1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tập bài giảng võ 1 và phương pháp giảng dạy

159 601 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trình bày, tác giả đưa thêm nhiều phần mới: Những thay đổi về sự phát triển; thành tích cao; phạm vi ứng dụng của các kỹ thuật; lỗi sai cơ bản thường gặp của từng loại kỹ thuật; cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Lê xuân Điệp

TẬP BÀI GIẢNG

VÕ 1 VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

(Lưu hành nội bộ)

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 2

LÊ XUÂN ĐIỆP

TẬP BÀI GIẢNG

VÕ 1 VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

“Tài liệu dùng cho hệ: Ngành GDTC”

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 LỊCH SỬ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN HIỆN ĐẠI

CỦA MÔN VÕ TAEKWONDO

1.3.3 Cơ sở khoa học môn võ Taekwondo 11

1.4.1 Những thế mạnh đặc biệt của môn võ Taekwondo 14 1.4.2 Phương hướng phát triển môn học trên thế giới 16 1.4.3 Phương hướng phát triển môn học tại Việt Nam 18 1.4.4 Định hướng phát triển năng lực chuyên môn 18

1.5 Nghiên cứu khoa học chuyên môn 28

1.5.2 Đặc điểm nghiên cứu khoa học trong TDTT 28 1.5.3 Thực trạng công tác NCKH ở nước ta hiện nay 29 1.5.4 Định hướng NCKH và phát triển công nghệ TDTT giai đoạn 2010 -

2030

30

2.1 Vũ khí cơ bản của cơ thể con người 33

2.2 Mục tiêu bị tấn công cơ bản trên cơ thể con người 33

2.3.5 Kỹ thuật tấn công - đòn đánh (Chigi) 60

Chương 3 KỸ THUẬT PHỐI HỢP VÀ ĐỐI LUYỆN CƠ BẢN 66

3.1.1 Đặc điểm, tiêu chí, phương pháp tổ chức tập luyện và giảng dạy cơ

bản

68

3.1.2 Đòn phối hợp nhóm tấn với kỹ thuật đơn 68 3.1.3 Đòn phối hợp nhóm kỹ thuật đòn tay 68

Trang 4

3.1.4 Đòn phối hợp nhóm kỹ thuật đòn chân 68 3.1.5 Đòn phối hợp nhóm kỹ thuật đòn tay với chân 69 3.1.6 Đòn phối hợp nhóm kỹ thuật phòng thủ phản công 69

3.2.1 Nhất thế đối luyện đơn đòn (trung đẳng) - Hanbeon Kyorugi

(Momtong)

70

3.2.2 Nhất thế đối luyện (thượng đẳng) - Hanbeon Kyorugi (Olgul) 71 3.2.3 Tam thế đối luyện (trung đẳng) - Sebeon Kyorugi (Momtong) 72 3.2.4 Tam thế đối luyện (thượng đẳng) - Sebeon Kyorugi (Olgul) 73

4.1 Những vấn đề cơ bản về quyền môn võ Taekwondo 77

4.1.2 Khái niệm chung về quyền pháp 77 4.1.3 Vai trò và ý nghĩa của quyền pháp trong môn võ Taekwondo 77 4.1.4 Những điều cần chú ý khi thực hiện quyền pháp 78

4.1.7 Đối tượng tập luyện quyền pháp 79

4.1.9 Hệ thống các bài quyền cơ bản 80

4.2 Bài quyền Thái cực số 1: Taegeuk 1 Jang (Taegeuk Keon) Thái cực Kiền

CHƯƠNG 5 PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY, HUẤN LUYỆN, TỔ

CHỨC THI ĐẤU - TRỌNG TÀI CHUYÊN MÔN

110

5.1 Phương pháp giảng dạy, huấn luyện chuyên môn 110 5.1.1 Khái niệm, mục đích, mục tiêu của quá trình giảng dạy Taekwondo 110 5.1.2 Các nguyên tắc giảng dạy chuyên môn 112

Trang 5

5.1.3 Cấu trúc chương trình giảng dạy 113 5.1.4 Thực hiện kế hoạch giảng dạy 115 5.1.5 Phương pháp giảng dạy chuyên môn 119 5.1.6 Kiểm tra đánh giá chuyên môn điê 124

5.2 Phương pháp tổ chức thi đấu – trọng tài chuyên môn 126 5.2.1 Hoạt động thi đấu và thể lực chuyên môn 126 5.2.2 Luật và phương pháp trọng tài chuyên môn 132

HLV: Huấn luyện viên

IOC: Ủy ban Olimpic

ITF: Liên đoàn Taekwondo thế giới hệ cổ truyền

MMA: Võ tổng hợp

NCKH: Nghiên cứu khoa học

Nxb: Nhà xuất bản S: Giây

Trang 6

1

LỜI NÓI ĐẦU

Với rất nhiều người thì việc luyện tập võ thuật thường xuyên chủ yếu là dùng để tự

vệ Với người am hiểu về võ thuật thì học võ sẽ giúp cho thân thể khỏe mạnh, trí tuệ minh mẫn và giúp tâm hồn cao thượng để học tập, lao động, bảo vệ sự sống hay đấu tranh cho lẽ phải và phục vụ Tổ quốc Ngoài ra, khi tập võ thì chúng ta còn có thể xả stress, đồng thời kết giao thêm nhiều bạn bè, học hỏi thêm được nhiều thứ từ các thầy và các đàn anh đàn chị Chúng ta có thể luyện cho tâm tĩnh, kiên nhẫn và biết kiềm chế bản thân trước sự biến đổi của tâm lý hoặc khó khăn

Kiến thức được trình bày trong tập bài giảng này hầu hết được tác giả kế thừa, tuyển chọn từ các tài liệu chuyên môn trong nước và nước ngoài, kinh nghiệm của cá nhân và một số đồng nghiệp chuyên môn trong đó có nhiều tác giả, tác phẩm đứng đầu lĩnh vực Ngoài ra, tác giả cũng đã cập nhập những sự thay đổi mới nhất về sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, thay đổi về luật và kỹ thuật chuyên môn, thông qua đó cung cấp cái nhìn mới nhất, phù hợp và hiện đại giúp sinh viên có thể dễ dàng nhận biết, nắm bắt và tự tiến hành nghiên cứu, tập luyện

Bộ tập bài giảng này bao gồm tất cả những kiến thức chuyên môn phù hợp với chương trình đào tạo của nhà trường Trong trình bày, tác giả đưa thêm nhiều phần mới: Những thay đổi về sự phát triển; thành tích cao; phạm vi ứng dụng của các kỹ thuật; lỗi sai cơ bản thường gặp của từng loại kỹ thuật; các kỹ năng đánh giá kỹ thuật chuyên môn

cụ thể từng loại hình kỹ thuật; một số bài tập sửa lỗi sai cơ bản và phương pháp tập luyện nâng cao kỹ năng chuyên môn cho kỹ thuật; phương pháp tập luyện phát triển thể lực chung và chuyên môn; những thay đổi mới nhất của luật thi đấu; phương pháp thực hành thi đấu tối ưu; năng lực chuyên môn cần thiết cho sự phát triển của người học

Trong quá trình giảng dạy võ thuật, do đặc thù chuyên môn, giảng viên vắt buộc phải nắm vững những quy định tập luyện cơ bản của một giờ học TDTT, không nóng vội, đốt cháy giai đoạn hoặc bỏ qua những chi tiết kỹ thuật dẫn đến những đánh giá sai lầm về

kỹ thuật môn học Không đẩy nhanh tiến độ đối với những kỹ thuật phức tạp có độ khó cao đòi hỏi trình độ tập luyện tương ứng bởi nó có thể tạo ra những chấn thương nguy hiểm cho người học

Trong quá trình biên soạn, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không trình khỏi các thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý để tài liệu hoàn thiện hơn

Trang 7

2

Chương 1 LỊCH SỬ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN HIỆN

ĐẠI CỦA MÔN VÕ TAEKWONDO

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của môn võ Taekwondo

1.1.1 Nguồn gốc hình thành

Bắt nguồn vào thời kỳ sơ khai trên bán đảo Triều Tiên, có rất nhiều cuộc thi đấu võ thuật để kỷ niệm, chào mừng các lễ hội, hội thi trình độ và nâng cao kỹ thuật … kết hợp với điều kiện sống săn bắn, lao động sản xuất và chiến đấu giữa các bộ tộc địa phương làm cho con người dần hình thành các kỹ thuật võ thuật chiến đấu đặc trưng và hiệu quả Những kỹ thuật sơ khai đó được đánh giá là nền tảng cho môn võ Taekwondo sau này Nguyên mẫu từ Taekwondo trước đây được cho rằng có nguồn gốc từ ba từ là

“Subak”, “Teakkyon”, “Takkyon” (tên của ba bộ lạc mạnh nhất vào thời kỳ đó)

Về sau này, thời kỳ của ba triều đại Koguryo, Paekje, Silla (là thời kỳ chiến tranh liên tiếp) thì nhu cầu tập luyện võ thuật càng lên cao và Taekwondo đã thể hiện được những ưu điểm của mình qua đó đẩy mạnh sự phát triển của môn phái lên đến đỉnh cao thông qua các đối tượng tập luyện và mức độ ưu tiên khi sử dụng huấn luyện trong quân

sự

Sự phát triển của quân sự và chiến tranh càng mạnh thì Taekwondo càng nhận được nhiều sự quan tâm và thúc đẩy phát triển, có thể kể ra một số trường hợp như: Thời Koguryo có chiến binh Sonbae (quả cảm không lùi bước trước quân thù), thời Silla có Ngự lâm quân Hwarang (có tính trung thành tuyệt đối, ngoan đạo, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích quốc gia và triều đình)

1.1.2 Lịch sử phát triển

1.1.2.1 Taekwondo thời trung cổ

Có sự phát mạnh mẽ trong thời gian dài, cụ thể và phát triển đỉnh cao trong triều đại Koryo (từ năm 918 sau công nguyên tới năm 1392).Trong thời điểm này, Taekkyon được phát triển thành các hệ thống có tính chiến đấu cao và sử dụng như một tiêu chuẩn để thi đấu thể hiện và chọn lựa, phân cấp quân nhân (5 bài tập dành cho quân nhân – Obyong Subak Hui)

Trong giai đoạn này, Taekkyo được coi như phương tiện nâng cao sức mạnh quân

sự cho quân đội, đối với cá nhân nó được coi như phương tiện nâng cao vị thế, chức quyền trong các bộ máy cầm quyền

Cũng trong giai đoạn này, thông qua quá trình biểu diễn, thi đấu luật cơ bản xuất hiện và tạo thành hệ thống, trọng tài cơ bản làm nền tảng cho hệ thống luật thi đấu hiện đại Tuy nhiên, vào cuối giai đoạn này, việc phát minh ra thuốc súng và các vũ khí cầm tay tiện lợi làm cho mức quan tâm và vai trò của võ thuật giảm mạnh, mất dần đi vai trò quyết định trong quân đội, tồn tại trong nhân dân với vai trò như một môn thể thao, thi đấu, biểu diễn

1.1.2.2 Taekwondo thời hiện đại

Có sự giảm sút nhanh chóng do sự phát triển của các kỹ thuật chiến đấu quân sự là các loại vũ khí mới có tính sát thương cao, rộng Các trận thi đấu Teakyon chỉ còn tồn tại

Trang 8

3

trong các lễ hội hoặc mang tính giải trí của tầng lớp chức sắc hoặc đông đảo thị dân nghèo Về quân đội, Taekwondo chỉ còn là phương pháp chiến đấu cận chiến tầm cá nhân không còn mang tính chiến lược như thời kỳ trước

Tới những năm 1592 (triều đại Jungjo), Taekwondo mới có sự khôi phục mạnh mẽ

do sự thất bại nặng nề trước cuộc xâm lăng của Nhật Bản, lúc này Taekwondo lại được coi là chiến lược quân sự quan trọng để phát triển quân sự và bảo vệ quốc gia Thời gian này, môn võ Taekwondo có bước phát triển vượt bậc và được đánh dấu bằng sự ra đời của cuốn sách nổi tiếng “Muyedobo – Tongji” (hệ thống kỹ thuật cơ bản 38 đòn tay - hiện nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi), với những tên tuổi lớn như: Võ sư Im Ho và học trò Song Duk Ki (đấm thủng tường đất, cột to, nhảy bay qua tường cao và chạy xuyên qua hàng rào gươm giáo)

Vào thời điểm này 14 kỹ thuật cơ bản đã được đưa vào sử dụng, bao gồm: 5 đòn đá

cơ bản, 4 đòn tay, 3 đòn đá bằng gót chân, 1 đòn đá quay sau và 1 đòn đá quét Thuật ngữ

“Poom” cũng bắt đầu được sử dụng nhằm biểu thị tư thế song đấu đối mặt trực tiếp Tuy nhiên các võ sư thời điểm này cũng luôn phải đối mặt với nguy cơ sẽ bị chính quyền đô

hộ Nhật Bản kìm hãm sự phát triển và làm suy yếu môn võ Taekkyondo

1.1.2.3 Sự phát triển của Taekwondo hiện nay

Sau độc lập vào năm 1945, người Triều Tiên bắt đầu khôi phục tính tự cường dân tộc và tiếp túc truyền bá hoàn thiện môn võ thuật truyền thống của mình Đây cũng là thời điểm bắt đầu có những thay đổi vượt bậc, căn bản môn võ này ở tất cả các mặt

Có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng người tham gia và được truyền bá ra khắp nơi trên thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của Taekwondo được thể hiện qua một số mốc thời gian sau:

- Năm 1953, Triều Tiên cử hơn 2000 võ sư đai đen tới hơn 100 quốc gia khác nhau truyền bá môn võ Taekwondo

- Năm 1971, Taekwondo được công nhận chính thức là môn thi đấu quốc gia

- Năm 1972, khởi công xây dựng trụ sở Kukkion - trụ sở liên đoàn Taekwodo thế giới

- Ngày 28/05/1973, thành lập liên đoàn Taekwondo thế giới và hiện nay đã có gần

170 (hiện nay đã có 202) nước thành viên tham gia

- Năm 1973, giải vô địch Taekwondo thế giới đầu tiên được tổ chức và ra quy định

2 năm tổ chức 1 lần

- Năm 1974, Taekwondo được chính thức đưa vào thành nội dung thi đấu tại đại hội thể thao Châu Á

- Năm 1980, Ủy ban Olimpic (IOC) công nhận liên liên đoàn Taekwondo thế giới

và Taekwondo là một môn thi đấu chính thức tại Olimpic

1.1.2.4 Taekwondo tại Việt Nam

- Năm 1962, được du nhập vào Việt Nam bởi võ sư Kim Boang Son Địa điểm được truyền bá đầu tiên tại trường võ thuật Thủ Đức tại Nam Kỳ

- Năm 1965, tổ chức giải vô địch Taekwondo Nam Kỳ đầu tiên đánh dấu mốc tổ chức định kỳ các tổ chức giải vô địch Nam Kỳ thường niên

Trang 9

- Năm 1989, tổ chức giải vô địch quốc gia đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh với

sự tham gia thi đấu của VĐV hơn 20 tỉnh thành trong cả nước

- Năm 1992, tổ chức giải Taekwondo quốc tế đầu tiên với sự tham dự của nhiều đoàn VĐV đẳng cấp cao trên thế giới như: Hàn Quốc, Mỹ, Na Uy, Đài Loan…

- Năm 1995, tiếp tục giành được các huy chương tại Đại hội thể thao Châu Á

- Từ Seagames 16 đến nay, liên tục đạt các thứ hạng cao và cao nhất ở các nội dung

và hạng cân thi đấu

- VĐV Việt Nam tham gia thi đấu và dành được các vị trí danh giá trên đấu trường Olimpic như VĐV Trần Hiếu Ngân, Nguyễn Trung Hiếu…

Được sự quan tâm và đầu tư đúng hướng của ngành TDTT nước ta, thể thao nói chung và môn võ Taekwondo nói riêng đang ngày càng phát triển cả về cơ sở vật chất, điều kiện, chế độ và nghiên cứu khoa học để tiến tới dành được nhiều thành tích cao hơn trên các đấu trường quốc tế

1.2 Hệ tư tưởng, tinh thần, mục đích, tác dụng và phân chia hệ phái chính trong môn học

Hệ tư tưởng chủ đạo bao gồm những điều sau:

- Ưu tiên phát triển cao về đạo đức và tư tưởng con người phù hợp với xã hội văn minh và hiện đại

- Học võ trước hết là học tâm, tu tâm trước tu đạo sau và tu hành sau cùng

- Lấy đạo đức thu phục con người chứ không dùng bạo lực ép người

- Võ là tự vệ và bảo vệ kẻ yếu và thực hiện nghiêm túc lối sống đạo giáo

- Võ thuật trước là tu thân sau mới phát triển sức khỏe

- Thi đấu là tự mình chiến đấu với bản thân mình, vượt qua những giới hạn mình chưa đạt tới, tìm ra những yếu kém mà bản thân chưa tìm ra và chưa vượt qua

- Rèn luyện là cuộc sống, lười nhác là kẻ hèn kém

1.2.2 Hệ tinh thần môn võ Taekwondo

Trang 10

5

Taekwondo là một nghệ thuật chiến đấu không chỉ đơn thuần với mục đích tranh đoạt chiến thắng bằng mọi giá Với một kỷ luật nghiêm khắc, Taekwondo còn có mục đích cao đẹp hơn, đó là hướng tới sự phát triển và kiện toàn mọi khả năng về tinh thần và thể chất của con người

Người xưa xem Taekwondo là “nghệ thuật chiến đấu của bậc quân tử” Họ tuyệt đối xem môn võ thuật này như một phương thế để tự vệ “đừng khiêu chiến nhưng hãy tự vệ”, đó là tính cách của Taekwondo Vì thế, tập luyện Taekwondo là rèn luyện cho bản thân một trạng thái tinh thần bình ổn, một đức tính tự chủ và một kỹ thuật hoàn hảo Taekwondo là nghệ thuật sử dụng triệt để các phần của thân thể dùng làm vũ khí để

tự vệ và tấn công một cách hiệu quả nhất, đặc biệt là đôi tay và đôi chân

Ngoài hiệu quả đáng kinh ngạc như một phương cách tự vệ, Taekwondo còn là một môn thể thao lý tưởng giúp cho thân thể được phát triển toàn diện một cách hài hòa Do

đó, Taekwondo là một tổng hợp của hai phương diện: tự vệ và thể thao

Vào thời xa xưa, trên những chiến trường, dưới hình thức nguyên sơ, môn võ này được thể hiện một cách tàn bạo chỉ với mục đích duy nhất là hạ gục quân thù

Ngày nay, Taekwondo được nhiều người biết đến như một môn võ thuật mang tính cách thể thao qua các lần tranh giải vô địch… Đành rằng không thể phủ nhận những lợi ích của các trận đấu đầy ngoạn mục này mang lại, nhưng nhìn dưới khía cạnh này thì không thể nào hiểu được ý nghĩa và tinh thần của Taekwondo

Cũng có nhiều người đánh giá sai lầm về Taekwondo như là một môn luyện tập sức mạnh mà thôi Quả thật đáng kinh ngạc khi thấy bằng những bàn tay không, đôi chân trần người ta có thể đập vỡ gỗ ván, gạch ngói,… một cách dễ dàng Để đạt được kết quả đó không phải chỉ trong một sớm một chiều mà là cả một quá trình tập luyện gian khổ, đau đớn thân xác, đổ mồ hôi và có cả nước mắt,… nhưng cũng cần phải hiểu rằng sự tập luyện đó chưa phải là tất cả của Taekwondo

Để đập vỡ những vật vô tri, bất động như gỗ ván, gạch ngói,… thì tương đối dễ dàng nếu bạn có đôi tay và đôi chân được tập luyện đủ mạnh mẽ và đủ cứng chắc,… nhưng để đối đầu với một địch thủ sống động, linh hoạt và quyền biến thì nếu chỉ có sức mạnh đơn thuần chưa đủ, cần phải có một kỹ thuật hoàn hảo, thích ứng

Taekwondo với đặc tính là “Nghệ thuật chiến đấu không vũ khí” vì thế đôi tay và đôi chân cần thiết phải được khổ luyện trường kỳ để thể hiện tính cách đặc thù của nó là

“biến tay chân trở thành vũ khí”

Những kỹ thuật của Taekwondo cũng cần phải được kết hợp một cách hài hòa trong việc luyện tập và thực hành Như chiếc xe hơi và những bánh xe thế nào thì việc luyện tập được gắn liền với thực hành cũng như vậy, thiếu đi một yếu tố, chắc chắn không thể đạt đến mục đích của Taekwondo Nhưng tất cả những điều đó vẫn chưa đủ, cần phải rèn luyện để có một tinh thần cương quyết, một ý chí kiên cường, niềm tự tin và một tâm hồn bình an, trong sáng

Việc tập luyện Taekwondo sẽ trở nên vô nghĩa nếu như thiếu mất một trong những yếu tố trên

Trang 11

là chỉ phản ứng và tự vệ Điều này bao hàm ý nghĩa luôn có lòng vị tha, lòng độ lượng và

ý thức sự bình đẳng Môn sinh Taekwondo sẽ dần phát hiện nơi chính bản thân những khả năng vô hạn, vì Taekwondo sẽ giúp hoàn thiện những tiềm năng trong chính thân thể

và tâm hồn

“Đừng bao giờ tấn công trước” - ý nghĩa của phương châm này được thể hiện bởi nhiều cách thế chuẩn bị khác nhau Trước tiên, cần phải nhanh chóng loại bỏ mọi tư tưởng tầm thường và nông nổi ra khỏi tâm trí, thanh luyện tinh thần để luôn luôn ở trong

tư thế sẵn sàng hay có thể gọi là “tâm an, thần định” Giai đoạn thứ hai mới học cách thế

để tự vệ Thanh luyện tinh thần và tự vệ, đó là đặc tính ôn hòa của Taekwondo

Trong nền võ thuật Đông phương, có 3 trường phái đối đầu nhau: Trường phái thứ nhất quan niệm: “Tinh thần vượt trội trên thân xác và chế ngự thân xác”

Trường phái thứ hai quan niệm: “Thân thể chi phối tinh thần”

Trường phái thứ ba lại cho rằng: “Bảo toàn thân thể là hệ trọng” Mỗi một trường phái đều chứa đựng một phần chân lý nhưng không hoàn hảo

Taekwondo với tính cách là một môn võ thuật hướng tới sự phát triển hài hòa cả hai phương diện, thể chất cũng như tinh thần Thân thể, trước tiên phải được tôi luyện cho đến mức tinh thục bằng cái giá của sự khổ luyện và kỷ luật sắt Làm chủ được kỹ thuật là kết quả của một công việc hăng say và trường kỳ Tinh thần theo đó đạt đến mức luôn phản ứng một cách trung thực, đặc biệt trong trường hợp tự vệ một cách chính đáng Taekwondo muốn hoàn thành một sự tổng hợp hoàn hảo của thân thể và tinh thần bởi kỹ thuật Để thử nghiệm sự tổng hợp này, chính là hội nhập cùng Taekwondo

1.2.3 Mục đích, tác dụng và phân chia hệ phái chính trong môn học

1.2.3.1 Mục đích, tác dụng và ý nghĩa hoạt động tập luyện của môn học

- Ý nghĩa: Môn võ Taekwondo hiện nay là môn thể dục thể thao rất được ưa chuộng trên thế giới Nó là hệ thống các bài tập được chọn lọc có hệ thống, khoa học, được hình thành và phát triễn rất lâu đời Nhằm mục đích hoàn thiện và phát triễn toàn diện cơ thể Tạo ra các phương pháp rèn luyện cơ thể có lợi nhất về phương tiện hoạt động vận động và có hiệu quả cao tới sự phát triển hài hòa cơ thể

Có ý nghĩa cao trong việc bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức con người phù hợp với các yêu cầu trong xã hội phát triển cao về kinh tế, văn hóa và xã hội

Hoàn thiện con người và hướng tới cái đích cao nhất là các giá trị chân, thiện, mỹ trong đạo đức phật giáo và tư tưởng con người

- Tác dụng: Môn Taekwondo có tác dụng rất tốt đến toàn bộ cơ bắp trên cơ thể, làm cho cơ thể phát triễn cân đối, hài hòa; tăng sức mạnh, nhanh cho các nhóm cơ, tăng cường khả năng hoạt động cho hệ tuần hoàn, hô hấp và tim mạch Từ đó làm tăng khả ngăn thích nghi và chịu đựng của con người (tăng sức bền)… Tập luyện Taekwondo

Trang 12

7

thường xuyên sẽ giúp người tập tăng sự tự tin, lòng cam đảm, ý chí vững vàng, tinh thần mạnh mẽ, lòng yêu nước, ý thức bảo vệ tổ quốc…Giúp hoàn thiện kỹ năng thực dụng, phối hợp vận động, khả năng thăng bằng, giao tiếp xã hội, và đặc biệt là có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện đạo đức, nhân cách mà các môn khác khó có thể có được…

- Mục đích:

+ Phát triển về thể chất: Tăng cường sức khỏe, củng cố, tăng cường khả năng tự vệ

cá nhân, tăng cường chức năng và hiệu quả hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể + Phát triển về tinh thần: Phát triển các mối quan hệ xã hội, các trạng thái tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ nhận thức và tư duy, tri thức

Mục đích của học phần này là giới thiệu cho người học nắm khái quát về môn võ Taekwondo, dần hình thành những kỹ năng vận động cơ bản của môn võ này, tạo tâm lý thoải mái ham thích học võ và rèn luyện tính kỷ luật, sự tập trung thông qua việc học các bài quyền, và các kỹ thuật đòn đá

Ngoài ra, tập luyện Taekwondo còn có các mục đích khác như: Để rèn luyện thể chất, đảm bảo tốt sức khỏe phục vụ mục đích học tập và làm việc; tạo sân chơi lành mạnh giúp sinh viên có nơi giao lưu, luyện tập, trao đổi thư giãn sau những giờ học căng thẳng; rèn luyện ý thức giữ gìn sức khỏe, kỷ luật, tinh thần yêu mến thể thao cũng như lối sống lành mạnh, tinh thần đồng đội, tương trợ lẫn nhau; phát hiện và bồi dưỡng những sinh viên có năng khiếu Taekwondo tiềm năng bổ sung vào đội tuyển cấp cao hơn

1.2.3.2 Các hệ phái chính trong môn Võ Taekwondo

Môn võ Taekwondo hiện đại ngày nay có rất nhiều hệ phái khác nhau, tuy nhiên

về tổng thể được chia thành hai hệ phái chính, gồm có:

- Hệ phái theo thiên hướng ứng dụng: ITF (International Taekwon - Do Federation)

là hệ một phái võ quyền do cựu thiếu tướng Hàn Quốc Choe Hong Hui sáng lập ngày 22 tháng 3 năm 1966 mang tính phát triển ứng dụng kỹ thuật môn phái vào thực chiến

- Hệ phái theo thiên hướng thể thao quần chúng: WTF (Word Taekwon - Do Federation, thành lập năm 1973) coi môn Taekwondo như một dạng thể thao, nêu cao

tính võ nghệ của môn võ này WTF được phân chia thành các hệ phái lớn:

+ Hệ phái Chang Hon: Hệ phái lớn đầu tiên của Taekwondo, dựa trên hệ thống kỹ thuật và quyền pháp do Đại võ sư Choi Hong Hi xây dựng từ năm 1954 Hệ phái lấy tên theo tên hiệu của đại sư Choi Hong Hi, người sáng lập hệ phái: Chang Hon Đây cũng là

hệ phái nền tảng của Liên đoàn Taekwondo quốc tế - WTF, thành lập năm 1966

Đặc điểm của hệ phái là có nhiều nét tương đồng với quyền pháp Karate, mang nặng tính chiến đấu Hệ thống quyền pháp có 24 bài quyền và hệ thống đẳng cấp phân thành 10 cấp và 9 đẳng Võ phục và thể lệ thi đấu gần như tương tự với Karate Vì vậy, khi thi đấu, các võ sĩ không mang giáp và khi ra đòn phải dừng đòn ở cự ly tối thiểu hoặc chỉ được khẽ chạm vào đối thủ

+ Hệ phái Kukkiwon: Các võ sĩ Taekwondo thi đấu trong trang phục quy định của WTF Đây là hệ phái lớn nhất, dựa trên hệ thống kỹ thuật và quyền pháp quy định tổ

Trang 13

8

chức kỹ thuật Kukiwon của Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc, thành lập năm 1973 Đây cũng là hệ phái nền tảng của Liên đoàn Taekwondo thế giới, thành lập cùng năm đó Đặc điểm của hệ phái này mang tính hiện đại và thể thao nhiều hơn Các đòn thế nguy hiểm bị cấm dùng trong thi đấu Hệ thống quyền pháp có 25 bài quyền và hệ thống đẳng cấp phân thành 8 cấp và 10 đẳng Võ phục dùng loại áo chui cổ và thể lệ thi đấu mang nặng tính thể thao Vì vậy khi thi đấu, các VĐV bắt buộc mặc giáp và chỉ được phép tấn công vào phần mặc giáp của đối thủ

1.3 Cơ sở khoa học trong hoạt động chuyên môn

1.3.1 Hoạt động tâm lý trong chuyên môn

- Các cảm giác, cảm thụ bản thể chính xác và các cảm giác vận động cơ: Được thể

hiện thông qua các động tác đơn giản, riêng lẻ của cơ thể con người như: Động tác tay, chân, các kỹ thuật đơn giản thực hiện tại chỗ … (được kết hợp với tấn pháp) Tùy từng hoạt động vận động khác nhau mức độ cảm nhận và cảm thụ có sự khác nhau, đồng thời cũng tùy vào trình độ tập luyện và quá trình lặp lại liên tục hoạt động vận động đó, các cảm giác, cảm thụ và cảm giác vận động cơ có sự thay đổi, sự thay đổi này còn được gọi

là kỹ năng, kỹ xảo vận động

- Cảm giác cảm thụ bản thể, cảm giác thị giác và xúc giác liên kết với nhau: Các bài tập nhóm này có đặc điểm là các cử động của các bộ phận thân thể người tập được liên kết với nhau thành một hệ thống – một cơ cấu phức tạp bảo đảm sự di chuyển thống nhất của toàn bộ thân thể nói chung, do tính chất của các bài tập đòi hỏi

Đây là hoạt động tâm lý dựa trên cơ sở tính chính xác không chỉ của các hệ thống

cơ bắp mà còn là quá trình tư duy liên kết các cảm giác đơn với tổng thể

- Nhận thức mối quan hệ giữa không gian và thời gian trong tư duy: Được thể hiện qua các bài tập di chuyển trong không gian (các kỹ thuật đá bay, nhào lộn) Tất cả các loại bài tập ở nhóm này đều đòi hỏi phải vượt một khoảng không gian nhất định trong một khoảng thời gian ngắn nhất định Các bài tập vận động thuộc nhóm này đòi hỏi phải phát triển các quá trình tâm lý phức tạp ở mức cao, tri giác chính xác các quan hệ không gian và thời gian, nắm vững được nhịp độ và nhịp điệu các hành động của bản thân mình, biểu hiện các nổ lực ý chí tương ứng với những khó khăn của bài tập (các vật chướng ngại) gây nên “những khó khăn” ở đây có thể hiểu theo hai ý:

- Khó khăn bên ngoài thông qua các vật cản, công phá trên không …

- Khó khăn bên trong thông qua những cảm giác của vận động cơ…

- Cảm giác cơ và điều khiển cơ: Được thể hiện qua các bài tập với dụng cụ (trụ đấm, trọng lượng phụ, tập song đấu…) Những bài tập nhóm này đòi hỏi tri giác phức tạp về

độ lớn, trọng lượng, trọng tâm của dụng cụ, bài tập cũng như các nỗ lực của cơ bắp được phối hợp chặt chẽ với các tri giác trên theo mức cần thiết của các bài tập với dụng cụ yêu cầu (về lực căng, đàn hồi, phản lực…)

- Phản xạ và tính thích ứng vận động của hệ thần kinh: Được thể hiện qua các bài tập đối kháng (đối luyện, tự vệ, luyện chiến thuật, song đấu, thi đấu…) là các dạng bài tập gắn với việc khắc phục sự chống đối, va chạm đòn của bạn cùng tập hoặc của đối thủ Nét tiêu biểu của các bài tập này là phải chống lại những tác động rất khác nhau (và luôn

Trang 14

9

luôn biến dạng về lực cũng như về hình thức thể hiện) của đối phương Do đó phải tính toán cẩn thận không chỉ các đặc điểm kỹ thuật mà cả các đặc điểm liên kết, chiến thuật của các động tác đó đồng thời làm cho những động tác của mình thích ứng với chúng Bên cạnh các tri giác có độ nhạy bén rất lớn, cấu trúc tâm lý của các động tác đó còn bao gồm độ nhanh, độ chính xác của tư duy về cả tốc độ và tính chính xác của sự dự tính đến các hành động của đối phương

- Tính linh hoạt của tư duy và phối hợp hoạt động: Được thấy rõ trong những bài tập mang tính tập thể (quyền tập thể, đối luyện tập thể…) Nhóm này mang một dấu hiệu chung tiêu biểu là tính tập thể (thống nhất và đồng điệu) của hoạt động vận động chuyên môn, đồng thời cũng yêu cầu giải quyết những nhiệm vụ nảy sinh trong những tình huống, giai đoạn tập luyện khác nhau Đây là những bài tập phức tạp, chúng đòi hỏi những người cùng tập phải có tri giác nhanh chóng và chính xác đối với các đối tượng có liên quan trong lúc thực hiện bài tập Phải hoạt động tư duy nhạy cảm, biểu hiện ở sự đánh giá đúng tình huống, hiểu được ý đồ của HLV và đồng đội, phải biết phối hợp có hiệu quả hoạt động của bản thân mình với hoạt động của bạn đồng môn

1.3.2 Cơ sở sinh lý trong hoạt động chuyên môn

Tập luyện võ thuật tăng cường thể chất cơ thể, bồi dưỡng phẩm chất con người và trị bệnh Các bài tập võ thuật rất phong phú về nội dung, kết cấu động tác đa dạng, lượng vận động rất khác nhau … làm thay đổi cơ bản các tố chất sinh lý của cơ thể

1.3.2.1 Sự thay đổi của chức năng thần kinh

- Sự cải thiện tính nhịp điệu của hệ thần kinh: Luyện tập võ Taekwondo bao gồm các động tác phức tạp, đa dạng đối xứng và không đối xứng, yêu cầu động tác nghiêm ngặt, hoàn chỉnh và hài hòa Quá trình tập luyện được thực hiện với những yêu cầu rất nghiêm khắc: Khi tập luyện cần “hợp nhất nội - ngoại” (nội là tâm, thần, ý, khí; tâm hoạt động, khí vận hành) Ngoại là hoạt động hình dáng bên ngoài (như tay, chân, thân pháp -

di chuyển, mắt…)

Trong quyền pháp cần kết hợp “tam hợp” của tâm với “tam hợp” của ngoại (tam hợp tâm là: tâm hợp với ý, ý hợp với khí, khí hợp với lực; còn tam hợp ngoại là: Tay hợp chân, mắt hợp đòn, trọng tâm hợp tấn)

Động tác võ thuật động - tĩnh rõ ràng và cần có sự liên kết chặt chẽ

Những điều trên cho thấy tập luyện võ thuật có những yêu cầu đối với cơ thể rất nghiêm khắc Chúng yêu cầu tính nhịp điệu và tính chuẩn xác rất cao giữa các trung khu của võ não đối với cơ đối kháng và cơ không đối kháng Đồng thời còn yêu cầu tính nhịp điệu và tính chuẩn xác giữa các trung khu thần kinh trung ương, hệ thần kinh thực vật

Do vậy mối liên hệ giữa các trung khu thần kinh trung ương trong quá trình luyện tập võ thuật có những yêu cầu rất nghiêm khắc Từ đó, luyện tập võ thuật lâu dài sẽ cải thiện được mối quan hệ nhịp điệu giữa các trung khu thần kinh võ não và các khu đại võ não

- Nâng cao tính linh hoạt, tính cân bằng và cường độ hoạt động của quá trình hoạt động thần kinh: Do Taekwondo có tính chất hợp nhất nội ngoại (nội luyện tâm - thần - ý ; ngoại luyện mắt - tay - thân lưng - chân) cho nên khi luyện tập võ thuật, yêu cầu động tác

Trang 15

đó đòi hỏi tính phản ứng của VĐV võ thuật phải nhanh hơn các VĐV khác

1.3.2.2 Các cơ quan chức năng tiền đình tăng khả năng phân tích

Trong võ thuật có các bài luyện tập quay trên không, bật và đứng dậy, xoay thân nhanh, đá bay trên không… Do động tác xoay trong không gian có đặc tính tăng và giảm tốc độ nên góp phần nâng cao tính phân tích và ổn định của chức năng tiền đình

Khi thực hiện những động tác chuyên môn phức tạp (xoay, bay trên không hoặc biến đổi trọng tâm thân người đột ngột như lộn, santo, bật cao…) làm chuyển động nội dịch trong các ống bán khuyên Các ống này được sắp xếp 3 chiều khác nhau trong không gian Khi thay đổi tư thế thì các chất dịch này chuyển động theo hướng ngược lại với động tác, nên người ta sẽ nhận biết được sự thay đổi đó và biết được vị trí đỉnh đầu của mình nằm ở hướng nào trong không gian Khi tổn thương ống bán khuyên nào thì đầu ngả về phía bên đó, nếu tổn thương cả 3 ống thì bị chóng mặt và dễ bị ngã, không định hướng được không gian chung quanh

1.3.2.3 Sự thay đổi của chức năng tuần hoàn

Luyện tập võ thuật lâu dài cải thiện được chức năng hệ tuần hoàn Lúc yên tĩnh, huyết áp, mạch đập đều có trị số giảm

Chức năng tuần hoàn được nâng cao của VĐV môn võ có liên quan đến số thời gian luyện tập thường xuyên Thời gian luyện tập càng lớn thì chức năng hệ tuần hoàn có ảnh hưởng càng sâu sắc, có nghĩa là số năm tập càng lâu thì mạch đập và huyết áp có trị số giảm lúc yên tĩnh

VĐV võ nâng cao khả năng điều tiết hệ tuần hoàn, thực nghiệm chứng minh: Sau khi thực hiện test định lượng đứng lên ngồi xuống 20 lần trong 30 giây, VĐV võ thuật chuyên nghiệp có mức dao động lên xuống chỉ tiêu mạch đập và huyết áp nhỏ, thời gian phục hồi ngắn Điều này nói lên năng lực, chức năng điều tiết của hệ tuần hoàn được nâng cao, xuất hiện hiện tượng “tiết kiệm hoá”

Sự phân loại hoạt động, động tác của VĐV võ rất đa dạng và phong phú, do đó sự ảnh hưởng của việc luyện tập đối với mỗi cơ thể sẽ khác nhau, vì vậy yêu cầu chức năng của hệ tim mạch cũng khác nhau

Ví dụ : khi tập song đấu và thi đấu, mạch tăng so với lúc yên tĩnh 65 - 77%, huyết

áp tối đa có thể đạt 175 - 210 mmHg, quyền thuật mạch đập tăng 56 ~ 66 %, huyết áp tối

đa tăng 174 - 200 mmHg

1.3.2.4 Sự biến đổi hệ hô hấp

Trong võ thuật, nhấn mạnh “tâm hợp ý”, “khí hợp lực”, khí cần trầm lặng, dùng khí đẩy lực, cho nên chức năng hô hấp có sự ảnh hưởng đặc biệt Kết quả nghiên cứu môn

Trang 16

11

Trường Quyền sơ cấp đã chứng minh, sau khi tập, tần số hô hấp tăng 31 - 34 lần/phút thông khí đạt 20 - 29 lít, tần xuất nợ ôxi tương đối cao, nợ ôxi được tiêu trừ cần 6 - 9 phút mới phục hồi như lúc yên tĩnh

Thực tế dung tích sống của VĐV võ đạt trung bình 4200 ml, VĐV võ nam có dung tích sống trung bình lớn hơn người bình thường 489,17 ml và nữ là 496,16 ml Bất kỳ VĐV chuyên nghiệp hoặc không chuyên, dung tích sống đều tốt hơn người bình thường, nam trung bình hơn 2,1 ml, nữ trung bình hơn 1,38 ml Do đó, chức năng hô hấp và hình thức hô hấp trong võ thuật cũng có những yêu cầu đặc biệt

1.3.2.5 Sự trao đổi chất trong võ thuật

Động tác kỹ thuật chuyên môn có rất nhiều, do đặc trưng chuyên môn đa dạng, nên

sự tiêu hao năng lượng có khác nhau

Qua nghiên cứu chứng minh rằng, trình độ VĐV được nâng cao, thì năng lực cung cấp năng lượng - ATP được nâng cao Đặc điểm biến đổi chức năng hô hấp của VĐV Taekwondo là: Nhu cầu O2 tương đối cao, sự cung cấp năng lượng ATP chủ yếu bằng con đường: Đường phân yếm khí, cho nên môn võ có thể nâng cao khả năng hoạt động yếm khí của cơ thể con người

1.3.3 Cơ sở khoa học môn võ Taekwondo

- Thời gian phản xạ và thời gian phản ứng: Trong huấn luyện và thi đấu Taekwondo thời gian phản ứng được xác định là khoảng thời gian thực hiện hoạt động phản ứng, còn thời gian phản xạ là khoảng thời gian được tính từ lúc tiếp nhận các kích thích đến khi trả lời các kích thích của hệ thần kinh Ví dụ trong một trận thi đấu Taekwondo, khi một VĐV phát hiện ra rằng đối tượng có ý định tấn công bằng đòn đá phối hợp sở trường thì anh ta vờ như không biết mà ngầm chuẩn bị phản công Khi đối phương thực hiện đòn tấn công thì anh ta bất ngờ né tránh và lập tức phản công Khoảng thời gian kể từ lúc đối phương thực hiện đòn tấn công cho đến khi anh ta thực hiện kỹ thuật né tránh hoặc ra đòn phản công được gọi là thời gian phản ứng Trên thực tế khoảng thời gian này luôn chịu sự phụ thuộc và có mối liên hệ mật thiết với thời gian phản xạ

Trong khi đó phản xạ có điều kiện có mối liên hệ mật thiết tới tất cả thời gian phản ứng và có thể được phát triển thông qua việc rèn luyện tập lặp lại các kỹ thuật cơ bản, được đánh giá thông qua tốc độ trả lời kích thích của hệ thần kinh trung ương

- Hoạt động thể chất: Khi một VĐV, người tập Taekwondo sử dụng chân hoặc tay của mình để thực hiện các đòn đấm, đá, kỹ thuật phòng thủ, di chuyển tránh né,… thì điều này được gọi là “hoạt động thể chất” Tuy nhiên nếu VĐV, người tập này ngồi trên

xe ô tô hay máy bay thì cho dù tốc độ di chuyển của anh ta có cao hơn nhiều so với tốc

độ chạy thì điều này cũng không được gọi là “hoạt động thể chất”

Nhìn chung chúng ta đều thừa nhận rằng một hoạt động động lực đã được diễn ra khi một vật thể được đi chuyển từ vị trí này sang vị trí khác Theo quan điểm này thì hoạt động thể chất chính là sự di chuyển vị trí của một phần hoặc của toàn bộ cơ thể được thực hiện theo sự điều khiển của các cơ quan chức năng bên trong cơ thể

- Hình thức vận động: Khi chúng ta quan sát một người đang thực hiện các cử động

khác nhau trong quá trình hoạt động thể chất chúng ta có thể dễ dàng nhận ra các đặc

Trang 17

12

điểm nổi bật và có thể chia chúng ra làm 2 nhóm là: Các chuyển động theo cùng một hướng và các chuyển động xoay vòng

Cũng tương tự như vậy các nhà khoa học đã chia các chuyển động cơ bản trong

môn võ Taekwondo ra làm hai loại là:

+ Chuyển động xoay tròn (chuyển động theo đường cong)

+ Chuyển động tịnh tiến (chuyển động theo đường thẳng)

Mối quan hệ của hai hình thái chuyển động được thể hiện bởi các điều sau:

+ Trong hoạt động thể chất chuyển động xoay tròn và tịnh tiến luôn đồng thời diễn ra + Trong chuyển động tịnh tiến chuyển động theo đường thẳng và chuyển động theo đường cong luôn kế tiếp nhau diễn ra

+ Chuyển động tịnh tiến trên đường thẳng được diễn ra khi hướng chuyển động nằm trên một đường thẳng

+ Chuyển động tịnh tiến theo đường cong được quyết định bởi hướng chuyển động

và lực xoay của một phần hoặc toàn bộ cơ thể khi thực hiện động tác

- Các nguyên tắc hình thành chuyển động: Có năm nguyên tắc cơ bản sau:

+ Nguyên tắc hoạt động ngược chiều: Trong quá trình hoạt động vận động diễn ra hai tay và hai chân luôn chuyển động theo hướng ngược chiều nhau

+ Nguyên tắc phối hợp toàn bộ cơ thể: Chuyển động được tạo ra bởi sự phối hợp của toàn bộ cơ thể

+ Nguyên tắc tập trung vào mục tiêu: Chuyển động chuyên môn được tạo ra để tấn công vào một mục tiêu cụ thể cho trước vì vậy tầm quan sát (mắt - sự chú ý) luôn phải hướng mục tiêu đó

+ Nguyên tắc nhảy, tránh né: Chuyển động phải được kết thúc khi hoàn thành động tác để động tác tiếp đất đảm bảo quá trình hoãn xung đầy đủ giảm chấn thương cho người thực hiện khi thực hiện các động tác trong điều kiện mặt chân đế rời nền

+ Nguyên tắc thu hiệu quả tối đa: Cũng giống như các vấn đề kinh tế xã hội, nguyên tắc này này nhắm tới mục đích biểu thị hoạt động “đạt hiệu quả tối đa với nỗ lực tối thiểu” nhất thiết phải được áp dụng trong quá trình giảng dạy, huấn luyện chuyên môn.Điều này đòi hỏi phải có sự đồng bộtrong hoạt động vận động giữa các bộ phận trong cơ thể người tập

- Chuyển động thẳng trong hoạt động thể chất (tốc độ chuyển động): Trên cùng một khoảng cách, hai người cùng thực hiện bài tập: Một người chạy và người kia đi bộ Sau khi họ thực hiện xong bài tập của mình, chúng ta sẽ thấy rằng có một sự khác biệt rất lớn

về thời gian thực hiện của hai người và trong trường hợp này, chúng ta đều cho rằng người chạy đã đạt tốc độ lớn hơn nhiều so với người đi bộ Mối liên quan giữa thời gian và tốc độ hay giữa thời gian và khoảng cách của một người chuyển động với vận tốc 5m/giây Khoảng cách và vận tốc trong chuyển động này được tính bằng công thức:

S V t

Trong đó: S là khoảng cách, t là thời gian và V là vận tốc

Trang 18

13

- Chuyển động bay trên không: Trong huấn luyện và thi đấu Taekwondo, khi thực hiện các kỹ thuật ở trên không thì góc độ bật nhảy tối ưu là từ 40 - 430 Với góc độ này cơ thể sẽ vươn tới được một độ cao tối ưu với điểm chạm của tay vào khoảng 2m15 Tuy nhiên trên thực tế sẽ rất khó đạt được độ cao này nếu vận tốc bật nhảy được đột ngột tăng lên Cũng giống như rất nhiều môn thể thao khác như: Nhảy cao, nhảy xa, các môn thể thao tốc độ… Taekwondo cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của chuyển động bay trên không Các kỹ thuật như nhảy đá bay, bật nhảy đá tống ngang, bật nhảy đá vòng sau… đều chịu ảnh hưởng tác động rất lớn của quy luật rơi tự do và chuyển động bay trên không

- Lực tác dụng: Lực là nhận tố chủ yếu tạo sự khác biệt về tính chất và hình thái trong hoạt động của con người Lực được tính bằng công thức:

Trong đó: a là gia tốc; V0 là vận tốc ban đầu; Vt là vận tốc tại thời điểm t; t là thời gian

- Động lực học và ba định luật của Niutơn:

+ Định Luật I (định luật quán tính): Dựa vào định luật I của Niutơn chúng ta biết rằng một vật sẽ bắt đầu chuyển động khi chịu một lực tác dụng vào nó và sẽ tiếp tục chuyển động trong một khoảng thời gian nhất định cho dù lực đã mất đi Khi một người chèo thuyền trên sông thì con thuyền vẫn tiếp tục tiến về phía trước thêm một đoạn nữa khi người chèo thuyền đã ngưng động tác chèo Trong trường hợp này nếu muốn ngay sau khi tạm ngưng động tác chèo thì phải có một lực ngược chiều tác dụng vào con thuyền

Trên thực tế chúng ta có thể đưa ra rất nhiều ví dụ như: Hành khách sẽ chúi về phía trước nếu xe đột ngột dừng lại và ngả về phía sau nếu xe đột nhiên chuyển bánh; đất sẽ rời khỏi xẻng khi xẻng đã ngừng chuyển động; xe đạp vẫn tiếp tục tiến them một quãng đường nữa khi ta đã ngừng đạp

+ Định luật II (định luật về gia tốc): Chúng ta biết rằng gia tốc của một vật tỷ lệ thuận với lực tác dụng và tỷ lệ nghịch với khối lượng của nó Vì vậy nếu người chèo thuyền thông qua động tác chèo tác dụng một lực có cường độ lớn hơn vào con thuyền thì con thuyền sẽ trôi nhanh hơn Sau đó tốc độ con thuyền sẽ thay đổi phụ thuộc vào cường

độ và mật độ của lực tác dụng Trong trường hợp cùng chịu tác dụng của một lực như nhau thì con thuyền nào có khối lượng nhỏ hơn sẽ trôi nhanh hơn

+ Định Luật III (lực tác dụng và phản lực): Theo định luật III Niuton thì lực tương tác giữa hai vật là hai lực trực đối, nghĩa là cùng độ lớn, cùng phương nhưng ngược chiều

và gia tốc mà chúng thu được luôn luôn tỷ lệ nghịch với khối lượng của chúng Bởi vậy khi một đứa trẻ và một người thanh niên đứng đối diện nhau trên sân trượt băng, khi đứa trẻ tác dụng một lực làm người thanh niên trượt về phía sau thì đồng thời đứa trẻ cũng bị

Trang 19

14

đẩy ngược về phía sau do tác động từ phản lực của người thanh niên Trong trường hợp này đứa trẻ sẽ bị đẩy ngược về phía sau với tốc độ nhanh hơn bởi vì nó thu được gia tốc lớn hơn do khối lượng nhỏ hơn người thanh niên

- Trọng tâm và sự thăng bằng: Trọng tâm cơ thể có vai trò rất quang trọng đối với các hoạt động thể thao và nó càng trở nên đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động song đấu và thi đấu Taekwondo, nơi mà các kỹ thuật tấn công, tránh né và phòng thủ… đều có mối liên hệ mật thiết với nhân tố này

+ Trọng tâm: Trên mỗi vật rắn hoặc trên cơ thể của mỗi người đều có một điểm đặc

biệt được gọi là trọng tâm Đó chính là điểm đặt của trọng lực tác dụng lên vật hay là điểm đặt của trọng lượng cơ thể (theo lý thuyết văn hóa cổ, điểm đặt trọng tâm cơ thể được cho là trùng với huyệt đan điền - phía dưới rốn khoảng 3-5cm)

Như chúng ta đã biết khi thực hiện bất cứ mọi hoạt động thể chất nào thì con người cũng phải chống lại lực hút của trái đất và vì vậy tất cả các hoạt động này đều chịu ảnh hưởng của trọng tâm cơ thể

+ Duy trì thăng bằng của cơ thể: Việc duy trì thăng bằng của cơ thể đóng một vai

trò rất quan trọng trong quá trình huấn luyện và thi đấu Taekwondo

Do hoạt động của con người chịu ảnh hưởng trực tiếp của nguyên lý hoạt động động lực, cho nên nếu cơ thể ở trạng thái vững vàng, ổn định thì sẽ rất vững chắc nhưng lại rất khó khăn cho việc triển khai hoạt động và ngược lại mọi hoạt động sẽ được triển khai một cách dễ dàng hơn nếu cơ thể không ở trong trạng thái quá vững vàng và ổn định + Các điều kiện để duy trì thăng bằng của cơ thể:

1- Mặt chân đế rộng

2- Hạ thấp trọng tâm cơ thể

3- Duy trì trọng lượng tối ưu

4- Trọng tâm cơ thể luôn nằm trong vùng chân đế

1.4 Xu hướng phát triển hiện đại

1.4.1 Những thế mạnh đặc biệt của môn võ Taekwondo

Cái tên Taekwondo được chính thức được công bố rộng rãi đến thế giới kể từ ngày 11/4/1955, tuy nhiên, những yếu tố cấu thành nên đặc điểm của Taekwondo ngày nay đã hình thành trong lòng dân tộc Triều Tiên và những vùng phụ cận từ những năm 37 trước Công nguyên Lớn mạnh, liên tục bổ sung, cải tiến, va chạm với nhiều bộ môn võ thuật khác, những gì thuộc về Taekwondo chúng ta thấy ngày hôm nay là công sức của rất nhiều thế hệ tiền bối dày công gây dựng Nối tiếp truyền thống đó, Taekwondo ngày hôm nay vẫn luôn phát triển mạnh mẽ với nhiều thế mạnh đặc biệt mà không phải môn võ nào cũng có

- Số lượng võ sinh đông đảo - nguồn nhân lực lớn để phát triển, truyền bá Taekwondo: Taekwondo hiện nay là một trong những môn võ có đông đảo người theo học, không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở hầu hết mọi khu vực trên toàn thế giới

Số lượng võ sinh là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của

cả bộ môn Số lượng môn sinh tỷ lệ thuận với nguồn nhân lực mà bộ môn có được trong

Trang 20

15

công cuộc phát triển, cải tiến các kỹ thuật, va chạm cọ xát với các bộ môn khác, cũng như

có nhiều cơ hội hơn để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài

- Tính phổ cập mạnh và thích ứng nhanh - Nhiều võ sĩ Taekwondo bước ra và thành công những đấu trường khác: Dù Taekwondo có hệ thống giải đấu chặt chẽ, đa dạng ở nhiều trình độ và cấp độ (quốc gia, khu vực, quốc tế), tuy nhiên, cũng như nhiều môn võ khác, đã có không ít các võ sĩ Taekwondo thử sức mình ở những giải đấu ngoài bộ môn, đặc biệt là Kickboxing và MMA (võ tổng hợp)

Một nguyên nhân dễ hiểu mà ta có thể dùng để lý giải cho việc này, đó là Taekwondo sở hữu hệ thống kĩ thuật Striking (hệ kỹ thuật tấn công gây sát thương bằng

va chạm trực tiếp) rất phong phú, đa dạng Ta có thể dễ dàng tìm thấy ở Taekwondo nhiều kỹ thuật đấm - đá tương đồng với các bộ môn khác như Kickboxing, Muay Thái, Karate… Chính vì thế mà các võ sĩ với nền tảng Taekwondo có thể dễ dàng thích nghi với điều kiện thi đấu của nhiều giải đấu lớn khác

Điều này không ảnh hưởng xấu đến hình ảnh cũng như uy tín của Taekwondo, mà ngược lại, nó còn chứng minh được sức mạnh không hề mai một của Taekwondo khi đối mặt với những môn võ “mới” tại những đấu trường “mở” - nơi người ta không chỉ dùng

kỹ thuật Taekwondo

Ngoài Tán thủ, Taekwondo cũng là bộ môn đã làm nên phần lớn sức mạnh của Cung Lê trên võ đài Kickboxing và võ tổng hợp với đòn Spinning wheel kick (tên thường gọi trong Taekwondo là Hetsu Chagi), cú đá mà anh đã thừa nhận “tôi nắm vững được nhờ Taekwondo”

Serkan Yılmaz là một võ sĩ Kickboxing đại diện cho những võ sinh đi lên từ nền tảng Taekwondo Bên cạnh đó, còn có những cái tên rất đáng chú ý khác như Mirko Filipovic, Branko Cikatic, Rick Roufus…

- Hệ thống quản lý chặt chẽ, khoa học: Taekwondo hiện nay tồn tại hai hệ thống quản lý lớn, đó là: International Taekwon - Do Federation, hay còn gọi tắt là ITF và World Taekwondo Federation, hay còn viết tắt là WTF Đây cũng là tổ chức được Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) chính thức công nhận là liên đoàn thể thao với vai trò quản lý cho môn võ Taekwondo ở hàng quốc tế

Với hệ thống quản lý chặt chẽ, phân cấp rõ ràng (khu vực, quốc gia, tỉnh thành…) Taekwondo dễ dàng tổ chức thành công các giải thi đấu, các sự kiện võ thuật, thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh; cũng như kịp thời đưa ra những thay đổi, cải tiến hợp lý trong tổ chức thi đấu, cũng như hoàn thiện hệ thống kỹ thuật của bộ môn

Dưới sự giám sát của Uỷ ban Olympic Quốc tế, WTF luôn đưa ra những thay đổi phù hợp, áp dụng những công nghệ mới nhất vào thi đấu, cũng như cải thiện kỹ thuật, bài quyền chung cho Taekwondo

Năm 2012, WTF tuyên bố sử dụng giáp điện tử trong thi đấu Taekwondo, thay thế giáp LaJust cũ Giáp điện tử mới trở thành một trong những tâm điểm của vấn đề thể thao hoá và chuyên nghiệp hoá trong thi đấu Taekwondo, đồng thời cũng phản ánh rõ nét sự hiệu quả của hệ thống quản lý Taekwondo thế giới

Trang 21

16

- Tinh thần đạo đức của Taekwondo phù hợp với nhiều dân tộc, khu vực: Cũng như nhiều môn võ khác, Taekwondo tồn tại bộ quy tắc ứng xử chung dành cho toàn bộ các môn sinh: + Kính trọng sư phụ, các bậc đàn anh, chị

+ Không dùng Taekwondo cho mục đích xấu

+ Luôn bênh vực cho tự do và công lý

+ Phấn đấu xây dựng xã hội và thế giới tốt đẹp hơn

(Những mục nêu trên có thể được tuỳ biến phần nào để phù hợp với văn hoá, phong tục từng quốc gia, địa phương)

Cũng như nhiều môn võ khác, tinh thần thượng võ, thể thao công bằng, lành mạnh

và hữu nghị là những nét đẹp của bộ môn Taekwondo

Nói chung, tinh thần của Taekwondo phù hợp với nhân đạo, khuyến khích người luyện tập thực hiện những hành vi tốt đẹp nên dễ dàng được nhiều dân tộc, khu vực chấp nhận truyền bá Có thể nói, ngoài mục đích rèn luyện phẩm chất đạo đức võ sinh, những quy định tinhthần của Taekwondo cũng là yếu tốgiúp Taekwondo có thể dễ dàng truyềnbá rộng rãi, cũng như tạo dựng uy tín của Taekwondo trong lòng võ sinh cũng như những người khác

- Tính chất cũ - mới hoà hợp của Taekwondo: Có thể dùng những sự kiện, nhân vật

để xác định thời gian một môn võ được chính thức tổng kết và công bố Tuy nhiên, thật khó để nói chắc chắn rằng một môn võ được hình thành từ khi nào

Từ trong lòng mỗi dân tộc cổ đại đã tồn tại khái niệm chiến đấu và hình thành ý thức hoàn thiện hoá, ưu thế hoá kỹ thuật chiến đấu Từng kinh nghiệm của loài người nói chung, và của mỗi dân tộc nói riêng đúc kết được về những đòn đấm, đá sao cho nhanh hơn, mạnh hơn đã có từ trước Công nguyên, thậm chí là trước đó nữa

Taekwondo cũng nằm trong quy luật đó Với lịch sử trải dài gần như trọn vẹn hết quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Triều Tiên, cùng với nhiều lần biến đổi cả

về tên gọi, hình thức, cộng thêm thời gian dài chịu ảnh hưởng một phần từ Karate Nhật Bản, cũng không thể lấy mốc thời gian 1955 (năm cái tên “Taekwondo” ra đời) để nói rằng Taekwondo là một bộ môn võ thuật còn “trẻ” Tuy chỉ mấy mươi năm, nhưng lại là khoảng thời gian đỉnh điểm của phong trào giao lưu trao đổi tinh hoa và kinh nghiệm giữa các bộ môn võ thuật trên toàn thế giới, khoảng thời gian đã đưa Taekwondo chuyển mình mạnh mẽ và có được chỗ đứng như ngày hôm nay

Vừa tích luỹ và gìn giữ được kinh nghiệm chiến đấu của dân tộc Triều Tiên, vừa nhạy bén chọn lọc và tiếp thu tinh hoa võ thuật từ nhiều môn võ, kỹ thuật Taekwondo ngày nay pha trộn nhiều yếu tố xưa cũ - hiện đại, vẫn coi trọng yếu tố chuẩn mực, chính xác như nhiều môn võ truyền thống, vừa đề cao tính hiệu quả, thực tế chiến đấu như võ thuật hiện đại, Taekwondo đã từ lâu thoát khỏi cái bóng “Karate Hàn Quốc” (Taekwondo

đã từng bị hiểu lầm như thế trong suốt thời kỳ Karate du nhập vào Hàn Quốc), có được chỗ đứng xứng đáng của mình trên bản đồ võ thuật thế giới

1.4.2 Phương hướng phát triển môn học trên thế giới

Taekwondo là môn thể thao phát triển toàn diện sử dụng cả chân và tay Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay trên thế giới, khi thi đấu, các VĐV sử dụng đòn chân nhiều hơn

Trang 22

có kỹ thuật cơ bản, kỹ thuật thi đấu đỉnh cao, chiến thuật, tâm lý… và các đòn sở trường của từng VĐV Các kỹ thuật trong Taekwondo rất đa dạng và phức tạp bao gồm; di chuyển, tấn công, phòng thủ, phản công, các hình thức chiến thuật, lối đánh xa, gần, trung bình Ngoài ra, các tri giác chuyên môn như cảm giác về cự ly, tốc độ cũng có ý nghĩa rất quan trọng Trong thi đấu Taekwondo, các VĐV có thể sử dụng rất nhiều kỹ thuật khác nhau nhưng trên thực tế, những kỹ thuật thường được sử dụng nhất là: kỹ thuật

đá (Chagi), di chuyển (Baljitgi), kỹ thuật đỡ (Makki), kỹ thuật đấm (Jireugi), động tác giả (Sogiman), thế thủ, các tư thế đứng cơ bản tuy nhiên ở từng quốc gia việc áp dụng vào thi đấu có khác nhau dựa theo lối đánh truyền thống của họ như Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Pháp có lối đánh truyền thống uy lực lấy tấn công là chính trong khi đó một số quốc gia khác trong đó có Việt Nam lại có sự kết hợp giữa lối đánh phòng thủ và tấn công

Với 48 Quốc gia có phong trào tập luyện và thi đấu môn Taekwondo, Châu Á hiện nay đang được coi là khu vực có phong trào tập luyện và đạt được nhiều thành tích thi đấu tốt nhất trên Thế giới

Tại khu vực Đông Nam Á: Căn cứ vào thành tích thi đấu tại 4 kỳ Seagames gần đây nhất có thể chia các quốc gia làm 3 loại:

- Loại 1: Các quốc gia có phong trào mạnh gồm Việt Nam, Philippine, Thái Lan, Indonesia và Malaysia

- Loại 2: Gồm các quốc gia Myamar và Lào

- Loại 3: Gồm các quốc gia Campuchia, Singapore và Brunei

Đánh giá trình độ của từng quốc gia:

- Nhóm 1: + Việt Nam: Có lực lượng VĐV kế cận tốt, phần lớn các VĐV trẻ, kỹ chiến thuật thi đấu tốt, có thể duy trì thành tích thi đấu ở một số hạng cân tại các kỳ Seagames sau này như: Nữ 47kg, 51kg; Nam 58kg, 84kg và trên 84kg

+ Philippine: Có lực lượng VĐV trong các giải trẻ được đánh giá trong tốp mạnh,

kỹ chiến thuật thi đấu tốt Mạnh ở một số hạng cân nhỏ của nam và nữ

+ Malaysia: Phần lớn các VĐV trẻ có hình thể tốt, kỹ chiến thuật thi đấu tốt, đặc biệt mạnh ở một số hạng cân nữ trên 72kg và 55kg

+ Thái lan: Đây là nước có lực lượng VĐV trẻ có kỹ chiến thuật thi đấu và thể hình rất tốt là đối thủ chính của Việt Nam tại các kỳ Seagames

+ Indonesia: Hiện nay phần lớn các VĐV có thành tích đã lớn tuổi, số VĐV trẻ chưa kịp tiếp cận với trình độ quốc tế

- Nhóm 2: + Myamar: Lực lượng VĐV trẻ chiếm tỷ lệ lớn, có kỹ thuật thể lực tốt, mạnh ở một số hạng cân nữ: 47kg, 51kg và 55kg; Nam 72kg

Trang 23

18

+ Lào: Mạnh ở một số hạng cân của Nam 72kg, 62kg

- Nhóm 3: Gồm các quốc gia còn lại: Singapore, Brunei, Campuchia

Nhìn chung các nước này chưa chú trọng đến phát triển môn võ Taekwondo nên chưa phải là đối thủ trong tương lai

1.4.3 Phương hướng phát triển môn học tại Việt Nam

Ở nước ta, Taekwondo là môn võ được hình thành muộn hơn so với các môn thể thao khác, song lại nhanh chóng thu hút được đông đảo lực lượng thanh thiếu niên trong

cả nước tham gia tập luyện, thi đấu Hiện cả nước có trên 50 đơn vị có phong trào tập luyện và thi đấu Taekwondo

Du nhập vào việt Nam từ năm 1962, Taekwondo được người Việt Nam biết đến qua các chuyến lưu diễn của các đoàn Taekwondo Triều Tiên và mở lớp chính thức tại Sài Gòn, do thầy Kim Boang Sai đảm nhiệm Giải vô địch Taekwondo Nam Kỳ đầu tiên được tổ chức vào năm 1965 Phải tới năm 1988, Taekwondo mới bắt đầu được truyền bá

ở Hà Nội Chỉ sau đó 1 năm, cả nước đã có hơn 20 đơn vị tỉnh, thành, ngành bắt đầu có phong trào tập luyện Taekwondo Từ năm 1993, giải vô địch Taekwondo toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại TPHCM và Taekwondo được chính thức đưa vào hệ thống các giải đấu đỉnh cao hàng năm do ủy ban TDTT tổ chức (lúc đó là Tổng cục TDTT) Mỗi năm, Taekwondo Việt Nam có 3 giải đấu chính thức là giải vô địch Taekwondo toàn quốc, vô địch Taekwondo trẻ toàn quốc và Cúp Taekwondo toàn quốc Ngoài ra, trong hệ thống thi đấu này, còn có thêm 2 giải quốc tế lớn là giải Taekwondo Hà Nội và TPHCM

mở rộng Khi uy tín trên trường quốc tế được nâng lên, thì Taekwondo Việt Nam bắt đầu được Liên đoàn Taekwondo thế giới giao tổ chức các giải đấu lớn như giải vô địch Taekwondo Đông Nam á, Châu á, Cúp Thế giới

Cùng với sự phát triển của ngành TDTT, môn võ Taekwondo đã có những bước tiến vượt bậc và có những đóng góp đáng kể vào thành tích của Thể thao Việt Nam Trên đấu truờng quốc tế, từ khu vực, châu lục và thế giới, đều có dấu ấn đáng tự hào của Taekwondo Việt Nam Tên tuổi nhiều võ sỹ Taekwondo đã gắn liền với vinh quang như Trần Quang Hạ (HCV Asiad 12, HCV Sea Games 16, 18), Hồ Nhất Thống (HCV Asiad

13, HCV Sea Games 19, 20), Nguyễn Văn Hùng (HCV Sea Games 20), Nguyễn Thị Xuân Mai (HCV Sea Games 18) Đặc biệt, tấm HCB Olympic Sydney 2000 của Trần Hiếu Ngân, đã đánh một mốc son trong bước tiến của Thể thao Việt Nam, bởi đây là lần đầu tiên, Thể thao Việt Nam mới có được huy chương tại Đại hội lớn nhất hành tinh này

1.4.4 Định hướng phát triển năng lực chuyên môn

1.4.4.1 Khái niệm năng lực và năng lực chuyên môn

- Khái niệm chung về năng lực: Theo quan điểm của những nhà tâm lý học “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đạc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao” Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có

Trang 24

19

Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực lát tập, năng lực tưởng tưởng

- Khái niệm năng lực chuyên môn: Năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của

xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội họa, toán học, TDTT Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực

xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:

- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, tư liệu học, tập liên quan ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy

- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn

bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.4.4.2 Phát triển môn học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Võ – Taekwondo

1.4.4.2.1 Phương pháp giảng dạy định hướng năng lực cho học sinh học võ

Trang 25

20

- Dạy học thông qua các hoạt động tập luyện thực tế của học sinh:

+ Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động tập luyện, thi đấu, biểu diễn chuyên môn… từ đó giúp HS tự lĩnh hội kỹ năng vận động chuyên môn

+ Người giáo viên chủ động đưa ra các bài tập và bài tập lớn thay vì chỉ giảng dạy

và cho tập luyện đơn thuần

+ Các dạng bài tập có thể được diễn ra theo hình thức: Tự học, tự tìm hiểu trước; Các dạng câu hỏi hoặc kiến thức về khả năng phối hợp nhóm của các loại kỹ thuật; Ứng dụng, biến thể của các loại kỹ thuật; Đặc trưng và lỗi sai cơ bản khi thực hiện một kỹ thuật đơn hoặc nhóm kỹ thuật; Phân tích tình huống và giải pháp chuyên môn phù hợp; Thiết kế chương trình tự tập luyện và tập luyện; Đánh giá nhận xét việc thực hiện một hoạt động chuyên môn; Thiết kế một chương trình biểu diễn cùng cấp, sáng tạo; Ưu nhược điểm của việc sử dụng một bài tập; Lựa chọn và đánh giá một bài tập thể lực chuyên môn; Lựa chọn các bài tập bổ trợ phù hợp cho một dạng vận động chuyên môn

- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học:

+ Chú trọng rèn luyện cho HS những tri thức, phương pháp, kinh nghiệm tìm kiếm nguồn tài liệu chuyên môn phù hợp với yêu cầu tập luyện

+ Chú trọng quá trình tìm hiểu các ứng dụng tìm kiếm trên các trang mạng xã hội + Phương pháp sử lý nguồn thông tin đối với các tư liệu hình ảnh cở bản (thường thấy nhất)

+ Phương pháp sử lý tình huống và luyện tập thế cụ thể

+ Xây dựng và thực hành phương pháp thiết kế chương trình tự tập luyện và tập luyện

học tập cá thể với học tập hợp tác giữa các HS với nhau bằng cách thực hiện theo các nguyên tắc sau:

+ HS phải tự tư duy nhiều hơn trong việc thu thập và sử lý thông tin từ chính quá trình giảng dạy và tự thu thập thông tin Người giáo viên đưa ra các nguồn có sẵn, trên cơ

sở đó đòi hỏi HS tự thu lấy những kiến thức cần để bổ xung vào hoạt động tập luyện thực tế + Tự tập luyện nhiều hơn nhằm hoàn thành các yêu cầu học, tập luyện và các yêu cầu mang tính cá nhân như là một cách thể hiện cái tôi của bản thân trước tập thể

+ HS nói, trao đổi, thảo luận chủ động và thường xuyên hơn là hỏi Có thể hiểu đơn giản là các HS tự tìm được cách giải quyết vấn đề trước khi nhận được sự hỗ trợ của giáo viên giảng dạy

+ Giáo viên thêm phần trao đổi kinh nghiệm hoạt động vào các hoạt động giảng dạy hướng dẫn tập luyện

- Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh:

+ Giáo viên đặt ra các câu hỏi về nhiệm vụ và trọng tâm vấn đề hoạt động vận động, cũng có thể coi nó như bài tập để kiểm tra thường niên

+ Kiểm tra kỹ năng chuyên môn cụ thể theo giờ học của HS

+ Đưa các mẫu (đúng và sai)và yêu cầu phân tích hoạt động đó theo nội dung buổi học

Trang 26

21

+ Đánh giá hoạt động vận động và tính thẩm mỹ của nó đối với HS

So sánh đặc điểm của dạy học cựu truyền và dạy học mới như sau:

Bảng 1.1 So sánh đặc điểm dạy học cựu truyền và dạy học năng lực

Yếu tố Dạy học truyền thống Các mô hình dạy học mới

Quan

niệm

Học là hấp thụ và lĩnh hội,

qua đó hình thành kiến thức,

năng lực, tư tưởng, tình cảm,

kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn

Học là qúa trình kiến tạo; học trò tìm tòi, khám phá, phát hiện, tập luyện, khai khẩn và xử lý thông tin… tự hình thành thông hiểu, năng lực, phẩm chất và kỹ năng kỹ xảo chuyên môn

Bản

chất

Giảng dạy kiến thức và

chứng minh vai trò của giáo

viên

Tổ chứchoạt động nhận thức vì người học và phụthuộc vào nhu cầu thực trạng của đối tượng tập luyện Dạy học trò cách tìm ra cách phát triển, lựa chọn con đường phát triển theo hệ kiến thức đã được trang bị kết hợp kinh nghiệm thực tế chuyên môn của người dạy

khác Sau khi thi xong những

kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

thường bị bỏ quên, ít dùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực ( sáng tạo, hợp tác,… ) dạy biện pháp và cách thức tự tìm hiểu và phát triển một hướng nào đó trong cuộc sống Học, tập luyện để đáp ứng những đề nghị của cuộc sống hiện tại

và tương lai và của cá nhân không phải vì điều khác

Hoàn cảnh và nhu cầu của xã hội

Tâm lý học sinh

Biện

pháp

Các phương pháp làm mẫu, bắt

chước, truyền thụ bằng lời

nói… mang tính tương tác hẹp

Các biện pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác kết hợp ứng dụng thực tế

Hình

thức

tổ

chức

Cố định Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng tập, trong

thực tế tập luyện, trao đổi toạ đàm, theo nhóm, trong thi đấu, trong biểu diễn, trong các hoạt động

xã hội về chuyên môn và trong các tình huống thực hiện mối quan hệ hai chiều thầy - trò…

1.4.4.2.2 Phương hướng phát triển môn học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh

a Phương hướng giảng dạy

- Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống kết hợp kỹ thuật dạy học hiện đại:

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền

Trang 27

22

thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật chuyên môn trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành giảng dạy, kỹ thuật đặt các câu hỏi tình huống và xử lý các câu trả lời trong ứng dụng, hay kỹ thuật làm mẫu (chú trọng lỗi và sửa lỗi kỹ thuật) trong luyện tập

Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề

- Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học vận động: Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học Dạy học tập thể phong trào, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá biệt là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng

- Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn

đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề

Học được đặt trong một tình huống vận động cụ thể có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh tiếp nhận kiến thức về chuyên môn, kỹ năng và phương pháp nhận thức và kinh nghiệm chuyên môn Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ

tự lực khác nhau của học sinh

Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với ứng dụng Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống

- Vận dụng dạy học theo tình huống: Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo kiến thức, kỹ năng theo cá nhân Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn

Võ thuật luôn gắn liền với các hình ảnh anh hùng, ca ngợi lòng dũng cảm và sức mạnh của đạo đức con người, tuy nhiên trong thực tế việc vận dụng tư tưởng môn học đúng và phù hợp vớiđạo đức xã hội là điều nên chú trọng phân tích chỉ dẫn hợp lý tránh trường hợp hiểu một chiều

Trang 28

23

Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm

- Vận dụng dạy học định hướng hành động: Dạy học định hướng hoạt động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động tư duy và hoạt động vận động chuyên môn kết hợp chặt chẽ với nhau

Trong dạng hoạt động này chú trọng tới việc định hướng chuyên môn và quan đểm, mục tiêu học tập cho học sinh Đây là dạng hoạt động mang định hướng tích cực cá nhân đồng thời cũng có những yếu tố định hướng nghề nghiệp trong các trường hợp cá biệt hóa

- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học

- Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo: Kỹ thuật dạy học

là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống và sử lý tình huống vận động chuyên môn nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học

Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Có những

kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy

- Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn: Là cá nguyên tắc giảng dạy môn vận động chuyên môn, gồm: Nguyên tắc phát triển hài hòa (đồng đều); nguyên tắc

tự giác tích cực; nguyên tắc vừa sức và đối đãi cá biệt; nguyên tắc tập thể; nguyên tắc phát triển toàn diện; nguyên tắc thường xuyên liên tục; nguyên tắc trực quan; nguyên tắc sáng tạo; nguyên tắc kiểm tra đánh giá

- Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh: Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn

Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân

b Các yếu tố chuyên môn về năng lực và phương pháp

Trang 29

24

- Học tổ chức hoạt động chuyên môn → có năng lực tổ chức các hoạt động chuyên môn: Thiết kế và thực hiện các chương trình tập luyện, biểu diễn, thi đấu và trọng tài chuyên môn cơ bản

- Học tự trải nghiệm đánh giá, đạo đức và phương hướng phát triển chuyên môn →

có năng lực đạo đức tư tưởng, chuyên môn vững: Tự đánh giá và hành động theo chuẩn chuyên môn và xã hội, có khả năng thiết kế, tổ chức các hoạt động chuyên môn

2 Chuẩn đầu ra

- Phẩm chất: Nắm vững hệ tư tưởng chuyên môn phù hợp với đạo đức xã hội

- Năng lực chung: Tự thiết kế và tiến hành tổ chức tập luyện, thi đấu và các hoạt động đặc thù chuyên môn, sáng tạo…

- Năng lực chuyên biệt: Được thể hiện thông qua bảng sau

Bảng 1.2 Các mức năng lực chuyên biệt môn Võ - Taekwondo

Năng lực Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5 Tìm k iếm

Biết cách tìm tài liệu

Biết cách phân loại tài liệu chuyên môn

Biết cách lựa chọn, sử lý tài liệu thu được

Sử dụng thông tin tài liệu thu được vào thực tế học, tập luyện chuyên môn

Thực hành

kỹ thuật

Nắm bắt được hình thái kỹ thuật

Củng cố hoàn thiện

kỹ thuật

Tạo thành

kỹ năng kỹ xảo động tác

Tự động hóa thực hiện hoạt động vận động chuyên môn

bỏ qua giai đoan tư duy ban đầu

Nắm được yêu cầu, nguyên tắc, phương pháp của chương trình tập luyện

Tập hợp được các bài tập và mối liên hệ giữa chúng với nhau

Thiết kế, thực hiện được hoạt động cá nhân

Thiết kế chương trình hoạt động tập luyện tập thể

và thực hành

Tổ chức tập

luyện

Nắm vững khái niệm, yêu cầu, phương pháp khi tập luyện

Nắm phương pháp thực hành

chuyên môn

Nắm vững kiến thức, kỹ năng sử dụng dụng cụ và bảo hiểm chuyên môn

Tổ chức hoạt động tự tập luyện

Tổ chức tập luyện chuyên môn

Thi đấu Nắm vững kỹ

thuật và phối hợp kỹ thuật chuyên môn

Có kỹ năng

kỹ xảo chuyên môn

Nắm vững luật thi đấu

và thể lực chuyên môn tốt

Chiến thuật và các điều kiện tâm sinh lý chuyên môn

Song đấu và thi đấu

Trọng tài Nắm vững Hiểu được Xử lý linh Thực hành luật Điều hành thi

Trang 30

25

luật luật hoạt các tình

huống phát sinh trong luật

trong song đấu đấu

Sáng tạo Nắm vững

kỹ thuật cơ bản chuyên môn

Nắm được

cơ bản các nội dung chuyên môn

Có hiểu biết khoa học về

sư phạm và

xã hội

Hiểu tác dụng của hoạt động vận động tới sự phát triển thể chất và chuyên môn

Xây dựng hoạt động sáng tạo

Có trình độ chuyên môn

và giá trị thẩm mỹ trong hoạt động TDTT

Hệ tiêu chuẩn đánh giá chuyên môn

Xây dựng và so sánh tiêu chuẩn đánh giá với các điều kiện thực tế hoạt động vận động chuyên môn

Quan điểm cá nhân về hoạt động chuyên môn cụ thể

Nắm được nội dung hoạt động

cơ bản chuyên môn

Thiết kế được các chương trình hoạt động chuyên môn

Tổ chức các hoạt động chuyên môn

Có khả năng liên

hệ, phối hợp, tổ chức các hoạt động chuyên môn với các hoạt động

xã hội khác

Phát triển

thể lực

Hiểu biết hoạt động vận động chuyên môn

Ý nghĩa của hoạt động vận động đối với sự phát triển thể chất

Nắm vững các nguyên tắc tập luyện

Nắm vững mối liên hệ giữa các bài tập trong mối quan hệ tương tác qua lại khi kết hợp thực hiện

Xây dựng được

kế hoạch, chương trình tập luyện chi tiết

Phát triển

năng lực cá

nhân

Hiểu biết về chuyên môn

và năng lực con người

Có vốn kiến thức chuyên môn tốt

Có khả năng thiết kế, thực hiện các chương trình hoạt động chuyên môn

Năng lực và kiến thức đánh giá cụ thể về ý nghĩa tác dụng của một hoạt động chuyên môn

Thiết kế hoạt động chuyên môn phát triển năng lực

3 Các kỹ thuật dạy học theo định hướng năng lực áp dụng trong giảng dạy môn võ Taekwondo

- Kỹ thuật đặt câu hỏi: Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, giáo viên thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm giao viên và các HS khác về những nội dung bài học chưa sáng tỏ

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa học sinh - giáo viên

và học sinh - học sinh Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của học sinh càng nhiều; học sinh sẽ học tập tích cực hơn

Trang 31

26

- Kỹ thuật khăn trải bàn: Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực cảu chính học sinh trong những nội dung học, tập luyện; tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh; phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh trong việc giải quyết các nhiệm vụ học, tập luyện

- Kỹ thuật các mảnh ghép: Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm

và liên kết giữa các nhóm nhằm:

+ Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)

+ Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh

+ Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm

vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)

- Kỹ thuật động não: Động não (còn gọi là công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra "cơn lốc” các ý tưởng)

- Kỹ thuật tia chớp: Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề

- Kỹ thuật bể cá: Là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm học sinh ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những học sinh khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa

ra những nhận xét về cách ứng xử của những học sinh thảo luận

Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau

- Kỹ thuật trình bày 1 phút: Đây là kỹ thuật tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời học sinh đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho giáo viên thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào

Kỹ thuật này có thể tiến hành như sau: Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp? Học sinh suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của học sinh có thể dưới nhiều hình thức khác nhau

Trang 32

27

Mỗi học sinh trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm

- Kỹ thuật trò chơi: Sử dụng các trò chơi nhằm phát triển các hoạt động vận động có lựa chọn

- Kỹ thuật quan sát: Áp dụng trong việc đánh giá, nhận thức một dạng vận động cụ thể, thường là mới tiếp nhận hoặc đã tiếp nhận sâu (quan điểm và đánh giá cá nhân)

- Kỹ thuật sơ đồ tư duy: Là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não

Cách tiến hành: + Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay từ khóa thể hiện một

ý tưởng, khái niệm, chủ đề, nội dung chính

+ Từ trung tâm sẽ được phát triển với hình ảnh hay các từ khóa liên quan

+ Từ các nhánh chính tiếp tục phát triển phân nhánh đến các hình ảnh hay từ khóa liên quan đến nhánh chính

+ Cứ tiếp sự phân nhánh tiếp tục và các khái niệm, nội dung, kiến thức được kết nối với nhau

4 Hình thức tổ chức dạy học

- Chính khoá (nội khóa): Là hoạt động giáo dục bắt buộc, được thực hiện theo chương trình môn học GDTC được quy định bởi chương trình giáo dục chung và theo đặc điểm hoạt động giảng dạy của từng cơ sở đào tạo

Đặc điểm của hoạt động chính khóa:

- Quy định chặt chẽ về chương trình môn học

- Quy định chặt chẽ về thời gian đào tạo

- Có chế độ kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn

- Ngoại khoá: Hoạt động TDTT ngoại khoá là hoạt động TDTT có tổ chức được tiến hành ngoài giờ học chính khoá của học sinh

Đặc điểm hoạt động TDTT ngoại khoá:

+ Tính chất hoạt động bao gồm: hoạt động bắt buộc và tự nguyện

+ Nội dung hoạt động ngoại khoá rất phong phú

+ Về hình thức hoạt động TDTT ngoại khoá rất đa dạng, phương pháp rất linh hoạt + Vai trò của giáo viên và học sinh: Trong hoạt động TDTT ngoại khoá giáo viên đóng vai trò chủ đạo, tư vấn, quan sát Học sinh có cơ hội phát huy vai trò chủ thể của mình, như vậy học sinh phát huy đầy đủ tính tích cực, chủ động, sáng tạo, qua đó bồi dưỡng lòng hăng say, hứng thú tập luyện và các phẩm chất khác

+ Qui mô hoạt động mang tính mở rộng

+ Quan hệ giữa phổ cập và nâng cao: Với tất cả 100% học sinh tham gia thì đây là tính phổ cập Những học sinh được tập luyện trong các đội thể thao thì mang tính nâng cao

Trang 33

sự khác biệt, hình thành một thể thống nhất của GDTC trường học

1.5 Nghiên cứu khoa học chuyên môn

1.5.1 Khái niệm

- Khoa học TDTT: Là hệ thống tri thức chuyên ngành (lĩnh vực) văn hoá thể chất,

về những quy luật phát triển khách quan của thể chất và phẩm chất của con người Hệ thống tri thức này được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển của xã hội

- Nghiên cứu khoa học TDTT: Là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của văn hóa, thể chất và các hoạt động liên quan; sáng tạo ra các giải pháp nhằm ứng dụng phát triển năng lực thể chất cao nhất của con người và thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vật chất trong thực tiễn xã hội

- Mục tiêu của NCKH trong GDTC: Là nhằm điều khiển sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần con người theo một định hướng giá trị và có chủ định

1.5.2 Đặc điểm nghiên cứu khoa học trong TDTT

Khoa học TDTT là lĩnh vực khoa học mới có bước phát triển mạnh mẽ trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 Đặc biệt là từ thập kỷ 70 trở lại đây, các lĩnh vực khoa học nói chung và khoa học TDTT nói riêng phát triển với tốc độ chưa từng thấy Những thành tích khoa học TDTT đã góp phần vào các thành tích thể thao đỉnh cao và tạo nên những nhịp độ phát triển nhằm kéo dài tuổi thọ của con người

Những tiến bộ này thể hiện ở một số đặc điểm cơ bản sau:

- NCKH TDTT chịu tác động của các quy luật khoa học khác nhau: Đối tượng nghiên cứu khoa học chủ yếu trong TDTT là nghiên cứu về con người dưới tác động của các quy luật sinh học Tuy nhiên, hoạt động của con người ở đây khác với con người ở trạng thái sinh học bình thường (tĩnh) mà là trạng thái hoạt động có ý thức để phát triển các tố chất thể lực, nâng cao sức khoẻ và hoạt động của các cơ quan và hệ thống cơ thể, hình thành và hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động, đồng thời rèn luyện các phẩm chất ý chí cho bản thân

Vì vậy, nghiên cứu khoa học trong TDTT là nghiên cứu về con người dưới tác động của 3 quy luật: quy luật sinh học, quy luật giáo dục (giáo dục thể chất) và quy luật xã hội, trong đó quy luật giáo dục là chủ đạo

- NCKH TDTT vận dụng kiến thức và thành tựu của nhiều lãnh vực khoa học khác: khoa học TDTT vận dụng kiến thức nhóm những môn khoa học tự nhiên nhằm nghiên cứu các quá trình phát triển sinh học của con người như: Những thay đổi bên trong cơ thể

do ảnh hưởng của tập luyện TDTT gây nên (cấu trúc sợi cơ, xương, các cơ quan chức năng…); những quy luật về sự thay đổi cơ chế sinh lý theo lứa tuổi và giới tính ảnh hưởng của lượng vận động; những biểu hiện của những quy luật vật lý, sinh học trong các động tác kỹ thuật của TDTT tác động lên cơ thể con người

Trang 34

29

Khoa học TDTT vận dụng kiến thức nhóm những môn khoa học xã hội nhằm nghiên cứu những quy luật xã hội của sự phát triển GDTC và TDTT, những biến đổi về tâm lý con người do ảnh hưởng của quá trình GDTC…

- Sự phát triển khoa học TDTT là vô cùng cấp thiết, nó có quan hệ mật thiết với những yêu cầu kinh tế - xã hội

Sự phát triển khoa học TDTT trở thành một trong những động lực cốt yếu nhằm góp phần tạo nên sự phát triển các tiềm năng vật chất và tinh thần của xã hội

Các lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học chính trị xã hội, triết học, lịch sử… đã tạo cho khoa học TDTT có thêm sức mạnh trên phương diện tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc, các quốc gia, đảm bảo các giá trị đạo đức xã hội thông qua các hiện tượng thể thao quốc gia, quốc tế Hình thành làn sóng tạo nên sự quan tâm đúng mức của con người trước các sự kiện thể thao và các vấn đề chính trị - xã hội

Nhìn chung, TDTT là một lĩnh vực hoạt động khoa học đa dạng, bao gồm nhiều vấn

đề liên quan đến cơ chế quản lý, kết cấu hạ tầng TDTT, kinh tế (TDTT), xã hội (xã hội hóa TDTT), thông tin khoa học…, các thành tựu khoa học TDTT những năm gần đây phản ảnh sự tăng cường và phát triển mối quan hệ tương hỗ giữa các lĩnh vực khoa học khác với lĩnh vực khoa học TDTT Vì vậy, việc nghiên cứu khoa học TDTT phải vận dụng kiến thức và thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học khác như: khoa học xã hội (triết học, giáo dục, tâm lý, đạo đức…), khoa học tự nhiên (toán, hoá, sinh…), khoa học kỹ thuật (công nghệ, máy móc, thiết bị…)

- Hướng nghiên cứu khoa học trong môn Võ - Taekwondo chủ yếu hiện nay:

+ Các tiêu chuẩn đánh giá trình độ, năng lực chuyên môn

+ Các cơ sở lý luận, tâm, sinh lý của hoạt động chuyên môn

+ Các ứng dụng của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển các yếu tố chuyên môn + Các lựa chọn, ứng dụng các phương tiện tập luyện

+ Phát triển phong trào tập luyện chuyện môn

+ Các yếu tố ảnh hưởng đa chiều tới sự phát triển môn học

1.5.3 Thực trạng công tác NCKH ở nước ta hiện nay

- Ưu điểm: + Điều tra cơ bản thể chất trong TDTT quần chúng, trường học

+ Nghiên cứu đánh giá trình độ tập luyện (các lứa tuổi, các môn)

+ Nghiên cứu xây dựng chương trình huấn luyện VĐV (tuyển chọn, nội dung huấn luyện, lượng vận động )

- Nghiên cứu một số vấn đề y - sinh học, tâm lý (các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá; hồi phục, dinh dưỡng, tâm lý…)

+ Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản trong đào tạo VĐV trình độ cao (có sử dụng công nghệ thông tin)

- Nhược điểm: + Tổ chức, quản lý TDTT (nhà nước, xã hội, quốc tế)

+ Kinh tế TDTT, sản nghiệp TDTT - xã hội hoá TDTT

+ Y học thể dục thể thao

Trang 35

30

+ Kỹ thuật y - sinh học TDTT

+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong TDTT

1.5.4 Định hướng NCKH và phát triển công nghệ TDTT giai đoạn 2010 – 2030 (Quyết định “Quy hoạch phát triển thể dục thể thao Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030” của Bộ VH-TT&DL ngày 3/11/2010)

a Mục tiêu

- Mục tiêu chung: Mục tiêu của hoạt động khoa học nói chung là góp phần xây dựng nền khoa học tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người mới Việt Nam, góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh

- Mục tiêu cụ thể: Nhiệm vụ NCKH về lĩnh vực văn hóa, gia đình, TDTT và du lịch phù hợp với chiến lược phát triển của Bộ VH-TT và DL; chiến lược phát triển khoa học

và công nghệ Việt Nam năm 2010 và giai đoạn 2011 - 2015

b Định hướng NCKH và phát triển công nghệ về TDTT

- Nghiên cứu về khoa học quản lý, xã hội học, kinh tế học TDTT:

+ Lý luận quản lý ngành TDTT; kế hoạch hoá quản lý TDTT; thể chế và các thiết chế chính sách quản lý ngành; tổ chức TDTT; quản lý đầu tư của Nhà nước, của xã hội cho TDTT.+ Chức năng xã hội và chức năng kinh tế của TDTT

+ Xã hội hoá và kinh doanh dịch vụ TDTT

+ Quản lý và tiêu chuẩn hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật TDTT

- Nghiên cứu về lý luận và phương pháp TDTT (văn hóa, thể chất):

+ Mối quan hệ giữa văn hoá và TDTT; bảo tồn trò chơi dân gian, TDTT dân tộc + Tổ chức, phương pháp phát triển TDTT quần chúng, thể thao giải trí, TDTT cho người cao tuổi, phụ nữ và người khuyết tật

+ Tổ chức, phương pháp phát triển TDTT trong lực lượng vũ trang; trong các khu công nghiệp; trong công chức viên chức

+ Kiểm tra đánh giá thể chất nhân dân; kiểm tra và đánh giá tổng hợp về thành phần cấu trúc cơ thể; chức năng sinh lý và tố chất thể lực chung của người Việt Nam

+ Dự báo phát triển chiều cao thân thể cuối cùng của trẻ em 7 - 14 tuổi; nghiên cứu

bổ sung lý luận và phương pháp dạy thể dục nội khoá, hoạt động thể thao ngoại khoá trong các trường học

+ Nghiên cứu tâm lý giáo dục thể chất và tâm lý học rèn luyện thân thể của nhân dân

- Nghiên cứu lý luận huấn luyện thể thao:

+ Nội dung và phương pháp huấn luyện theo đặc điểm từng môn thể thao

+ Nghiên cứu năng lực thi đấu, trình độ huấn luyện của VĐV

+ Nội dung, phương châm, phương pháp và tiêu chuẩn tuyển chọn năng khiếu thể thao

Trang 36

31

+ Giáo dục thi đấu TDTT và công tác giáo dục VĐV.,

+ Tâm lý học thể thao thành tích cao

+ Tổ chức kết hợp huấn luyện thể thao với đảm bảo Y học thể thao và NCKH

- Nghiên cứu y - sinh học TDTT:

+ Ứng dụng sinh cơ học nghiên cứu kỹ thuật thể thao, phương pháp, phương tiện huấn luyện kỹ thuật thể thao; sáng chế phát minh, cập nhật các phương pháp, thiết bị mới

về sinh cơ học và sinh học thể thao

+ Đặc điểm hình thái cơ thể cấu trúc thành phần cơ thể, các chỉ số hoá, sinh lý đặc trưng của VĐV Việt Nam

+ Trị liệu chấn thương cho VĐV; Chế độ dinh dưỡng, bổ sung dinh dưỡng cho VĐV; Mô phỏng huấn luyện trên cao nguyên đối với VĐV trọng điểm

+ Nghiên cứu phòng chống Doping thể thao

+ Nghiên cứu đa dạng tính trạng Gen, DNA, khả năng miễn miễn dịch và tố chất thể lực người Việt Nam (đặc biệt là sức bền)

- Nghiên cứu khoa học truyền thông thể thao và ứng dụng tin học thể thao:

+ Lý luận chung về khoa học truyền thông và tin học thể thao

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức thi đấu các đại hội thể thao lớn + Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý TDTT

c Một số yêu cầu đối với nghiên cứu khoa học TDTT

Nghiên cứu khoa học TDTT là một hoạt động có tính xã hội hoá cao, tác động đến mọi người, mọi nhà và mọi tầng lớp xã hội Do đó, người làm công tác NCKH TDTT, nhất là NCKH trong lĩnh vực GDTC cần có một số yêu cầu sau:

- Có quan điểm đúng về những giá trị giáo dục xã hội của công tác giáo dục thể chất trong sự nghiệp giáo dục phát triển toàn diện con người, biểu hiện: Có lòng yêu nghề; có tinh thần ham mê nghiên cứu; luôn có ý thức tìm hiểu

- Chuẩn bị tri thức chuyên môn và vốn văn hoá chung bằng cách thường xuyên trao dồi sự hiểu biết, tham khảo tài liệu, học tập chuyên môn, tổng hợp phân tích các vấn đề liên quan đến kiến thức khoa học giáo dục nói chung và khoa học TDTT nói riêng Tự bồi dưỡng hiểu biết về các lĩnh vực khoa học liên quan như: tâm lý học, sinh lý học, xã hội học, triết học, kinh tế, giáo dục… để có cơ sở và nền tảng tri thức chung khi xem xét, nghiên cứu về một nội dung cụ thể, đánh giá khách quan và phát hiện mới

- Chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy, thực nghiệm… có định hướng nghiên cứu đúng đảm bảo việc thực hiện hiệu quả kế hoạch nghiên cứu

- Thường xuyên tham gia trao đổi, tọa đàm với tập thể giáo viên, các cộng tác viên, giáo viên hướng dẫn nghiên cứu, các nhà khoa học… để tổng kết các kinh nghiệm tổ chức và học hỏi sáng tạo trong nghiên cứu khoa học Tham gia tích cực các hoạt động khoa học (hội thảo, hội nghị, hội giảng…)

Trang 37

32

Câu hỏi ôn tập chương 1:

Câu 1: Trình bày nguồn gốc ra đời của môn võ Taekwondo?

Câu 2: Trình bày sơ lược sự phát triển của Taekwondo trên thế giới bằng các mốc lịch sử chính

Câu 3: Trình bày thời điểm và sự phát triển của Taekwondo tại Việt Nam

Câu 4: Trình bày những xu hướng phát triển của Taekwondo hiện đại

Câu 5: Trình bày hệ tư tưởng, tinh thần môn võ Taekwondo

Câu 6: Trình bày mục đích, tác dụng của việc tập luyện Taekwondo đối với người tập luyện

Câu 7: Trình bày sự phân chia hệ phái chính trong môn võ Taekwondo

Câu 8: Trình bày cơ sở tâm lý trong hoạt động tập luyện môn võ Taekwondo

Câu 9: Trình bày cơ sở sinh lý trong hoạt động tập luyện môn võ Taekwondo

Câu 10: Trình bày cơ sở khoa học chung trong hoạt động tập luyện môn võ Taekwondo

Câu 11: Trình bày khái niệm năng lực chung và năng lực chuyên môn trong môn võ Taekwondo

Câu 12: Trình bày các hướng nghiên cứu chính trong môn võ Taekwondo

Câu 13: Trình bày đặc điểm nghiên cứu khoa học trong hoạt động TDTT

Câu 14: Trình bày những nét chính về định hướng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ TDTT giai đoạn 2010- 2030

Câu 15: Trình bày một hướng nghiên nghiên cứu và lý do lựa chọn hướng đó của bản thân

Trang 38

33

Chương 2 KỸ THUẬT CƠ BẢN ĐƠN ĐÒN

2.1 Vũ khí cơ bản của cơ thể con người

Khi thực hiện một kỹ thuật Teakwondo, thông thường lực đánh được truyền từ thân qua các điểm trên chân và tay, đặc biệt là trên bàn chân và bàn tay để chạm vào mục tiêu tấn công đã được định trước trên cơ thể đối phương Các điểm này được gọi là “vũ khí tấn công của cơ thể” và được sử dụng với các chức năng khác nhau Về cơ bản, bàn tay bàn chân được sử dụng làm vũ khí nhiều nhất, có thể phân chia 2 bộ phận trên thành các loại vũ khí như sau:

Bảng 2.1 Các vũ khí trên cơ thể con người

7 Cạnh ngoài bàn tay 23 Cạnh ngoài bàn chân

8 Cạnh trong bàn tay 24 Cạnh trong bàn chân

9 Gốc bàn tay (cườm tay) 25 Mũi bàn chân

10 Đốt xương thứ nhất của các ngón tay 26 Lòng bàn chân

11 Đốt xương thứ hai của các ngón tay 27 Mu bàn chân

12 Đốt xương thứ ba của các ngón tay 28 Gót chân

14 Lưng bàn tay 30 Khớp gối

15 Mặt ngoài cổ tay 31 Ống khuyển

16 Cạnh trong cẳng tay 32 Bắp chân

2.2 Mục tiêu bị tấn công cơ bản trên cơ thể con người

Teakwondo là nghệ thuật chiến đấu đặc sắc và là một phương tiện hữu hiệu để tự hoàn thiện bản thân Thông quá quá trình luyện tập người tập có thể thực hiện một cách chính xác các động tác kỹ thuật với tốc độ và lực đánh tối đa, đồng thời có thể tự củng cố hoàn thiện về tinh thần thông qua việc rèn luyện sức mạnh ý chí và tăng cường khả năng tập chung vào các công việc đang tiến hành Người tập có thể tăng cường sức mạnh thể chất thông qua việc tập luyện kỹ chiến thuật và củng cố sức mạnh tinh thần để điều khiển

Trang 39

34

hoạt động của toàn bộ cơ thể, đồng thời nâng cao ý thức về sự công bằng để có thể trở thành một con người ngay thẳng, có nhân cách với những đức tính quý báu như: Tính độc lập, tự chủ và khả năng kiềm chế trước những ảnh hưởng của tác động môi trường, nhân

ái, hòa đồng, phân biệt và làm theo lẽ phải…

Trước khi bước vào tập luyện, người tập nhất thiết phải xác định rõ động cơ và mục đích tập luyện của mình, bởi vì nếu không có những mục tiêu cụ thể và rõ ràng thì chắc chắn quá trình tập luyện cũng trở nên vô nghĩa; cần nắm vững các điểm trọng yếu trên cơ thể, những điểm này nếu bị tấn công luôn gây ra những sự đau đớn lớn ngay cả khi chịu lực tấn công nhỏ Trên thực tế có khoảng hơn 280 điểm trọng yếu có thể trở thành mục tiêu bị tấn công trên cơ thể con người

Trong giới hạn chương trình học, cần chú ý 34 điểm quan trọng và gần với thực tế Trong 34 điểm này, chú ý 4 điểm có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng nếu bị tấn công đó là: Huyệt bách hội trên đỉnh đầu, huyệt nhân trung giữa mũi và môi trên, mỏ ác (ức) ở thân trên, huyệt đan điền ở dưới rốn khoảng 3-5cm

Bảng 2.2 Các điểm đòn bị tấn công cơ bản trên cơ thể con người

TT Tên điểm đòn Vị trí cụ thể

1 Huyệt bách hội Đỉnh đầu (thường là phần có xoáy tóc), là điểm giữa 2 mảnh

hộp sọ và hơi lõm xuống dưới

2 Tiền đình Trên, trước trán cách chân tóc 1cm về phía đỉnh đầu

3 Đầu sống mũi Điểm giữa 2 đầu 2 hàng lông my từ dưới mũi đi lên

4 Thái dương Sau đuôi, ngang lông my mắt 2 bên

5 Mắt Toàn bộ phần con mắt

6 Hốc mắt Phần trên (dưới my mắt) dưới con mắt trong phạm vi hốc mắt

7 Nhân trung Điểm 1/3 phía dưới đoạn từ mỏm dưới mũi tới đầu môi trên

8 Quai hàm Phần xương hàm thẳng ngay dưới tai hai bên

9 Hàm dưới Toàn bộ phần xương bên trong cằm và má dưới

10 Động mạch cổ Động mạch nằm đối xứng 2 bên cổ

11 Cằm Toàn bộ góc dưới khu vực cằm

12 Yết hầu Nằm giữa phần cổ và nhô lên trước nếu là nam giới về phía trước

13 Tĩnh mạch cổ Nằm phía trên yết hầu về phía 2 bên và sát với cằm

14 Chỏm xương vai Điểm chụm giữa 2 xương quai xanh, phía trước và dưới cổ

15 Xương ức Điểm giữa ngực, phần tiếp giáp giữa các đầu xương sườn

16 Mỏ ác Phần lõm giữa dưới ngực và trên bụng

17 Cơ hoành Thuộc phần bụng trên

Trang 40

35

18 Núm vú Giữa 2 nhóm cơ ngực lớn bao toàn bộ ngực ở cả 2 bên

19 Cạnh sườn Dưới nách, giới hạn dưới là ngang với núm vú 2 bên

20 Xương sườn Các xương ngang với cơ hoành

21 Hông Phần eo nhỏ nhất của bụng về phia 2 bên ngang cơ thể

22 Cơ nhị đầu Cạnh ngoài cánh tay, dưới mỏm vai

23 Khủy tay Bó dây thần kinh phần sau dưới cùi trỏ

Đáy chữ “v” tạo bởi ngón cái và ngón trỏ

27 Huyệt đan điền Ngay dưới rốn khoảng 3-5cm

28 Háng Điểm tiếp giáp giữa đùi trong và phần hạ bộ

29 Cạnh trong bắp

đùi

Mặt trong toàn bộ đùi (đùi non)

30 Khớp gối Mặt sau của khớp gối

31 Ống khuyển Phần chính diện (phía trước) xương ống chân

32 Giữa mu bàn chân Ở giữa và phía trên khoảng 4cm ngón giũa bàn chân

- Đứng tấn là không chạm bất cứ bộ phận nào của cơ thể ngoài 2 bàn chân xuống

đất và phần thân dưới thực hiện các bước di chuyển nhằm tạo các tư thế đứng cơ bản có lợi cho việc khai triển và thực hiện các kỹ thuật Taekwondo Khi đứng tấn ngoại trừ phần thân người giữ thẳng và vuông góc với mặt đất còn các bộ phận khác thì có thể chuyển động tự do theo mục đích kỹ thuật Kỹ thuật tấn sẽ quyết định sự di chuyển của trọng tâm

cơ thể và điểm đặt của trọng lực trên mặt đất, đồng thời nó cũng được chia ra làm nhiều loại tùy thuộc vào vị trí, sự di chuyển của 2 chân và tư thế của khớp gối

Ngày đăng: 24/08/2017, 17:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1991), Lý luận và phương pháp huấn luyện thể thao trẻ, Nxb TDTT TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp huấn luyện thể thao trẻ
Tác giả: Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: Nxb TDTT TP Hồ Chí Minh
Năm: 1991
2. Nguyễn Văn Chung (2004), Giáo trình Taekwondo, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Taekwondo
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2004
3. Nguyễn Văn Chung (2004), Giáo trình Karate - Do, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Karate - Do
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2004
4. Trịnh Bình Duy (2001), Sinh lý học (tập 2), Nxb Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học (tập 2)
Tác giả: Trịnh Bình Duy
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2001
5. Nguyễn Kế Hào (2008), Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
6. Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sỹ Hà (1994), Huấn luyện thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện thể thao
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sỹ Hà
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1994
7. Lưu Quang Hiệp (2000), Y học thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thể dục thể thao
Tác giả: Lưu Quang Hiệp
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2000
8. Lưu Quang Hiệp (2002), Sinh lý học thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học thể dục thể thao
Tác giả: Lưu Quang Hiệp
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2002
9. Lê Văn Lẫm (2004), Giáo dục thể chất ở một số nước trên thế giới, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thể chất ở một số nước trên thế giới
Tác giả: Lê Văn Lẫm
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2004
10. Mai Tú Nam (2004), Giáo trình Taekwondo, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Taekwondo
Tác giả: Mai Tú Nam
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2004
11. Nguyễn Xuân Sinh (1999), Giáo trình nghiên cứu khoa học thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiên cứu khoa học thể dục thể thao, "Nxb
Tác giả: Nguyễn Xuân Sinh
Nhà XB: Nxb "TDTT Hà Nội
Năm: 1999
12. Nhiều tác giả (2004), Lược sử võ cổ truyền Việt Nam, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử võ cổ truyền Việt Nam", Nxb TDTT
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb TDTT" Hà Nội
Năm: 2004
13. Vũ Đức Thu và cộng sự (1998), Lý luận và phương pháp GDTC, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp GDTC
Tác giả: Vũ Đức Thu và cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1998
14. Vũ Đức Thu, Trương Anh Tuấn (2007), Giáo trình lý luận và phương pháp thể dục thể thao, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và phương pháp thể dục thể thao
Tác giả: Vũ Đức Thu, Trương Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2007
16. Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2000), Lý luận và phương pháp thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp thể dục thể thao
Tác giả: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2000
17. Nguyễn Quang Uẩn (2003), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
18. Lê Văn Xem (2004), Tâm lý học thể dục, thể thao, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học thể dục, thể thao
Tác giả: Lê Văn Xem
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
19. Ủy ban TDTT (2002), Luật thi đấu Taekwondo, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thi đấu Taekwondo
Tác giả: Ủy ban TDTT
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2002
15. Ngô Thành Tú (2004), Giáo trình Penkat Sillat, Nxb TDTT Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w