal (ĐH Toronto) , Mark

Williams và John Teasdale

(ĐH Oxford và Cambridge), nhằm ngăn ngừa tái phát

trong bệnh trầm cảm

Trang 53

• Các bệnh nhân sau cơn trầm cảm thường

cao

• Mục đích của MBCT là giúp bệnh nhân

ngăn chặn các ý nghĩ tiêu cực đó bằng

mỗi lúc, không cảm xúc, không phê

phán

Trang 54

Kết quả của hai nghiên cứu : tỉ lệ tái phát trầm cảm giảm hẳn một nửa

Trang 55

• Năm 2007 , điều tra toàn quốc tại Hoa

Kỳ về y khoa bổ túc và thay thế (CAM, complementary and alternative

9,4% ( 20 triệu người trên cả nước) đã dùng thiền định như một phương pháp điều trị trong năm trước (2002:

7,6% =15 tri ệu) tr ẻ em : 1%

• Lý do dùng : stress, lo lắng, trầm cảm, mất ngủ, triệu chứng đau và rối loạn gây nên bởi bệnh mãn tính, và cũng

có khi để tìm sự an lạc, thoải mái.

Trang 56

• Tường trình nghiêm túc công bố sau

đó, trên 813 nghiên cứu, trong đó có

312 trên những tác dụng sinh lý và

tâm não của thiền định,

• công nhận có những luận cứ « ủng hộ tác động tốt của thiền trên sức khoẻ »,

• nhưng cho rằng « không thể rút ra

những kết luận chắc chắn trên những tác động đó, từ những nghiên cứu đã làm Nghiên cứu tương lai về thiền

phải chính xác hơn, trong sự thiết lập

dự án, sự thực hành cũng như trong sự phân tích những kết quả »

Trang 57

• Nghiên cứu khoa học thần kinh về

thiền định rất còn sơ khởi, nhưng :

về hoạt động của tâm-não,

– đã xác định, qua kinh nghiệm lâm sàng, hiệu quả của thiền định như một phương pháp điều trị thay thế

hoặc bổ túc cho thuốc men trong

Kết luận

Trang 58

biến (bất cứ ai cũng có thể theo

được) , nhằm chuyển hóa nội tâm , và đưa tới sự bình thản, an lạc và hạnh phúc.

Ngày đăng: 25/08/2017, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w