Báo cáo về chi phí sản xuất và tình hình giá thành tại công ty nhựa Hàm Rồng
Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn nhiều năm đổi mới, doanh nghiệp- những tế bào của nền kinh tế đã có
những chuyển biến tích cực về nhiều mặt, bước đầu thu được những thành quả
đáng mừng tạo nên sự chuyển mình và tăng trưởng của toàn bộ kinh tế quốc dân
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế thị
trường và tác động rất lớn từng doanh nghiệp, từng đơn vị sản xuất kinh doanh
Cùng với những quy luật khắt khe của nó, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
không còn cách nà khác là phải đảm bảo sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
Hiệu quả sản xuất được biểu hiện cụ thể bằng số lợi nhuận thu được sau mỗi quá
trình sản xuất kinh doanh Giá thành đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển Chính vì vậy giá thành được coi là một trong những đòn bẩy kinh tế hiệu quả
nhất, kích thích mạnh mẽ hoạt động của doanh nghiệp Xuất phát từ ý nghĩa và vai
trò lớn của lợi nhuận, nhận thức được tầm quan trọng của nó đối với sự sống còn
Doanh nghiệp nên việc đi sâu tìm hiểu nguồn gốc, nhân tố ảnh hưởng cũng như các
biện pháp tăng giá thành là rất cần thiết
Với kiến thức đã được học và thời gain thực tập tại Công ty nhựa Hàm Rồng, đặc
biệt với sự hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo em đã manh dạn nghiên cứu đề tài:
“Báo cáo về chi phí sản xuất và tình hình giá thành tại công ty nhựa Hàm
Rồng''
* Phần I: Đặc điểm khái quát chung về công ty nhựa Hàm Rồng
* Phần II: Tình hình thực hiện lợi nhuận tại công ty nhựa Hamg Rồng
* Phần III: Các biện pháp làm tăng lợi nhuận tại Công ty nhựa Hàm Rồng
Do trình độ và thời gian thực tập có hạn chế nên bài viết của em không thể tránh
khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được nhận xét giúp đỡ của thầy cô giáo và các cô
chu trong công ty
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn
Phần I: Những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí và lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản
xuất trong kỳ kinh doanh nhất định
1.2 Phân loại chi phí sản xuất
- Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí và công dụng cụ thể của chi phí
trong sản xuất
+ Theo nội dung kinh tế của chi phí: Chi phí sản xuất được chia thành 8 yếu tố
chi phí Những yếu tố này được sử dụng khi lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế
hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ tiền lương, tính toán vốn lưu động định mức
+ Căn cứ vào công dụng cụ thể của chi phí trong sản xuất, người ta chia các chi
phí thành các khoản mục nhất định Các khoản mục này được dùng trong việc xác
định giá thành đơn vị sản phẩm cũng như giá thành sản lượng hàng hoá
Nội dung yếu tố chi phí và khoản mục tính giá thành sản phẩm
1 Nguyên vật liệu chính mua ngoài 1 Nguyên liệu chính
2 Vật liệu phụ mua ngoài 2 Vật liệu phụ
3 Nhiên liệu mua ngoài 3 Nhiên liệu dùng vào sản xuất
Trang 34 Năng lượng mua ngoài 4 Năng lượng dùng vào sản xuất
5 Tiền lương công nhân viên chức 5.Tiền lương của CN sản xuất
6 BHXH công nhân viên chức 6 BHXH của công nhân sản xuất
7 Khấu hao TSCĐ 7 Khấu hao TSCĐ dùng vào SX
8 Các chi phí khác bằng tiền 8 Chi phí quản lý phân xưởng
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp
10 Thiệt hại về ngừng SX và SP hỏng
11 Chi phí ngoài sản xuất
- Phân loại theo phương pháp phân bổ chi phí vào giá thành: Chi phí trực tiếp và
chi phí gián tiếp
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có quan hệ trực tiếp vào quá trình sản xuất
ra từng loại sản phẩm và được tính trực tiếp vào giá thành của đơn vị sản phẩm hay
loại sản phẩm Chi phí trực tiếp bao gồm:
Tiền lương và BHXH của công nhân sản xuất
Nguyên vật liệu chính, phụ dùng vào sản xuất
Nhiên liệu, động lực dùng vào sản xuất
Chi phí trực tiếp khác bằng tiền
+ Chi phí gián tiếp là: Những chi phí có quan hệ đến hoạt động chung của phân
xưởng, của doanh nghiệp và được tính vào giá thành một cách gián tiếp bằng
phương pháp phân bổ
- Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí và tình hình tăng giảm sản lượng hàng
hoá: Chi phí biến đổi( biến phí) và chi phí cố định( định phí)
+ Chi phí cố định: Là những chi phí không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể
so với sự thay đổi của sản lượng như: Khấu hao tài sản cố định, tiền thuê mặt bằng
nhà xưởng
Trang 4+ Chi phí biến đổi: Là những chi phí thay đổi theo sự thay đổi của mức sản
lượng như: Tiền mua nguyên vật liệu, tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất
2 Giá thành sản phẩm
2.1 Giá thành và ý nghĩa của giá thành sản phẩm
2.1.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí của doanh nghiệp
để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định
2.1.2 ý nghĩa của giá thành sản phẩm
Trong công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu giá thành sản phẩm
giữ một vai trò quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
- Giá thành là thước đo mức chi phí tiêu hao phải bù đắp, là một căn để xác định
hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả của các biện pháp tổ chúc kỹ
2.1.3 Phân biệt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự giống nhau và khác nhau ở
mức độ và phạm vi chi phí
Nội dung của giá thành là chi phí sản xuất, nhưng không phải mọi chi phí sản
xuất đều được tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ
Chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong kỳ, không tính đến chi
phí có liên quan đến số sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành hay chưa, trong khi đó giá
thành sản phẩm là giới hạn chi phí sản xuất liên quan đến khối lượng sản phẩm,
dịch vụ hoàn thành
Trang 5Chi phí sản xuất tính trong một kỳ, còn giá thành sản phẩm liên quan đến chi phí
sản xuất của kỳ trước chuyển sang, chi phí phát sinh kỳ này, và chi phí kỳ này
chuyển sang kỳ sau
Chi phí sản xuất không gắn liền với khối lượng, chủng loại sản phẩm hoàn thành
2.1.4 Các loại giá thành sản phẩm
- Giá thành sản phẩm được chia thành giá thành cá biệt và giá thành bình quân
toàn nghành
+ Giá thành cá biệt: Giá thành sản phẩm của một doanh nghiệp được biểu hiện
bằng chi phí cá biệt của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Trên thực tế, cùng một loại sản phẩm trên thị trường có thể do nhiều doanh
nghiệp sản xuất ra, nhưng ở mỗi loại doanh nghiệp có điều kiện cụ thể không giống
nhau nên giá thành của các doanh nghiệp về sản phẩm đó không giống nhau Giá
thành hình thành ở từng loại doanh nghiệp gọi là giá thành cá biệt
+ Giá thành bình quân toàn nghành: Nếu đứng trên góc độ của nền kinh tế mà
xem xét thì mỗi loại sản phẩm đều có giá thành xấp xỉ giá thành bình quân tức là
mức giá thành vào bậc trung bình so với điều kiện sản xuất lúc đó Giá thành này
được gọi là giá thành bình quân toàn nghành
Giá thành cá biệt của mỗi doanh nghiệp có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá thành
bình quân toàn nghành.Giá cả sản phẩm sẽ giao động xung quanh giá thành bình
quân toàn nghành
- Giá thành sản phẩm còn được chia thành giá thành sản xuất sản phẩm và giá
thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ
+ Giá thành sản xuất sản phẩm: Bao gồm những khoản chi phí mà doanh nghiệp
phải bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm như chi phí vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
+ Giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá dịch vụ bao gồm toàn bộ chi phí để
hoàn thành việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm
Trang 6+ Giá thành kế hoạch : là giá thành dự kiến được xây dựng dựa trên định mức
kinh tế kỹ thuật và dựa trên số liệu phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
của kỳ trước
+ Giá thành thực tế: là tổng chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành
việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhất định
2.2, Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
2.2.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
-Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất phát sinh gắn liền với nơi diễn ra hoạt
động sản xuất và sản phẩm được sản xuất Kế toán cần xác định được đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất để từ đó tổ chức thực hiện công tác tập hợp chi phí sản xuất
cung cấp cho việc tính giá thành
- Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chính là việc xác định một
phạm vi, giới hạn tập hợp chi phí có thể là nơi phát sinh chi phí (phân xưởng, giai
đoạn công nghệ, tổ đội hoặc là nơi chịu chi phí từng loại sản phẩm, nhóm sản
phẩm, đơn đặt hàng)
- Muốn xác định được đối tượng tập hợp chi phí, căn cứ vào: tính chất sản xuất,
loại hình sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp Xác
định đối tượng tập hợp chi phí để giúp cho doanh nghiệp sử dụng các tài khoản ,
mở sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu
2.2.2 Đối tượng tính thành sản phẩm
- Việc xác định đôí tượng tính giá thành sản phẩm là căn cứ để kế toán lập bảng
biểu chi tiết tính giá thành sản phẩm và tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm
theo đối tượng tính giá thành
Trang 7- Đối tượng tính giá thành có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp xác
định giá thành thích hợp cho đối tượng đó nên doanh nghiệp cần phải căn cứ vào
đặc điểm sản xuất, vào tính chất sản xuất, và đặc điểm cung cấp, sử dụng từng loại
sản phẩm đó để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp
- Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc lao vụ, dịch vụ được doanh
nghiệp sản xuất ra và cần phải được tính giá thành cũng như giá thành đơn vị
- Căn cứ để xác định đối tượng tính giá thành là: đặc điểm tổ chức sản xuất, quy
trình công nghệ sản xuất sản phẩm, yêu cầu và quản lý của doanh nghiệp
+ Đối với các doanh nghiệp có loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tính giá
thành là từng sản phẩm, từng công việc như : đóng tàu, sửa chữa ô tô Việc xác
định giá thành được tính theo khoản mục chi phí, trên cơ sở được xác định giá
thành của sản lượng hàng hoá
+ Đối với các doanh nghiệp có loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng tính giá
thành là từng loại sản phẩm đã hoàn thành theo khoản mục và trên cơ sở đó xác
định giá thành sản phẩm bình quân cho thừng đơn vị sản phẩm
+ Đối với doanh nghiệp có loại hình sản xuất khối lượng lớn thì việc tính giá
thành sản phẩm được tính theo khối lượng hàng hoá theo khoản mục Trên cơ sở đó
tính giá thành bình quân cho từng đơn vị sản phẩm
+ Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm cũng có ảnh hưởng nhất định đến đối
tượng tính giá thành sản phẩm Nếu quy trình công nghệ đơn giản thì đối tượng
tính giá thành chỉ có thể là sản phẩm đã hoàn thành ở cuối quy trình sản xuất Nếu
quy trình công nghệ phức tạp thì đối tượng tính giá thành có thể là bán sản phẩm ở
từng giai đoạn hoặc thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng, hoặc bộ phận chi tiết của
sản phẩm, hoặc thành phẩm đã lắp ráp hoàn chỉnh
II Các biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt, đòi
hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến mặt hàng, nâng cao chất lượng sản
Trang 8phẩm và hạ giá thành.Đối với các doanh nghiệp sản xuất, các xí nghiệp sản xuất
việc hạ giá thành sản phẩm là côn đường chủ yếu để tăng doanh lợi cho toàn bộ các
hoạt động sản xuất kinh doanh, nó cũng là tiền đề để hạ giá bán, nâng cao sức cạnh
tranh trên thị trường kể cả trong và ngoài nước Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế,
việc hạ giá thành của các nghành sản xuất sẽ mang lại tiết kiệm lao động xã hội,
tăng tích luỹ cho nền kinh tế nói chung, đặc biệt khi chính sách thu của nhà nước
thay đổi Thuế là hình thức thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó có thuế
lợi tức thì việc hạ giá thành sản phẩm sẽ làm tăng lợi nhuận, do đó sẽ làm tăng
nguồn thu cho ngân sách Như vậy, để hạ giá thành sản phẩm không chỉ là vấn đề
quan tâm của từng người sản xuất, từng doanh nghiệp mà còn là vấn đề quan tâm
của toàn nghành và toàn xã hội
Để hạ được giá thành sản phẩm, đứng trên góc độ quản lý cần phải biết nguồn
gốc và con đường hình thành của nó, nội dung cấu thành của giá thành để từ đó biết
được những nguyên nhân cơ bản nào, những nhân tố cụ thể nào đã làm tăng hoặc
giảm giá thành và chỉ có trên cơ sở đó người quản lý mới đề ra được biện pháp cần
thiết để hạn chế, loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố tiêu cực, khai thác khả năng
tiềm tàng trong việc quản lý, sử dụng các nguồn vật tư, lao động và tiền vốn, không
ngừng hạ giá thành của từng sản phẩm.Muốn thực hiện các yêu cầu nói trên phải
cần thiết tiến hành phân tích nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm (đối với những sản
phẩm có thể so sánh được)
1 Hệ thồng chỉ tiêu phân tích
Trong các doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm có thể so sánh được là những sản
phẩm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chủng loại sản phẩm sản xuất ra, do đó
việc hạ giá thành của loại sản phẩm nàu có ý nghĩa quyết định với việc phấn đấu hạ
giá thành của toàn bộ thành phẩm
Đối với các loại sản phẩm có thể so sánh được, ngoài việc xác định chỉ tiêu kế
hoạch giá thành của từng loại sản phẩm, người ta còn xác định kế hoạch về nhiệm
vụ hạ giá thành, trong đó lấy giá thành bình quân năm trước làm chuẩn Nhiệm vụ
Trang 9hạ giá thành là xác định làm bớt chi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ sản phẩm
Muốn xác định giá thành sản phẩm kế hoạch theo khoản mục, trước hết phải xác
định giá thành một đơn vị sản phẩm Cách xác định giá thành một đơn vị sản phẩm
như sau:
+ Đối với khoản mục độc lập ( nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp):
Lấy định mức tiêu hao 1 đơn vị sản phẩm * đơn giá kế hoạch 1 đơn vị sản phẩm
+ Đối với khoản mục chi phí tổng hợp ( phân bổ chi phí ) tính dự toán chi phí
chung, sau đó lựa chọn tiêu thức thích hợp để phân bổ cho một đơn vị sản phẩm
Nhiệm vụ hạ giá thành được phản ánh thông qua ₡ chỉ tiêu: Mức hạ giá thành
và tỷ lệ hạ giá thành, nếu doanh nghiệp nào hoàn thành cả ₡ chỉ tiêu trên thì được
xác nhận là hoàn thành nhiệm vụ hạ giá thành
Hai chỉ tiêu mức hạ và tỷ lệ ở các thời điểm ( kế hoạch và thực tế ) được xác
Trang 102 Nội dung trình tự phân tích
Xuất phát từ công thức tính mức hạ của toàn bộ sản phẩm và tỷ lệ bình quân, mức
độ ảnh hưởng của từng nhân tố lần lượt được xác định như sau:
- Do ảnh hưởng của nhân tố số lượng:
+ Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch, khối lượng sản phẩm
Để tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp phải có các biện pháp hạ giá thành sản phẩm
Việc hạ giá thành tạo điều kiện tốt cho việc tiêu thụ sản phẩm, tăng lợi thế cạnh
tranh trên thị trường Doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được các chi phí nguyên vật liệu,
chi phí quản lý, nhu cầu sử dụng vốn lưu động giảm
Trang 11Một số biện pháp hạ giá thành sản phẩm
- Nâng cao năng suất lao động: việc nâng cao năng suất lao động sẽ làm cho số
giờ công tiêu hao để sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm giảm bớt hoặc làm cho số lượng
sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng thêm Kết quả của việc nâng
cao năng suất lao động làm cho chi phí về tiền lương của công nhân sản xuất và
một số khoản chi phí cố định khác trong giá thành sản phẩm được hạ thấp
Muốn không ngừng nâng cao năng suất lao động, doanh nghiệp phải nhanh
chóng đón nhận sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, tổ chức lao động khoa học
để tránh lãng phí sức lao động và máy móc thiết bị
- Tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao: nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá
thành sản phẩm( khoảng 60%-70%) Vì vậy phấn đấu tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu
hao có ý nghĩa quan trọng đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm
Muốn tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao, doanh nghiệp phải xây dựng định mức
tiêu dùng nguyên vật liệu tiên tiến, sử dụng vật liệu thay thế, tận dụng phế liệu, phế
phẩm, cải tiến công tác thu mua, bảo quản
- Tận dụng công suất máy móc thiết bị, phải chấp hành đúng đắn định mức sử
dụng thiết bị, chấp hành nghiêm chỉnh chế độ bảo quản, kiểm tra, sửa chữa thường
xuyên, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng lực sản suất của thiết bị
- Giảm bớt những tổn thất trong sản xuất: những tổn thất trong sản xuất là những
chi phí về sản phẩm hỏng và chi phí ngừng sản xuất Các khoản chi phí này không
tạo thành giá trị của sản phẩm nếu phát sinh về nhân lực, vật lực và giá thành sản
phẩm cao
Muốn giảm bớt sản phẩm hỏng phải không ngừng nâng cao kỹ thuật sản suất,
nâng cao ý thức trách nhiệm trong sản xuất, thực hiện chế độ trách nhiệm vật chất
khi xảy ra sản phẩm hỏng
Muốn giảm bớt tình trạng ngừng sản xuất phải đảm bảo cung cấp nguyên vật
liệu đều đặn, tuân thủ nghiêm ngặt chế độ kiểm tra và sửa chữa máy móc thiết bị,
khắc phục tính chất thời vụ trong sản xuất
Trang 12- Tiết kiệm chi phí quản lý hành chính: chi phí hành chính bao gồm tiền lương
của cán bộ nhân viên quản lý, chi phí văn phòng, bưu điện, tiếp tân,
Muốn giảm bớt chi phí quản lý hành chính phải luôn luôn cải tiến phương pháp
làm việc để nâng cao hiệu suất công tác quản lý, giảm bớt số lượng nhân viên quản
lý
Trang 13Phần II: Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại công ty nhựa Hàm Rồng
I Quá trình hình thành và phát triển của công ty nhựa Hàm Rồng:
Công ty nhựa Hàm Rồng là một doanh nghiệp nhà nước thuộc sở công nghiệp
Hà Nội Công ty nhựa Hàm Rồng được thành lập theo quyết định số 2463/UBND
thành phố Hà Nội ngày 14-04-1971 với tên gọi ban đầu là xí nghiệp bàn chải Hàm
Rồng Lĩnh vực kinh doanh là sản xuất hàng nhựa dân dụng Trong thời gian thành
lập xí nghiệp được giao nhiệm vụ tập trung sản xuất một mặt hàng là bàn chải đánh
răng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cùng với hơn 100 nhân công chủ
yếu là bộ đội xuất ngũ và thương binh, máy móc thiết bị đều do Trung Quốc viện
trợ từ năm 1980 Xí nghiệp thực hiện đa dạng hoá chủng loại sản phẩm sản xuất
thêm nhiều mặt hàng nhựa nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt hàng tiêu dùng ngày càng
cao của dân, bao gồm các mặt hàng như: Đồ chơi trẻ em, bàn ghế, xô chậu, chai
lọ Đến năm 1983 được sự đồng ý của sở Công Nghiệp Hà Nội, xí nghiệp đổi tên
thành xí nghiệp Hàm Rồng cho phù hợp với nhiệm vụ sản xuất mới Từ đó cùng
với sự chuyển mình của đất nước từ nền kinh tế tập chung sang nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, xí nghiệp Hàm Rồng đã mạnh dạn tạo
nguồn vốn cùng với việc vay vốn để đầu tư nhà xưởng ,máy móc, thiết bị công
nghệ tiên tiến đã tạo ra sự phát trển đáng kể từ chỗ xí nghiệp chỉ sản xuất theo chỉ
tiêu kế hoạch của nhà nước, giờ đây xí nghiệp đã chuyển dần sang sản xuất kinh
doanh những mặt hàng theo nhu cầu của người tiêu dùng Lúc này xí nghiệp vừa
phải tổ chức sản xuất, vừa phải sản xuất tiêu thụ sản phẩm, hạch toán kinh doanh
và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình Tuy gặp nhiều khó
khăn khi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nhưng nhờ sự lỗ lực của ban giám
đốc và toàn thể cán bộ công nhân viên xí nghiệp đã vượt qua những khó khăn của
cơ chế, đưa xí nghiệp phát triển ngày càng đứng vững trong nền kinh tế thị trường
Ngày 10-09-1996 theo quyết định số 2979 QĐ/UB của UBND thành phố Hà
Nội Xí nghiệp nhựa Hàm Rồng chính thức đổi tên thành công ty nhựa hàm Rồng
Trang 14Qua thời gian xây dựng và phát triển công ty đã xây dựng hoàn thiện cho mình
một bộ máy gọn nhẹ, một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân có trình
độ tay nghề cao Từ đó giúp cho hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao thông qua
các chỉ tiêu giá trị sản lượng liên tục tăng hàng năm và công ty còn xây dựng mới
một cơ sở sản xuất ở Ai Mộ- Gia Lâm- Hà Nội Đến nay công ty đã có hơn 40 sản
phẩm chủng loại nhựa Đặc biệt năm 1995 công ty đã đầu tư máy móc sản xuất
đệm mút chất lượng cao, mặc dù đây là một hàng mới của công ty nhưng thường
xuyên chiếm tới 30% tổng số doanh thu bán hàng của công ty
1 Đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty
nhựa Hàm Rồng
- Đặc điểm tổ chức quản lý: Công ty nhựa Hàm Rồng có 4 phòng ban, đặc điểm bộ
máy quản lý là đều hành trực tiếp Toàn bộ công ty đặt dưới sự lãnh đạo của giám
đốc
Giám đốc công ty: Là người chịu trách nhiệm chung cho mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh, đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty
Các phòng của công ty bao gồm:
-Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ bố trí, xắp xếp lao động trong công ty
về số lượng, trình độ, nghiệp vụ, tay nghề từng phòng ban, phân xưởng đồng thời
có trách nhiệm chăm lo tới đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của cán bộ công
nhân viên trong công ty Quản lý công tác văn thư , hành chính lưu dữ tài liệu của
công ty
- Phòng kế hoạch vật tư: Có nhiệm vụ ký kết hợp đồng kinh tế với khách hàng,
lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, tổ chức thu mua kịp thời đầy đủ
Bên cạnh đó phòng vật tư còn có trách nhiệm, kiểm tra, giám sát, thường xuyên
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh từng phân xưởng, tình hình thực hiện kế hoạch
sản xuất, giao nộp sản phẩm, tình hình bảo quản vật tư thành phẩm ở kho, lập các
chứng từ ( phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hoá đơn ) mở thẻ kho chi tiết thành
Trang 15phẩm theo dỏi tình hình nhập - xuất tồn kho thành phẩm và tính lương cho công
nhân viên từng phân xưởng và các phòng ban
-Phòng tài vụ kế toán: Có nhiệm vụ ghi chép phản ánh và giám sát mọi hoạt động
của công ty thông qua chit tiêu đánh giá các nghiệp vụ tài chính kế toán phát sinh
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý toàn bộ vốn và sử dụng vốn đúng
mục đích và có hiệu quả Thực hiện kê khai các loại thuế, đề xuất các biện pháp
cho lãnh đạo công ty để có đường lối phát triển đúng đắn và hiệu quả
- Phòng kỹ thuật: Có chức năng chỉ đạo kỹ thuật sản xuất, dưới sự lãnh đạo của
giám đốc Nghiên cứu chế tạo thiết kế khuôn mẫu, xây dựng các định mức kũ thuật,
lập quy trình công nghệ sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, quy cách mặt
hàng trước khi áp dụng vào sản xuất
- Bộ phận KCS: kiểm tra chất lượng phụ gia, tỷ lệ phụ gia, tỷ lệ pha chế, chất
lượng khuôn mẫu trước khi sản xuất Kiểm nhgiệm chất lượng sản phẩm trước khi
nhập kho
* Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Công ty nhựa Hàm Rồng là một doanh nghiệp chuyên sản xuất mặt hàng nhựa và
mút xốp Là doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên tổ chức trong công ty gọn nhẹ và có
quan hệ trực tiếp tới bộ máy quản lý
* Về tổ chức sản xuất: Công ty nhựa Hàm Rồng là một doanh nghiệp chuyên sản
xuất mặt hàng nhựa và mút xốp Là doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên tổ chức trong
công ty gọn nhẹ và có quan hệ trực tiếp với bộ máy quản lý
Hiện nay có 3 phân xưởng chính
- Phân xưởng ép phun nhựa: Chuyên sản xuất các nhựa dân dụng như chạn, bàn
ghế, xô, chậu
- Phân xưởng mút xốp: Chuyên sản xuất các tấm mút
- Phân xưởng cơ điện: Chế tạo khuôn mẫu mới, sửa chữa máy móc thiết bị sản
xuất, sản xuất các chi tiết máy thay thế, lắp đặt máy móc phục vụ cho hai phân
xưởng trên
Trang 16Các phân xưởng được tổ chức theo dây chuyền kép kín, hoàn toàn độc lập với
nhau, điều này có ảnh hưởng tới công tác quản lýchi phí và hạ giá thành sản phẩm
đối với doanh nghiệp
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Một trong những đặc điểm của quy trình công nghệ chế biến nhựa là chu kỳ sản
xuất rất ngắn Từ lúc bắt đầu đưa nguyên vật liệu pha chế vào máy cho đến lúc ra
sản phẩm là một quá trình diễn ra liên tục và không có bán thành phẩm Mặc dù
quy trình sản xuất đơn giản nhưng để chuẩn bị cho sản xuất đòi hỏi một số nguyên
vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ rất nhiều do đó làm cho vốn vật rất lớn và
Phòng tài
vụ
Phòng kế hoạch vật
Trang 17việc bảo quản nó cũng phải chặt chẽ Hiện nay công ty sản xuất 2 loại mặt hàng là
nhựa dân dụng và mút xốp nên chia thành hai quy trình công nghệ, máy móc sản
xuất khác nhau và nguyên vật liệu dùng cũng khác nhau Cụ thể là:
Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất nhựa:
Nhựa PP, PFLD, PA66
Nhựa hạt PVC: Hạt mầu vàng và mầu đỏ
Nhựa PE: Hạt mầu xanh lá cây và xanh lam
Nhựa PS trắng
Nguyên liệu chính dùng cho sản xuất đệm mút
PPG (Poly Propylen Glycon)
TDI ( Toluen Dige Cyanat)
Các chất phụ gia gồm: Silicon, T9 Amin, nước
* Quy trình công nghệ sản xuất nhựa:
Quy trình này được chia thành hai phương pháp: Đối với sản phẩm chai lọ, ép
phun định hình đối với sản phẩm chạn, bàn ghế, xô, chậu Về trình tự của quy
trình sản xuất về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau ở khâu cuối cùng
Nguyên vật liệu chính sau khi được kiểm tra đủ tiêu chuẩn sẽ được đưa vào bình
đặt trong máy, tỷ lệ giữa các chất phụ thuộc vào kỹ thuật đối với từng sản phẩm
(cứng hay mềm) Tiếp đó nguyên vật liệu được đưa xuống một bầu làm nóng, dưới
tác động của nhiệt độ cao vật liệu sẽ bị nóng chảy thành chất lỏng.Tại đây có khuôn
pha mẫu, muốn cho sản phẩm mầu gì thì sẽ cho mầu đó vào Qua phân nhiệt đến
khuôn màu định hình, nếu muốn có sản phẩm là chai lọ thì dùng phương pháp thổi,
nếu dùng phương pháp ép phunmáy sẽ cho ra sản phẩm theo khuôn mẫu như xô,
chậu sau khi sản phẩm hoàn thành sẽ được bộ phận kiểm định KCS kiểm nghiệm
nếu đủ tiêu chuẩn quy định mới được đưa vào nhập kho, còn nếu chưa đạt yêu cầu
thì coi như là phế liệu và được tái chế bằng cách cho máy vào máy nghiền nhỏ sau
đó trộn với nguyên liệu mới theo tỷ lệ nhất định để tái chế