1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

QUY TRINH SAN XUAT CAY XA LACH (lactura sativa car capitala l ) THEO GAP

3 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 22,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả: Nguyễn Quý Bình, Lê Thị Nhâm, Trần Khắc Thi, Trương Văn Nghiệp, Christian Langlais; NXB Nông nghiệp, 2009Cuốn tài liệu này được biên soạn bởi các cán bộ nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu và phát triển HTNN, Viện nghiên cứu rau quả và CIRAD (Pháp) trong khuôn khổ dự án Superchain, được áp dụng cho các vùng sản xuất RAT tại huyện Hoài Đức, Thường TínHà Nội.

Trang 1

Cây xà lách

(Lactura sativa car capitala L.)

I Nguồn gốc, đặc tính sinh học và giá trị dinh dưỡng

1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng

Xà lách có nguồn gốc từ Trung á, nó được dùng làm rau ăn và làm thuốc từ năm 4500 trước công nguyên Nó là rau phổ biến ở Hylạp và Italia ở các nước Tây Âu xà lách cuốn mới được biết và sử dụng vào thế kỷ XIV, nhưng loại xã lách xoăn thì được dùng từ rất lâu Ngày nay xà lách là loại rau ăn sống quan trọng của hầu hết các nước trên thế giới

Trong y học cổ truyền xà lách có vị đắng, tính lạnh, bổ gân cốt, có tác dụng chữa bệnh gan, chứng mất ngủ ngày nay người ta biết trong thân lá của xà lách có các thành phần như

lactucarium có tác dụng có thể so sánh với thuốc phiện, lactucerin, lactucin, acid lactucic, asparagin, hioscyamin, chlorophin, vitamin A, C, D, E, các khoáng chất Fe, Ca, P, I, Mn, Zn,

Cu, Na, Cl, K, Co, As, các phosphas, sulffat, sterol, caroten

Người ta đã tìm thấy trong xà lách có một đơn vị vitamin E/50g và 17,7mg vitamin C/100g cây tươi Để trong 3 ngày lượng vitamin C giảm xuống 4mg nếu ta không giữ dễ cây cẩn thận trong nước

Từ thành phần phong phú trên, người ta đã xác định được các tính chất của xà lách là giải nhiệt, lọc máu, khai vị (vào đầu bữa ăn, nó kích thích các tuyến tiêu hóa), cung cấp các chất khoáng, giảm đau, gây ngủ, trị ho, trị đái đường, lợi sữa, dẫn mật, chống thối

Xà lách được chỉ định dùng làm thuốc trong các trường hợp thần kinh dễ kích thích, suy nhược tâm thần, đánh trống ngực, co giật nội tạng, chứng đau dạ dày, di mộng tinh, kích thích sinh lý, mất ngủ, mất khoáng chất, ho, ho gà, ho thần kinh, suyễn, đái đường, thống phong, tạng khớp, bệnh sỏi, viêm thận, hành kinh đau bụng, vàng da, sung huyết gan, táo bón

Người ta có thể dùng xà lách với liều điều trị là # thìa cafê dịch, ngày thứ hai 1 thìa, ngày thứ ba 1 thìa #, cho đến ngày thứ 10 uống 5 thìa rồi giảm dần trở lại # thìa Hoặc dùng Lactucarium tức là dịch khô của cây Nó có hiệu quả đối với bệnh thấp khớp, thống phong,

ho, hen và các rối loạn thần kinh

Để dùng ngoài, có thể sắc nước dùng rửa trị bệnh nấm hoặc lấy lá nấu lên dẫn dầu dừa dùng

Trang 2

đắp trị mụn nhọt, apxe, bỏng Dùng đắp liên tiếp vào ngực và vào lưng để trị ho.

Cần chú ý là chất Lactucarium không có hại như thuốc phiện vì nó làm dịu sự kích thich thần kinh Nó không gây nên táo bón và làm mất cảm giác ăn ngon miệng và không có tác dụng tổn thương đến các bộ máy tuần hoàn và tiêu hóa

Tùy giống mà lá có thể khác nhau, cuốn (xà lách) hay không cuốn (rau diếp) Thân thuộc loại thân thảo và có một loại dịch trắng như sữa có thể dùng làm thuốc trong y học Có bộ rễ rất phát triển và phát triển rất nhanh

1.2 Yêu cầu ngoại cảnh

- Nhiệt độ: xà lách phát triển tốt ở 8- 25oC, còn rau diếp từ 10- 27oC Nhiệt độ thích hợp cho toàn bộ quá trình sinh trưởng từ 15- 20oC

- ánh sáng: ánh sáng ngày từ 10- 12 giờ rất thuận lợi để đạt năng suất cao

- Nước: Độ ẩm thích hợp của đất từ 70- 80%

- Đất và chất dinh dưỡng: Xà lách không kén đất, chỉ yêu cầu thoát nước; pH 5,8- 6,6 Sau khi trồng 28- 40 ngày đã được thu hoạch, do đó cần các loại phân dễ tiêu

II Biện pháp kỹ thuật

2.1 Các giống xà lách và rau diếp trồng ở nước ta:

- Rau diếp:

+ Rau diếp xoăn (rau diếp ngô) mép lá xoăn ăn giòn

+ Rau diếp ta (có loại lá vàng và loại lá xanh)

- Xà lách:

+ Xà lách trứng: Lá trắng, chịu được mưa nắng, cuộn chắc

+ Xà lách li ti: Lá xanh nhạt, tán lớn, ít cuộn xốp, chịu úng

2.2 Thời vụ:

- Xà lách trứng: Gieo từ tháng 7 đến tháng 2

- Xà lách li ti: Gieo từ tháng 3- 4 để ăn trong vụ hè

- Rau diếp xoăn: Gieo tháng 8 đến tháng 3

- Rau diếp ta: Gieo như trên, nhưng cũng có thể gieo gieo chậm hơn cũng được Một hecta cần 350g- 450g hạt (13- 16g/1 sào) Tuổi cây giống 25- 30 ngày

Trang 3

2.3 Làm đất, bón phân:

Đất yêu cầu làm nhỏ, tơi, kỹ, luống cao 7- 10cm Chủ yếu là bón lót bằng phân chuồng hoai mục, nếu không có phân chuồng hoai mục có thể sử dụng phân hữu cơ sinh học với lượng dùng 800-1000 kg/ha tùy vào từng loại đất

Lượng phân cần bón cho 1 ha như sau:

Loại phân

Tổng lượng phân bón (kg /ha)

Bón lót (%)

Bón thúc (%)

Phân chuồng

Chỉ bón đạm khi thấy cây có hiện tượng đói đạm và kết thúc bón phân trước khi thu hoạch

10-15 ngày

Bón phân kết hợp với xới xáo, làm cỏ

2.4 Trồng cây

Cây cách cây cách nhau 15- 18cm, đảm bảo mật độ 200.000- 300.000 cây/ha

2.5 Chăm sóc

- Tưới nước: Trồng xong tưới ngay, mỗi này một lần, sau chỉ tưới giữ ẩm, 2- 3 hôm mới tưới

2.6 Thu hoạch:

Trồng được 30- 40 ngày thì thu hoạch Năng suất xà lách của nước ta hiện nay từ 30- 45tạ/ha

Ngày đăng: 24/08/2017, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w