Khi tìm hiểu các đề tài có liên quan đến lý thuyết trường nghĩa và việc vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường, chúng tôi quyết định lựa c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HIỀN
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH “VỢ CHỒNG A PHỦ”
CỦA TÔ HOÀI (NGỮ VĂN 12, TẬP II)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HIỀN
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH “VỢ CHỒNG A PHỦ”
CỦA TÔ HOÀI (NGỮ VĂN 12, TẬP II)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 01 11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Đỗ Việt Hùng
HÀ NỘI – 2016
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC BẢNG Error! Bookmark not defined MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14
1.1 Cơ sở lí luận 14
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ 14
1.1.2 Cơ sở tâm lý và giáo dục học 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Thực tiễn dạy học văn ở trường phổ thông 24
1.2.2 Khảo sát thực trạng ứng dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học văn ở trường THPT Giao Thủy, Nam Định 26
1.2.3 Khảo sát thực trạng dạy học đoạn trích Vợ chồng A Phủ ở trường THPT 28
CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT HƯỚNG VẬN DỤNG LÍ THUYẾT TRƯỜNG
NGHĨA VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH VỢ CHỒNG A PHỦError! Bookmark not defined
2.1 Khảo sát, thiết lập và miêu tả trường nghĩaError! Bookmark not defined
2.1.1 Cơ sở để khảo sát, thiết lập trường nghĩaError! Bookmark not defined
2.1.2 Mục đích khảo sát, thiết lập trường nghĩaError! Bookmark not defined
2.1.3 Miêu tả các trường nghĩa chính được khảo sátError! Bookmark not defined
2.2 Xác định đề tài, hình tượng nhân vật trung tâm dựa trên các trường
nghĩa Error! Bookmark not defined
2.2.1 Xác định đề tài Error! Bookmark not defined
2.2.2 Nhân vật trung tâm Error! Bookmark not defined
2.3 Phân tích hình tượng nhân vật trên cơ sở khai thác giá trị trường nghĩaError! Bookmark not defined
2.3.1 Phân tích sự cộng hưởng của các yếu tố từ ngữ cùng trường
nghĩa Error! Bookmark not defined
Trang 42.3.2 Phân tích từ ngữ cùng trường trong ngữ cảnh cụ thểError! Bookmark not defined
2.3.3 Phân tích trường nghĩa trong sự đối chiếu, so sánh với các
trường nghĩa khác Error! Bookmark not defined
2.4 Xác định chủ đề dựa trên trường nghĩa Error! Bookmark not defined
2.4.1 Khái niệm Error! Bookmark not defined
2.4.2 Xác định chủ đề Error! Bookmark not defined
2.5 Xác định phong cách nghệ thuật của Tô Hoài qua trường nghĩaError! Bookmark not defined 2.5.1 Nhà văn của núi rừng Tây Bắc Error! Bookmark not defined
2.5.2 Nhà văn có biệt tài xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lý nhân vậtError! Bookmark not defined
2.5.3 Nhà văn luôn sáng tạo, tinh tế trong cách sử dụng từ ngữ, câu
văn Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined
3.1 Mục đích thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.2 Địa bàn và đối tượng thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.3 Kế hoạch thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.3.1 Bước 1: Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứngError! Bookmark not defined
3.3.2 Bước 2: Gặp giáo viên trao đổi, nêu yêu cầu, xây dựng giờ và
lấy giáo án đối chứng Error! Bookmark not defined
3.3.3 Bước 3 Tiến hành thực nghiệm (Thiết kế giáo án và dạy thực
nghiệm) Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 5giúp học sinh biết cách khai khác đoạn trích Vợ chồng A Phủ từ góc độ trường
nghĩa mà phát triển thành kĩ năng vận dụng lí thuyết trường nghĩa để tự đọc hiểu các tác phẩm tự sự nói chung
1.2 Vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học, từ đó hình thành cho học sinh kĩ năng tự đọc hiểu các tác phẩm cùng thể loại từ góc độ trường nghĩa là hướng đi đúng đắn Hướng đi này phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, đúng với tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa 8 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
Về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh: Mục tiêu dạy học đã chuyển từ cung cấp kiến thức sang hình thành năng lực; từ dạy học sinh biết cái gì sang biết làm gì; giúp học sinh tích cực và chủ động hơn trong việc khám phá, lĩnh hội tri thức
Về kiểm tra, đánh giá: Từ năm 2014, yêu cầu kiểm tra đọc hiểu đã trở thành một phần trong cấu trúc đề thi Ngữ văn tuyển sinh Đại học, đề thi
Trang 6THPT Quốc gia, chiếm 20% – 30 % tổng số điểm toàn bài Trong lộ trình đổi mới kiểm tra theo hướng đánh giá năng lực người học, trường ĐHQG đã đi đầu với bài thi Tổng hợp dưới dạng hình thức trắc nghiệm đối với các bộ môn, trong đó có cả môn Ngữ văn Vì vậy, việc cung cấp công cụ giúp học sinh tự đọc hiểu quan trọng hơn việc cung cấp kiến thức Một trong những công cụ đó là vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào đọc hiểu văn bản
1.3 Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp đã hợp nhất các phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn thành Ngữ văn Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học từ góc độ trường nghĩa cũng là một hướng dạy tích hợp Ngữ với Văn
Sự kết hợp này một mặt củng cố kiến thức tiếng Việt, phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh, đồng thời hình thành kĩ năng tự đọc hiểu, khám phá các tác phẩm văn tự sự được đọc, được học
1.4 Khi tìm hiểu các đề tài có liên quan đến lý thuyết trường nghĩa và việc vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học
trong nhà trường, chúng tôi quyết định lựa chọn đoạn trích tác phẩm Vợ
chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12, Tập II
Trước hết, chúng tôi thấy, Tô Hoài là một tác giả lớn Một đời cầm bút cần mẫn dẻo dai suốt hơn 60 năm, với gần 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau, Tô Hoài trở thành nhà văn có “số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam” Sự tìm tòi rõ nhất trong nghệ thuật văn xuôi của
Tô Hoài thuộc lĩnh vực ngôn từ Chữ được Tô Hoài dùng rất công phu, chọn lọc và gợi cảm với nhiều liên tưởng đẹp, so sánh thích hợp trong những câu văn mới mẻ Văn của Tô Hoài có sự quyện hòa giữa chất thơ, chất nhạc, chất
họa Vận dụng lí thuyết trường nghĩa để dạy học đọc hiểu đoạn trích Vợ
chồng A Phủ sẽ giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp ngôn từ trong văn
chương Tô Hoài, một trong những khía cạnh thành công của tác phẩm, nơi kết tinh tâm huyết và tài năng của nhà văn
Trong đời văn Tô Hoài, Truyện Tây Bắc có thể coi là thành quả đáng
tự hào nhất ghi dấu những nỗ lực sáng tạo của nhà văn Vợ chồng A Phủ là
Trang 7một trong ba truyện ngắn đặc sắc, trong đó, đoạn trích trong Sách giáo khoa thuộc phần I - phần bay bổng nhất, thành công nhất của tác phẩm
Bởi những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Vận dụng lí
thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của
Tô Hoài (Ngữ văn 12, Tập II)
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về trường nghĩa
Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa, trường từ vựng ngữ
nghĩa Khuynh hướng nghiên cứu trường từ vựng – ngữ nghĩa được khẳng định
là một hướng đi ưu việt của ngôn ngữ miêu tả – cấu trúc Vì thế, vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm
Trên thế giới, lí thuyết về trường nghĩa được các nhà ngôn ngữ Đức và Thụy Sĩ đưa ra từ những thập kỉ 20 và 30 của thế kỉ XX Lí thuyết này bắt nguồn từ những tư tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ của W Humboldt, M Pokrovxkij, Meyer Nhưng tiền đề thúc đẩy một cách quyết định sự hình thành nên lí thuyết về các trường là những nguyên lí của F De Saussure, đặc biệt là luận điểm giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định và chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng của ông
Ở Việt Nam, trường nghĩa cũng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng… Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việc đưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù ngôn ngữ liên quan đến trường nghĩa
Thực tế việc tìm hiểu trường từ vựng ngữ nghĩa và vận dụng những lý thuyết về trường nghĩa trong văn học đã làm sáng tỏ nhiều mối quan hệ giữa các từ ngữ, tính hệ thống của từ vựng nói riêng và ngôn ngữ nói chung, đồng thời cho thấy ưu thế của nó trong việc khảo sát các hiện tượng văn học
Trang 8Tìm hiểu trường từ vựng ngữ nghĩa với các vấn đề có liên quan còn cho thấy đặc điểm của ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó
2.2 Một số khuynh hướng ứng dụng lí thuyết trường nghĩa
2.2.1 Khuynh hướng vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào việc phân tích, cảm thụ tác phẩm văn chương
Trong những năm gần đây, có rất nhiều luận án, luận văn của nhiều tác giả đi sâu tìm hiểu lí thuyết trường nghĩa cũng như nghiên cứu hoạt động của trường nghĩa trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt việc lĩnh hội, khám phá các tác phẩm văn chương
Nghiên cứu về trường nghĩa trong các tác phẩm văn chương có các
luận văn: Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ cảm xúc, thái độ trong sáng tác của
Nguyễn Quang Sáng/Nguyễn Đình Mỹ Giang, Trường nghĩa mặt trời và các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ ca Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX/ Phạm Văn
Lợi, Trường nghĩa mùa thu trong thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975/ Trần Thị Thanh Thủy, Trường nghĩa miêu tả ánh sáng trong một số tác phẩm của
Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Thạch Lam/ Trần Hữu Sáng, Trường nghĩa cánh đồng trong ca dao người Việt/ Mai Thị Minh Thoa, Trường nghĩa động vật trong tục ngữ Việt Nam/ Vùi Thị Yến, Tìm hiểu trường từ vựng ngữ nghĩa sông nước đồng bằng sông Cửu Long/ Phạm Thị Liên, Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ sự vật, hiện tượng tự nhiên trong thơ Xuân Quỳnh/ Trần Thị
Dịu, Nắng trong thơ mới nhìn từ góc độ trường nghĩa/ Lê Thị Mai Lan, Trường nghĩa thiên nhiên xứ Huế trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường/ Phạm Thị Hà, Trường nghĩa thực vật với hai mùa Xuân - Hạ trong thơ Nôm
Đường luật (thế kỷ XV - XVII)/ Hà Thị Mai Thanh, Trường nghĩa thực vật với hai mùa thu - đông trong thơ Nôm Đường luật (thế kỷ XV - XVII)/ Nguyễn
Thị Tuyết, Trường nghĩa lửa trong sáng tác của Nguyễn Du và thơ Tố Hữu/ Nguyễn Thị Thanh Hà, Trường nghĩa "Hiện tượng khí tượng" trong truyện
Kiều - Nguyễn Du/ Nguyễn Thu Trang, Trường từ vựng năm giác quan trong
"Truyện Kiều" của Nguyễn Du/ Trần Thị Kim Oanh, Trường nghĩa mùi vị và
Trang 9các hình thức ngôn ngữ biểu hiện trong tiếng Việt/ Hoàng Thị Ái Vân, Trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu/ Nguyễn Thị Hoà, Tín hiệu thẩm mỹ thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam/ Phạm Thị Kim
Anh, Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh/ Phạm Nhị Hà, Trường nghĩa thiên nhiên Tây Nguyên trong sáng tác của Nguyên
Ngọc/ Võ Tấn Hòa, Nguyễn Đức Điệp…
Nghiên cứu về hiện tượng chuyển trường nghĩa có các công trình khoa
học của các tác giả: Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Đồng Đức
Bốn/ Nguyễn Thị Hiền, Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Quỳnh/ Trần Thị Linh, Hiện tượng chuyển di trường nghĩa trong thơ Chế Lan Viên/ Vũ Quỳnh Nga, Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu/
Vũ Hoàng Cúc, Hiện tượng chuyển di trường nghĩa trong thơ Hàn Mặc Tử/ Đào Thị Dung, Hiện tượng chuyển di trường nghĩa trong ca dao tình yêu/ Lê
Thị Minh…
Từ kết quả khảo sát ban đầu, qua số lượng khá nhiều các công trình nghiên cứu về trường nghĩa, chúng tôi thấy các tác giả đã nhận thức rất rõ vai trò của việc vận dụng lí thuyết trường nghĩa để nghiên cứu, khám phá, lí giải các hiện tượng văn học một cách khoa học, hợp lí Việc phát hiện các trường ngữ nghĩa trong tác phẩm văn học đóng vai trò quan trọng giúp người đọc giải
mã tín hiệu nghệ thuật, tiếp cận đến tư tưởng và phát hiện ra nét đặc sắc phong cách nghệ thuật của nhà văn
2.2.2 Khuynh hướng vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc - hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường
Trước năm 2010, các công trình khoa học nghiên cứu về trường nghĩa còn dừng ở mức độ chủ yếu là khảo sát, nghiên cứu về trường nghĩa trong thơ văn Từ sau năm 2010, các công trình nghiên cứu về trường nghĩa ngày càng xuất hiện nhiều hơn Điều đáng nói, lí thuyết trường nghĩa không chỉ được vận dụng để tiếp cận, khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương mà còn được vận dụng vào các giờ dạy học đọc hiểu như một phương pháp dạy học
Trang 10bộ môn Có thể thấy điều đó qua các luận văn: Lý thuyết trường nghĩa với
việc phân tích thơ văn cho học sinh THPT - tác giả Hoàng Thị Hà, Vận dụng
lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường - tác giả Lâm Thị Hảo, Vận dụng
lí thuyết trường nghĩa vào dạy - học đọc hiểu truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (Ngữ văn 11, tập 1) – tác giả Đinh Thị Minh Hoàn, Dạy học đọc hiểu tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân từ góc độ trường nghĩa - tác giả Nguyễn Thị
Kim Thu, Dạy học đọc hiểu tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn
Tuân từ góc độ trường nghĩa - tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Trang Trong số đó,
có một luận văn nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào việc phân tích thơ; hai luận văn nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm kí; hai luận văn nghiên cứu vận dụng lý thuyết vào đọc hiểu tác phẩm tự sự
Luận văn của tác giả Hoàng Thị Hà đã đề xuất được hướng phân tích các tác phẩm thơ trên cơ sở vận dụng lý thuyết trường nghĩa Theo chúng tôi, đây là một luận văn có tính khả thi cao, có thể áp dụng vào thực tiễn dạy học phân tích tác phẩm thơ
Luận văn của tác giả Lâm Thị Hảo, tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Trang thể hiện sự đầu tư, am hiểu sâu sắc hai tác phẩm kí, giúp học sinh nhận ra được vẻ đẹp độc đáo của hai áng văn tài hoa thông qua cách sử dụng từ ngữ cùng trường nghĩa Tuy nhiên, luận văn của hai tác giả chủ yếu mới dừng lại ở việc chỉ ra một hướng tiếp cận mới đối với đoạn trích bút kí, tùy bút mà chưa khái quát lên thành kĩ năng, thành công cụ để giúp học sinh có thể tự đọc hiểu văn bản kí từ góc độ trường nghĩa
Luận văn của tác giả Đinh Thị Minh Hoàn và tác giả Nguyễn Thị Kim Thu đi sâu nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết vào dạy học đọc hiểu hai
truyện ngắn đặc sắc trong chương trình THPT: tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân Tác giả Đinh Thị Minh Hoàn đi vào khảo sát
các trường nghĩa trong truyện ngắn gồm: trường nghĩa sự vật, trường nghĩa
Trang 11đặc điểm và trường nghĩa hoạt động và sau đó phân tích hình tượng các nhân vật trên cơ sở trường nghĩa Tác giả Nguyễn Thị Kim Thu nghiên cứu khả năng phân tích tác phẩm dưới góc độ trường nghĩa, chỉ ra phương hướng tiếp cận tác phẩm và những biện pháp dạy học tác phẩm từ góc độ trường nghĩa
So với luận văn của tác giả Đinh Thị Minh Hoàn, tác giả Nguyễn Thị Kim Thu đã đưa ra được một số biện pháp dạy học tác phẩm từ góc độ trường nghĩa mang tính khả thi hơn, có thể áp dụng vào các giờ dạy đọc hiểu các truyện ngắn khác
Kết quả nghiên cứu vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học của các tác giả đi trước giúp chúng tôi vững tin hơn
khi tiếp tục hướng nghiên cứu này để dạy học đọc hiểu đoạn trích Vợ chồng A
Phủ của Tô Hoài Trong luận văn, ngoài việc khảo sát và mô tả các trường
nghĩa trong đoạn trích Vợ chồng A Phủ, chúng tôi đề xuất các bước vận dụng
lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn trích một cách cụ thể, rõ ràng; bên cạnh đó còn chỉ ra một số cách thức phân tích trường nghĩa để có thể giúp các em tự đọc hiểu các tác phẩm văn học, đặc biệt những tác phẩm thuộc thể loại tự sự dựa trên cơ sở vận dụng lí thuyết trường nghĩa Đây là
hướng dạy học đọc hiểu mới đối với Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài – một đoạn
trích truyện ngắn vốn đã trở nên hết sức quen thuộc với nhiều thế hệ giáo viên
và học sinh
2.3 Về đoạn trích “Vợ chồng A Phủ”
2.3.1 Những công trình, bài viết nghiên cứu về tác phẩm“Vợ chồng A Phủ”
Truyện Tây Bắc là kết tinh những tình cảm nồng nàn của nhà văn Tô
Hoài đối với con người và cuộc sống ở miền Tây Bắc đất nước; kết tinh quá trình tích lũy sự hiểu biết của nhà văn về con người và cuộc sống ở đây trước cách mạng tháng 8 mà trước kia có thể nói là chưa ai mô tả Tác phẩm vừa như “một bản cáo trạng lại vừa như một khúc tình ca” (Huỳnh Lý) Trong số
ba truyện ngắn: Mường Giơn, Cứu đất, cứu mường và Vợ chồng A Phủ thì
Trang 12truyện Vợ chồng A Phủ để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc và ấn
tượng hơn cả
Đoạn trích Vợ chồng A Phủ được đưa vào trong chương trình Ngữ văn
12, tập II thuộc phần 1- Phần thành công nhất, bay bổng nhất của tác phẩm
Đã có nhiều bài viết nghiên cứu về Truyện Tây Bắc nói chung và Vợ chồng A
Phủ nói riêng như: Tô Hoài và Truyện Tây Bắc (Hoàng Trung Thông), Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Nguyễn Văn Long), Về “Vợ chồng A Phủ” (Đỗ
Kim Hồi), Vợ chồng A Phủ (Nguyễn Quang Trung)… Qua cái nhìn sắc sảo
của các nhà phê bình văn học, các nhà giáo giàu kinh nghiệm trong giảng dạy, các khía cạnh của tác phẩm đã được khám phá, khai thác và thể hiện đầy đủ:
từ cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ đến giá trị tư tưởng, đặc sắc phong cách của nhà văn… Đây là nguồn tư liệu quí giá đối không chỉ đối với người học mà ngay cả với người dạy Không thể có một giờ dạy thực sự hiệu quả nếu bản thân người dạy không am hiểu sâu sắc về tác phẩm, không tìm ra được phương pháp và cách thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm khơi gợi hứng thú học tập, khát khao chiếm lĩnh tri thức, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo ở người học
Về trường nghĩa liên quan trực tiếp đến tác phẩm Vợ chồng A Phủ có luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của tác giả Phó Thị Hồng Oanh, đề tài: Trường
từ vựng - ngữ nghĩa trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài Tác giả đã nghiên
cứu, khảo sát các trường từ vựng ngữ nghĩa trong ba truyện ngắn Mường
Giơn, Cứu đất cứu Mường, Vợ chồng A Phủ Đây cũng là một tư liệu tham
khảo hữu ích đối với chúng tôi trong quá tình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của mình
2.3.2 Một số hướng dạy học đọc hiểu đoạn trích “Vợ chồng A Phủ”
Nghiên cứu việc dạy học đọc hiểu đoạn trích Vợ chồng A Phủ theo đặc
trưng thể loại có khóa luận tốt nghiệp Đại học của tác giả Nguyễn Thị Mai
trường Đại học Sư phạm Hà Nội II với đề tài Dạy đọc – hiểu văn bản “Vợ
chồng A Phủ (Trích: “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài) theo đặc trưng thể loại Ở
Trang 13khóa luận này, tác giả Nguyễn Thị Mai đã hướng dẫn đọc hiểu văn bản Vợ
chồng A Phủ từ các góc độ thể loại gồm: cốt truyện, hình tượng nhân vật và
ngôn ngữ Đóng góp của luận văn này, theo tôi, đó là đã giúp người học có cái
nhìn bao quát về văn bản Vợ chồng A Phủ Tác giả đã có ý thức tìm hiểu về
ngôn ngữ trong đoạn trích văn bản song mới chủ yếu dừng lại ở việc phát hiện những tín hiệu ngôn ngữ đơn lẻ, bước đầu nhận xét được vẻ đẹp, giá trị của ngôn ngữ trong việc thể hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả khi xây dựng hình tượng nhân vật hay thể hiện tài năng, phong cách viết truyện ngắn của Tô Hoài mà chưa đặt ngôn ngữ trong tính hệ thống của nó
Với đề tài Vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn
trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (Ngữ văn 12, Tập II), ngôn ngữ sẽ được
tìm hiểu trong tính hệ thống, trong sự cộng hưởng với các yếu tố ngôn ngữ khác và trong nhiều mối quan hệ: với đề tài, chủ đề, nhân vật trung tâm, phong cách nhà văn… chứ không xem xét một vài yếu tố ngôn ngữ đơn lẻ như hướng dạy học đọc hiểu nêu trên
Cho đến nay, đã có một số luận văn nghiên cứu việc vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm trong nhà trường nhưng chưa
thấy công trình nào nghiên cứu về trường nghĩa trong tác phẩm Vợ chồng A
Phủ cũng như việc vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn
trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài Vì vậy, việc nghiên cứu về trường nghĩa
và vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn trích này là mảnh đất còn nhiều hứa hẹn! Tuy nhiên, do kiến thức về trường nghĩa của HS trung học phổ thông được trang bị rất ít ỏi nên chúng tôi không vận dụng toàn
bộ lý thuyết trường nghĩa vào quá trình DH đọc hiểu mà chỉ dựa vào một phần rất nhỏ kiến thức về trường nghĩa mà các em đã biết khi học tiếng Việt lớp 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 14- Mang đến một hướng dạy học đọc hiểu mới về đoạn trích Vợ chồng A
Phủ của Tô Hoài
- Trang bị cho học sinh kĩ năng tự đọc hiểu các tác phẩm tự sự dựa trên
cơ sở vận dụng lý thuyết trường nghĩa
- Phát huy năng lực đọc hiểu, kết nối thông tin thông qua việc dạy học
tích hợp kiến thức Tiếng Việt và Văn học
- Khắc phục hướng dạy học đọc hiểu nặng về công thức, tìm ý, suy
diễn một cách thiếu căn cứ thuyết phục, không đúng với qui luật tiếp nhận tác phẩm văn chương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu chính là nghiên cứu cách vận dụng lí thuyết
trường nghĩa vào việc dạy học đọc hiểu đoạn trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
- Nhiệm vụ cụ thể:
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của lí thuyết trường nghĩa, lí
thuyết đọc hiểu, tác giả Tô Hoài, tác phẩm và đoạn trích Vợ chồng A Phủ của
Tô Hoài
+ Nghiên cứu thiết lập, phân tích hệ thống trường nghĩa trong đoạn
trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
+ Nghiên cứu việc vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học
+ Xây dựng giáo án đọc hiểu đoạn trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
theo hướng vận dụng lí thuyết trường nghĩa
+ Tiến hành thực nghiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Lí thuyết trường nghĩa và việc vận dụng lí thuyết trường nghĩa vào dạy
học đọc hiểu đoạn trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tất cả những vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ, trường
nghĩa và tác giả Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích thành tố ngữ nghĩa
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm (phân tích, tổng hợp)
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài hai phần Mở đầu và Kết luận, Phần Nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đề xuất hướng vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học
đọc hiểu đoạn trích Vợ chồng A Phủ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.1.1 Lý thuyết trường nghĩa
1.1.1.1.1 Quan niện về trường nghĩa
Trong hệ thống, ở một trạng thái tĩnh, các đơn vị từ vựng không tồn tại
tách biệt, rời nhau mà luôn có những mối quan hệ nhất định Điều đó làm cho
từ vựng không thuần túy chỉ là tập hợp ngẫu nhiên các từ và đơn vị tương đương với từ mà còn là một hệ thống với các mối quan hệ nhất định Để nghiên cứu về tính hệ thống và cấu trúc của ngôn ngữ, lý thuyết về trường nghĩa đã ra đời, mang lại những luồng sinh khí mới cho ngôn ngữ học hiện đại trong hoạt động hành chức
Lý thuyết về trường nghĩa bắt đầu được hình thành từ những tiền đề lý thuyết: Từ những tư tưởng về mối quan hệ giữa các từ trong ngôn ngữ đã được nhà bác học người Nga M.Pokrovxki (1896) đề xướng, từ giả thuyết về
“tính tương đối của ngôn ngữ” mà hai người được coi là có công lớn lao trong việc nghiên cứu và là Sapir (1921) và Whorf (1956) Tuy nhiên, khái niệm về trường và lý thuyết về trường ngữ nghiã chỉ thực sự tiến hành nghiên cứu từ những năm 1920 và 1930 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ những lý thuyết ngôn ngữ học của W.Humboldt và Fde Saussure Lý thuyết về các trường từ vựng gắn với tên tuổi các nhà nghiên cứu như: A Jolles (1943), G.Ipsen (1924), J Trier (1934), WPorizig (1934)…Tư tưởng cơ bản của những lý thuyết này là
sự khảo sát từ vựng một cách có hệ thống
Lý thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào Việt Nam từ những năm
1970 của thế kỷ thứ XX Đến nay nó vẫn được coi là mô hình nghiên cứu ưu thắng của ngữ nghĩa học cấu trúc và miêu tả Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề TN: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ,vv… Đỗ
Trang 17Hữu Châu trong bài viết Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ
vựng đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 1976 có viết: “Trường từ vựng là
một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa” và trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt (NXB GD 1999) ông cũng làm rõ thêm khái niệm này “Một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa, đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”
Đồng quan điểm này với Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng – tác giả cuốn Ngữ
nghĩa học (NXB Đại học Sư phạm 2014) cũng khẳng định: Các từ đồng nhất
về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng hoặc trường từ vựng- ngữ nghĩa) [21 –tr.186]
Tóm lại, quan niệm về trường nghĩa của các nhà ngôn ngữ có thể
không giống nhau, tuy nhiên có thể hiểu Trường nghĩa là một tập hợp bao
gồm các từ có chung với nhau ít nhất là một nét nghĩa Tiêu chí để xác lập
trường nghĩa là nghĩa của từ Việc phân lập hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường nhỏ dù có dựa vào các tiêu chí nào chăng nữa cũng không thể không bắt đầu từ tiêu chí ngữ nghĩa ấy
1.1.1.1.2 Phân loại trường nghĩa
* Tiêu chí xác lập trường nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, việc phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng – ngữ nghĩa nhằm mục đích phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa, từ đó có thể giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Tác giả đã có những nhận định
về tiêu chí phân lập trường nghĩa như các trường từ vựng – ngữ nghĩa là những sự kiện ngôn ngữ cho nên tiêu chí để phân lập chúng phải là tiêu chí
ngôn ngữ Cơ sở để phân lập là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và
ý nghĩa biểu niệm của các từ
Đỗ Hữu Châu nhận thấy khi đi vào trường nghĩa, giữa các từ tồn tại tình trạng thiếu đường ranh giới dứt khoát và tình trạng một từ có thể có mặt
Trang 18trong một số trường nghĩa khác nhau Tuy vậy việc phân lập trường nghĩa là rất quan trọng Ông đã đề ra phương thức xác lập như sau:
- Tìm những trường hợp điển hình, tức là những trường hợp mang và
chỉ mang các đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa được lấy làm cơ sở Những từ điển hình này lập thành tâm cho trường
- Xác lập vùng ngoại vi bằng những từ có khả năng đi vào một số trường
Chúng ta sẽ dựa vào các từ điển hình để xác định một trường, sau đó chúng ta sẽ
xử lý các trường hợp khó phân định nhờ cấu trúc ngữ nghĩa trong các từ điển Cơ
sở để lập trường biểu vật không phải là nhận thức về các phạm vi sự vật trong thực tế mà là ý nghĩa biểu vật của từ Như vậy tất cả các ý nghĩa biểu vật nào có chung một nét nghĩa biểu vật thì có thể đi vào một trường
Tuy nhiên, việc phân chia hiện thực thành những lát cắt để nghiên cứu (tức là việc phân chia trường nghĩa) mang tính chủ quan và khó thực hiện một cách triệt để bởi hiện thực thế giới khách quan là một chuỗi liên tục Mặt khác, một từ có thể có nhiều nghĩa, có thể tham gia vào nhiều trường nghĩa khác nhau
Tóm lại, vấn đề hệ thống tất cả các trường nghĩa trong ngôn ngữ, phân lập trường nghĩa như thế nào, các cấp độ của trường nghĩa chưa có được sự phân lập rõ ràng, mạch lạc, sự nhất trí trong giới nghiên cứu Việc xác lập trường biểu vật một cách đầy đủ càng không phải là một việc dễ dàng
* Phân loại các trường nghĩa
Dựa vào hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ đó là quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình), Đỗ Hữu Châu phân chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng
Trang 19Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ ngữ có chung một cấu trúc nghĩa biểu niệm
Các từ cùng một trường nghĩa biểu niệm có thể khác nhau về trường nghĩa biểu vật
Trường nghĩa tuyến tính
Để xác lập trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ ngữ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó
Trường nghĩa liên tưởng
Các sự vật, hoạt động, tính chất được phản ánh trong nhận thức của con người theo những mối quan hệ nhất định Các sự vật, hiện tượng có quan hệ liên tưởng với nhau là các sự vật, hiện tượng mà từ một sự vật, hiện tượng này người ta nghĩ đến các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất khác
Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất có quan hệ liên tưởng với nhau
Khác với hai trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa liên tưởng có sự khác biệt nhất định giữa các cá nhân sử dụng ngôn ngữ Do đó, người ta có thể xây dựng các từ điển trường nghĩa đối với các trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm nhưng khó có thể có từ điển các trường nghĩa liên tưởng vì trường nghĩa liên tưởng có tính chủ quan cao,
nó phụ thuộc vào điều kiện, môi trường sống, thời đại sống, kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân Có những liên tưởng có ở người này nhưng không tồn tại hoặc xa lạ đối với người khác và ngược lại Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi ngành nghề, mỗi địa phương lại có thể có một điểm liên tưởng chung nhau Ví dụ, cùng sự việc “ăn sáng” (điểm tâm), những người sống ở thành