Nhưng triều Nguyễn được dựng lên là kết quả của cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến suy đồi được TB Pháp giúp sức, phản kích lại phong trào Tây Sơn, một phong trào đấu tranh cho
Trang 1Lại Thị Hương Page 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
CĐ LỊCH SỬ VIỆT NAM TỰ CHỌN 3:
CÁC KHUYNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM THỜI CẬN ĐẠI
(Dành cho Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử)
Tác giả: ThS Lại Thị Hương
Năm 2016
Trang 2Lại Thị Hương Page 2
MỤC LỤC
Chương 1 Hoàn cảnh ra đời và khuynh hướng tư tưởng giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX (4 tiết)
1.1 Tư bản Pháp và Tây Ban Nha xâm lược Việt Nam - Cuộc kháng chiến
của triều đình phong kiến Nguyễn (1858 -1884)
1.2 Phong trào Cần Vương - Khuynh hướng cứu nước GPDT theo hệ tư
tưởng phong kiến và sự bất lực của nó trước yêu cầu lịch sử dân tộc (1885-1896)
1.3 Phong trào nông dân Yên Thế
Chương 2 Hoàn cảnh ra đời và khuynh hướng tư tưởng giải phóng dân tộc
theo ý thức hệ dân chủ tư sản (8 tiết)
2.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam 20 năm đầu thế kỷ XX
2.2 Các khuynh hướng giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng dân chủ tư sản 2.2.1
4.3 Phong trào dân chủ 1936 -1939
4.4 Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 -1945
4.5 Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
Trang 3Lại Thị Hương Page 3
LỜI NÓI ĐẦU
Sau một phần tư thế kỷ đương đầu với thực dân Pháp (1858 - 1884), triều đình Huế đã đầu hàng hoàn toàn Mặc dù vậy, phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu văn thân yêu nước vẫn tồn tại hơn mười năm nữa mới lắng xuống
Đến đầu thế kỷ XX, trước những thay đổi của tình hình quốc tế và trong nước, người Việt Nam bắt đầu tiếp thu tư tưởng tư sản và văn minh phương Tây để làm cho dân giàu, nước mạnh, tiến tới khôi phục lại độc lập dân tộc Nhưng rốt cuộc cũng thất bại, canh tân để giành độc lập lúc đó trở thành một bi kịch
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cùng với sự tiếp tục du nhập tư tưởng tư sản, dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và các sự kiện khác, đặc biệt là vai trò của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền bá vào Việt Nam; Các giai cấp mới ra đời ở Việt Nam đã đứng ra tiếp thu các hệ tư tưởng mới và đã đề xướng lên phong trào giải phóng dân tộc với những khuynh hướng chính trị khác nhau
Chính vì vậy, trong những năm 20, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam diễn ra đấu tranh giữa hai đường lối chính trị khác nhau: Đường lối theo lập trường tư sản và đường lối theo lập trường vô sản Quá trình đấu tranh ấy diễn ra rất gay go, quyết liệt và rốt cuộc đường lối cách mạng theo khuynh hướng chính trị vô sản đã giành được thắng lợi Điều đó được đánh dấu bằng sự
ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị 3/2/1930 và sự chuyển hoá hay thất bại của các tổ chức cách mạng khác
Ba mươi năm đầu thế kỷ XX là ba mươi năm dân tộc thể nghiệm, lựa chọn con đường cứu nước, chuẩn bị điều kiện để giải phóng dân tộc
Trang 4Lại Thị Hương Page 4
CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KHUYNH HƯỚNG TƯ
TƯỞNG GPDT Ở VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX
1.1 Tư bản Pháp và Tây Ban Nha xâm lược Việt Nam - Cuộc kháng chiến của triều đình phong kiến Nguyễn (1858 -1884)
1.1.1 Tình hình Việt Nam trước khi bị thực dân Pháp xâm chiếm và
âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
* Nước Việt Nam trước khi bị CNTD Pháp xâm chiếm
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, chế độ phong kiến ở châu Âu đã phát triển đến giai đoạn cuối, chuẩn bị cho sự bùng nổ của các cuộc CMTS Chế độ phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam cũng chuyển từ giai đoạn thịnh đạt sang suy yếu Nhưng CNTB ở Việt Nam lúc đó chưa ra đời
Đến thế kỷ XVII-XVIII, Việt Nam vẫn chưa có những thái ấp triệt để tự cấp tự túc, cũng chưa có sự phân công triệt để giữa thành thị và nông thôn Kinh tế hàng hóa sớm ra đời, nhưng thủ công nghiệp không tập trung ở thành thị mà phân tán ở nông thôn và gần với nông nghiệp Vùng quê nào cũng có chợ và làng thủ công nghiệp Sự phân tán, thiếu tập trung của công thương nghiệp cản trở quan hệ sản xuất TBCN ra đời
Nông dân Việt Nam đứng lên chống các tập đoàn phong kiến thối nát trong khung cảnh quan hệ phong kiến siết chặt khắp nơi, chưa có một tầng lớp thị dân, tư sản làm bạn đồng minh Ở Việt Nam, người nông dân là lực lượng chủ chốt trong cộng đồng dân tộc xây đắp nên nền văn minh Việt Nam Thế kỷ XVII-XVIII, họ vùng dậy trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, đồng thời chứng minh sức sống vĩ đại của dân tộc Những thế kỷ đó hiện lên, một bên là
sự suy sụp của chế độ phong kiến chuyên chế, một bên là sự trỗi dậy của quần chúng nông dân, sự quật khởi của cả dân tộc
Tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Tây Sơn Từ mục tiêu ban đầu là giành bát cơm manh áo, phong trào đã vươn tới những mục tiêu có quan hệ đến vận mệnh toàn dân tộc: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Đánh đổ các tập đoàn phong kiến thối nát Nguyễn, Trịnh, Lê, tiêu diệt bọn xâm lược Xiêm và Thanh, giành lại chủ quyền dân tộc, khôi phục thống nhất đất nước và đề ra những cải cách tiến bộ Phong trào nông dân Tây Sơn
Trang 5Lại Thị Hương Page 5
mang tính chất CMXH mà không có giai cấp tư sản lãnh đạo và đã thể hiện sức sống của dân tộc Việt Nam đang cố vượt ra khỏi “đêm trường trung cổ” Nhưng triều Tây Sơn tồn tại quá ngắn ngủi nên chưa tạo ra được những điều kiện vật chất tối thiểu có thể thoát khỏi sự ràng buộc của quan hệ phong kiến trung cổ,
xã hội Việt Nam vẫn là xã hội phong kiến với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
Năm 1802, Nguyễn Ánh dựa vào thế lực bên ngoài đánh bại Tây Sơn, lên ngôi vua, lập ra nhà Nguyễn, khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, có những dòng họ lập vương triều mới sau khi lãnh đạo nhân dân đánh đổ ách thống trị của ngoại bang hoặc thay thế một vương triều đã thoái hóa Nhưng triều Nguyễn được dựng lên là kết quả của cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến suy đồi được TB Pháp giúp sức, phản kích lại phong trào Tây Sơn, một phong trào đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân và dân tộc
Nhà Nguyễn thiết lập nền cai trị bằng những hình phạt khắc nghiệt, dã man không kém gì thời trung cổ Bộ Luật Gia Long tuy đã tham khảo bộ luật Hồng Đức thời Lê, nhưng thực chất đã gạt bỏ hết những điều tiến bộ của luật Hồng Đức, sao chép gần như nguyên vẹn luật Mãn Thanh, một bộ luật có tính chất phản động bậc nhất châu Á lúc bấy giờ
Các vua nhà Nguyễn ra sức bảo vệ nền chuyên chế Vua là con trời, là người có uy quyền tuyệt đối Giai cấp địa chủ và hệ thống quan lại phong kiến
là rường cột của chế độ chuyên chế
Chế độ sở hữu ruộng đất nhà nước, nền tảng của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, trong quá trình chuyển từ thịnh đạt sang suy yếu, đã thu hẹp
Sở hữu ruộng đất tư nhân là của giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng lấn vào ruộng đất công của thôn xã và của nhà nước Mọi nhu cầu vật chất của nhà nước, cùng với sự cướp đoạt, bóc lột, hà lạm của giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng đè nặng lên đầu nông dân
Để giải quyết những khó khăn về kinh tế tài chính, nhà Nguyễn chú trọng khai hoang Từ 1802 đến 1855, triều đình ban hành 25 quyết định về khai hoang Hình thức chủ yếu là chiêu mộ dân phiêu tán để khai hoang lập ấp, xã Hình thức đồn điền phát triển mạnh ở Lục tỉnh, hoặc nhà nước dùng binh lính
và tù nhân bị lưu đày để khai hoang, hoặc giao cho tư nhân chiêu mộ dân lập đồn điền, dân đồn điền được tổ chức thành cơ ngũ Một số quan lại chỉ đạo việc
Trang 6Lại Thị Hương Page 6
khai hoang có kết quả như Nguyễn Công Trứ lập ra hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải và mấy tổng ở Nam Định; Nguyễn Văn Thoại đào kênh Núi Sập Thoại Hà; Trương Minh Giảng lập được 25 thôn ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia, Nguyễn Tri Phương lập được 21 cơ đồn điền và tổ chức 124 ấp ở Lục tỉnh Công việc khai hoang tuy có kết quả, nhưng thành quả khai hoang trước hết lọt vào tay giai cấp địa chủ phong kiến
Cũng như nhiều triều đại trước, triều Nguyễn muốn giữ chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước Nhưng cả ruộng công lẫn ruộng tư đều bị địa chủ cường hào lũng đoạn Chính quyền phong kiến trung ương không có ruộng đất
để phong cấp cho hệ thống quan lại như trước, mà phải thu tô thuế để phát lương và chi dùng cho các khoản khác của nhà nước, nhất là chi phí về quân sự Gia Long đặt nhiều ngạch thuế mới, dưới thời Nguyễn, thuế rất nặng, trong đó thuế ruộng công nặng hơn thuế ruộng tư, tức là đánh nặng hơn vào tầng lớp nông dân nghèo không ruộng
Công thương nghiệp cũng rơi vào tình trạng bế tắc Lúc ấy tư bản phương Tây đang tràn sang phương Đông Việt Nam có nhiều nguyên liệu sản vật nhiệt đới, hàng thủ công vốn nổi tiếng từ lâu Nhà Nguyễn có cử một số đoàn sang các nước láng giềng ở Đông Nam Á để giao thiệp mua bán Triều đình cũng đã có lần cho đóng thuyền máy, mà tài năng của người thợ Việt Nam đến mức viên đại tá hải quân Hoa Kỳ Oai-tơ phải nhận xét: “Người Việt Nam quả là những nhà đóng tàu thành thạo nhất, họ hoàn thành công trình với một
kỹ thuật hết sức chính xác” Nhưng tài năng đó chỉ biến thành trò tiêu khiển của nhà vua, nền công nghiệp cơ khí không thể ra đời Việt Nam không thể gia nhập thành một bộ phận tích cực của thị trường thế giới Nhà nước độc quyền ngoại thương và thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, khước từ quan hệ buôn bán với các nước TB phương Tây Triều đình nắm những công xưởng lớn như đúc súng, đúc tiền, đóng tàu, xây dịnh thự Chế độ công tượng vẫn được thi hành: các thợ giỏi bị nhà nước trưng tập, phiên chế thành đội ngũ, làm việc dưới sự giám sát của quan lại Các thợ thủ công địa phương cũng bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ bằng các tổ chức phường, hội, ty, cục Thuế công thương nghiệp rất nặng Thủ công nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp
Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến chuyên chế, không còn khả năng mở mang kinh tế và phát huy được tiềm lực nhân dân
Trang 7Lại Thị Hương Page 7
trong xây dựng đất nước Mâu thuẫn xã hội bùng nổ gay gắt Chiến tranh nông dân nổ ra liên tiếp, tiêu biểu có khởi nghĩa Phan Bá Vành, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát các vua nhà Nguyễn đã thẳng tay đàn áp Triều Nguyễn hủy hoại sinh lực dân tộc đúng vào lúc thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt Nam
* Âm mưu xâm lược Việt Nam của tư bản phương Tây và Pháp
Cũng như lịch sử các nước châu Á khác, lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX là thời kỳ đầy biến động Để thoả mãn nhu cầu về thị trường và nguyên liệu, các nước tư bản phương Tây ồ ạt kéo sang phương Đông Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai nước tư bản thực dân đầu tiên đến Việt Nam vào thế kỷ XVI Sang thế kỷ XVII, có Hà Lan, Anh Và trong cuộc chạy đua của tư bản phương Tây xâm nhập vào phương Đông, tư bản Pháp ngày càng bám sâu vào Việt Nam Công cụ đắc lực của nó là Hội truyền giáo nước ngoài Pháp ra đời vào năm
1664 Giáo sĩ Alêchxăng Đờ Rốt là người đầu tiên đặt nền móng cho những hoạt động của người Pháp trên đất Việt Nam Sau gần 30 năm hoạt động ở phương Đông, trong đó có 17 năm ở Việt Nam, năm 1645, Đờ Rốt đệ trình lên Giáo hoàng La Mã một dự án thành lập ở Viễn Đông các toà giám mục Pháp và
hệ thống công giáo bản xứ Đờ Rốt còn về Pháp vận động và được triều đình Pháp ủng hộ
Thực dân Pháp đã kết hợp hoạt động của giáo sĩ với nhà buôn Thủ đoạn của chúng là chiếc áo choàng đen đi trước và lính xâm lược theo sau Chúng lập Công ti Đông Ấn Pháp (1664) để trực tiếp giao thiệp với vua Lê, chúa Trịnh, đứng ra lập các thương điếm trên lưu vực sông Hồng Năm 1668, phái viên của Công ti Đông Ấn Pháp đệ trình Chính phủ kế hoạch đánh chiếm đảo Côn Lôn Năm 1737, Toàn quyền Pháp ở Pôngđisêri (thuộc Ấn Độ) đưa ra dự án xin xâm nhập xứ Đàng Ngoài Năm 1748, đề ra kế hoạch đánh chiếm Cù Lao Chàm gần Hội An
Mâu thuẫn giữa Anh-Pháp bùng nổ thành cuộc chiến tranh 7 năm 1763) Pháp bại trận, mất các thuộc địa ở Canađa, Mitsisipi, Ấn Độ nên càng muốn có thuộc địa ở Viễn Đông
(1756-Lúc đó ở Việt Nam, phong trào Tây Sơn dấy lên (1771), chiến tranh nông dân phát triển như vũ bão Sau hơn một năm điều tra, do thám Việt Nam, Pháp thấy cơ hội của chúng đã tới nhờ sự suy yếu trầm trọng của chế độ phong
Trang 8Lại Thị Hương Page 8
kiến chuyên chế Việt Nam Chúng tìm được chỗ dựa là cuộc chiến tranh phản cách mạng và tên chúa phong kiến Nguyễn Ánh Giám mục Bá Đa Lộc là người đã nắm lấy cơ hội cho tư bản Pháp can thiệp vào Việt Nam khi Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lực ngoại bang giúp hắn thoả mãn mưu đồ phục thù giai cấp Cuối năm 1784, Nguyễn Ánh đã giao con trai là thái tử Nguyễn Phúc Cảnh (4 tuổi), cùng ấn tín cho Bá Đa Lộc và một vài người tuỳ tùng sang Pháp cầu viện Lúc đó, cách mạng Pháp sắp nổ ra, ngai vàng của vua Lui XVI cũng chông chênh, nhưng vẫn không bỏ qua miếng mồi béo bở Ngày 28/11/1787, bá tước Môngmôranh đại diện cho triều đình Pháp và Bá Đa Lộc đại diện cho Nguyễn Ánh, đã ký kết một bản hiệp ước tại Vecxây Hiệp ước Vecxây gồm 10 điều khoản Phía Nguyễn Ánh cam kết nhượng bộ cho nước Pháp quyền sở hữu cảng Hội An, đảo Côn Lôn, cho Pháp độc quyền buôn bán và truyền đạo ở Việt Nam, cam kết gửi binh lính, lương thực, tàu chiến, và mọi trang bị khi Pháp đánh nhau với một nước khác Phía Pháp hứa giúp Nguyễn Ánh khôi phục lại đất đai cai trị, giúp 4 tàu chiến, 1.650 binh lính và vũ khí trang bị
Hiệp ước Vecxây được ký kết xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên do cách mạng tư sản Pháp
1789 nổ ra, hiệp ước Vecxây không được thực hiện, nhưng ý đồ xâm lược Việt Nam của Pháp vẫn không dừng lại
1.1.2 Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
Năm 1812, Napôlêông I cho nghiên cứu lại Hiệp ước Vecxây để tìm cớ can thiệp vào Việt Nam Năm 1818, Lui XVIII cử phái đoàn sang Việt Nam yêu cầu Gia Long nhượng cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn
Năm 1819, Anh chiếm Xingapo, sau đó cử sứ thần đến Huế yêu cầu mở cửa biển cho Anh vào buôn bán (1822) Pháp đã bị Anh gạt ra khỏi Ấn Độ, không khỏi lo lắng lại sẽ bị mất thị trường Việt Nam Những năm 30 thế kỷ XIX, Pháp tiến nhanh trên con đường đại công nghiệp Nhưng địch thủ của Pháp là Anh thì đã bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp trước Pháp nửa thế kỷ Cuối những năm 30, Anh đã sẵn sàng cuộc tiến công vào lục địa Trung Quốc Trước tình hình đó, Pháp càng ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt Nam
Tập đoàn phong kiến Nguyễn không phải là không hay biết gì về ý đồ xâm lăng của Pháp, nhưng họ không đủ năng lực để bảo vệ chủ quyền và lợi ích dân tộc Đầu thế kỷ XIX, các giáo sĩ của Hội truyền giáo nước ngoài Pháp
Trang 9Lại Thị Hương Page 9
không dừng lại ở những hoạt động điều tra gián điệp như thế kỷ trước, mà đã tiến thêm một bước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Chúng ủng
hộ một số viên đại thần đã vận động cho con trai Đông cung Cảnh lên nối ngôi Gia Long, khuyến khích sự chống đối của Lê Văn Duyệt với Minh Mệnh, kích động sự bất mãn của Hồng Bảo – con trưởng của Thiệu Trị - để gây ra vụ âm mưu bạo động chống Tự Đức (1848) Mưu đồ của chúng là tìm con bài dự trữ cho Pháp, trước mắt là cô lập triều đình Huế Lợi dụng sự bất mãn của nhân dân
ta với triều Nguyễn, chúng xen vào nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân mong muốn gây ảnh hưởng trong quần chúng và đánh lạc hướng về những hành động chuẩn bị chiến tranh xâm lược của Pháp
Hội truyền giáo nước ngoài tập trung hoạt động vào các giáo dân, kích động một số giáo dân lạc hậu để gây hận thù giữa giáo và lương Chúng lường gạt bằng thần quyền và ép buộc một số con chiên làm việc do thám cho chúng Chúng xúi giục giáo dân vi phạm luật lệ của triều đình, tạo ra những vụ rối loạn Chúng chủ trương làm ruỗng nát xã hội Việt Nam từ bên trong nhằm chia
rẽ nội bộ dân tộc ta, hòng thủ tiêu tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam trước khi Pháp đem quân sang
Rơi vào cái bẫy khiêu khích của Pháp, triều đình Huế ra các sắc chỉ cấm đạo Bọn gián điệp đội lốt giáo sĩ nắm lấy cơ hội này đẩy mạnh việc chia rẽ mâu thuẫn giữa giáo và lương Đồng thời với những hoạt động can thiệp, phá hoại về chính trị, thực dân Pháp tiến hành những vụ khiêu khích về quân sự Ngày 31/8/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam với lí do triều đình Huế ngược đãi các giáo sĩ và cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự do buôn bán
1.1.3 Cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1858 đến 1873
* Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng
Sáng sớm 1/9/1858, chiến thuyền của liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công cảng biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Trong hành động này, tư bản Tây Ban Nha cũng hùa theo Pháp vì muốn chia sẻ quyền lợi
Kế hoạch của chúng là đánh chiếm nhanh Đà Nẵng, rồi dùng Đà Nẵng làm bàn đạp đánh kinh thành Huế, buộc triều đình đầu hàng Nhưng vừa đổ bộ
Trang 10Lại Thị Hương Page 10
lên bán đảo Sơn Trà, quân Pháp đã vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ của quân đội triều đình
Trên mặt trận Đà Nẵng, ngay khi chiến sự xảy ra, đã có nhiều đội quân nông dân kéo tới phối hợp với quân triều đình đánh giặc Sau 5 tháng bị giam chân tại chỗ, khó khăn ngày thêm chồng chất, liên quân Pháp-Tây Ban Nha phải rút phần lớn khỏi Đà Nẵng, xuống tàu đi vào Nam, mở mặt trận mới ở Gia Định (2/1859) Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của địch tại Đà Nẵng đã thất bại
* Cuộc kháng chiến ở Gia Định (1858-1859)
Bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, thực dân Pháp phải thay đổi kế hoạch xâm lược dựa vào ưu thế cơ động của hải quân, tướng Pháp là Đờ Giơnui quyết định đem quân vào đánh Gia Định Gia Định có nhiều sông ngòi, thuận tiện cho thuyền đi lại, lại là vựa lúa, hậu cần tại chỗ rất tốt cho quân đội viễn chinh Đánh Lục tỉnh sẽ cắt nguồn tiếp tế lúa gạo của triều đình Huế, phá uy tín của triều đình Huế đối với Campuchia và Xiêm, khiến cho hai nước này nhân đó chống lại Việt Nam
Ngày 12/7, quân Pháp đổ bộ Thành Gia Định bị thất thủ Hộ đốc Võ Duy Ninh chạy về huyện Phước Lộc và tự sát Án sát Lê Từ cũng tự sát Pháp đoạt được 200 khẩu đại bác và rất nhiều vũ khí, lúa gạo, tiền bạc
Tháng 4/1859, cuộc chiến tranh của Pháp liên minh với Ý chống Áo bùng nổ, Pháp không thể chi viện cho cuộc chiến tranh xâm lược miền Đông lục tỉnh Cùng lúc đó, quân Pháp trên mặt trận Đà Nẵng lại nguy khốn vì thương vong và dịch bệnh Tiến thoái lưỡng nan, Đờ Giơnui để lại gần 1.000 quân cho một tên đại tá cầm giữ Gia Định Ngày 20/4/1859, y đem một đại bộ phận quân viễn chinh trở lại chiến trường Đà Nẵng Dù đã chuẩn bị chu đáo, có quân đội nhà nghề, có ưu thế về hoả lực và tính cơ động, Pháp phải từ bỏ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh ở Việt Nam
* Thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1859-1862)
Sáng ngày 10/2/1859, tàu chiến Pháp-Tây Ban Nha tập trung ở Vũng Tàu, bắn phá các pháo đài phòng thủ của ta, mở đường ngược sông Cần Giờ Vấp phải sức kháng cự của quân dân ta ở hai bên bờ, tàu địch tiến rất chậm, mãi đến ngày 16/2, chúng mới vượt được sông Bến Nghé vào đậu sát thành Gia Định Sáng hôm sau, quân địch bắt đầu cuộc tấn công, đến trưa thì chiếm xong
Trang 11Lại Thị Hương Page 11
thành Gia Định Tháng 3/1860, Nguyễn Tri Phương được điều động từ Đà Nẵng vào chỉ huy mặt trận Gia Định Ông huy động quân dân xây dựng một hệ thống phòng ngự kiên cố, lấy đại đồn Phú Thọ làm đại bản doanh, tập trung quân sĩ, vũ khí và lương thực, đề phòng giặc đánh rộng ra
Về phía Pháp, cuối tháng 2/1861, sau khi cùng các nước tư bản phương Tây can thiệp vũ trang vào Trung Quốc, chúng dồn quân vào mặt trận Gia Định, bắt đầu cuộc tấn công đồn Phú Thọ Cuộc giao tranh diễn ra ác liệt, không trụ nổi trước hoả lực địch, Nguyễn Tri Phương ra lệnh cho quân lính bỏ Đại đồn Chí Hòa rút về phía sau cố thủ (25/2/1861) Thừa thắng, sau khi chiếm xong Gia Định, quân Pháp đánh nóng ra nhiều nơi Lần lượt ba tỉnh miền Đông (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà) và một tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long)
bị giặc đóng chiếm
Nhưng phong trào chống Pháp của nhân dân ta không lúc nào ngớt Với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta ở miền Nam luôn tìm cách đánh giặc, tiêu biểu nhất là cách đánh pháo thuyền, một phương tiện chiến tranh lợi hại thời bấy giờ
Cuối năm 1861, tiếp theo trận đánh của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Étpêrăng trên sông Nhật Tảo, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ bùng
nổ, nhiều trung tâm kháng chiến hình thành, tiêu biểu nhất là căn cứ Gò Công (Gia Định) của Trương Định
* Hiệp ước năm 1862
Cho đến giữa năm 1859, ở châu Âu, quân Pháp chưa rút khỏi cuộc chiến tranh với Áo trên đất Ý Ở châu Á, hiệp ước Thiên Tân (1858) kí với Pháp chưa được triều đình Bắc Kinh thi hành Ở Việt Nam, quân Pháp vẫn sa lầy ở Đà Nẵng Vì thế, tháng 6/1859, Pháp đề nghị ngừng bắn trong ba tháng để thương thuyết Điều kiện giảng hoà của Pháp là được tự do truyền đạo, tự do buôn bán,
và có một lãnh sự quán để đảm bảo thi hành hiệp ước Chúng muốn thương thuyết trên thế mạnh nên vẫn cho tàu chiến bắn phá dọc bờ biển Bình Định, Quảng Bình, Quảng Trị Chúng vừa đánh vừa dò thái độ của triều đình Huế và chờ cơ hội mới
Trong triều đình Huế, có phái chủ hoà, có phái chủ chiến, có phái không hoà không chiến Phái chủ chiến yếu ớt, phái chủ hoà chiếm ưu thế
Trang 12Lại Thị Hương Page 12
Trong năm 1862, phong trào nhân dân chống Pháp dâng cao ở các quận, huyện và thị trấn thuộc hai tỉnh Gia Định và Định Tường Tình hình đó làm cho địch hết sức hoang mang, lo sợ Chính lúc đó, triều đình Huế kí điều ước ngày 5/6/1862, cắt ba tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn cho Pháp Cùng với những nhượng bộ nặng nề khác, như mở cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho tư bản Pháp tự do buôn bán, bồi thường cho Pháp 4 triệu đồng chi phí Mục đích của triều đình Huế là muốn sớm bắt tay với thực dân Pháp để có thể rảnh tay đối phó với phong trào nông dân miền Bắc đang trên đà phát triển
* Kháng chiến lan rộng ra ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867)
Sau Hiệp ước 1862, thực dân Pháp chiếm được ba tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn, chúng thực hiện tiếp âm mưu chiếm ba tỉnh miền Tây, nhiều lần đưa thư đòi triều đình giao nộp ba tỉnh này cho chúng
Sáng 20/6/1867, lấy cớ triều đình Huế bí mật ủng hộ nghĩa quân miền Đông chống Pháp, thực dân Pháp kéo tới dàn trận trước thành Vĩnh Long, đưa thư đòi nộp thành Phan Thanh Giản đại diện triều đình ở miền Tây đã nộp thành Vĩnh Long cho chúng, sau đó còn ra lệnh cho các quan cầm đầu hai tỉnh
An Giang và Hà Tiên cũng phải làm theo Như vậy, chỉ trong vòng 5 ngày (từ
20 đến 24/6/1867), thực dân Pháp đã chiếm gọn ba tỉnh miền Tây mà không gặp một sự chống cự nào của quân triều đình Huế
Nhưng ngay sau đó, phong trào nhân dân kháng chiến chống Pháp dâng cao mạnh mẽ ở ba tỉnh miền Tây Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Phan Tam-Phan Ngũ với trung tâm Ba Trì (Bến Tre), hoạt động mạnh dọc theo sông Cửu Long cuối 1867; cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực – người anh hùng nông dân với chiến công Nhật Tảo (10/12/1861), cuộc khởi nghĩa Long Trì của Nguyễn Hữu Huân (1875)…
Phong trào chống Pháp của nhân dân miền Nam dấy lên từ miền Đông, sau đó lan rộng ra toàn miền, khiến cho kẻ thù khiếp sợ Cuối cùng, do triều đình cố tình bỏ rơi, tìm cách ngăn cản, thậm chí tiếp tay cho Pháp đàn áp phong trào, các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại Nhưng phong trào chỉ tạm lắng xuống để đến khi có thời cơ thuận lợi sẽ bùng nổ trở lại Đúng như lời Nguyễn Trung Trực đã dõng dạc tuyên bố trước kẻ thù: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
1.1.4 Chống Pháp đánh chiếm các tỉnh Bắc Kỳ (1873 – 1883)
Trang 13Lại Thị Hương Page 13
* Chống Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873 – 1874)
Miền Bắc Việt Nam là miền đông dân cư, nhiều sản vật, nguyên liệu, là một thị trường quan trọng đối với chủ nghĩa tư bản phương Tây, lại kề với Trung Quốc, nơi các nước tư bản Âu Mĩ đang đua nhau chia quyền lợi Đặc biệt, miền Bắc có con sông Hồng là đường thủy ngắn nhất, thuận lợi nhất nối liền biển Đông với vùng Hoa Nam, vùng rộng lớn mà Anh, Pháp, Mĩ, Đức đang tranh giành ảnh hưởng Với vị trí chiến lược của miền Bắc, bọn thực dân ở Sài Gòn âm mưu xúc tiến kế hoạch xâm lược
Pháp đã dùng tên lái buôn Đuypuy với nhiệm vụ khai phóng dòng sông Hồng và khiêu khích triều đình Huế Dựa vào thế lực quân Pháp, Đuypuy tự tiện xâm phạm chủ quyền Việt Nam Trong năm 1872-1873, y liên tiếp gây ra những vụ khiêu khích, thậm chí cướp phá ở Hà Nội, bắt thuyền bè của nhân dân, đánh đồn canh của quân đội triều đình ở ven sông Hồng
Đối sách của triều đình Huế là hoà nghị Mỗi lần giặc tới là mỗi lần triều đình Huế lùi bước Triều đình Huế gửi thư cho nhà cầm quyền Pháp ở Nam Kỳ yêu cầu giải quyết vụ Đuypuy Chớp thời cơ đó, ngày 11/10/1873, Thống đốc Nam Kỳ là Đuyprê phái thiếu tá hải quân Gácniê mang 180 quân ra Bắc, bề ngoài là “dàn xếp” công việc giải quyết vụ Đuypuy, nhưng bên trong là kiếm
cớ can thiệp sâu vào Bắc Kỳ
Đầu tháng 11/1873, vừa đặt chân lên Hà Nội, hội quân với Đuypuy, Gácniê cho quân nổ súng thị uy, đòi khai phóng sông Hồng… Sáng 9/11, Gácniê gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hà Nội đòi nộp thành Tổng đốc Hà Nội
là Nguyễn Tri Phương đã cự tuyệt Mờ sáng 20/11, với lực lượng 300 quân và
11 khẩu đại bác đặt trên hai tàu chiến, Gácniê hạ lệnh nổ súng tấn công thành
Hà Nội Nguyễn Tri Phương bị trọng thương trong khi chỉ huy chiến đấu Pháp bắt giữ rồi cố chạy chữa vết thương cho ông hòng mua chuộc về sau, nhưng ông đã nhịn ăn và tự vẫn Sau khi chiếm xong thành Hà Nội, thừa cơ triều đình Huế tự hãm mình trong thế bị động thương thuyết, quân Pháp nhanh chóng mở cuộc đánh chiếm các tỉnh thành Hưng Yên, Hải Dương, Phủ Lý, Ninh Bình, Nam Định trong vòng một tháng Nhưng ngay từ đầu cuộc đánh chiếm, chúng
đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt của quân dân Hà Nội và khắp nơi trên miền Bắc
Trang 14Lại Thị Hương Page 14
Quân dân Hà Nội đã đứng lên tự động vũ trang, tiến hành những hoạt động đốt phá, những đợt đột kích vào quân địch Quân ta ở nhiều nơi trên miền Bắc cũng đã nổi lên vây đánh địch, tiêu biểu nhất là chiến thắng Cầu Giấy lần
1 Gácniê và nhiều binh sĩ Pháp bị giết tại trận, số còn lại tháo chạy về thành
Trận Cầu Giấy làm cho quân Pháp ở Hà Nội và các tỉnh rất hoảng sợ, muốn bỏ thành chạy Bọn thực dân hiếu chiến ở Nam Kỳ cũng hốt hoảng Còn quân dân ta ở các nơi thì vô cùng phấn khởi, sẵn sàng xông lên quét sạch quân giặc Nhưng triều đình Huế hèn nhát, bỏ lỡ thời cơ, đã không dám hiệu triệu quan quân thừa thắng xông tới, lại ra lệnh cho Hoàng Tá Viêm lui binh, rút quân Lưu Vĩnh Phúc lên mạn ngược, tạo không khí thuận lợi để tiếp tục cuộc thương thuyết với Pháp Kết quả là một điều ước được kí kết ngày 15/3/1874 tại Sài Gòn, với những điều khoản rất có hại cho ta Triều đình Huế chính thức thừa nhận chủ quyền của Pháp ở cả 6 tỉnh Nam Kỳ, nền ngoại giao Việt Nam lệ thuộc Pháp, cam kết mở cửa sông Hồng, thành phố Hà Nội, mở các cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải Phòng) Tại các nơi đó, người Pháp được
tự do mua bán, mở mang công nghệ; Pháp có quyền đặt lãnh sự, có quân lính bảo vệ
Điều ước Giáp Tuất 1874 đánh dấu bước mới trong quá trình đầu hàng của triều Nguyễn, làm cho nhân dân cả nước hết sức phẫn nộ
* Chống Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882-1883)
Với điều ước 1874, Pháp đã chiếm được Nam Kỳ, nhưng vẫn không đáp ứng đòi hỏi của chúng là phải chiếm được toàn bộ Việt Nam Trong tháng 3/1882, viện cơ triều đình Huế “vi phạm” điều ước Giáp Tuất 1874, Thống đốc Nam Kỳ phái đại tá Rivie mang 400 quân cùng 2 pháo thuyền ra Bắc Đầu tháng 4/1882, vừa đặt chân lên Hà Nội, Rivie đã giở trò khiêu khích ta
Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu một mặt tích cực tổ chức phòng thủ, mặt khác cấp báo về Huế xin tăng viện, đặc biệt xin điều quân Hoàng Tá Viêm
về phối hợp chống giặc Nhưng Tự Đức không tán thành, cho phòng thủ như vậy là không phải lúc, địch sẽ lấy cớ gây sự thêm
Mờ sáng 25/4/1882, Rivie gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu đòi nộp thành Hạn trả lời thư chưa hết, y đã ra lệnh nổ súng đánh thành Quan quân ta kiên quyết chống lại Cuộc chiến đấu đang diễn ra ác liệt thì bỗng nhiên kho thuốc đạn trong thành bốc cháy làm cho quan quân Hoàng Diệu dao động, hàng ngũ
Trang 15Lại Thị Hương Page 15
rối loạn Thừa cơ đó, quân Pháp đột nhập chiếm thành Đại quân ta tan rã, Hoàng Diệu tuẫn tiết Quân Pháp tràn vào chiếm thành
Sau khi chiếm xong thành Hà Nội lần hai, một lần nữa thừa cơ triều đình Huế tự hãm mình vào thế bị động thương thuyết, nhất là sau khi nhận thêm viện binh, quân Pháp mở rộng đánh chiếm nhiều tỉnh thành vùng đồng bằng, đến thành Nam Định thì dừng lại Trước đó, vào tháng 3/1883, Pháp đã chiếm vùng
mỏ than Hồng Gai và Quảng Yên đang bị tư bản Anh dòm ngó
Hành động ngang ngược của Rivie làm cho quân dân ta vô cùng căm giận Vòng vây của quân dân ta xiết chặt quanh Hà Nội Nhiều quan lại chủ chiến đưa ra một số kế hoạch đối phó tích cực trong lúc triều đình vẫn không có một chủ trương kế hoạch rõ ràng
Đầu năm 1883, quân Pháp ở Hà Nội bị các đạo quân của ta uy hiếp dữ dội Rivie tìm cách đối phó Mờ sáng 19/5/1883, y chỉ huy đoàn quân từ nội thành tiến lên hướng Sơn Tây Khi đến Cầu Giấy thì bị quân Hoàng Tá Viêm
và Lưu Vĩnh Phúc chặn đánh Cuộc giao chiến diễn ra rất ác liệt, chỉ trong chớp nhoáng (từ 5 giờ đến 7 giờ sáng) Rivie và nhiều binh sĩ Pháp bị giết tại trận, số còn lại tháo chạy về thành
Chiến thắng Cầu Giấy lần hai làm cho quân dân cả nước ta vô cùng phấn khởi, sẵn sàng xông lên tiêu diệt địch Còn bọn Pháp thì hết sức hoang mang, lo
sợ Trong khi đó, triều đình Huế vẫn tiếp tục hãm mình trong thế bị động, nuôi
ảo tưởng sau trận này Pháp sẽ điều đình lại
1.1.5 Pháp đánh chiếm Huế Nhà nước phong kiến Nguyễn đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp (1883-1884)
Hạ được thành Hà Nội lần thứ hai (4/1882), Pháp vẫn không tin có khả năng giữ được thành, bèn đưa ra thủ đoạn ngoại giao sẽ trả thành nếu triều đình Huế chịu kí một điều ước mới Trước sự tráo trở của Pháp, nhất là trước lòng dân sục sôi muốn đánh, triều đình cũng nghĩ đến việc đối phó, nhưng lại bằng cách cử người sang cầu cứu nhà Thanh
Đáp ứng lời cầu cứu của nhà Nguyễn, nhà Thanh mang quân sang chốt giữ nhiều nơi ở miền Bắc nước ta như Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, nhưng không phải để cứu nhà Nguyễn mà để chia xẻ Bắc Kỳ với Pháp
Lợi dụng việc Rivie bị giết trong trận Cầu Giấy lần thứ hai, thực dân Pháp đẩy mạnh ý đồ xâm lược Một khoản ngân sách lớn gồm 5 triệu frăng
Trang 16Lại Thị Hương Page 16
được Quốc hội Pháp thông qua, một đạo quân đông 4000 tên với nhiều tàu chiến được gửi sang Việt Nam Giữa tháng 7/1883, bọn chỉ huy Pháp họp tại Hải Phòng, bàn kế hoạch tấn công mới Đúng lúc đó, Tự Đức mất, triều đình Huế rơi vào tình trạng chia rẽ lục đục trong vấn đề tôn vương, vì Tự Đức không
có con
Chớp thời cơ, thực dân Pháp đánh thẳng vào Huế buộc triều đình đầu hàng Sáng 18/8/1883, hạm đội Pháp do đô đốc Cuốcbê chỉ huy tiến vào cửa Thuận An, đưa tối hậu thư buộc triều đình giao tất cả các pháo đài phòng thủ bờ biển cho chúng Quân ta kháng cự quyết liệt, cuộc đấu pháo kéo dài trong ba ngày liền, tới chiều ngày 20/8, quân Pháp mới đổ bộ được lên Thuận An
Được tin Thuận An mất vào tay Pháp, triều đình Huế vội xin đình chiến Cao uỷ Pháp là Hácmăng đã buộc triều đình Huế kí vào bản điều ước đã được thảo sẵn theo các điều kiện của chúng ngày 25/8/1883 (điều ước Hácmăng) Đây là hiệp ước đầu hàng hoàn toàn, thừa nhận Pháp đặt quyền thống trị trên toàn bộ đất nước Việt Nam Hiệp ước gồm 27 điều khoản, nội dung quy định triều đình Huế thừa nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, còn lại đặt dưới chế
độ “bảo hộ” của Pháp Đất nước ta bị chia cắt làm ba kì: Nam Kỳ là xứ thuộc Pháp, Trung Kỳ theo chế độ nửa bảo hộ, Bắc Kỳ theo chế độ bảo hộ của Pháp Bản hiệp ước này đã tước bỏ hoàn toàn quyền ngoại giao của triều đình Huế, kể
cả với Bắc Kinh, thủ tiêu ý đồ của Mãn Thanh định dùng Huế để mặc cả với Pháp
Vì hiệp ước Hácmăng không được Quốc hội Pháp thông qua nên ngày 6/6/1884, Pháp làm một hiệp ước mới, đưa cho triều đình Huế kí nhận Hiệp ước này còn gọi là hiệp ước Patơnốt gồm 19 điều khoản Nội dung căn bản giống hiệp ước 1883 Nước Pháp sẽ thay mặt cho triều đình Huế trong mọi quan hệ đối ngoại… Hiệp ước ngày 6/6/1884 đã xác lập quyền đô hộ lâu dài và chủ yếu của Pháp ở Việt Nam Đến đây, nhà nước phong kiến Nguyễn đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược
1.2 Phong trào Cần Vương - Khuynh hướng cứu nước GPDT theo hệ tư tưởng phong kiến và sự bất lực của nó trước yêu cầu lịch sử dân tộc (1885- 1896)
1.2.1 Cuộc nổi dậy của phái chủ chiến ở kinh thành Huế năm 1885
Trang 17Lại Thị Hương Page 17
Sau hai hiệp ước 1883 và 1884, phái chủ chiến trong triều đình Huế vẫn nuôi hy vọng giành lại chủ quyền từ tay Pháp khi có điều kiện Dựa vào ý chí của nhân dân yêu nước và các quan lại chủ chiến tại các địa phương, Tôn Thất Thuyết (Thượng thư Bộ binh, thành viên Hội đồng phụ chính) ra sức xây dựng lực lượng, tích trữ lương thực, khí giới… Ông còn thẳng tay trừng trị những kẻ thân Pháp và đưa Ưng Lịch lên ngôi (vua Hàm Nghi)
Trước hành động ngày một quyết liệt của Tôn Thất Thuyết, thực dân Pháp lo sợ Chúng tìm mọi cách để tiêu diệt phái chủ chiến Tình hình hết sức căng thẳng
Đêm mồng 4 rạng sáng 5/7/1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tấn công quân Pháp ở toà Khâm sứ và đồn Mang Cá Quân Pháp nhất thời rối loạn Sau khi củng cố tinh thần, chúng đã mở cuộc phản công chiếm Hoàng thành Trên đường đi, chúng xả súng tàn sát, cướp bóc hết sức dã man Hàng trăm người dân vô tội đã bị giết hại
Trong cảnh hỗn chiến, Tôn Thất Thuyết nhanh chóng bí mật đưa vua Hàm Nghi trốn ra căn cứ Tân Sở Đoàn hộ tống xa giá nhà vua vừa rời khỏi Hoàng thành, Cuôcxi liền cho quân chiếm Đồng Hới và Quảng Nam để chặn đầu khoá đuôi, không cho đoàn quân chạy thoát ra Bắc hay vào Nam
Tại Tân Sở, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương lần thứ nhất (13/7/1885), nêu lại sự biến kinh thành, vạch rõ tội ác của thực dân Pháp và kêu gọi văn thân, sĩ phu cùng nhân dân cả nước kiên quyết đứng lên đánh Pháp
1.2.2 Phong trào Cần Vương
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, một phong trào yêu nước chống xâm lược đã dâng lên sôi nổi, kéo dài đến cuối thế kỷ XIX, được gọi là phong trào Cần Vương Về diễn biến của phong trào, có thể chia thành hai giai đoạn: 1885-
1888 và 1888-1896 Ở giai đoạn 1, phong trào bùng nổ khắp cả nước, sôi động nhất là các tỉnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ Trong giai đoạn này, phong trào bị chi phối bởi tư tưởng trung quân ái quốc Tháng 11/1888, nhờ có tay sai dẫn đường, quân Pháp vào được nơi ở của nhà vua, bắt và đưa Hàm Nghi đi đày sang Angiêri Tuy Hàm Nghi bị bắt nhưng phong trào Cần Vương vẫn được duy trì và dần quy tụ thành những cuộc khởi nghĩa lớn, có quy mô và trình độ
tổ chức cao hơn trong giai đoạn 1889-1896 Các cuộc khởi nghĩa do các văn
Trang 18Lại Thị Hương Page 18
thân lãnh đạo trong giai đoạn này đều hướng tới việc khôi phục độc lập và chế
độ phong kiến
* Phong trào văn thân sĩ phu hưởng ứng chiếu Cần Vương
Bộ phận văn thân, sĩ phu yêu nước bao gồm cả những trí thức phong kiến và những quan lại yêu nước (đương quyền hay đã về hưu) Trong quan niệm của họ, nước phải gắn với vua, với chế độ phong kiến Do đó yêu nước phải trung vua, “trung quân ái quốc”, duy trì chế độ cũ Nhưng từ khi Pháp xâm lược, trước thái độ hèn nhát, đầu hàng của triều đình, họ tỏ thái độ căm ghét, uất hận
Sau cuộc nổi dậy ở kinh thành (7/1885) thất bại, rồi vua Hàm Nghi xuất bôn, hạ chiếu Cần Vương, các văn thân, sĩ phu yêu nước mới thực sự tham gia chống Pháp đông đảo và quyết liệt Họ là đối tượng kêu gọi ứng nghĩa trước tiên, lúc này “ái quốc” mới thực sự gắn với “trung quân”, điều mà trước đó khó xảy ra đối với những ông vua phản động
Phong trào Cần Vương kéo dài 12 năm (1885-1896), nổ ra trên phạm vi rộng lớn, từ cực Nam Trung Bộ chạy dài tới biên giới Việt-Trung, lan rộng tới biên giới Việt-Lào
Giai đoạn 1: phong trào diễn ra mang tính chất phát triển bề rộng (diện)
và Quảng Bình trở thành trung tâm lãnh đạo Nơi có đại bản doanh của vua Hàm Nghi và có các lực lượng mạnh như Hoàng Phúc ở Nam Quảng Bình; Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân ở Bắc Quảng Bình
Giai đoạn 2: phong trào chuyển sang phát triển theo chiều sâu (điểm), với những cuộc khởi nghĩa lớn
+ Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887)
Ba Đình thuộc huyện Nga Sơn (Thanh Hoá) Lợi dụng địa hình của ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mĩ Khê, những người lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Thanh Hoá đã cho xây dựng ở đây một chiến tuyến phòng thủ kiên cố Chỉ huy cứ điểm là Phạm Bành và Đinh Công Tráng Nghĩa quân gồm cả người Thái, Mường, Kinh… cùng tham gia
Cuộc chiến đấu bắt đầu quyết liệt từ tháng 12/1886 đến đầu tháng 1/1887 Khi giặc Pháp mở cuộc tấn công quy mô vào căn cứ, nghĩa quân đã anh dũng cầm cự trong suốt 34 ngày đêm, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của giặc Cuối cùng, để chấm dứt cuộc vây hãm, quân giặc liều chết xông vào Chúng phun
Trang 19Lại Thị Hương Page 19
dầu thiêu trụi các luỹ tre, triệt hạ và xoá tên ba làng trên bản đồ hành chính Nghĩa quân phải mở đường máu rút lên Mã Cao, thuộc miền Tây Thanh Hoá, tiếp tục chiến đấu thêm một thời gian rồi tan rã
+ Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892)
Ngay từ năm 1883, ở vùng Bãi Sậy (Hưng Yên) đã diễn ra các hoạt động của nghĩa quân dưới sự lãnh đạo của Đinh Gia Quế Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, phong trào kháng Pháp ở đây lại bùng lên mạnh mẽ Người đứng đầu cuộc khởi nghĩa này là Nguyễn Thiện Thuật Ông từng làm Tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương Khi triều đình kí hiệp ước 1883, Nguyễn Thiện Thuật trở về quê mộ quân, lập căn cứ kháng chiến Dưới quyền ông còn có các tướng lĩnh khác, hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau
Dựa vào vùng lau sậy um tùm và đầm lầy thuộc các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu…, nghĩa quân đã xây dựng căn cứ kháng chiến và triệt
để áp dụng chiến thuật du kích đánh địch Trong những năm 1885-1889, thực dân Pháp phối hợp với lực lượng tay sai do Hoàng Cao Khải cầm đầu, mở cuộc tấn công quy mô vào căn cứ nhằm tiêu diệt nghĩa quân Sau những trận công phá liên tiếp, lực lượng nghĩa quân bị suy giảm và rơi vào thế bị bao vây, cô lập Đến cuối năm 1889, Nguyễn Thiện Thuật sang Trung Quốc, phong trào tiếp tục một thời gian rồi tan rã
+ Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895)
Lãnh đạo cao nhất của cuộc khởi nghĩa là Phan Đình Phùng Ông từng làm quan Ngự sử trong triều đình Huế Do cương trực, thẳng thắn, dám phản đối việc phế lập của phe chủ chiến nên ông đã bị cách chức, đuổi về quê Tuy vậy, năm 1885, ông vẫn hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, đứng ra mộ quân khởi nghĩa và trở thành thủ lĩnh có uy tín nhất trong phong trào Cần Vương ở Nghệ -Tĩnh
Bên cạnh Phan Đình Phùng còn có nhiều tướng lĩnh tài ba khác, tiêu biểu là Cao Thắng Từ năm 1885 đến 1888, nghĩa quân lo tổ chức, huấn luyện, xây dựng công sự, rèn đúc khí giới và tích trữ lương thực… Lực lượng nghĩa quân được chia thành 15 quân thứ (đơn vị) Mỗi quân thứ có từ 100 đến 500 người, phân bố trên địa bàn 4 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình
Họ đã tự chế tạo được súng trường theo mẫu súng của Pháp
Trang 20Lại Thị Hương Page 20
Từ 1888 đến 1895 là thời kỳ chiến đấu của nghĩa quân Dựa vào vùng rừng núi hiểm trở, có sự chỉ huy thống nhất và phối hợp tương đối chặt chẽ, nghĩa quân đã đẩy lui nhiều cuộc hành quân càn quét của địch Để đối phó, thực dân Pháp tập trung binh lực và xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc nhằm bao vây, cô lập nghĩa quân Đồng thời, chúng mở nhiều cuộc tấn công quy mô vào Ngàn Trươi, là căn cứ chính của cuộc khởi nghĩa
Nghĩa quân phải chiến đấu trong điều kiện ngày càng gian khổ hơn, lực lượng suy yếu dần Sau khi chủ tướng Phan Đình Phùng hi sinh, ngày 28/12/1895, cuộc khởi nghĩa được duy trì thêm một thời gian rồi tan rã Khởi nghĩa Hương Khê, cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất bị thất bại, đồng thời cũng chấm dứt phong trào của văn thân, sĩ phu hưởng ứng chiếu Cần Vương
Khởi nghĩa Hương Khê được xem là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương vì:
- Đây là cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất trong tất cả các cuộc khởi nghĩa, hơn 10 năm
- Cuộc khởi nghĩa có địa bàn rộng khắp 4 tỉnh Trung bộ
- Cuộc khởi nghĩa có căn cứ rộng khắp, căn cứ chính là Hương Khê
- Cuộc khởi nghĩa được chuẩn bị tương đối chu đáo: chế được súng trường, tích trữ lương thực, đào đắp công sự liên hoàn
- Mở được nhiều cuộc tấn công quy mô lớn
Nhận xét: + Yêu cầu của lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX
Cuối thế kỷ XIX, các nước phương Tây đã kết thúc những cuộc cách mạng công nghiệp Chủ nghĩa tư bản thế giới đang ở giai đoạn phát triển cao nhất, từ giai đoạn tự do cạnh tranh tiến lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Cuộc chạy đua của tư bản phương Tây xâm chiếm các nước phương Đông đã ở giai đoạn cuối Trong cuộc chạy đua ấy, thực dân Pháp đã hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam
Ngày 6/6/1884, đại diện của triều đình Huế và nội các Pháp đã ký hiệp ước Pa-tơ-nốt Đây là văn kiện xác định quyền thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đồng thời xác định vị trí tay sai của nhà nước phong kiến Nguyễn đối với nền thống trị ấy Nhà Nguyễn đã tự chấm dứt vĩnh viễn vị trí dân tộc và vai trò dân tộc của nó
Trang 21Lại Thị Hương Page 21
Sau hiệp ước Pa-tơ-nốt, thực dân Pháp bước đầu tổ chức nền thống trị mới Để cai trị, thực dân Pháp vừa duy trì chế độ vua quan cổ truyền vừa nắm
cả giai tầng địa chủ nông thôn bằng cách bảo tồn chế độ làng xã
+ Cứu nước và phát triển xã hội theo lập trường phong kiến cuối thế kỷ XIX
- Kẻ thù là đế quốc Pháp và vua quan phong kiến đầu hàng Nhiệm vụ là chống đế quốc xâm lược và vua quan phong kiến đầu hàng Mục tiêu là giành độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền Phương hướng là xây dựng một nhà nước phong kiến, một xã hội phong kiến tiến bộ Tính chất là phong kiến
- Lãnh đạo là giai cấp phong kiến, cụ thể là tầng lớp văn thân sĩ phu yêu nước
- Lực lượng văn thân sĩ phu yêu nước và nhân dân ta, chủ yếu là nông dân
- Phương pháp đấu tranh: bạo động Đây là phương pháp đấu tranh truyền thống của giai cấp phong kiến Phương thức hoạt động: bí mật và bất hợp pháp Con đường cứu nước này chưa thông qua hình thức tổ chức
- Quy mô phong trào còn mang tính chất địa phương, đơn lẻ Chưa có sự phối hợp đấu tranh giữa các phong trào ở trong nước và thế giới
+ Sự thất bại của phong trào Cần Vương (1896) cũng là sự bất lực của khuynh hướng cứu nước theo lập trường phong kiến, hay nói cách khác: giai cấp phong kiến đã bị lịch sử dân tộc vượt qua Sự thất bại của con đường cứu nước này có thể xem xét ở một số điểm hạn chế của nó như sau:
- Xét từ trong bản thân nhà nước phong kiến đã bộc lộ nhiều hạn chế không chỉ trên bình diện nhân loại mà ngay cả với lịch sử dân tộc
- Về mục tiêu: khuynh hướng GPDT theo lập trường phong kiến mới chỉ có ĐLT và chính quyền (nhiệm vụ dân tộc) mà chưa hề đề cập tới nhiệm vụ dân chủ (đó là đánh đổ phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, đem lại tự do dân chủ cho nhân dân)
- Phương hướng tiến lên: xây dựng một nhà nước phong kiến cho dù là tiến bộ, nhưng trong thực tế xã hội phong kiến trở thành một rào cản đối với sự tiến hóa của lịch sử dân tộc cũng như thế giới, thậm chí đi vào phản động
Trang 22Lại Thị Hương Page 22
- Phương thức đấu tranh chỉ có vũ trang bạo động là chưa đủ, chưa có
sự kết hợp nhiều hình thức đấu tranh (lực lượng vũ trang của ta yếu hơn nhiều
so với đối phương)
- Quy mô phong trào còn mang tính chất đơn độc, địa phương, chưa có
sự gắn kết trong nước với thế giới Cùng với thời điểm lịch sử dân tộc từ bỏ con đường cứu nước theo lập trường phong kiến thì cũng là lúc trên thế giới đang diễn ra một trào lưu CMTS đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào Việt Nam Sự từ bỏ con đường cứu nước theo lập trường phong kiến cuối thế kỷ XIX chuyển sang lập trường cứu nước DCTS đầu thế kỷ XX ở nước ta không diễn ra căng thẳng gay gắt mà tương đối êm thấm
1.3 Phong trào nông dân Yên Thế
Bên cạnh phong trào văn thân, sĩ phu kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng chiếu Cần Vương (1885-1896) là phong trào nhân dân tự động đứng lên chống Pháp
Khác với phong trào Cần Vương nhằm “giúp vua cứu nước” đánh đuổi giặc ngoại xâm, khôi phục chế độ cũ, phong trào nhân dân tự động nhằm đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ quyền lợi trước mắt: giữ đất, giữ làng, giữ bản… Phong trào nổ ra khắp nơi trong cả nước, lan dần theo bước chân xâm lược của thực dân Pháp, từ đồng bằng lên trung du, rồi thượng du Khắp nơi trên đất nước ta, không nơi nào không có những cuộc nổi dậy tự động của nhân dân
Phong trào nhân dân tự động chống Pháp diễn ra cùng lúc với phong trào Cần Vương, nên ít nhiều có quan hệ, chịu ảnh hưởng của phong trào Cần Vương Nhưng phong trào tự động không hoàn toàn phụ thuộc vào phong trào Cần Vương, mà có tính độc lập, thể hiện ở sự chủ động nổ ra trước và kết thúc sau phong trào Cần Vương Tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) Đây là phong trào đấu tranh lớn nhất trong toàn bộ phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược trong gần 3 thập kỷ từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; là phong trào đấu tranh dài nhất, nổ ra trước 1884 và kết thúc sau phong trào Cần Vương 1913
* Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913)
Yên Thế nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, có diện tích khoảng 40-50
km2 Đây là vùng đất đồi, cây cối rậm rạp, địa hình hiểm trở Tình hình kinh tế nông nghiệp sa sút dưới thời Nguyễn đã khiến cho nhiều nông dân vùng đồng
Trang 23Lại Thị Hương Page 23
bằng Bắc Kỳ buộc phải rời quê hương đi tìm nơi khác sinh sống Một số người
đã lên Yên Thế Giữa thế kỷ XIX, họ bắt đầu lập làng, tổ chức sản xuất
Khi thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng Bắc Kỳ, Yên Thế trở thành mục tiêu bình định của chúng Để bảo vệ cuộc sống của mình, nông dân Yên Thế đã đứng lên đấu tranh
Trong giai đoạn 1884-1892, nhiều toán nghĩa quân hoạt động riêng rẽ, chưa có sự chỉ huy thống nhất Thủ lĩnh có uy tín nhất lúc đó là Đề Nắm Sau khi Đề Nắm mất (4/1892), Đề Thám trở thành vị chỉ huy tối cao của phong trào
Giai đoạn 1893-1908 là thời kỳ nghĩa quân vừa chiến đấu vừa gây dựng
cơ sở Nhận thấy tương quan lực lượng quá chênh lệch, Đề Thám phải tìm cách giảng hoà với quân Pháp Sau khi phục kích bắt được tên điền chủ người Pháp
là Sét-nay, Đề Thám đồng ý thả tên này với điều kiện Pháp phải rút quân khỏi Yên Thế; Đề Thám được cai quản 4 tổng trong khu vực là Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng
Thời gian giảng hoà không kéo dài vì ngay từ đầu địch đã ráo riết lập đồn bốt, mở cuộc tấn công trở lại Lực lượng của Đề Thám bị tổn thất, suy yếu nhanh chóng Để cứu vãn tình thế, Đề Thám phải chủ động xin giảng hoà lần thứ hai (12/1897) Thực dân Pháp chấp nhận nhưng đưa ra những điều kiện ngặt nghèo, buộc nghĩa quân phải thực hiện
Từ 1897-1908, tranh thủ thời gian hoà hoãn, Đề Thám cho khai khẩn đồn điền Phồn Xương, lo tích luỹ lương thực, xây dựng đội quân tinh nhuệ, sẵn sàng chiến đấu Nhiều nhà yêu nước, trong đó Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã tìm lên Yên Thế, bắt liên lạc với Đề Thám
Giai đoạn 1909-1913, sau vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội, phát hiện thấy
có sự dính líu của Đề Thám, thực dân Pháp đã tập trung lực lượng, mở cuộc tấn công quy mô lên Yên Thế Trải qua nhiều trận càn liên tiếp của địch, lực lượng nghĩa quân hao mòn dần Ngày 10/2/1913, Đề Thám bị sát hại, phong trào tan
rã
Điểm khác nhau giữa phong trào Cần Vương và phong trào nông dân Yên Thế
Trang 24Lại Thị Hương Page 24
- Phong trào Cần Vương gồm những cuộc khởi nghĩa hưởng ứng chiếu Cần Vương với mục đích giúp vua cứu nước, hưởng ứng lời kêu gọi của triều đình
- Phong trào nông dân Yên Thế nhằm mục đích chống chính sách cướp bóc, bình định của thực dân Pháp, các xóm làng của nông dân từ các nơi hội tụ
về sinh sống và chống lại các thế lực đe dọa từ bên ngoài Có nghĩa là họ tự mình đứng lên bảo vệ cuộc sống của mình, đó là phong trào mang tính tự phát của nông dân Chính vì thế, không thể xếp phong trào nông dân Yên Thế vào phong trào Cần Vương
Câu hỏi hướng dẫn học tập
1 Tại sao nói Việt Nam mất nước vào cuối thế kỷ XIX đi từ không tất yếu trở thành tất yếu?
2 Phân tích hoàn cảnh ký kết và nội dung các bản Hiệp ước mà triều đình Huế
đã ký với thực dân Pháp (1862, 1874, 1883, 1884)
3 Những đặc điểm nổi bật của phong trào Cần Vương
4 Phân tích nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của phong trào Cần Vương
Trang 25Lại Thị Hương Page 25
CHƯƠNG 2 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KHUYNH HƯỚNG TƯ
TƯỞNG GPDT THEO Ý THỨC HỆ DÂN CHỦ TƯ SẢN (8 tiết)
* Khái quát về khuynh hướng cứu nước theo lập trường tư sản đầu thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX dấy lên khuynh hướng cứu nước mới: bạo động và cải cách Kẻ thù là đế quốc và phong kiến tay sai Nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến tay sai, mục tiêu là độc lập dân tộc và tự do dân chủ Xu hướng là xây dựng một xã hội mới tiến bộ TBCN
Lãnh đạo là những sĩ phu yêu nước tiến bộ theo lập trường tư sản Lực lượng bao gồm những sĩ phu tư sản hóa, nhân dân, công dân tư sản
Hình thức đấu tranh: bạo động kết hợp các hình thức đấu tranh khác Phương thức hoạt động: không chỉ có hoạt động bí mật, bất hợp pháp mà còn
có cả hoạt động công khai hợp pháp và bước đầu thông qua được các tổ chức
Quy mô phong trào: khác với khuynh hướng cứu nước theo lập trường phong kiến là quy mô toàn quốc, đã có sự phối hợp giữa các phong trào ở trong nước và thế giới
Nhận xét: Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam trong một khuynh hướng cứu nước tư sản nhưng lại phân hóa thành hai xu hướng bạo động và cải cách Sự phân hóa này chỉ diễn ra ở hơn một thập kỷ đầu, thời kỳ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh còn hoạt động sôi nổi
Hai xu hướng trong một khuynh hướng đều nảy sinh trên một nền tảng yêu nước cho nên không đối lập nhau, mà hỗ trợ, bổ sung cho nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển
Hai xu hướng nhưng không có sự phân chia rõ nét Giữa chúng có thể chuyển hóa cho nhau, điều này là do đặc điểm: nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, một khi tư tưởng cải cách đã thâm nhập vào quần chúng thì nó có thể chuyển thành phong trào bạo động như ở Trung Kỳ (1906-1907), hay chủ trương của Phan Bội Châu lúc đầu là bạo động, nhưng về sau cũng kết hợp bạo động với cải cách
Sự nảy sinh của xu hướng cải cách theo khuynh hướng DCTS không dựa trên cơ sở kinh tế xã hội có tính chất dân tộc đang nảy nở mà dựa cơ sở văn hóa dân tộc đang đứng trước sự phá sản của chế độ phong kiến ở trong nước Và trong lúc phương Đông đang chuyển biến từ lập trường phong kiến sang lập
Trang 26Lại Thị Hương Page 26
trường TS Đồng thời, nó còn dựa trên tinh thần độc lập – tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Phan Bội Châu là người tiêu biểu cho xu hướng bạo động, nhưng ông cũng không phản đối cải cách và cuối cùng cũng lùi dần sang xu hướng cải cách Còn Phan Châu Trinh giữ mãi tư tưởng cải cách mang tính cải lương, để cuối cùng cả hai xu hướng đều đi tới thất bại, mà nguyên nhân là do hạn chế giai cấp và không phù hợp với thời thế
2.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam 20 năm đầu thế kỷ XX
Người Nhật tiếp thu tư tưởng và văn minh phương Tây qua chữ Hà Lan – phong trào Hà Lan học, chữ Anh, chữ Pháp Trung Quốc tiếp thu tư tưởng và văn minh phương Tây qua chữ Nhật, Việt Nam tiếp thu tư tưởng
và văn minh phương Tây qua chữ Hán
* Từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Nhật Bản trở thành nhịp cầu chuyển tải tư tưởng và văn minh phương Tây vào phương Đông Nhật Bản trước năm 1868 là một nước phong kiến, cũng thi hành chính sách bế quan tỏa cảng Giống như Việt Nam, vào giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản bị các cường quốc phương Tây tiến công Nhưng nhờ sự thức thời của vua Minh Trị, Nhật đã tiến hành canh tân đất nước, kịp thời phát triển nhanh theo hướng TBCN tuy vẫn còn giữ những tàn tích phong kiến trọng yếu trong chính trị cũng như trong kinh tế nông nghiệp Do đó, Nhật Bản vẫn giữ được độc lập, sớm cường thịnh
và cũng sớm có chính sách bành trướng thực dân Năm 1879, Nhật chiếm quần đảo Lưu Cầu Năm 1882-1884, chiến tranh với Triều Tiên Năm 1894-1895, gây chiến tranh với Trung Quốc Năm 1904-1905, chiến tranh Nga - Nhật với thất bại của đế quốc Nga Chiến thắng vang dội này của Nhật Bản đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam là “Nhật Bản nhờ tiếp thu văn minh thái Tây mà đã trở thành phú cường”, đã đánh bại được nước Nga da trắng Họ đã bỏ qua bản chất
đế quốc của Nhật Bản, chỉ chú ý đến việc một cường quốc da vàng đánh bại
Trang 27Lại Thị Hương Page 27
một cường quốc da trắng Chỉ điều đó thôi Nhật Bản cũng đã xứng đáng làm anh cả cho nhân dân châu Á noi theo Xu hướng thân Nhật phát triển mạnh Điều đó đã làm cho Nhật Bản trở thành tấm gương, kích thích sự suy nghĩ của các sĩ phu yêu nước Việt Nam lúc đó Đó là nguyên nhân khiến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh lần lượt sang Nhật để xem xét, học tập và sau đó là truyền bá
tư tưởng canh tân Phong trào Đông Du từ đó mà xuất phát
* Vốn là nước có quan hệ chặt chẽ, gần gũi với Việt Nam, thời kỳ này, qua những chuyển biến của triều Mãn Thanh, các phong trào đòi duy tân cải cách đất nước, đặc biệt sự kiện Mậu Tuất chính biến năm 1898, các tư tưởng đổi mới của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng đều có ảnh hưởng gần như trực tiếp, dội vào Việt Nam Hoàn cảnh hai nước có những nét tương đồng là điều kiện cơ bản thuận lợi cho sự du nhập của tư tưởng mới từ Trung Quốc vào Việt Nam
Những tân thư, tân văn của Trung Quốc bắt đầu vào nước ta từ những năm 90 của thế kỷ XIX qua những cảng Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng có đông đảo Hoa kiều, có cả những đoàn thể cách mạng Trung Quốc Sau chiến tranh Trung – Nhật 1895, uy thế triều Mãn Thanh xuống thấp, cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc tiến lên một bước, sĩ phu tiến bộ và trí thức tư sản mạnh dạn đòi cải cách và sáng lập nhiều học hội Những “Cường học hội” do Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (sĩ phu tiến bộ) sáng lập chủ trương biện pháp duy tân, duy trì và cải biến chế độ nhà Thanh Còn “Hưng trung hội” của phe trí thức Tây học do Tôn Dật Tiên đứng đầu thì chủ trương “đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, lập chính phủ liên hiệp”
Chính làn sóng tân thư, tân văn, tức là các sách có nội dung chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản và văn minh phương Tây, được chuyển tải bằng chữ Hán theo “tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ” tràn vào Việt Nam, tạo nên sự phân hoá, đổi mới về tư tưởng của người Việt Nam
* Cuộc CTTG I bùng nổ, tạo ra một thời cơ mới để cho các tổ chức yêu nước Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước hô hào nhân dân đứng dậy giành độc lập bằng vũ trang, trong lúc đó Pháp ra sức động viên sức người, sức của của Việt Nam để tham gia vào chiến trường châu Âu Chiến tranh kết thúc bằng chiến thắng của Pháp, những tổ chức yêu nước của người Việt Nam lại thất bại một lần nữa trong nỗ lực giành lại độc lập dân tộc
Trang 28Lại Thị Hương Page 28
2.1.2 Hoàn cảnh trong nước
* Phong trào đấu tranh vũ trang kháng Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương cuối thế kỷ XIX thất bại, đặt ra nhu cầu tìm kiếm một con đường cứu mới Làm thế nào và đi theo con đường nào, vừa là nhu cầu vừa là động cơ thúc giục các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX mạnh dạn tiếp thu những khuynh hướng tu tưởng tiến bộ từ bên ngoài dội vào
* Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp với mục đích vơ vét sức người sức của nhân dân Đông Dương đến mức tối đa
Vừa được cử sang làm Toàn quyền Đông Dương tháng 2/1897, Đume
đã đề ra một chương trình hành động gồm 7 điểm, tập trung vào các vấn đề như: hoàn thiện cơ cấu tổ chức hành chính trên toàn lãnh thổ và cho từng
xứ ở Đông Dương; sửa đổi chế độ tài chính, thuế khóa; xây dựng các thiết
bị khai thác, tạo điều kiện chắc chắn cho TB Pháp đầu tư vào Đông Dương;
ổn định tình hình chính trị và quân sự, đồng thời khuếch trương ảnh hưởng của Pháp ra vùng Viễn Đông, nhất là đối với các nước vùng lân cận Để đảm bảo thu được lợi nhuận thuộc địa tối đa, thực dân Pháp thực hành chính sách chuyên chế về cai trị Chúng cai trị trực tiếp và thẳng tay đàn áp, không cho dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào
Thực hiện chương trình trên, Đume đã cho thi hành một loạt chính sách trên tất cả các mặt từ chính trị - kinh tế, xã hội đến quân sự, văn hóa, giáo dục, tư tưởng
Về chính trị: Chúng áp dụng triệt để chính sách chia để trị, “dùng người bản xứ trị người bản xứ” Nước ta bị chia làm ba miền riêng biệt
Về văn hóa – giáo dục: Ngu dân về giáo dục, đầu độc về văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của bọn thực dân Mục tiêu của toàn bộ chính sách văn hóa – giáo dục là hướng vào việc xác lập và duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp đối với Việt Nam Vì thế, tùy theo yêu cầu về chính trị mà ở từng giai đoạn cụ thể, thực dân Pháp đã cho thi hành những chính sách về giáo dục khác nhau
Về kinh tế: Trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, thực dân Pháp đã đẩy mạnh đầu tư vào Đông Dương (từ 1896 – 1914 đầu tư 514 triệu Phơ-răng vàng dưới hình thức tiền vốn nhà nước)
Trang 29Lại Thị Hương Page 29
Trong nông nghiệp: Ngoài việc vơ vét thóc gạo để xuất khẩu, bọn thực dân còn tăng cường việc cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền, đưa yếu tố kinh tế TBCN xâm nhập vào trong nông nghiệp Kết quả là nông nghiệp Việt Nam vẫn ở nguyên tình trạng độc canh, năng suất rất thấp, lại phải đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu cao, cho nên đời sống nhân dân, nhất là nông dân vô cùng bi đát
Trong công nghiệp: Thực dân Pháp cũng chú ý nhiều đến ngành khai thác mỏ, nhất là các mỏ than và kim loại Ngoài ra, chúng còn tập trung vào một số ngành như xi măng, điện nước giao thông, xây dựng, đường sắt, đường thủy, đường bộ (là những ngành công nghiệp nhẹ không có khả năng cạnh tranh) phục vụ cho các mục tiêu kinh tế và quân sự Phần lớn hàng tiêu dùng phải nhập từ Pháp
Trong thương nghiệp: Pháp độc chiếm thị trường Đông Dương, nắm nguồn thuế, độc quyền thương mại, thuế quan, xuất nhập khẩu Nhiều thứ thuế mới được đặt ra để nuôi sống một số lượng quan lại đông đúc Đặc biệt, chúng đánh mạnh vào thuế muối, rượu
→ Nền kinh tế Việt Nam đầu thế kỷ XX phát triển mất cân đối, lạc hậu, què quặt, về cơ bản vẫn mang nặng tính chất tự túc tự cấp
Tất cả những vấn đề trên đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam, làm cho xã hội bị lay động đến tận nền tảng của nó Từ chỗ là một nhà nước phong kiến tuy lạc hậu nhưng là một nước độc lập, thống nhất, từ đây Việt Nam biến thành một nước bị đô hộ, chia cắt, với một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, có đổi mới nhưng không thực sự tiến bộ và cởi mở, ngược lại ngày càng bị lệ thuộc vào đế quốc Pháp
* Tình hình giai cấp xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Thái độ các giai cấp trước vấn đề dân tộc như thế nào?
- Trong thời kỳ phong kiến, ở nông thôn Việt Nam có những giai cấp nào?
Cuộc khai thác thuộc địa quy mô của thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam có những biến chuyển quan trọng Phương thức bóc lột TBCN bắt đầu du nhập vào nước ta, thâm nhập vào các khu vực kinh tế nông nghiệp, công thiệp, thương nghiệp, kết hợp với phương thức phong kiến đã dẫn tới sự hình thành phương thức bóc
Trang 30Lại Thị Hương Page 30
lột thuộc địa, bảo đảm siêu lợi nhuận tối cao cho thực dân Pháp và phong kiến tay sai
Các giai cấp cũ phân hóa Nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa
và phá sản hàng loạt Đến đầu thế kỷ XX, nông dân vẫn chiếm đại đa số trong cả nước, là đối tượng bóc lột của thực dân và phong kiến, nguồn sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc Quan hệ TBCN phát triển, lúa gạo trở thành món hàng xuất khẩu, ruộng đất càng tập trung trong tay giai cấp địa chủ thì sự phân hóa trong giai cấp nông dân càng sâu sắc, số bần nông tăng lên Trong suốt đầu thế kỷ XX, chưa có một giai cấp ở thành thị lôi kéo được nông dân về mình, trong lúc địa chủ, phong kiến thì đã mất nhiều
uy thế đối với quần chúng thôn xã, chính vì họ đã trở thành tay sai đối với
kẻ xâm lược Giai cấp nông dân thì không thể lãnh đạo được cách mạng
Đầu thế kỷ XX, giai cấp phong kiến địa chủ nhìn chung đã phụ thuộc vào Pháp Giai cấp địa chủ, vốn sẵn có từ lâu, đang củng cố địa vị kinh tế Chúng đua nhau khai mở đất mới, cướp ruộng của dân, chiếm công điền công thổ Tuy vậy, trong giai cấp địa chủ có thể chú ý đến hai hạng, nếu đứng về mặt lịch sử đấu tranh và lịch sử tư tưởng để mà xét: một hạng gồm bọn tay sai của thực dân trong quá trình xâm lược trở thành địa chủ, còn một bộ phận thì có tinh thần phản kháng lại thực dân
Một số giai cấp và tầng lớp mới ra đời như giai cấp công nhân nhân, tầng lớp tư sản và tiểu tư sản Những công trường, xí nghiệp của thực dân Pháp và tư sản Việt Nam mới mở trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX đã thu hút hàng ngàn người lao động làm thuê Năm 1909, tổng số công nhân toàn quốc lên tới 550.000 người Với số lượng tương đối đông đảo và tính tập trung cao, làm việc trong guồng máy TBCN, kỹ thuật hiện đại, có tinh thần đấu tranh chống kẻ thù chung công nhân Việt Nam đã có
đủ các điều kiện để hình thành một giai cấp Tuy vậy, giai đoạn này, công nhân nước ta còn đang ở giai đoạn tự phát Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam trước giai cấp tư sản dân tộc là một đặc điểm lịch sử quy định những nét đặc thù sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam
Ngoài giai cấp công nhân, đầu thế kỷ XX còn xuất hiện các tầng lớp tư sản, tiểu tư sản thành thị Tư sản là các nhà thầu khoán, chủ xí nghiệp, chủ xưởng thủ công, chủ hãng buôn bán Tư sản Việt Nam có số lượng ít, vốn
Trang 31Lại Thị Hương Page 31
liếng nhỏ, thiếu kinh nghiệm Vì bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề, nên TS Việt Nam phát triển chậm chạp về mọi mặt, chưa đủ điều kiện để hình thành một giai cấp Do bị lệ thuộc vào tư bản chính quốc, nhỏ yếu về kinh tế lẫn chính trị nên chỉ muốn thay đổi nhỏ để tiếp tục kinh doanh Tầng lớp tiểu tư sản là chủ các xưởng thủ công nhỏ, cơ sở buôn bán nhỏ, viên chức và những người làm nghề tự do; cuộc sống khổ cực nhưng dễ chịu hơn nông dân Họ sớm
có ý thức dân tộc nên đã hào hứng tham gia các cuộc vận động cứu nước Tư tưởng “sĩ – nông – công – thương” vẫn còn nặng, tư tưởng làm giàu bằng thương mại bị khinh rẻ
Tuy vậy, sự phát triển của kinh tế TBCN nói chung và sự lớn lên của các tầng lớp TS dân tộc nói riêng đã trở thành cơ sở thuận lợi cho sự tiếp thu các trào lưu tư tưởng cách mạng từ bên ngoài dội vào Cho đến đầu thế kỷ XX, các giai cấp cũ và mới ra đời trong xã hội Việt Nam chưa thể đảm đương được các nhiệm vụ của lịch sử dân tộc Trong tình hình đó, một bộ phận sĩ phu phong kiến yêu nước tiến bộ đã vươn lên tiếp thu tư tưởng tư sản, đề xướng lên cuộc vận động giải phóng dân tộc mang tính chất tư sản ở đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh
Sỡ dĩ lực lượng này có đủ uy tín và năng lực để tiếp nhận khuynh hướng mới và lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này vì: Họ xuất thân từ giai cấp phong kiến, là những người khoa cử Nho học, đỗ đạt nên
có uy tín đối với nhân dân, và họ là những người có đủ tài đức để tập hợp lực lượng Thứ hai, con đường truyền bá văn minh phương Tây vào Việt Nam chủ yếu qua con đường Nhật Bản, Trung Quốc (chữ Hán) Số người đi học thời phong kiến ít, những người am hiểu chữ Hán thuộc về tầng lớp trí thức phong kiến nên họ có vốn chữ Hán dồi dào (Người Việt Nam đầu tiên biết đến văn minh phương Tây là Nguyễn Trường Tộ) → Chúng ta không tiếp thu khuynh hướng tư sản một cách trực tiếp mà đã bị khúc xạ qua tư tưởng của người Trung Quốc, Nhật Bản
Tuy còn nhiều hạn chế (chỉ tiếp xúc với người Trung Quốc, Nhật Bản) nhưng khuynh hướng TS đã được những người yêu nước Việt Nam tiếp nhận một cách chủ động, sáng tạo bằng những lăng kính của người Việt (đó là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc) → Tạo ra sức sống mới cho phong trào
2.2 Các khuynh hướng GPDT theo hệ tư tưởng dân chủ tư sản
Trang 32Lại Thị Hương Page 32
2.2.1 Khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu
Trong hai mươi lăm năm hoạt động cứu nước của mình, Phan Bội Châu đã
vươn lên liên tục, "cốt nhằm mục đích, giành thắng lợi trong phút cuối cùng, dù có
phải thay đổi thủ đoạn, phương châm cũng không ngần ngại"
Phan Bội Châu (1867-1940) là nhân vật vĩ đại nhất, là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời Việt Nam trước khi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện
Sinh ra trong một gia đình nhà nho trí thức phong kiến Mẹ ông là người rất am hiểu văn chương chữ nghĩa, là người đã nuôi dạy PBC những đạo đức tính cách tốt đẹp
Năm 3-4 tuổi, PBC đã thuộc bộ “Tam tự kinh”; 7 tuổi hiểu hết Luận ngữ
Là một người có năng lực, lại có lòng yêu nước Năm 1885, PBC hưởng ứng phong trào Cần Vương, lập ra một đội quân, nhưng không thành công (do bột phát của tuổi trẻ) Từ đó ông hiểu, muốn làm việc lớn thì phải có uy tín, ông dùi mài kinh sử nhưng ông hay phạm húy nên không đỗ đạt
* Cơ sở hình thành tư tưởng bạo động của PBC
+ Truyền thống quê hương, đất nước: kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm Nghệ An là mảnh đất sinh ra những anh hùng, những người con ưu tú của dân tộc Thêm vào đó, cốt cách con người miền Trung, người con xứ Nghệ cũng có nét riêng, không được thiên nhiên ưu đãi và sinh ra trong cảnh mất nước,
có tính tình cương trực, thẳng thắn
+ Chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khiến PBC khi tiếp nhận khuynh hướng TS càng thấm thía:
nợ máu phải trả bằng máu
+ Theo các nhà nghiên cứu, bởi PBC xuất thân từ nền khoa cử Nho giáo nên ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng này “Làm trai sống ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông” Cùng với những tấm gương của người xưa, ông thấy cần phải tạo dựng cơ nghiệp cho mình – ý thức của người quân tử
* Quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng bạo động
Khi nói tới Phan Bội Châu, chúng ta nghĩ ngay tới đó là một con người kiên định chủ trương đưa việc đánh đuổi Pháp lên hàng đầu và chủ trương bạo động chống Pháp
Tư tưởng bạo động chống Pháp của Phan Bội Châu xuất phát từ việc ông nhận thấy sự tàn bạo của thực dân Pháp đối với dân tộc ta trong nửa thế
Trang 33Lại Thị Hương Page 33
kỷ qua Từ thực tế đó, Phan Bội Châu nhận thấy chỉ có một con đường là đấu
tranh vũ trang để giải phóng dân tộc Theo ông: "Nợ máu phải trả bằng
máu", phải "đổ máu ra mà mua lại tự do" Quan niệm bạo động của Phan
Bội Châu là bạo lực có vũ trang để giành lại chính quyền trong tay thực dân Pháp (bạo động vũ trang cũng là truyền thống của dân tộc ta trong việc đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc) Ông cũng biết, trong điều kiện bấy
giờ, "bạo động là phiêu lưu và dễ bị tổn thất nhưng cứ bạo động may ra còn
trông được chỗ thành công trong muôn một"
Trong điều kiện kẻ thù đã thủ tiêu mọi quyền tự do, dân chủ tối thiểu,
thậm chí "muốn lấy văn tự để cổ động quốc dân nhưng khốn thay văn tự vẫn
không có chỗ đặt vào để gieo rắc, tuyên truyền nó được", chỉ có bạo lực mới
giành được độc lập, tự chủ Vì vậy, Phan Bội Châu cực lực phản đối những người lấy con đường cải cách làm con đường duy nhất để cứu nước Ông cho
rằng, những người chủ trương cách mạng hoà bình, chủ trương cải cách "chẳng
qua chưa từng trải nhiều mà thôi, phải "qua nhiều biến cố mới thêm khôn, mới biết hối hận về những điều sai lầm trước kia Muốn bắt tay vào việc mở mang dân trí bằng con đường huấn luyện cũng trở thành tuyệt vọng mà thôi"
+ Tư tưởng bạo động của PBC được hình thành sớm: năm 17 tuổi, nghe tin Pháp chiếm Bắc Kỳ, ông thức trắng đêm viết “Hịch Bình tây Thu bắc” Buổi đầu, Phan Bội Châu chưa vượt qua được tư tưởng bạo động ở thời
kỳ Cần Vương, của anh hùng lục lâm và những người trong đảng Cần Vương
Tư tưởng bạo động đó được thể hiện trong việc đánh thành Nghệ An nhân ngày
lễ kỷ niệm Cộng hoà Pháp năm 1901 Lúc này, tư tưởng còn mang nặng tính chất đơn giản, manh động cho rằng, bạo động là của một số anh hùng mà thôi Nhưng cũng chính từ sự kiện đó, Phan Bội Châu đã nhận ra muốn bạo động thành công thì "vây cánh, đồ đảng phải đông", phải có "sức mạnh nhiều người hợp thành", phải có cuộc nổi dậy đông đảo của nhân dân trong cả nước
theo phương thức mới Ông viết: “Việc làm cho nước nhà độc lập, vững mạnh
không phải một sớm một chiều mà thành công được, cũng không phải một tay một chân mà làm nên, mà do tâm huyết của hàng vạn anh hùng vô danh” →
Ông kết bạn với những người hảo hán anh hùng, có tài có danh tiếng
+ Tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu dần dần được bổ sung và phát triển từ sau năm 1901 Trong tư tưởng bạo động của PBC dần có những yếu tố
Trang 34Lại Thị Hương Page 34
của cải cách, bạo động và cải cách thống nhất với nhau trong tư tưởng cứu nước của PBC Trong đó, bạo động là điều kiện tiên quyết, là tư tưởng xuyên suốt, còn cải cách là cách thức, là những phương tiện để đạt được mục đích bạo động Chính cụ đã khẳng định, giành độc lập bằng con đường bạo động kết hợp với cải cách → không phủ nhận cải cách
Cùng với quá trình thấm nhuần tư tưởng dân chủ, Phan Bội Châu đã dần dần nhận thức ra vai trò của nhân dân trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc Do đó, sự nghiệp của anh hùng cũng là sự nghiệp của nhân dân, nhân dân không đồng tâm thì anh hùng cũng không làm nên sự nghiệp Theo ông, Trưng Vương, Mai Hắc Đế bị thất bại chính là vì "không có hàng vạn Trưng Vương
vô danh làm vây cánh, không có hàng vạn Mai Hắc Đế đồng tâm giúp sức" Do
đó, sức mạnh của bạo động mà Phan Bội Châu quan niệm là sức mạnh của nhiều người Chính vì vậy mà sau khi đánh thành Nghệ An, Phan Bội Châu đi khắp trong Nam ngoài Bắc để tìm đồng chí và "liên kết với các phe đảng anh
em toàn quốc", và tìm mọi cách để đoàn kết nhân dân cả nước và "thu phục nhân tâm”
Năm 1904, Phan Bội Châu, Nguyễn Hàm và một số người khác đã thành lập ra Duy Tân Hội do Cường Để làm hội chủ
Năm 1905, Phan Bội Châu sang cầu viện Nhật Bản và phát động phong trào Đông Du (có thời điểm phong trào lên đến 200 người), có ý nghĩa trong đổi mới văn hóa giáo dục - học để phục vụ đất nước Việc cầu viện Nhật Bản tuy không thành, nhưng qua việc tiếp xúc với chính khách Nhật, tận mắt thấy sự phát triển của nước Nhật và tiếp xúc với Lương Khải Siêu, Phan Bội Châu nhận thấy công việc của trước đây là nóng vội Phan Bội
Châu viết: "Nhân đây tôi nghĩ lại dân trí nước mình còn thấp, mà nhân tài
cũng thiếu, không có Chừng đó, tôi tự ăn năn việc mình lo toan lúc trước là nông nổi, chỉ bo bo vấn đề quân giới nào có phải là cái kế tuyệt hay để mưu tính công việc độc lập cho nước mình đâu" Tháng 9/1908, Pháp câu kết với
Nhật trục xuất những người Việt Nam yêu nước khỏi đất nước Nhật Tháng 3/1909, Phan Bội Châu cũng rời khỏi đất Nhật Phong trào Đông Du tan rã
Từ đó, cụ Phan nhận thấy, muốn đạt được mục đích giải phóng dân tộc cần phải có một thời kỳ chuẩn bị vững chắc Ông quyết đặt cuộc khởi nghĩa vũ trang của cả nước vào một tương lai xa hơn Ông chuẩn bị cho Cường Để và
Trang 35Lại Thị Hương Page 35
một nhóm thanh niên sang Nhật bàn bạc với Đặng Nguyên Cẩn và các đồng chí khẩn trương lập các hội buôn và hội công nghiệp, vừa phát triển kinh tế, vừa tạo ra tiền bạc cho phong trào Đông Du, vừa làm cho dân mình biết tới
tổ chức Đặng Nguyên Cẩn đã tiến hành lập ra các hội nông dân, thương
nhân, và khuyến khích sáng lập Triêu dương thương quán ở Vinh Nguyễn
Hàm- một người cộng tác với Phan Bội Châu đã tổ chức được nhiều hội buôn ở 72 địa điểm thuộc Quảng Nam Các hội viên của Duy Tân Hội ngày càng đẩy mạnh vận động thương nghiệp ở Trung Kỳ Về việc tổ chức, Đảng cách mạng đã chia làm "Minh xã" và "Ám xã" hay là "Kịch liệt" và "Hoà bình", kết hợp hoạt động bí mật với hoạt động công khai
Mặt khác, sau khi bí mật về nước, cùng nhau bàn bạc thống nhất lại ý kiến, các sĩ phu nước ta quyết định chuyển từ cầu viện sang học viện Cụ Phan dốc bầu nhiệt huyết vào việc sáng tác thơ văn: “Việt Nam vong quốc sử” (1905), “Khuyến quốc dân tư trợ du học văn” (1906), “Hải ngoại huyết thư” (1906), “Việt Nam thảm trạng” (1907) Những tác phẩm này đã được chuyển về trong nước khích lệ tinh thần dân tộc, tuyên truyền vận động cách mạng
Đọc lại các tác phẩm của Phan Bội Châu, chúng ta thấy trong tư tưởng cứu nước của ông không có sự đối lập giữa bạo động với cải cách, mà là sự thống nhất của hai chủ trương ấy Do vậy, sự khác nhau giữa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cũng không phải là bạo động hay cải cách Trong bước phát triển về tư tưởng của PBC, ông đã nhận thấy việc bạo động không dễ dàng, mà phải có một quá trình chuẩn bị, và đó là việc của nhiều người nên cần phải tập hợp lực lượng, sắm sửa vũ khí, hô hào đoàn kết, đưa những lực lượng này vào các tổ chức Qua đó, ông cũng thấy được vai trò của tổ chức và thành lập nên các tổ chức Với Duy Tân Hội, Việt Nam Quang Phục Hội (1912) được đánh giá là những đảng phải chính trị thực sự (đã có cương lĩnh, mục đích chung, có
hệ tư tưởng riêng, có cách thức tổ chức hoạt động riêng)
+ Bài học từ phong trào Đông Du
- Chủ trương bạo động là đúng, nhưng tư tưởng cầu viện là sai, bởi không thể dựa vào đế quốc để đánh đế quốc được
- Cần xây dựng thực lực trong nước, trên cơ sở thực lực mà tranh thủ sự
hỗ trợ của quốc tế
Trang 36Lại Thị Hương Page 36
* Vấn đề "quân chủ" và "dân chủ" trong tư tưởng của Phan Bội Châu
Sau khi đánh úp thành Nghệ An thất bại, Phan Bội Châu đi khắp trong Nam ngoài Bắc để tìm "đồng chí" và liên kết lực lượng Năm 1904, Phan Bội Châu, Nguyễn Hàm và một số người khác đã thành lập ra Duy Tân Hội do Cường Để làm hội chủ
Việc chọn một người thuộc dòng dõi hoàng tộc để làm chủ Hội Duy Tân không có nghĩa là nhằm mục đích khôi phục lại nhà Nguyễn, đây chỉ là biện pháp mang tính chất sách lược, là phương tiện để đạt được mục đích chứ không phải là mục đích Và đó lại không phải là sáng kiến của Phan
Bội Châu Trong Niên biểu của mình, Phan Bội Châu cho biết đó là sáng kiến của Nguyễn Hàm - người đã nói với ông "muốn mưu toan việc lớn thì
phải tiến hành ba việc:1- Thu phục lòng người; 2- Góp được số tiền lớn; 3- mua sắm vũ khí cho đủ"
Qua đó, có thể thấy việc Cường Để làm hội chủ hội Duy Tân chỉ là để cho hội hoạt động có hiệu quả hơn, mà cụ thể là thu phục nhân tâm, góp nhiều tiền của, mua sắm vũ khí cho nhiều để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy toàn dân Năm 1907, Phan Bội Châu viết cuốn "Tân Việt Nam" Trong tác phẩm này,
Phan Bội Châu đã nói rõ: "Cường Để sau này sẽ đóng một vai trò đại diện
trong các chế độ, ở đấy toàn bộ chính quyền nằm trong ba viện, tất cả mọi nghị quyết đều phải lệ thuộc vào phiếu bầu của hạ viện trong tổng tuyển cử của công dân bầu ra: "Không kể sang hèn, giàu nghèo, lớn bé đều có quyền bỏ phiếu bầu cử" Ông viết tiếp : "Trên là vua, nên để hay nên truất, dưới là quan, nên thăng hay nên giáng, dân ta đều có quyền quyết đoán cả Nhưng vua tệ, quan hủ không hợp công đạo thì khi họp trong nghị viện dân ta hội nhau công nghị, được có quyền khiển trách, trừng phạt"
Cũng trong tác phẩm “Tân Việt Nam”, Phan Bội Châu viết: "Báo chí
sẽ được tự do, giáo dục sẽ không mất tiền, quan thuế được phân bố đúng đắn, hình phạt thể xác được bãi bỏ Những đạo luật mới được áp dụng sẽ là đạo luật của Nhật Bản và Châu tử ." Cương lĩnh này đưa ra như một
nguyên lý của một chế độ quân chủ lập hiến chứ không phải là nền quân chủ chuyên chế kèm theo một nghị viện bù nhìn
PBC cùng các sĩ phu đã suy tính rằng chỉ có cầu viện Nhật Bản mới may ra có kết quả “mà Nhật là nước quân chủ thì những người đi cầu viện tất
Trang 37Lại Thị Hương Page 37
phải so đường lối chính trị của mình với chế độ của nước Nhật (với chế độ quân chủ lập hiến) Nhưng khi “người anh cả da vàng” bộc lộ bản chất ĐQ,
ra mặt cấu kết với thực dân Pháp để đàn áp các chiến sĩ Đông Du, thì PBC và
cả nhóm sĩ phu cùng đi với cụ mới suy nghĩ xem xét lại sự lựa chọn mô hình Nhật Bản
Sau cách mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu càng ngưỡng mộ Chu Xuân (tức là Tôn Trung Sơn) hơn Ông từ Thái Lan về Trung Quốc hoạt động Khi
về hoạt động ở Trung Quốc, Phan Bội Châu cùng với các đồng chí của mình
tuyên bố giải tán Duy Tân hội, thành lập ra Việt Nam quang phục hội năm
1912 Mục đích của tổ chức cách mạng mới này là đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục lại Việt Nam, thành lập một chính thể mới: chính thể dân chủ cộng hoà Từ đó, theo Phan Bội Châu, đầu óc quân chủ "đã xếp vào một xó" Hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu gắn liền với vấn đề thay đổi thể chế chính trị Như vậy, phải qua 8 năm trải nghiệm, và dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng Tân Hợi, PBC mới cải tổ Duy Tân Hội thành VNQPH, chuyển từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ
*Từ đoàn kết dân tộc đến đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa thực dân
Dân tộc ta vốn có lòng yêu nước nồng nàn, truyền thống đoàn kết được hình thành từ rất sớm Đoàn kết đã trở thành sức mạnh của dân tộc ta trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Sau lần tổ chức đánh thành Nghệ An (1901) thất bại, Phan Bội Châu đã nhận thức được việc đánh đuổi thực dân Pháp không phải "một tay, một chân" là được mà phải là sức lực của nhiều người
Phan Bội Châu đã sớm có tư tưởng về việc hình thành khối đoàn kết dân tộc, mặt trận dân tộc chống đế quốc Đây là nhận thức mới của PBC về sức mạnh của QCND Tư tưởng đoàn kết của PBC gồm hai nội dung: đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế
Về tư tưởng đoàn kết dân tộc, PBC hô hào đoàn kết và tập hợp lực lượng trong 10 giới gồm: các nhà hào phú, các quan tại chức, con em nhà quyền quý, giáo đồ Thiên chúa, Đồ đảng và Hội đảng, thuỷ lục quân, giới phụ nữ, thông ngôn, ký lục và bồi bếp, con em các nhà bị tàn sát, học sinh hải ngoại
So với trước đây chỉ là sự đoàn kết vua tôi thì nét mới trong tư tưởng đoàn kết dân tộc của PBC, đó chính là tư tưởng đoàn kết đậm nét nhân văn, ông
Trang 38Lại Thị Hương Page 38
đã đánh giá cao tinh thần yêu nước của tất cả mọi người dân Việt Nam, từ người có chức vị cao đến những người có thân phận hèn kém, bao gồm tất cả các tầng lớp trong xã hội Mô hình của Mặt trận dân tộc thống nhất mà NAQ sau này đã kế thừa và phát triển Trong lực lượng này có rất nhiều lực lượng mới mà trước đây người ta không nói tới trong phong trào chống Pháp, đó là phụ nữ và những người theo đạo Thiên Chúa - cuối thế kỷ XIX, họ còn bị xem như tà đạo, binh lính người Việt trong quân đội Pháp
Từ đoàn kết dân tộc, PBC chủ trương hình thành nên đoàn kết quốc tế Trải qua quá trình phát triển, ban đầu chủ trương đoàn kết quốc tế trên cơ sở đồng văn, đồng chủng để các nước giúp đỡ lẫn nhau Trong thời kỳ hoạt động ở Nhật, Phan Bội Châu đã tính đến việc phải thành lập một mặt trận quốc tế Từ năm 1907, Phan Bội Châu đã tăng cường liên hệ với những người ở các nước thuộc Đông Nam Á đang ở Nhật Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Phan Bội Châu
là nhằm tập hợp lực lượng, khai thác sức mạnh và sự ủng hộ quốc tế để đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, lấy Trung Quốc làm trung tâm
Trước hết, Phan Bội Châu chủ trương kết giao với các "chí sĩ lưu vong của các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Philippin hiện đang sống ở Nhật Bản để cùng nhau bàn định, trao đổi kế hoạch cứu nước", chủ trương đó đã được nhiều đồng chí ủng hộ như Chương Bỉnh Lâm, Trương Kế Cảnh, Mai Kỷ, Triệu Tố Nga (Triều Tiên), đồng chí Đối (Ấn Độ), Hằng (Philipppin), Cung Kỳ
Cao Thiên (Nhật Bản) Trên cơ sở đó, sau một thời gian ngắn chuẩn bị, Hội
Đông Á đồng minh đã được thành lập vào năm 1908, phía Việt Nam có Phan
Bội Châu, Đặng Tử Kính, Nguyễn Quỳnh Lâm và một số nhân sĩ khác, gồm
hơn 10 người Hội Đông Á đồng minh nhằm thực hiện mục đích liên lạc giữa
các tổ chức cách mạng Đông Á, dìu dắt, giúp đỡ các dân tộc này nổi dậy lật đổ
ách thống trị của đế quốc phương Tây Trong tác phẩm Niên biểu, Phan Bội Châu viết về điều đó như sau: "Buổi đầu tiên tôi nghĩ liên hiệp toàn châu Á,
đoàn kết với các chí sĩ các nước bị mất, dìu dắt các dân tộc cùng bước lên san khấu cách mạng; một mặt thì tuyên truyền cách mạng để giáo dục nhân dân trong thời gian bị mất"
Ngoài việc liên hiệp với các dân tộc trong Đông Á đồng minh hội, Phan Bội Châu còn nhận thấy vị trí và ảnh hưởng to lớn của phong trào cách mạng Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là khi Hiệp ước Nhật - Pháp
Trang 39Lại Thị Hương Page 39
được ký kết, tổ chức Đông Du bị giải tán, những chí sĩ Việt Nam lần lượt bị
trục xuất khỏi Nhật Ông nói: "Ta với Trung Quốc quan hệ như môi với răng
mà Quảng Tây và Vân Nam lại quan hệ với ta mật thiết hơn cả" Do nhận
thức được mối quan hệ quan lại, khăng khít của Trung Quốc với Việt Nam, Phan Bội Châu đã tìm cách liên hệ, đoàn kết, tập hợp lưu học sinh ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam để thành lập Hội Điền-Quế-Việt liên minh Chủ trương này đã được các lưu học sinh Trung Quốc ở Nhật tán thành, ủng hộ
Về mặt tổ chức, Điền-Quế-Việt liên minh có Tổng hội và các chi hội nhỏ Như vậy, đến việc thành lập Điền-Quế-Việt liên minh, nhận thức của Phan Bội Châu về đoàn kết quốc tế đã có bước tiến mới Ông không chỉ chủ trương liên kết với các dân tộc "đồng bệnh" chung chung mà còn biết liên kết, xây dựng lực lượng, tạo nên sức mạnh đoàn kết quốc tế, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc (Không những vậy, sức mạnh đoàn kết quốc tế của cụ Phan còn được kết hợp với việc tuyên truyền cách mạng trong nước) Tư tưởng xây dựng mặt trrận đoàn kết quốc tế chống kẻ thù chung của Phan Bội Châu đã chứng tỏ tầm nhận thức và sự nhạy cảm cách mạng đặc biệt của ông trước yêu cầu của thời đại mới
Năm 1909, Phan Bội Châu đã quyên góp được ít tiền và mua 500 khâủ súng định chuyển về nước Nhưng lúc đó, đường biên giới Việt-Trung bị thực dân Pháp kiểm soát gắt gao; được tin Đảng Cách mạng Trung Hoa đang chuẩn bị chiếm thành Quảng Đông, ông đã đem tặng các đồng chí Trung Hoa hầu hết số súng đó Đây là một minh chứng nói lên tình cảm và tư tưởng tương trợ, đoàn kết của Phan Bội Châu với cách mạng Trung Quốc nói riêng và cách mạng ở các dân tộc "đồng bệnh" nói chung
Tuy nhiên, Phan Bội Châu chưa đủ khả năng hiểu được một cách sâu sắc, thấu đáo tình hình thế giới và trong nước Ông chưa có một chương trình hành động bao quát, cụ thể, rõ ràng để khai thác sức mạnh quốc tế cho công cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do Trong khi đó, tình hình cách mạng lại hết sức khó khăn, nguồn tài chính hoạt động chủ yếu dựa vào sự quyên góp Mặt khác, nội bộ thành phần các tổ Đông Á đồng minh hội và Điền-Quế-Việt liên minh cũng phức tạp, tổ chức lại lỏng lẻo Vì vậy, sau năm tháng thành lập, Hội Đông
Trang 40Lại Thị Hương Page 40
Á đồng minh đã bị chính phủ Nhật giải tán Còn Hội Điền-Quế-Việt liên minh chỉ tồn tại 3 tháng cũng bị "chính phủ Mãn Thanh và chính phủ Pháp cấu kết với chính phủ Nhật thủ tiêu"
Dù vậy, Phan Bội Châu cũng không nản chí, hễ có cơ hội để hoạt động
và đấu tranh cho giải phóng dân tộc thì cụ đều không bỏ lỡ Vì thế, khi được tin cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, chính phủ Trung Hoa dân quốc được thành lập thì "bầu máu nóng lại sôi lên sùng sục”, Phan Bội Châu từ Thái Lan trở lại Trung Quốc để hoạt động Lúc đó, ông đã phân tích tình hình và nhận thấy
rằng: "Chính phủ Trung Hoa bây giờ không phải là chính phủ thối nát như
trước và không kém gì Nhật Bản" và nếu hai nước này phối hợp, dốc toàn lực quét sạch giặc Âu châu thì không chỉ Việt Nam mà cả Ấn Độ, Phi Luật Tân cũng có thể độc lập "
Từ nhận thức đó, Phan Bội Châu lại tiếp tục thực hiện liên kết quốc tế,
viết Liên Á sô ngôn (lời kêu gọi mộc mạc về việc liên hiệp châu Á), Phúc Âm
châu Á kêu gọi nhân dân hai nước Trung Quốc và Nhật Bản "đồng lòng giúp
sức với Việt Nam để sửa sang, xây dựng đại cuộc châu Á" Đồng thời, Phan Bội Châu tích cực vận động thành lập Việt Nam Quang Phục Hội và thành lập Hội Chấn Hoa Hưng Á với mục đích liên hiệp những người cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam, làm cho Trung Quốc trở thành trung tâm cách mạng châu Á rồi viện trợ cho Việt Nam và các nước khác đánh được kẻ thù xâm lược
Như vậy, bằng việc thành lập Hội Đồng Á đồng minh, Hội
Điền-Quế-Việt liên minh, Hội chấn Hoa hưng Phan Bội Châu đã thể hiện rõ tư tưởng
đoàn kết quốc tế nhằm giải phóng dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp Tuy nhiên phạm vi đoàn kết quốc tế của ông cũng chỉ giới hạn ở các nước "đồng chủng, đồng văn, đồng bệnh" trong phạm vi châu Á mà Trung Quốc là trung tâm, chưa mở rộng tranh thủ sự ủng hộ, khai thác sức mạnh đoàn kết của các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới
Điểm hạn chế trong tư tưởng đoàn kết của PBC là: 1) ông chưa đề cập đến giai cấp nông dân vì cho rằng nông dân đã hòa vào trong lực lượng quần chúng nhân dân rộng lớn; ông cũng chưa nhận thấy vai trò của giai cấp công nhân 2) Tư tưởng đoàn kết quốc tế chỉ mới trong phạm trù châu Á
*Phan Bội Châu với việc tiếp thu tư tưởng cách mạng Xã hội chủ nghĩa