ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- NGUYỄN PHƯƠNG THẢO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TPP LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TPP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TPP
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN CẨM NHUNG
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các bài nghiên cứu, tạp chí và website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, đến Quý thầy cô trong Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
nghiên cứu
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người!
Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined DANH MỤC BẢNG Error! Bookmark not defined DANH MỤC HÌNH Error! Bookmark not defined.
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Về năng lực cạnh tranh nói chung 4
1.1.2 Về năng lực cạnh tranh của NHTM 5
1.1.3 Về năng lực cạnh tranh của các NHTM trong bối cảnh hội nhập 5
1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM 10
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM 10
1.2.2 Nội dung về năng lực cạnh tranh của NHTM 12
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM 14
1.2.4 Nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của NHTM 22
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong TPP về nâng cao năng lực cạnh tranh của
hệ thống NHTM Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
2.1 Quy trình nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.2 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TPPError! Bookmark not
defined.
3.1 Tổng quan về hội nhập tài chính trong TPP Error! Bookmark not defined.
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam Error! Bookmark not
defined.
Trang 63.2.1 Năng lực tài chính Error! Bookmark not defined.
defined.
defined.
3.3 Khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP
Error! Bookmark not defined.
………Er
ror! Bookmark not defined.
defined.
not defined.
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TPP 294.1 Giải pháp tăng cường năng lực tài chính Error! Bookmark not defined.
4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành
Error! Bookmark not defined.
4.3 Giải pháp phát triển hạ tầng CNTT Error! Bookmark not defined.
4.4 Giải pháp về thị phần và kênh phân phối Error! Bookmark not defined.
4.4.2 Cho vay Error! Bookmark not defined.
4.4.3 Dịch vụ Error! Bookmark not defined.
4.5 Giải pháp xây dựng thương hiệu NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập TPP
……… Er
ror! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế thời đại và diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung và quy mô trên nhiều lĩnh vực Để bắt kịp với xu thế đó, Việt Nam đã chủ động gia nhập khối ASEAN, Tổ chức Thương mại thế giới WTO, tham gia vào các khu vực mậu dịch tự do, ký kết các hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới Mở cửa lĩnh vực ngân hàng là một trong những cam kết mà Việt Nam thể hiện với mong muốn hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với cộng đồng quốc tế
Trong những năm qua, cùng với quá trình hội nhập của đất nước, ngành ngân hàng đã tích cực chủ động và không ngừng nỗ lực củng cố quan hệ hợp tác với các
tổ chức tài chính quốc tế, tìm kiếm, mở rộng quan hệ với các đối tác tiềm năng nhằm tăng cường hỗ trợ cả về tài chính lẫn kỹ thuật cho Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, lộ trình thực hiện các Hiệp định thương mại song phương và đa phương đã ký kết đang ngày một rút ngắn lại, các NHTM Việt Nam sẽ đón nhận nhiều cơ hội nhưng cũng đối diện với không ít thách thức và khó khăn Mở cửa thị trường ngân hàng đồng nghĩa với việc gia tăng
số lượng các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các chi nhánh của NHNNg tại Việt Nam khiến áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt Thời gian qua, mặc dù các NHTM Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định song khoảng cách giữa các NHTM Việt Nam với các NHTM trong khu vực và trên thế giới vẫn còn rất lớn về mọi phương diện Sau hơn 9 năm gia nhập WTO, các NHTM Việt Nam đã thể hiện nhiều yếu kém như năng lực tài chính thấp, sức cạnh tranh chưa cao, năng lực quản trị và công nghệ yếu, sản phẩm dịch vụ chưa phong phú và đa dạng… Chính vì vậy, tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh là yếu tố sống còn để các NHTM Việt Nam
có thể đứng vững và phát triển trong xu thế hội nhập, nhất là khi Việt Nam đã chính thức tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) TPP cho phép 12 nước thành viên cung cấp dịch vụ ngân hàng xuyên biên giới
Trang 8trong khối, tức là được phép khai thác chung khách hàng Điều này có nghĩa là cá nhân, tổ chức tại Việt Nam có thể sử dụng dịch vụ của bất kỳ ngân hàng nào trong
12 nước thành viên TPP mà ngân hàng đó không cần mở chi nhánh/ ngân hàng 100% vốn nước ngoài như trước và ngược lại Nếu Quốc hội Mỹ thông qua TPP và TPP sẽ có hiệu lực từ năm 2018 thì việc chuẩn bị sẵn sàng đón nhận cơ hội và thách thức do TPP mang lại cho các NHTM Việt Nam là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Năng lực cạnh
tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP”
làm đề tài nghiên cứu
2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn đặt ra các câu hỏi sau:
(1) Năng lực cạnh tranh của các NHTM là gì?
(2) Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 như thế nào?
(3) Giải pháp gì nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhâp TPP?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam để từ đó có cơ sở đề ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng này trong bối cảnh hội nhập TPP
Luận văn đặt ra các nhiệm vụ:
(1) Hệ thống hóa lý thuyết và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực cạnh tranh của các NHTM
(2) Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP
(3) Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy năng lực cạnh tranh của các NHTM
Trang 9Việt Nam dựa trên cơ sở phân tích và đánh giá các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh, các hoạt động của NHTM Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, bao gồm NHTMNN và NHTMCP ở môi trường kinh doanh trong nước giai đoạn 2007 – 2015
5 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã chắt lọc, kế thừa, hệ thống hóa, làm rõ một số vấn đề lý luận cạnh về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của NHTM trong hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt phân tích rõ các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
Luận văn đã phân tích sâu sắc về thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2007 – 2015, và đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam qua phân tích SWOT
Từ đó, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ và khả năng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trước thềm hội nhập TPP
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của NHTM
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP
Trang 10CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Về năng lực cạnh tranh nói chung
Trên thế giới, việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh với nhiều khía cạnh khác nhau được nghiên cứu bởi nhiều nhóm tác giả từ những năm 60 và phát triển mạnh trong những năm 80 Nổi bật là công trình nghiên cứu của Michael Porter nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh, đối thủ cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh Michael A Hitt, R.Duane Ireland & Robert E.Hoskisson (2007) với tác phẩm
“Strategic Management, Competitiveness and Globalization: Concepts and Case”
trình bày về quản trị chiến lược và cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa
Cuốn “Khái luận về quản trị chiến lược” của tác giả Fred R David đã làm
rõ các vấn đề quản trị chiến lược và áp dụng các chiến lược vào hoạt động thực tiễn của mỗi doanh nghiệp Các doanh nghiệp hiện nay đánh giá các tác động yếu tố bên ngoài và bên trong như thế nào, và yếu tố đó ảnh hưởng ít hay nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các ma trận đánh giá yếu tố của doanh nghiệp để có thể thấy được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tốt ở mặt nào và yếu ở mặt nào, có mặt nào cần khắc phục
Bài viết của Nguyễn Thế Nghĩa (2007), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 23
(143) Bài viết đã khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra các hạn chế về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam như quy
mô doanh nghiệp nhỏ, ít vốn; lạc hậu về khoa học công nghệ; hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu; hạn chế về chiến lược truyền thông
và xúc tiến thương mại… Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 111.1.2 Về năng lực cạnh tranh của NHTM
Về nội dung năng lực cạnh tranh của các NHTM đã được một số tác giả tiếp cận ở các góc độ, phạm vi, đối tượng nghiên cứu khác nhau Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan tới đề tài này trong thời gian qua có thể kể đến:
Bài viết “Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam” của TS
Nguyễn Văn Hà đăng trên số 20 tháng 10/2013 Tạp chí Ngân hàng Tác giả đã cho thấy rõ bức tranh tổng thể về thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn triển khai kế hoạch tái cơ cấu thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu về năng lực tài chính, về thị phần, về nguồn nhân lực, về trình độ CNTT và
về hoạt động phát triển dịch vụ…
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành (2011): Cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động ngân hàng và các giải pháp chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh của TS Kiều Hữu Thiện
Nghiên cứu về “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt
Nam” có công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Thanh Bình do NXB Chính trị
quốc gia ấn hành năm 2005
Đề tài Cơ sở lý luận và thực tiễn một số giải pháp nâng cao hiệu quả cạnh
tranh và hợp tác trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam (2000) do TS Nguyễn Đắc
Hưng làm chủ nhiệm đề tài
Các công trình nghiên cứu này đã trình bày một cách tổng quát những vấn đề
lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM, phân tích đánh giá một cách khá toàn diện về lý luận và thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM trong từng lĩnh vực cụ thể để tìm ra những ưu, nhược điểm cùng các nguyên nhân và từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
1.1.3 Về năng lực cạnh tranh của các NHTM trong bối cảnh hội nhập
Barbara Casu, Philip Molyneux (2000), giảng viên Khoa Kế toán trường Đại học xứ Wales đã tiến hành nghiên cứu so sánh kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng châu Âu Các tác giả đã dùng phương pháp phân tích phát triển dữ liệu phi tham số (Non-parametric Data Development Analysis) kết hợp với cách tiếp cận hồi
Trang 12quy Tobit để phân tích tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Châu Âu trong bối cảnh thị trường Châu Âu thống nhất giai đoạn 1993 – 1997
Bert Scholtens (2000) đã nghiên cứu về cạnh tranh, tăng trưởng và hiệu quả của ngành công nghiệp ngân hàng, phân tích mối liên hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả bằng phương pháp phân tích ổn định có giới hạn (extreme bounds analysis)
Allen N.Berger và Loretta J.Mester (2003) đã nghiên cứu về sự thay đổi hiệu quả của hệ thống ngân hàng Mỹ do sự thay đổi về các yếu tố kỹ thuật, cạnh tranh và quy định của Nhà nước Đề tài nghiên cứu đã cho thấy trong giai đoạn 1991 – 1997, hiệu quả về mặt chi phí giảm sút trong khi hiệu quả về mặt lợi nhuận được cải thiện một cách đáng kể, đặc biệt là khi các ngân hàng tham gia vào quá trình sáp nhập Nghiên cứu cũng cho thấy sự gia tăng lợi nhuận bằng cách gia tăng các dịch vụ cao cấp
Nghiên cứu về vấn đề năng lực cạnh tranh của NHTM trong xu thế hội nhập
có sách chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn Thị Quy: “Năng lực cạnh tranh của các
NHTM trong xu thế hội nhập”, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005 Tác giả đã
phân tích một cách toàn diện thực trạng năng lực của các NHTM Việt Nam qua 6 tiêu chí: tiềm lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản lý
và cơ cấu tổ chức; hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp; mức độ cạnh tranh và khả năng hợp tác giữa các ngân hàng trong nước, từ
đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao những năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam trong tiến trình hội nhập, trên cơ sở đánh giá kinh nghiệm cải cách hệ thống NHTM của một số quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Hội thảo quốc tế “Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM trong bối cảnh
hội nhập – Kinh nghiệm Đài Loan” do Viện Nghiên cứu Châu Âu; Học viện CNTT
Đài Loan; Học viên Ngân hàng và Tài chính Đài Loan chủ trì tổ chức tại Hà Nội ngày 28/5/2007 Các chuyên gia hai bên đã đưa ra kết luận: Những vấn đề mà ngành tài chính, ngân hàng Việt Nam đang gặp phải trong thời điểm đó giống
Trang 13những gì mà Đài Loan đã từng giải quyết hơn 20 năm trước đó Do vậy, những thành công cũng như sai lầm mà Đài Loan từng gặp phải sẽ là những bài học kinh nghiệm tốt cho Việt Nam trong cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng
Bài viết của GS.TSKH Nguyễn Duy Gia về “Hệ thống ngân hàng Việt Nam:
Cạnh tranh – Phát triển – Hội nhập quốc tế – Xu hướng tất yếu của thời đại” trên
Tạp chí Ngân hàng 8-4/2006 đã chỉ rõ vai trò của hệ thống ngân hàng, phân tích về một số thách thức đặt ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam do những đòi hỏi của hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO
Bài viết của Lê Minh Hưng về “Các ngân hàng Việt Nam bước vào triển
khai thực hiện các cam kết trong WTO – những vấn đề đặt ra” đăng trên Tạp chí
Ngân hàng số 3+4 (tháng 2/2007) Trong bài viết này tác giả đã trình bày về những cam kết của nước ta trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng và chỉ rõ những vấn đề đặt ra
về năng lực cạnh tranh đối với các ngân hàng Việt Nam khi triển khai lộ trình thực hiện các cam kết trong WTO Tác giả cũng cho rằng, để có thể hội nhập một cách đầy đủ và thực sự vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng cần nỗ lực cải cách hơn nữa để tăng sức mạnh cạnh tranh cùng với những trợ giúp của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế
Bài viết của Trần Huy Hoàng: “Gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng: Vận hội
lớn, khó khăn không ít” trong hội thảo khoa học “Hội nhập quốc tế về ngân hàng”
do trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tháng 7/2008 cho rằng:
“Việc thực hiện những cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng trong gia nhập WTO đặt ra cho hệ thống NHTM Việt Nam những thách thức vô cùng to lớn Trong cam kết gia nhập WTO, đến năm 2011, Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn các dịch vụ cho NHNNg” PGS.TS Trần Huy Hoàng kết luận: “Có thể nói hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đứng trước những vận hội to lớn cho sự phát triển, song những thách thức và yếu kém nội tại chắc chắn sẽ gây khó khăn không ít cho các NHTM trong nước, nếu không có những cải cách thích hợp và đồng bộ với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”
Trang 14Buổi tọa đàm ngày 9/11/2011 do trường Đại học Ngoại thương tổ chức với
sự tham gia của ông Trương Đình Tuyển – Nguyên Bộ trưởng Bộ thương mại (nay
là Bộ Công thương), ông Trịnh Quang Anh – Giám đốc trung tâm nghiên cứu kinh
tế Maritimebank và bà Nguyễn Thị Quy – Nguyên hiệu phó, trưởng khoa Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Ngoại thương Một trong những nội dung chính của
buổi tọa đàm là năng lực cạnh tranh của các ngân hàng tại thị trường Việt Nam Bà
Nguyễn Thị Quy cho rằng, ở thời điểm gần 5 năm gia nhập WTO, hệ thống NHTM Việt Nam đã và đang thể hiện ra một số tồn tại như trình độ công nghệ chưa cao, năng lực quản trị điều hành còn yếu kém, đặc biệt là năng lực tài chính còn chưa đảm bảo Ông Trịnh Quang Anh chỉ ra những bất cập liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Theo ông, nếu chỉ đánh giá CAR của các ngân hàng đạt trên 8% hay 9% là chưa đủ Thực tế cho thấy, việc tính toán CAR theo chuẩn mực kế toán của Việt Nam (VSA) còn chênh lệch rất nhiều so với việc tính CAR theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và điều này gây ra không ít khó khăn cho vấn đề quản lý Ông Trương Đình Tuyển cũng chỉ rõ những khó khăn trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính ngân hàng Ông Tuyển cũng nhấn mạnh rằng: “những thách thức hiện tại với hệ thống tài chính ngân hàng không phải do WTO mang lại mà xuất phát từ những yếu kém nội tại của từng bộ phận Việc gia nhập WTO đã nhanh chóng chỉ ra cho chúng ta thấy những yếu kém đó.”
Bài viết của Phương Trâm về “Cơ hội – thách thức của các ngân hàng Việt
Nam trong năm 2011” Tác giả bài viết đã chỉ rõ khi những rào cản đối với NHNNg
được dỡ bỏ sẽ mở ra một sân chơi lành mạnh hơn cho các ngân hàng Các NHNNg
sẽ được phát triển tự do hơn trên mảng tài chính ngân hàng trong khi các ngân hàng nội sẽ không ngừng cải tiến sản phẩm và nâng cao dịch vụ của mình để cùng cạnh tranh Đây cũng được coi là cú hích về cạnh tranh để các NHTM Việt Nam đi lên Cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ thúc đẩy hiệu quả không chỉ trong huy động, phân bổ các nguồn vốn mà còn hiệu quả kinh doanh của mỗi ngân hàng Khả năng cạnh tranh của các ngân hàng sẽ được nâng cao bởi cơ hội liên kết hợp tác với nước ngoài trong chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và khai thác thị trường Bài
Trang 15viết còn nhận định: bên cạnh những cơ hội, ngân hàng trong nước cũng đối diện nhiều thách thức Các NHTM Việt Nam đứng trước áp lực cạnh tranh từ phía các NHNNg với năng lực tài chính tốt hơn, công nghệ, trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm đa dạng và có chất lượng cao hơn, có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Và tác giả bài viết cho rằng, để tạo thế cân bằng trước sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng, điều quan trọng là các NHTM trong nước phải thực hiện mục tiêu cải cách, nâng cao năng lực tài chính, hoạt động và quản trị ngân hàng, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ và khai thác tối đa các khoảng trống hiện nay trong thị trường dịch vụ ngân hàng
Cùng nghiên cứu về nội dung này còn có các đề tài luận án tiến sĩ kinh tế của các tác giả như:
Luận án TS kinh tế của Lê Đình Hạc, bảo vệ năm 2005 tại Đại học Kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh với đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
các NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” Luận án đã hệ thống
hóa được những vấn đề mang tính lý luận về cạnh tranh, hội nhập và các vấn đề cơ bản về hoạt động ngân hàng liên quan đến cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế
Luận văn Tiến sĩ kinh tế: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMNN Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” (2012) của NCS Nguyễn Thu Hiền
Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM trong tiến trình hội nhập quốc tế; phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMNN Việt Nam trong quá trình hội nhập; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án này chỉ tập trung vào các NHTMNN chứ không bao gồm cả các NHTMCP
Luận án Tiến sĩ kinh tế: “Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
trong thực hiện cam kết gia nhập WTO” (2012) của NCS Hoàng Ngọc Hải Luận án
đã bổ sung và hoàn thiện lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam khi
Trang 16thực hiện cam kết gia nhập WTO; đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam; đánh giá quá trình thực hiện cam kết gia nhập WTO của NHTM Việt Nam; làm rõ những hạn chế, yếu kém cũng như những vấn đề đặt ra đối với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả
đã đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong thực hiện các cam kết gia nhập WTO
Những nghiên cứu trên đây đã trình bày tương đối đầy đủ các vấn đề lý luận
và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của NHTM trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tuy nhiên, trong các công trình khoa học trên chưa có công trình nào đề cập một cách hệ thống về năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP Bởi vậy, có một đề tài nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP là cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỉ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỉ lệ đòi hỏi tài trợ cho những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu doanh nghiệp đặt ra Năng lực cạnh tranh có thể được chia thành 3 cấp:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực của một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng bển vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó đạt được
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Được đo bằng thị phần
của sản phẩm dịch vụ trên thị trường Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ
Trang 17phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó, dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm, dịch vụ đó
Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao
vì mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lại dựa trên năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp Nền kinh tế có sức cạnh tranh cao sẽ tạo điều kiện và môi trường cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả
NHTM là doanh nghiệp, nhưng hoạt động của ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, đó là kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính có liên quan Vì vậy, nếu dựa trên sự phân chia cấp độ về năng lực cạnh tranh của WEF thì năng lực cạnh tranh của NHTM được xét trên cấp độ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó chiếm lĩnh được thị trường, thu hút được nhiều khách hàng đến với mình bằng việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ chất lượng tốt, tiện ích cao, tạo được sự hài lòng của khách hàng, có được uy tín, danh tiếng trên thị trường, đồng thời thu được lợi nhuận đủ đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững Như vậy, năng lực cạnh tranh của NHTM là
sự tổng hợp tất cả khả năng của các NHTM đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
về việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao, đa dạng và phong phú, tiện ích và thuận lợi, có tính độc đáo so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại hiện có trên thị trường, tạo ra được lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận hàng năm của các ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế cao trên thị trường,
có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh
Vì vậy, có thể cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng ngân
hàng tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, tạo ra lợi nhuận cao và phát triển bền vững”
Trang 181.2.2 Nội dung về năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.2.1 Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ
Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú và đa dạng, tạo sự thuận lợi cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và đặt các doanh nghiệp dưới áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải thỏa mãn cao nhất những yêu cầu đòi hỏi từ khách hàng
Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm ngân hàng có chất lượng phải đáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng, đem lại cho khách hàng một tập lợi ích và tiện ích Do vậy, khi đánh giá một sản phẩm của ngân hàng có chất lượng, khách hàng thường dựa vào các tiêu chí sau: Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm và dịch vụ ít và đơn giản, tốc độ xử lý giao dịch nhanh, mức độ chính xác cao, hiệu quả mang lại cho khách hàng lớn, thái độ phục vụ tốt, trình độ công nghệ hiện đại
1.2.2.2 Cạnh tranh bằng giá cả
Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm Giá cả có vai trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng Đối với các NHTM, giá cả chính là lãi suất và mức phí
áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho khách hàng
Trong quá trình xác định lãi suất và mức phí, các NHTM luôn phải đối mặt với những mâu thuẫn, đó là: Nếu NHTM quan tâm đến khả năng cạnh tranh để mở rộng thị phần thì cần phải đưa ra mức lãi suất và phí hấp dẫn, ưu đãi cho khách hàng Tuy nhiên, điều này cũng sẽ làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí có thể khiến NHTM bị thua lỗ Song cũng như mọi doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, NHTM cũng luôn quan tâm đến mục tiêu tối thượng là tối đa hóa lợi nhuận, do đó các NHTM cũng muốn đưa ra mức lãi suất và phí cao mà điều này có thể làm cho ngân hàng bị mất khách hàng, giảm thị phần trong kinh doanh Điều này có nghĩa là hiện nay cạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp ít được lựa chọn nhất
Trang 191.2.2.3 Cạnh tranh bằng việc đa dạng hóa dịch vụ cung cấp
Để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, các NHTM phải cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng đa dạng, độc đáo, tạo ra nét riêng biệt, tích cực nghiên cứu để tung ra thị trường những sản phẩm dịch vụ mới với tính năng và tiện ích ưu việt hơn nhằm thay thế những sản phẩm hiện có Nhờ thế, các NHTM có thể tạo ra và duy trì lợi thế của mình trong cạnh tranh, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, giữ chân khách hàng cũ và thu hút thêm nhiều khách hàng mới
1.2.2.4 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt chính xác và kịp thời nhu cầu của khách hàng, qua đó chủ động cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng
Trước đây, các NHTM thường phát triển mạnh mẽ mạng lưới phân phối để
mở rộng thị phần và gây sức ép lên đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, thời gian gần đây, các kênh phân phối hiện đại với ưu thế nhiều mặt đang dần trở thành xu hướng chung được lựa chọn Bao gồm:
- Các chi nhánh tự động hóa hoàn toàn: Đặc điểm của kênh phân phối này là hoàn toàn do máy móc thực hiện dưới sự điều kiện của các thiết bị điện tử
- Chi nhánh ít nhân viên: Kiểu chi nhánh này có vị trí quan trọng trong hệ thống ngân hàng, nhất là đối với các chi nhánh lưu động Ưu điểm của nó là chi phí thấp, hoạt động linh hoạt
- Ngân hàng điện tử (E-Banking): Hình thức phân phối này được thực hiện thông qua hệ thống điện thoại và máy tính Nó cung cấp cho khách hàng rất nhiều tiện ích, tiết kiệm chi phí và thời gian, hoạt động ở mọi lúc mọi nơi Các giao dịch được thực hiện thông qua các giao dịch điện tử bao gồm: Máy thanh toán tại điểm bán hàng, máy rút tiền tự động, ngân hàng qua điện thoại…
- Ngân hàng qua mạng: Được chia làm 2 loại là ngân hàng qua mạng nội bộ
và ngân hàng qua mạng internet