CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Luận án tiến sĩ với đề tài, Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập tại Việt Nam, đã được đúc kết và hình thành trên nền tảng các lý thuyết v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THẾ KHANG
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ HỘI TỤ THU NHẬP TẠI VIỆT NAM
Chuyên Ngành: Tài Chính-Ngân Hàng
Mã Số: 62.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Ngọc Hùng
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THẾ KHANG
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ HỘI TỤ THU NHẬP TẠI VIỆT NAM
Chuyên Ngành: Tài Chính-Ngân Hàng
Mã Số: 62.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Ngọc Hùng
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ với đề tài “Tác động của đầu tư đến
tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập tại Việt Nam” là công trình nghiên
cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các thông tin, số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thế Khang
Trang 4MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chương 1 Giới thiệu 01
1.1 Tính cấp thiết của nghiên cứu 01
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 04
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 05
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 05
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 05
1.4 Phương pháp nghiên cứu 06
1.5 Ý nghĩa khoa học của luận án 07
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 07
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 08
1.6 Kết cấu của luận án 09
Tóm tắt chương 1 11
Chương 2 Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan 12
2.1 Các khái niệm 12
Trang 52.1.1 Đầu tư 12
2.1.2 Tăng trưởng kinh tế 14
2.1.3 Hội tụ thu nhập 15
2.2 Lý thuyết đầu tư và tăng trưởng kinh tế 17
2.2.1 Lý thuyết số nhân đầu tư 17
2.2.2 Lý thuyết gia tốc đầu tư 18
2.2.3 Lý thuyết đầu tư trong mô hình Harrod – Domar 19
2.2.4 Lý thuyết tân cổ điển Solow về đầu tư và tăng trưởng 21
2.2.5 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer và Lucas 24
2.3 Lý thuyết hội tụ thu nhập 27
2.3.1 Những giả thuyết 27
2.3.2 Phương pháp đánh giá về hội tụ thu nhập 29
2.4 Các nghiên cứu có liên quan 33
2.4.1 Các nghiên cứu về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 33
2.4.2 Các nghiên cứu về hội tụ thu nhập 44
Tóm tắt chương 2 49
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu 50
3.1 Quy trình nghiên cứu 51
3.2 Mô hình nghiên cứu 53
3.2.1 Mô hình đánh giá tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 54
3.2.2 Mô hình đánh giá hội tụ 65
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 68
Trang 63.4 Phương pháp ước lượng 70
3.4.1 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng (Panel unit root test) 70
3.4.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 71
Tóm tắt chương 3 73
Chương 4 Kết quả nghiên cứu 74
4.1 Tăng trưởng kinh tế, đầu tư và hội tụ thu nhập tại Việt Nam 74
4.1.1 Khái quát tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 74
4.1.2 Tình hình đầu tư ở Việt Nam thời gian qua 79
4.1.3 Quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế 83
4.1.4 Hội tụ thu nhập Việt Nam thời gian qua 85
4.1.5 Quan hệ giữa đầu tư và hội tụ thu nhập 88
4.2 Kết quả nghiên cứu 89
4.2.1 Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 89
4.2.1.1 Cơ sở lựa chọn dạng hàm 90
4.2.1.2 Thống kê mô tả các biến 91
4.2.1.3 Tương quan giữa các biến 92
4.2.1.4 Kiểm định tính dừng (Panel unit root test) 93
4.2.1.5 Kết quả ước lượng tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 95
4.2.2 Kết quả ước tính hội tụ 96
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 101
Tóm tắt chương 4 108
Chương 5 Kết luận và khuyến nghị 109
Trang 75.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu chính và đóng góp của luận án 109
5.2 Các hàm ý chính sách về đầu tư ở Việt Nam 115
5.2.1 Đầu tư công trong nền kinh tế 115
5.2.2 Đầu tư tư nhân trong nước và FDI trong nền kinh tế 120
5.2.3 Nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế 122
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 126
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 126
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 126
Tóm tắt chương 5 128
Kết luận 129 MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO BẰNG TIẾNG VIỆT
TÀI LIỆU THAM KHẢO BẰNG TIẾNG ANH
PHỤ LỤC 4.1 KIỂM ĐỊNH ĐA CÔNG TUYẾN
PHỤ LỤC 4.2 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ CÁC BIẾN
PHỤ LỤC 4.3 KẾT QUẢ HỒI QUY PMG
PHỤ LỤC 4.4 KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH HỘI TỤ
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
STT NỘI DUNG Trang
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 52
Hình 4.1 GDP và tăng trưởng GDP qua các năm 79
Hình 4.2 Vốn đầu tư cả nước và các vùng 81
Hình 4.3 Tỷ phần vốn đầu tư/GDP 82
Hình 4.4 Quan hệ giữa tăng trưởng của đầu tư và GDP 85
Hình 4.5 Biểu đồ biểu diễn hệ số biến thiên CV của các vùng và cả nước 86
Hình 4.6 Biểu đồ mối quan hệ đầu tư và hội tụ 89
Hình 4.7 Mô tả dạng hàm các biến 96
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
STT NỘI DUNG Trang
Bảng 3.1 Cách tính các biến và giả thuyết nghiên cứu trong mô hình 64
Bảng 4.1 Chỉ số CV của Việt Nam 85
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến 91
Bảng 4.3 Hệ số tương quan các biến 92
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị dữ liệu bảng 93
Bảng 4.5 Kết quả ước theo mô hình PMG 95
Bảng 4.6 Kết quả hội tụ tuyệt đối 97
Bảng 4.7 Kết quả ước tính hội tụ có điều kiện 98
Bảng 5.1.Tóm tắt kết quả các kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 114
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ARDL Autoregressive Distributed Lag
BOT Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
BTO Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
CPI Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng)
DI Đầu tư tư nhân trong nước
ECM Error Correction Model
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FE Tác động cố định
GDP Thu nhập quốc dân
GSO Tổng Cục Thống kê Việt Nam
ICOR Hệ số sử dụng vốn
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
OLS Ordinary Least Square (phương pháp bình phương nhỏ nhất) PMG Pooled Mean Group
RE Tác động ngẫu nhiên
SI Đầu tư công
UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
VAR Mô hình tự hồi quy véctơ
VECM Vetor Error Correction Model
WB World Bank
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Luận án tiến sĩ với đề tài, Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
và hội tụ thu nhập tại Việt Nam, đã được đúc kết và hình thành trên nền tảng
các lý thuyết về đầu tư, tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập Kết hợp với những nhận định về kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam, để từ đó tìm ra được những khe hở trong các nghiên cứu thực nghiệm mà luận án cần giải quyết, nhằm mục đích đóng góp về mặt lý thuyết cũng như đề xuất những khuyến nghị chính sách cần thiết cho trường hợp cụ thể ở Việt Nam, trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tính cân đối hài hòa trong phát triển giữa các vùng miền của đất nước Trong chương Giới thiệu này, luận án trình bày một cách tóm tắt những cơ sở cũng như cách thức mà tác giả thực hiện bài nghiên cứu này ở các khía cạnh như: Tính cấp thiết của nghiên cứu; Mục tiêu nghiên cứu; Đối tượng và phạm
vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học của luận án và Kết cấu của luận án
1.1 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Xây dựng mô hình đánh giá tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh
tế là một trong những hoạt động phổ biến của các nhà kinh tế học vĩ mô nhằm củng cố lý thuyết đầu tư và lý thuyết tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, các nhà quản lý kinh tế, các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến mức độ tác động của các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế để có thể hoạch định chính sách điều hành kinh tế tối ưu cho đất nước, hoặc các nhà đầu tư có cơ sở trong việc lựa chọn phương án đầu tư của mình ở lĩnh vực nào, nước nào để có hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp mình
Trang 12Mức độ tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế đã được rất nhiều các tác giả trên thế giới nghiên cứu với nhiều không gian, thời gian và nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Do vậy, có những sự nhận định trái chiều nhau về tác động của đầu tư đối với tăng tưởng kinh tế như: Aschauer (1989a, 1989b); Hadjimichael và Ghura (1995); Jwan và James (2014); Blomstrom và Persson (1983); Aviral Kumar Tiwari và Mihai Mutascu (2011) Các tác giả này cho rằng đầu tư công, đầu tư tư nhân và FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, Deverajan và cộng sự (1996); Karikari (1992); Carkovic và Levine (2002) đã không tìm thấy mối quan hệ, hoặc phát hiện mối quan hệ ngược chiều của đầu tư và tăng trưởng kinh tế
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu vấn đề này cũng được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu xây dựng trong một mô hình nghiên cứu gồm có đồng thời ba loại nguồn đầu tư: Đầu tư công, đầu tư
tư nhân trong nước và FDI, để xem xét mức độ tác động của từng loại đầu tư đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn, để có cái nhìn tổng thể về mức độ tác động của từng loại nguồn vốn, từ đó có đề xuất chính sách phù hợp nhằm tối ưu hóa nguồn lực phục vụ cho từng giai đoạn và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Đây có thể xem là điểm mới của luận án so với các nghiên cứu trước đó
Ngoài ra, một trong những dự đoán quan trọng của các mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) và Cass (1965) đó là các nước hoặc khu vực nghèo có xu hướng tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các nước hoặc khu vực giàu có hơn Nếu dự đoán này là đúng thì theo thời gian sẽ có sự hội tụ thu nhập giữa các nước hoặc khu vực Nhân tố chính quyết định giả thuyết này đó
là đặc tính lợi tức biên giảm dần của vốn trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển Tức là nếu các nước hoặc khu vực có cùng lựa chọn về tỷ lệ tiết kiệm và
Trang 13tiến bộ công nghệ thì những nước hoặc khu vực nghèo, nơi có tỷ suất vốn trên lao động thấp hơn sẽ có sản phẩm biên của vốn cao hơn và do vậy đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn trong quá trình chuyển đổi về trạng thái cân bằng dài hạn
Từ các nghiên cứu của Baumol (1986); Barro (1991); Sala-i-Martin (1996a, 1996b) thì việc kiểm định mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng và mức thu nhập bình quân đầu người ở thời điểm ban đầu đã trở thành phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, vấn đề này ở Việt Nam còn rất ít nghiên cứu để đánh giá sự đóng góp của từng loại nguồn đầu tư cụ thể đến quá trình hội tụ thu nhập bình quân đầu người trong nền kinh tế
Việt Nam đã và đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với phương châm là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong nhiều năm qua, song song với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, thông qua việc lựa chọn, cân đối các nguồn lực cho sự tăng trưởng, thì vấn đề điều tiết, phân phối nhằm đạt được công bằng giữa các tầng lớp trong xã hội cũng đã được chú trọng, hướng đến mục tiêu cư dân các vùng miền trong nước được thụ hưởng từ các kết quả tăng trưởng kinh tế chung của đất nước
Trong quá trình đổi mới theo hướng hội nhập vào khu vực và thế giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, và phúc lợi xã hội và đạt được những thành quả quan trọng trong bước đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã làm phát sinh sinh những bất cập về xã
Trang 14hội, đó là sự gia tăng trong khoảng cách giữa nghèo và giàu giữa các tầng lớp
xã hội, giữa các vùng miền
Trong bối cảnh đó, những năm gần đây, nhiều tác giả đã chú trọng nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, khá nhiều các nghiên cứu thiên về mô tả, định tính, và chưa thấy có nghiên cứu chi tiết về ảnh hưởng của từng loại đầu tư đến vấn đề hội
tụ thu nhập và tăng trưởng kinh tế như thế nào Vì vậy, nghiên cứu tìm hiểu tác động của các nguồn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập ở Việt Nam là điều cần thiết Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ là những căn cứ khoa học cho những đề xuất về quan điểm giải pháp cho sự cân đối hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng trong phân phối thu nhập trong thời gian tới Đây cũng có thể là điểm mới thứ hai của luận án
Từ phân tích trên, việc nghiên cứu tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập tại Việt Nam là điều rất cần thiết cả về lý luận và thực tiễn, góp phần củng cố lý thuyết đầu tư - tăng trưởng – hội tụ thu nhập,
cũng như góp phần hoàn thiện chính sách đầu tư và tăng trưởng của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm tiếp tục đóng góp vào những tranh luận hiện nay và lấp vào những khoảng trống về nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới, đồng thời làm
rõ về mức độ tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập trong trường hợp cụ thể ở Việt Nam, mục tiêu nghiên cứu của luận án là đánh giá tác động của các nguồn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu trên, luận án tập trung tìm câu trả lời cho hai câu hỏi cụ thể sau:
Trang 15(1) Mức độ tác động của các nguồn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn như thế nào?
(2) Các nguồn đầu tư tác động như thế nào đến quá trình hội tụ thu nhập tại Việt Nam?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu tác động của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas, trong đó bao gồm hai biến đầu vào cơ bản là lao động, vốn đầu tư và một tập hợp các biến kiểm soát có liên quan Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là cơ chế tác động của đầu tư công (si); đầu tư từ tư nhân trong nước (di) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (fdi) đến tăng trưởng kinh tế (gdp) và vấn đề hội tụ thu nhập ở Việt Nam
Ngoài ra, luận án cũng xem xét cơ chế tác động của các biến kiểm soát khác như độ mở thương mại (open), lao động (lb) và chi thường xuyên (se) đến tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập tại Việt Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và các yếu tố chính như: Đầu tư công, đầu tư từ tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tăng trưởng kinh tế và quá trình hội tụ thu nhập trên phạm vi tổng thể Việt Nam gồm 63 tỉnh thành
Ngoài ra trong mô hình sử dụng các biến kiểm soát có liên quan dựa vào các lý thuyết tăng trưởng kinh tế và những nghiên cứu thực nghiệm trước đây Dữ liệu nghiên cứu dạng dữ liệu bảng (panel data) về các biến chính (si,
di, fdi, gdp) và các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu thực nghiệm về
Trang 16quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế và quá trình hội tụ thu nhập được tập hợp chủ yếu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam trong khoảng thời gian 2000 đến 2014 cho toàn bộ 63 tỉnh thành của Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng1
trên cơ sở hàm sản xuất Douglas2 được mở rộng bao gồm các biến tác động đến tăng trưởng kinh tế theo như nghiên cứu của Wei(2008), Nguyễn Minh Tiến (2014) được sử dụng
Cobb-để đánh giá mức độ tác động của các nguồn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
Kế thừa mô hình của Sala-i-Martin (1996a,b), được Wei (2008) phát triển thực nghiệm về vấn đề tăng trưởng và hội tụ thu nhập ở Trung Quốc, luận án sẽ tiến hành xây dựng mô hình để tìm kiếm bằng chứng có hay không vấn đề hội tụ hay phân tán thu nhập và cơ chế tác động của đầu tư công, đầu
tư từ tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến quá trình hội tụ thu nhập ở Việt Nam
1
Các lý thuyết đầu tư – tăng trưởng – hội tụ thu nhập đã được các tác giả trên thế giới xây dựng và trãi qua
rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng đánh giá Luận án này kế thừa các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đó để kiểm chứng và đánh giá trong trường hợp ở Việt Nam, dựa trên số liệu thứ cấp được cung cấp từ cơ quan có thẩm quyền Do vậy, việc nghiên cứu định lượng trong luận án là phù hợp.
trang 139–165, năm 1928
Theo Bhanumurthy K.V (2002 ), hàm Cobb-Douglas có những ưu điểm hơn các dạng hàm sản xuất khác là:
Có thể giải quyết nhiều yếu tố đầu vào trong một dạng tổng quát, thậm chí trong trường hợp thị trường không hoàn hảo thì mô hình cũng được sử dụng mà không bị những khuyết tật Đồng thời vẫn có thể áp dụng để thực hiện phân tích trong các quy mô sản xuất có sự khác biệt nhau Và điều quan trong là những vấn đề ước tính trong kinh tế học hay gặp phải như tương quan chuỗi, phương sai của sai sô thay đổi, đa cộng tuyến đều được giải quyết thỏa đáng và dễ dàng
Trang 171.5 Ý nghĩa khoa học của luận án
Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế nói chung và nghiên cứu về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế nói riêng là đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nơi mà nguồn lực cho đầu tư phát triển còn nhiều hạn chế Do vậy, để có thể hoạch định chính sách vĩ mô cho từng giai đoạn, tận dụng và tối ưu hóa được nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, thì đòi hỏi các nhà làm chính sách phải có được cơ sở đánh giá được mức độ đóng góp của các yếu tố đầu vào, trong đó các loại nguồn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế
Đồng thời vấn đề công bằng trong phân phối thu nhập, hài hòa với tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế là mối quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách Kết quả nghiên cứu của luận án kỳ vọng có những đóng góp sau đây về mặt khoa học và thực tiễn:
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Thứ nhất, luận án sẽ bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tác động của
đầu tư công, đầu tư từ tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam Đây là bước khác biệt so với trước đây khi mô hình nghiên cứu đã kết hợp đồng thời ba yếu tố đầu tư giải thích cho tăng trưởng để có kết luận tổng quát về cơ chế tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn, thông qua dữ liệu bảng của 63 tỉnh thành Việt Nam từ năm 2000 đến 2014 với mô hình Pooled Mean Group1
Thứ hai, luận án đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm cho trường
hợp ở Việt Nam từ nhận định lý thuyết trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển
1 Phương pháp PMG là sự lựa chọn của luận án căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu là đánh giá trong ngắn hạn
và dài hạn về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và căn cứ vào đặc tính dữ liệu của luận án (không dừng cùng bậc) Đây là phương pháp phù hợp nhất so với các phương pháp khác Điều này được nói cụ thể ở Chương 3
Trang 18của Solow (1956); Cass (1965) đó là các nước hoặc khu vực nghèo có xu hướng tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các nước hoặc khu vực giàu có hơn
Thứ hai, là thông qua các thử nghiệm để đánh giá về vấn đề hội tụ thu
nhập cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hội tụ sẽ làm cơ sở cho việc cân đối nguồn lực hướng đến việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững
và giảm khoản cách giàu nghèo trong xã hội, làm cho các bộ phận dân cư đều
có cơ hội hưởng lợi từ vấn đề tăng trưởng kinh tế chung của đất nước
Thứ ba, là nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý chính sách cũng như đề
xuất một số kiến nghị cụ thể cho Nhà Nước trong việc thực thi chính sách thu hút và sử dụng vốn đầu tư hiệu quả cho nền kinh tế
Cuối cùng, luận án sẽ góp phần hoàn thiện khung phân tích trong
nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam về đầu tư, tăng trưởng kinh tế và vấn đề hội tụ thu nhập, đồng thời cũng đưa ra những hướng nghiên cứu tiếp theo trong chuyên ngành này
Trang 191.6 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu thành 05 chương
Chương 1 “Giới thiệu” Chương này trình bày tổng quát gồm có các nội
dung như: Tính cấp thiết của nghiên cứu, Mục tiêu nghiên cứu, Đối tượng, Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu mang lại
Chương 2 “Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan”
Trong chương này sẽ trình bày các khái niệm, các lý thuyết về đầu tư và lý thuyết kinh tế tân cổ điển Solow (1956) về tác động của đầu tư đến tăng trưởng, hội tụ thu nhập và các mô hình tăng trưởng nội sinh, giới thiệu cách tiếp cận trong phân tích tăng trưởng kinh tế thông qua hàm sản xuất Cobb-Douglas Trọng tâm của chương sẽ làm rõ về mặt lý thuyết cơ chế tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và quá trình hội tụ thu nhập Đồng thời trong chương cũng trình bày và bình luận những nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước về đầu tư, tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập, từ đó nêu lên những vấn đề mà các nghiên cứu trước đó chưa giải quyết, làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu trong luận án
Chương 3 “ Phương pháp nghiên cứu”, nội dung chương sẽ mô tả chi
tiết khung phân tích, quy trình, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu,
mô hình nghiên cứu, các kỹ thuật ước lượng để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề cập theo đặc tính số liệu có được và mục tiêu nghiên cứu của luận án, làm cơ sở để trình bày kết quả nghiên cứu ở chương 4
Chương 4 “Kết quả nghiên cứu”, nội dung chương trình bày tổng quát
về đầu tư, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong thu nhập ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu của luận án, đồng thời đưa ra những nhận xét và bình luận về những giai đoạn tăng trưởng Nội dung chính của chương sẽ
Trang 20trình bày kết quả nghiên cứu có được về cơ chế tác động của các nguồn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và vai trò của các nguồn đầu tư đến quá trình hội tụ thu nhập ở Việt Nam, cũng như bình luận các kết quả nghiên cứu, làm cơ sở gợi ý những khuyến nghị ở chương 5 cho các nhà hoạch định chính sách trong việc huy động và sử dụng các nguồn đầu tư, đặc biệt là cơ cấu nguồn đầu tư
để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, hợp lý và hướng đến việc hội tụ thu nhập trong xã hội
Chương 5 “ Kết luận và Khuyến nghị” Trong chương này sẽ tóm tắt
một số kết quả chính trong nghiên cứu, những đóng góp, hàm ý nghiên cứu cho các nhà làm chính sách cũng như những vấn đề chưa làm được trong nghiên cứu này và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 21Tóm tắt chương 1
Chương 1 đã lược khảo tóm tắt các nghiên cứu về đầu tư, tăng trưởng kinh tế, hội tụ thu nhập trên thế giới và Việt Nam, những vấn đề còn đang bàn cãi, ý kiến trái chiều về kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này, từ đó đã trình bày hướng nghiên cứu, những vấn đề cần giải quyết cũng như cung cấp một cái nhìn tổng quát về phương pháp quy trình, dữ liệu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và kết cấu của luận án Đồng thời cũng xác định cụ thể ý nghĩa của luận án về mặt khoa học và thực tiễn với mong muốn là một bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm bổ sung vào lĩnh vực nghiên cứu về đầu tư, tăng trưởng kinh tế và vấn đề hội tụ thu nhập ở Việt Nam và trên thế giới
Trang 22CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, nhiều lý thuyết về đầu tư và tăng trưởng kinh tế ra đời nhằm giải thích các hiện tượng kinh tế cũng như làm cơ sở cho các nhà khoa học trong việc nghiên cứu lĩnh vực này Đây là chương làm nền tảng cho việc xác định mô hình nghiên cứu thực nghiệm của luận án, dựa trên cơ sở các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm của các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới
Điều quan trọng trong chương là sẽ nêu và bình luận những nghiên cứu
có liên quan trước đó nhằm chỉ rõ những vấn đề chưa nghiên cứu sâu trong lĩnh vực này, từ đó chỉ ra khe hở cần giải quyết Nội dung của chương gồm có các phần chính như: Các khái niệm về đầu tư, tăng trưởng kinh tế, hội tụ thu nhập; các lý thuyết đầu tư và tăng trưởng kinh tế; lý thuyết hội tụ thu nhập và bình luận các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Đầu tư
Có rất nhiều các khái niệm về đầu tư ở những góc độ khác nhau Xét góc độ tăng trưởng kinh tế thì đầu tư là việc sử dụng nguồn lực như: Tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm phục vụ hoạt động sản xuất hoặc mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung và các nền tảng sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, đơn vị quản lý và xã hội nói riêng
Trang 23Theo economichelps.org, đầu tư có nghĩa là một sự gia tăng trong chi tiêu như chi vào việc mua các tài sản thiết máy móc, mua những nhà máy sản xuất hiện đại,… Trong kinh tế học, đầu tư không mang ý nghĩa như là việc gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, mà đầu tư là một thành phẩm của tổng cầu (Aggregate Demand-AD) Do vậy, nếu có một sự gia tăng trong đầu tư sẽ làm gia tăng tổng cầu và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nếu việc đầu tư hiệu quả thì sẽ làm gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế Ví dụ, đầu tư vào giáo dục và huấn luyện kỹ năng sẽ làm tăng năng suất lao động Đầu tư vào công nghệ mới và vốn có thể giúp gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế Điều này sẽ làm dịch chuyển tổng cung (Aggregate supply-AS) sang bên phải Sự gia tăng AS có thể làm gia tăng mức tăng trưởng kinh tế trong dài hạn; giúp gia tăng tăng trưởng mà không có lạm phát Nếu sự đầu tư dẫn đến một sự gia tăng về sản xuất thì nó sẽ đưa đến một sự gia tăng trong xu hướng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Trang 24gia tăng năng suất (productivity) của nền kinh tế Tuy nhiên, đầu tư tư nhân, hoặc đầu tư từ bên ngoài sẽ hiệu quả hơn nhiều trong vấn đề gia tăng năng suất
Định nghĩa đầu tư theo Sachs và Larrain (1993) thì: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế" Thuật ngữ sản lượng trong định nghĩa này bao gồm cả sản lượng được sản xuất trong nước và sản lượng được nhập khẩu từ bên ngoài
2.1.2 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực
tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian dài nhất định Mặc dù có rất nhiều các tiêu chí, nguyên tắc để đo lường tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên không một tiêu chí nào đưa ra một chỉ số phát triển kinh tế có thể được chấp nhận hoàn toàn và thỏa mãn Mỗi tiêu chí đều có những ưu điểm và điểm yếu của nó
Một số quốc gia sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng) Các chỉ
số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình quân trên đầu người Tuy nhiên, thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm
Theo GSO, Nguyễn Trọng Hoài (2013); Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung (2011), thì ở Việt Nam, việc đánh giá tăng trưởng kinh tế dựa theo chỉ số GDP Chỉ số này là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong
Trang 25một thời gian nhất định, thường là quý hoặc một năm Nội dung, ý nghĩa của GDP được xét trên nhiều góc độ và có cách tính khác nhau: Góc độ chi tiêu (sử dụng); góc độ thu nhập; và góc độ sản xuất (giá trị gia tăng) GDP được tính theo giá thực tế và giá so sánh
Xét về góc độ thu nhập: GDP gồm 4 yếu tố: thu nhập của người lao
động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật quy ra tiền), thuế sản xuất (đã giảm trừ phần trợ cấp cho sản xuất), khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất và thặng dư sản xuất hoặc thu nhập hỗn hợp
Xét về góc độ chi tiêu: GDP là tổng cầu của nền kinh tế gồm 3 yếu tố:
tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và nhà nước; tích lũy tài sản (tài sản cố định, tài sản lưu động và tài sản quý hiếm) và chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Xét về góc độ sản xuất: GDP bằng tổng giá trị tăng thêm của tất cả các
ngành kinh tế, cộng với thuế nhập khẩu, và trừ đi trợ cấp sản xuất
Mức độ tăng trưởng GDP: Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng về mặt
khối lượng hàng hóa và dịch cuối cùng của nền kinh tế được tạo ra trong một thời kỳ nhất định, và được tính bằng phần trăm Có thể tính theo hàng quí, hàng năm, hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân theo thời kỳ (nhiều năm)
Hội tụ thu nhập trong kinh tế (cũng đôi khi được gọi là hiệu ứng “đuổi
kịp”) là giả thuyết mà các nhà kinh tế học như Solow (1956) và Cass (1965)
Trang 26cho rằng thu nhập bình quân đầu người các nước hoặc tỉnh nghèo sẽ có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các nước hoặc tỉnh giàu có hơn Kết quả là, cuối cùng tất cả các nền kinh tế hội tụ về một mức thu nhập bình quân đầu người Các nước đang phát triển có tiềm năng tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn so với các nước phát triển vì đặc tính lợi tức biên giảm dần của vốn trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển Hơn nữa, các nước nghèo có thể sao chép các phương pháp sản xuất, công nghệ, và các tổ chức hoạt động của các nước đang phát triển để có cơ hội “đuổi kịp”
Và thực tế cho thấy, các nước nghèo chưa chắc chắn có thể đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, vì nếu như thu nhập quá kém, thì dân chúng có thể sẽ phải sử dụng hết những gì họ làm ra và vì vậy không thể có tiết kiệm để đầu
tư nhằm đảm bảo mức vốn trên mỗi lao động khi dân số tăng và vì thế sẽ rơi vào tình trạng nghèo đói Đồng thời, các nước hoặc khu vực giàu có hơn, có điều kiện để phát triển khoa học công nghệ, từ đó lợi tức biên của vốn sẽ tăng mạnh hơn và nhanh hơn các nước hoặc khu vực nghèo Điều này dẫn đến hiện tượng phân tán thu nhập giữa các nước hoặc khu vực
Do vậy, vấn đề hội tụ thu nhập được đề cập trong luận án ở đây được hiểu là nó liên quan đến vấn đề năng suất biên của vốn đầu tư ở các tỉnh của Việt Nam Có nghĩa là khi một tỉnh nhận được vốn đầu tư sẽ có sự tăng trưởng kinh tế làm cho thu nhập tỉnh đó tăng lên Theo thời gian, thì năng suất biên sẽ giảm, dẫn đến thu nhập sẽ giảm Trong khi đó, các tỉnh trước đây chưa nhận được đầu tư, nay lại được đầu tư thì sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn các tỉnh mà đã nhận được đầu tư trước đây, nay tăng trưởng chậm lại Đến một giai đoạn nào đó, thu nhập giữa các tỉnh sẽ tiệm cận với nhau Đây là vấn
đề hội tụ thu nhập
Trang 27Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, các tỉnh mà trước đây nhận được đầu tư, thì sau quá trình đầu tư sẽ có tiết kiệm, kết hợp với thế mạnh là
đi trước nên sớm có vốn để tiếp cận công nghệ, từ đó năng suất biên của vốn không những không bị giảm theo thời gian mà còn tăng lên rất nhiều, từ đó sẽ không có hiện tượng hội tụ thu nhập giữa các tỉnh với nhau Đây gọi là hiện tượng phân tán thu nhập
2.2 Lý thuyết đầu tư và tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Lý thuyết số nhân đầu tư
Lý thuyết mô hình số nhân đầu tư được Keynes nêu trong tác phẩm Lý
thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ năm 1936 Theo Keynes,
muốn tăng thu nhập quốc dân (sản lượng quốc gia) thì phải gia tăng đầu tư, và
đã đưa ra khái niệm ‘số nhân đầu tư’ (Investment Multiplier) k, khi nghiên cứu mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư và gia tăng sản lượng quốc gia
Số nhân đầu tư (k) thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư với gia tăng thu nhập Nó cho chúng ta biết rằng khi có một lượng thêm về đầu tư tổng hợp, thì thu nhập sẽ tăng thêm một lượng bằng k lần mức gia tăng đầu
tư Mô hình số nhân được viết như sau:
𝑘 =∆𝑌
∆𝐼Suy ra : ∆ Y= k ∆I (∆Y là thay đổi của sản lượng; k là số nhân, ∆I là thay đổi của đầu tư) Theo Keynes thu nhập được chia thành tiêu dùng và tiết kiệm, đồng thời thu nhập cũng có thể chia thành tiêu dùng và đầu tư Từ đó ông cho rằng Tiết kiệm (S) = Đầu tư (I)
Đây cũng là mô hình tăng trưởng kinh tế của Keynes Theo Keynes, mỗi sự gia tăng của đầu tư làm gia tăng khả năng sản xuất, từ đó kéo theo cầu
Trang 28bổ sung về công nhân và tư liệu sản xuất, có nghĩa là việc làm gia tăng, và sau cùng là thu nhập gia tăng Thu nhập tăng sẽ là tiền đề cho tăng đầu tư mới Như vậy, số nhân đầu tư có tác động dây chuyền, nó khuếch đại thu nhập quốc dân lên Nó chỉ rõ sự gia tăng đầu tư sẽ kéo theo sự gia tăng thu nhập lên bao nhiêu Keynes sử dụng khái niệm số nhân để chứng minh những hậu quả tích cực của một chính sách đầu tư của nhà nước vào các công trình công cộng để giải quyết việc làm Ví dụ nếu nhà nước đầu tư 100 triệu USD xây dựng một cảng biển Giả sử khuynh hướng tiêu dùng cận biên trong xã hội là 0,75 thì số nhân là k=1/1-0.75=4 Lúc này thu nhập trong xã hội sẽ khuyếch đại lên 400 triệu USD
2.2.2 Lý thuyết gia tốc đầu tư
Khái niệm và lý thuyết về số nhân đầu tư của những người theo trường phái Keynes đã cho rằng khi gia tăng đầu tư thì thu nhập sẽ gia tăng theo một
số nhân Tuy nhiên, có một khái niệm và lý thuyết khá phổ biến sau Keynes được đề cập rất nhiều trong các lý thuyết về chu kỳ kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, đó là lý thuyết gia tốc đầu tư (Accelerator Theory of Investment) Nguyên lý chính của lý thuyết này mô tả ảnh hưởng khá ngược chiều với lý thuyết của trường phái Keynes
Theo lý thuyết này thì khi thu nhập hoặc tiêu dùng tăng thì đầu tư sẽ tăng theo một hệ số nhân Lý thuyết đã giải thích rằng khi có những thay đổi
về thu nhập, đưa đến sự thay đổi trong sản lượng hàng hóa tiêu dùng, và sẽ dẫn đến những thay đổi với một tỷ lệ lớn hơn, còn gọi là thay đổi gia tốc về đầu tư Sự biến động trong đầu tư sẽ lớn hơn nhiều so với thay đổi trong thu nhập, nhưng vì đầu tư là một nguồn bơm vào dòng luân chuyển của thu nhập, đầu tư sẽ có một ảnh hưởng theo cấp số nhân, và điều này làm gia tăng sự thăng trầm của chu kỳ kinh doanh
Trang 29Lý thuyết gia tốc cho rằng mức độ đầu tư thuần sẽ được quyết định bởi tốc độ thay đổi trong thu nhập quốc gia Nếu thu nhập quốc gia gia tăng với một tỷ lệ tăng thì đầu tư thuần cũng sẽ tăng, nhưng khi tốc độ tăng chậm thì đầu tư bị chậm lại, và sẽ có thể xuống còn zero nếu thu nhập quốc gia hoặc sản lượng vẫn giữ nguyên không thay đổi Giữa số nhân đầu tư và gia tốc đầu
tư có một sự tương tác với nhau, và sự tương tác này tạo ra những biến động lớn trong chu kỳ kinh doanh
2.2.3 Lý thuyết đầu tư trong mô hình Harrod - Domar
Lý thuyết đầu tư trong mô hình Harrod-Domar là một mô hình phát triển tiếp sau mô hình của trường phái Keynes về tăng trưởng kinh tế do Harrod (1939) và Domar (1946) phát triển
Mô hình này sử dụng phổ biến trong kinh tế phát triển để giải thích tốc
độ tăng trưởng kinh tế theo mức tiết kiệm và hiệu quả của vốn, nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết kiệm và đầu tư là hai nhân tố quan trọng của tăng trưởng Hai tác giả này rất quan tâm trong việc tìm ra tốc tộ tăng trưởng trong thu nhập ở mức nào là cần thiết để có được một nền kinh tế hoạt động trôi chảy và không bị gián đoạn Đặc biệt là tập trung vào đặc điểm tác động kép của đầu tư Thứ nhất, là tạo ra được thu nhập và thứ hai là nó làm gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế bằng cách gia tăng nguồn vốn Tác động thứ nhất có thể được xem là tác động về cầu, và tác động thứ hai có thể xem là tác động về cung của việc đầu tư Do vậy, miễn là có sự đầu tư thuần, thu nhập và sản lượng sẽ tiếp tục gia tăng Tuy nhiên, để giữ được một mức cân bằng về thu nhập và việc làm qua các năm, thì cả thu nhập và sản lượng phải được gia tăng cùng tốc độ mà tại tốc độ này năng lực sản xuất của nguồn vốn được gia tăng Mô hình này có thể minh họa cơ bản như sau:
Trang 30Gọi Y là tổng số đầu ra (sản lượng), K là quy mô vốn sản xuất
Đầu ra có mối quan hệ với vốn sản xuất:
k = K/Y (k: hệ số vốn - đầu ra) Trong giai đoạn hiện nay, các nước đang phát triển vẫn tiếp tục áp dụng khá phổ biến mô hình này trong lập kế hoạch cho tăng trưởng kinh tế và huy động các nguồn vốn đầu tư Vì mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay ở các nước đang phát triển này chủ yếu dựa vào đầu tư theo chiều rộng để sử dụng
và khai thác các nguồn lực đang chưa được sử dụng hết Mô hình Harrod – Dorma đã chỉ ra được vai trò của vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong tăng trưởng kinh tế
Mặc dù vậy, nội dung cốt lõi mô hình này chỉ mang ý nghĩa tính toán
mà vẫn chưa xử lý được những vấn đề còn bất cập ở các nước đang phát triển
Do đó, khi áp dụng cần quan tâm lưu ý các vấn đề như sau:
Khi nền kinh tế trong nước và thế giới ngày càng ở phát triển ở trình độ cao, thì vấn đề tăng trưởng kinh tế lại càng bị sự ảnh hưởng và tác động của nhiều yếu tố hơn Thực tế cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế vẫn có thể xảy ra không phải vì lý do đầu tư tăng, hoặc đầu tư không có hiệu quả thì vẫn không
có sự tăng trưởng kinh tế
Điều kiện nội lực không tạo cơ hội cho các nước đang phát triển có khả năng tích lũy vốn cao Do đó, chính phủ bắt buộc đưa ra chính sách tích lũy vốn theo kế hoạch và cơ chế mệnh lệnh nhằm kiềm hãm tiêu dùng hoặc ưu tiên tạo quỹ đầu tư trước khi tiêu dùng Song song với việc áp dụng chính sách ấy, chính phủ phải đi vay nợ nước ngoài, xin viện trợ … để có đủ vốn cho đầu tư Có nghĩa là các nước đang phát triển cần phải có sự hỗ trợ từ các nước phát triển
Trang 312.2.4 Lý thuyết tân cổ điển Solow về đầu tư và tăng trưởng kinh tế
Do những nhược điểm của mô hình Harrod-Domar, dựa trên những tư tưởng của lý thuyết tân cổ điển, Solow (1956) đã xây dựng nên mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng mới, được gọi là mô hình tăng trưởng Solow
Nếu như mô hình của Harrod-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow
đã đưa thêm nhân tố lao động và công nghệ vào phương trình tăng trưởng và ông cũng khẳng định rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố quyết định đến tăng trưởng, cả ngắn hạn và dài hạn
Mô hình này cho biết tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới mức sản lượng và tốc độ tăng trưởng của một nền
kinh tế theo thời gian
Theo lý thuyết này thì đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềm năng) Còn tiết kiệm S = s*Y trong đó 0<s<1 là mức tiết kiệm từ 1 đơn vị sản lượng (thu nhập) và tỷ lệ tăng trưởng của lao động bằng với tỷ lệ tăng dân số
Theo hàm sản xuất Cobb - Douglas, các yếu tố của sản xuất là vốn và lao động có thể thay thế cho nhau trong tương quan sau đây:
𝑌 = 𝐴 𝑒𝑟𝐾𝛼𝐿(1−𝛼)Trong đó: Y là Sản lượng, 𝐾𝛼 là Vốn đầu tư, 𝐿(1−𝛼) là lao động và
𝐴 𝑒𝑟 là biểu thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ
Như vậy, trên cơ sở hàm sản xuất Cobb-Douglas, nhà khoa học Solow (1956) đã xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế mà sau này trở thành một hàm sản xuất cơ bản cho các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới và Việt Nam về tăng trưởng kinh tế hiện đại
Trang 32Nội dung chủ yếu trong mô hình là Solow đã đưa vào nhân tố tiến bộ
kỹ thuật Tuy nhiên, ông chỉ coi tiến bộ kỹ thuật là nhân tố ngoại sinh Điểm quan trọng nhất của mô hình Solow là tích lũy vốn Ngoài ra, mô hình cũng cho rằng có mối quan hệ trực tiếp giữa dự trữ vốn hiện có và tích lũy vốn mới, khi tăng mức tiết kiệm thì sản lượng cũng tăng
Yếu tố thứ hai trong mô hình là dân số Ở đây khái niệm dân cư và dân
cư có khả năng lao động được đồng nhất, do đó, khi tăng dân số thì sẽ đẫn đến giảm cường độ của vốn hiện có đối với những người đến tuổi lao động Từ
đó, mô hình cho rằng, để đảm bảo trạng thái dừng hay trạng thái ổn định của nền kinh tế, cần đảm bảo tỷ lệ tăng đều cả vốn và lao động Như vậy, các nước có tốc độ tăng dân số cao sẽ có cường độ vốn thấp và do đó, tốc độ tăng trưởng sẽ thấp
Đối với nhân tố khoa học công nghệ, Solow coi đây là một nhân tố cố định tương đương với các nhân tố lao động và vốn Theo mô hình này, công nghệ được đưa vào theo cách nó trực tiếp làm cho yếu tố lao động năng suất hơn Khi công nghệ được hoàn thiện hơn sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên hay mức sản lượng trên lao động tăng Hệ số A có thể tăng lên nhờ những cải tiến về công nghệ theo nghĩa khoa học là những phát minh, sáng chế hay theo ý nghĩa nguồn vốn con người là sự cải thiện về y tế, giáo dục,đào tạo và
kỹ năng lao động
Cũng từ mô hình này có thể thấy tổng sản phẩm quốc dân được xác định bằng tổng lượng lao động và vốn mà mỗi quốc gia sử dụng và hiệu suất khai thác những yếu tố này Từ đó, nguồn gốc của việc tăng tổng sản phẩm quốc dân sẽ phụ thuộc vào sự gia tăng tổng lượng vốn, lao động và tăng hiệu suất hay năng suất khai thác các nhân tố này Các quá trình này được gọi là tích lũy các yếu tố sản xuất và tăng trưởng năng suất, hai quá trình này sẽ
Trang 33quyết định việc tăng tổng sản phẩm quốc dân hay tăng trưởng kinh tế Việc tích lũy các yếu tố sản xuất và thay đổi mối quan hệ tỷ lệ giữa các yếu tố sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế của mỗi nước Còn tăng trưởng năng suất là
sự gia tăng số sản lượng trên mỗi đơn vị vốn hay trên một lao động có thể xảy
ra nhờ tăng hiệu quả sử dụng số vốn sản xuất và lao động hiện có hoặc đổi mới công nghệ
Mô hình Solow cho thấy rằng tăng trưởng dân số nhanh hơn sẽ làm giảm sự phát triển vốn theo chiều sâu, vì thế, làm giảm tăng trưởng sản lượng trên lao động Nhưng ảnh hưởng của tăng trưởng dân số lên tỉ lệ lao động trên tổng dân số còn phức tạp hơn nhiều Nó phụ thuộc vào cơ cấu tuổi của dân số
Do tăng trưởng dân số nhanh, hầu hết những quốc gia đang phát triển có cơ cấu dân số trẻ, tỉ lệ người dân trẻ nhiều hơn so với những nước phát triển Như một kết quả của việc tỉ lệ tăng trưởng dân số cao hơn trước đó, nhiều quốc gia đang phát triển ngày nay có tỉ lệ lao động trên tổng dân số tăng lên Ảnh hưởng tích cực của một cơ cấu dân số đang thay đổi lên thu nhập trên đầu người, đôi khi được gọi là lợi thế về nhân khẩu, đóng một vai trò lớn và
có lợi trong ảnh hưởng đến tỉ lệ tăng trưởng kinh tế
Tác động của tăng trưởng dân số lên tăng trưởng kinh tế không chỉ đơn thuần là ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển kinh tế theo chiều rộng và cơ cấu tuổi của dân số, mà còn nhiều hơn thế nữa
Với giả định sản lượng biên giảm dần theo vốn thì lý thuyết của Solow cho rằng, các nước nghèo có tiềm năng tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh
và tỉ lệ tăng trưởng có xu hướng chậm dần khi thu nhập bắt đầu tăng, hệ quả
là thu nhập của những nước nghèo có thể bắt đầu hội tụ với thu nhập của các nước giàu theo thời gian
Trang 34Cũng như với mọi mô hình, mô hình Solow cũng có một vài hạn chế quan trọng:
Một là, mô hình không làm rõ những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến trạng thái ổn định
Hạn chế thứ hai là, vì mô hình chỉ bao gồm một khu vực, nên nó không làm rõ được vai trò của sự phân bổ vốn và lao động giữa các lĩnh vực sản xuất khác nhau (ví dụ như nông nghiệp và công nghiệp), mà có thể có ảnh hưởng quan trọng đối với năng suất Mọi nền kinh tế đều sản xuất một tập hợp các hàng hoá và dịch vụ khác nhau, từng hàng hoá và dịch vụ như vậy đều sử dụng những cách kết hợp khác nhau của vốn và lao động (và các loại công nghệ khác nhau), có năng suất và tiềm năng tăng trưởng khác nhau
Cuối cùng, mô hình Solow xem các yếu tố sau đây là đã được cho trước: tỉ lệ tiết kiệm, tăng trưởng cung lao động, trình độ kỹ năng của lực lượng lao động và tỉ lệ thay đổi công nghệ Những giả định này giúp đơn giản hoá mô hình, nhưng cũng chính vì thế mà ta không hiểu được nhiều về các yếu tố cơ bản xác định những thông số này và chúng có thể thay đổi như thế nào trong quá trình phát triển
2.2.5 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer và Lucas
Một thế hệ mô hình mới đã cất cánh ở nơi mà Solow còn để lại, vượt lên trên những giả định về tỉ lệ tiết kiệm, tỉ lệ tăng trưởng cung lao động, trình
độ kỹ năng lao động, và nhịp độ thay đổi công nghệ cố định một cách ngoại sinh Trên thực tế, giá trị của các thông số này không được cho trước mà được xác định một phần thông qua các chính sách chính phủ, cơ cấu kinh tế, và chính nhịp độ phát triển
Trang 35Các nhà kinh tế học đã bắt đầu triển khai những mô hình tinh xảo hơn, trong đó một hay nhiều biến này được xác định ngay trong mô hình, nghĩa là các biến này trở thành biến nội sinh của mô hình (Romer, 1986) và (Lucas, 1988)
Sự khác biệt các mô hình này so với mô hình Solow là ở chỗ giả thiết rằng nền kinh tế của một nước lệ thuộc vào sinh lợi tăng dần theo qui mô, chứ không phải sinh lợi không đổi theo qui mô Việc vốn, lao động, và các yếu tố sản xuất khác tăng gấp đôi sẽ dẫn đến tăng hơn gấp đôi sản lượng đầu ra Nếu điều này xảy ra, thì ảnh hưởng tác động của đầu tư đối với vốn nhân lực và vốn vật lực sẽ mạnh hơn so với phát biểu trong mô hình Solow
Một nội hàm quan trọng khác nữa là, những quốc gia có sinh lợi tăng dần theo qui mô thì chưa hẳn sẽ đạt đến mức thu nhập ở trạng thái dừng như trong nội dung của mô hình Solow Khi các yếu tố bên ngoài tác động nhờ đầu tư mới có tác động lớn, sinh lợi giảm dần theo vốn sẽ không chắc chắn phát huy tác dụng Do đó, tỉ lệ tăng trưởng sẽ không bị chậm lại, và nền kinh
tế không nhất thiết đi đến trạng thái dừng Vì thế, gia tăng tỉ lệ tiết kiệm có thể dẫn đến sự gia tăng lâu dài của tỉ lệ tăng trưởng kinh tế Do đó, các mô hình này có thể giải thích cho sự kiện mà ta quan sát được là, tăng trưởng trên đầu người vẫn tiếp tục tại các nước mà không dựa vào thay đổi công nghệ ngoại sinh
Hơn nữa, cũng không nhất thiết dẫn đến kết luận rằng các nước nghèo
sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu, vì tăng trưởng không nhất thiết chậm
đi khi thu nhập tăng, cho nên không có kỳ vọng về sự hội tụ thu nhập Sự chênh lệch ban đầu về thu nhập có thể vẫn còn, hoặc thậm chí còn lớn hơn, nếu các nước giàu thực hiện những việc đầu tư có các yếu tố ngoại tác to lớn
Vì tăng trưởng có thể kéo dài mãi mãi trong các mô hình này mà không dựa
Trang 36vào giả định thay đổi công nghệ ngoại sinh, nên chúng thường được gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh Chúng có tiềm năng quan trọng giúp giải thích được sự tăng trưởng tiếp diễn tại những quốc gia công nghiệp không bao giờ
đi đến trạng thái dừng, đặc biệt là những nước tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển những ý tưởng mới dựa vào những công nghệ tiên tiến Đối với các nước đang phát triển, các mô hình mới củng cố một số nội hàm trong các mô hình Solow
Cũng giống như các mô hình trước, các mô hình này cũng cho thấy tầm quan trọng của sự tích luỹ yếu tố sản xuất và gia tăng năng suất trong quá trình tăng trưởng kinh tế
Thực tế cho thấy, lợi ích tiềm tàng của hai nguồn tăng trưởng này trong các mô hình tăng trưởng nội sinh thậm chí còn lớn hơn do các yếu tố bên ngoài tác động tiềm năng Do vậy, giữa các mô hình này vẫn có những điểm chung giống với nhau về tiết kiệm, đầu tư vào y tế và giáo dục, sử dụng các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả và có năng suất cao, song song với đó là tìm kiếm, phát minh ra những công nghệ mới, phù hợp
Tuy nhiên, khả năng áp dụng các mô hình tăng trưởng nội sinh vào các nước đang phát triển vẫn còn là một đề tài gây tranh luận, vì nhiều nước thu nhập thấp có thể đạt được tăng trưởng nhanh thông qua ứng dụng thích nghi công nghệ mới được xây dựng ở những nước có năng lực nghiên cứu tiên tiến hơn, thay vì tự đầu tư vào nghiên cứu và phát triển
Trang 37Đối với nhiều nước thu nhập thấp, giả định của mô hình Solow về thay đổi công nghệ ngoại sinh và sinh lợi không đổi theo qui mô trong hàm tổng sản xuất có lẽ phù hợp hơn.1
Kế thừa tư tưởng lý thuyết tăng trưởng nội sinh này, Wei (2008) và Nguyễn Minh Tiến (2014) khi nghiên cứu về FDI và tăng trưởng kinh tế vùng
ở Trung Quốc và Việt Nam đã xây dựng mô hình nghiên cứu tác động đến tăng trưởng gồm các yếu tố như: Vốn đầu tư trong nước, lao động, nguồn nhận lực, vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và kết cấu hạ tầng…
2.3 Lý thuyết hội tụ thu nhập
2.3.1 Những giả thuyết về quan hệ giữa vốn đầu tư và hội tụ thu nhập
Với giả định sản lượng biên giảm dần theo vốn trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow, thì hội tụ là một giả thuyết về tốc độ tăng trưởng kinh tế, giả thuyết phát biểu rằng sẽ có một mức cân bằng duy nhất và cho dù nền kinh tế bắt đầu với mức vốn trên đầu người bao nhiêu đi nữa thì cũng sẽ hội tụ về điểm cân bằng duy nhất đó
Các nước hoặc khu vực nghèo khó hơn, có mức vốn trên đầu người thấp sẽ tăng trưởng nhanh hơn cho đến khi đạt được tỷ lệ tăng sản lượng và tư bản ở mức cân bằng động Các nước hoặc khu vực giàu có hơn, được thừa hưởng mức tư bản trên đầu người cao sẽ tăng trưởng thấp hơn cho tới khi mức vốn trên đầu người giảm đến trạng thái cân bằng đó
Khi mức vốn trên đầu người thấp thì không nhất thiết đầu tư theo chiều rộng để trang bị máy móc, thiết bị cho những lao động mới mà có thể đầu tư theo chiều sâu, tức là là tăng lượng tư bản cho mỗi lao động Khi mức vốn
1 Dwight H Perkins et al, Biên dịch: Kim Chi Hiệu đính: Trang Ngân, 2014 Các lý thuyết tăng trưởng kinh
tế”, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Trang 38trên đầu người cao thì việc đầu tư theo chiều rộng hay chiều sâu đều cần phải tiết kiệm và phải đầu tư nhiều Vì thế các nước hoặc khu vực nghèo có thể tăng lượng tư bản trên đầu người nhằm đạt được mức tăng trưởng cao với tiết kiệm và đầu tư ít do chưa phải đầu tư theo chiều rộng
Vấn đề tăng trưởng kinh tế đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển
và tiến bộ công nghệ, chỉ có các nước hoặc khu vực giàu mới có thể đầu tư nguồn lực để nghiên cứu tạo ra những tiến bộ công nghệ Các nước hoặc khu vực nghèo không nhất thiết phải đầu tư để tạo ra công nghệ Do vậy có thể dùng nguồn lực khan hiếm của mình để đầu tư theo chiều sâu làm tăng số lượng vốn trên mỗi lao động để có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước hoặc khu vực giàu có hơn Các nhà nghiên cứu về kinh tế học gọi hiện tượng này là hiệu ứng đuổi kịp hay hiện tượng hội tụ thu nhập giữa các nước hoặc khu vực
Tuy nhiên, một quan điểm khác của Romer (1986) và Lucas (1988) thì cho rằng không phải nước hoặc khu vực nghèo nào cũng có thể đạt mức tăng trưởng kinh tế cao Vì nếu thu nhập quá thấp, người dân sẽ bắt buộc phải tiêu dùng hết những gì họ làm ra và vì vậy không có tiết kiệm để đầu tư nhằm duy trì mức vốn trên mỗi lao động khi dân số tăng và từ đó sẽ rơi vào một cái bẫy của sự nghèo đói Những quốc gia có tỷ suất sinh lợi tăng dần theo qui mô có thể sẽ có thể không đạt đến mức thu nhập ở trạng thái dừng mà có thể tăng hơn nữa khi mà các đầu tư mới tạo ra giá trị gia tăng hơn rất nhiều lần Kết quả là, tăng trưởng kinh tế sẽ không bị giảm đi theo như giả thuyết của Solow Ngoài ra, có một sự chưa chắc chắn rằng các nước hoặc khu vực nghèo hơn sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu, vì tăng trưởng trong thực tế chưa hẳn chậm đi khi thu nhập tăng, cho nên không có kỳ vọng về sự hội tụ thu nhập giữa các quốc gia hoặc các vùng với nhau
Trang 39Với những quan điểm khác nhau đó, Wei(2008) và Normaz (2008) đã tiến hành kiểm định giả thuyết vốn đầu tư và quá trình hội tụ ở Trung Quốc và các nước ASEAN Kết quả là, Wei (2008) cho rằng FDI không phải là nguyên nhân gây ra chênh lệch thu nhập giữa các vùng ở Trung Quốc mà do Chính phủ chưa có chính sách phân phối vốn FDI hợp lý giữa các khu vực Trong khi đó Normaz (2008) kết luận, vốn đầu tư có tác động tích cực đến quá trình hội tụ thu nhập giữa các nước ASEAN
Kế thừa từ những nghiên cứu này, Luận án tiến hành kiểm định cho trường hợp ở Việt Nam để đánh giá mức độ tác động của từng loại nguồn đầu
tư như đầu tư công, đầu tư tư nhân trong nước và FDI đến quá trình hội tụ thu nhập giữa các tỉnh ở Việt Nam
2.3.2 Phương pháp đánh giá về hội tụ thu nhập
Hội tụ sigma (σ )
Theo Sala-i-Martin (1996a), khái niệm về hội tụ σ có thể được định nghĩa là "một nhóm các nền kinh tế đang hội tụ nếu sự phân tán của GDP đầu người của các nền kinh tế có xu hướng giảm dần qua thời gian" Giá trị σ được sử dụng để phản ánh sự chênh lệch tĩnh trong thu nhập bình quân Nó có thể được coi là chứng cứ của hội tụ σ ở Việt Nam nếu chênh lệch thu nhập suy giảm theo thời gian Thông thường, nó được đo bằng hệ số biến thiên (CV) là tỉ số của độ lệch chuẩn giá trị trung bình:
𝐶𝑉 =
√ ∑(𝑦𝑖−𝑦̅)2 𝑛
𝑦̅ (2.1) Trong đó 𝑦𝑖 là thu nhập bình quân đầu người của tỉnh i và 𝑦̅ là giá trị trung bình của thu nhập bình quân đầu người của cả nước, n là số tỉnh Giả sử chỉ số CV có sự co lại, chúng ta có thể nói rằng các nền kinh tế đang xem xét
Trang 40đã hướng đến hội tụ σ, túc là giảm sự giảm chênh lệch về mức thu nhập của
họ Khi chỉ số CV càng cao thì chỉ ra một sự chênh lệch thu nhập tăng lên, hay gọi là xu hướng phân tán CV không chỉ xác định số lượng các vấn đề bất bình đẳng thu nhập mà còn đo lường sự phát triển của khoảng cách thu nhập giữa các nền kinh tế khác nhau Nó đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu, chẳng hạn như Lyons (1991), Chen và Fleisher (1996), Raiser (1998), Zheng, Xu and Tang (2000), Chang (2002) và Wei (2008)
Lập luận này được dựa trên mô hình tân cổ điển, trong đó dự đoán rằng các nước nghèo sẽ tăng trưởng nhanh hơn so với những nước giàu có nếu chỉ khác biệt giữa các quốc gia nằm ở mức ban đầu của họ về vốn (Solow, 1956; Sala-i-Martin,1996a)
Tuy nhiên, trong thế giới thực, các nền kinh tế có thể khác nhau ở những khía cạnh khác như tiến bộ công nghệ, tăng trưởng dân số, đầu tư, cơ
sở hạ tầng, độ mở thương mại và ổn định chính trị Nếu những khác biệt này được đề cập, các mô hình kinh tế hiện đại sẽ dự đoán rằng sự tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ có thể vượt qua trạng thái cân bằng ổn định của riêng nó Đây là khái niệm được biết đến trong nghiên cứu về hội tụ điều kiện β- (Sala-i-Martin, 1990, 1996a; Yao and Zhang, 2001b)