Các cấp độ câu hỏi trong đề đọc hiểu Hoạt động đọc hiểu một văn bản bao giờ cũng phải trải qua từng bước với các thao tác đòi hỏi kĩ năng và tư duy khác nhau.. Yêu cầu người đọc phải thể
Trang 1Quà tặng đặc biệt
Từ thầy Trịnh Quỳnh
GIẢI MÃ
BÍ MẬT 4 CÂU HỎI ĐỌC HIỂU
Trang 2Các cấp độ câu hỏi trong đề đọc hiểu
Hoạt động đọc hiểu một văn bản bao giờ cũng phải trải qua từng bước với các thao tác đòi hỏi kĩ năng và tư duy khác nhau Hệ thống câu hỏi thường đi từ dễ đến khó từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng và vận dụng cao Tùy mức độ câu hỏi yêu cầu mà đưa ra câu trả lời khác nhau để tiết kiệm thời gian mà vẫn trúng đích Trước khi đặt bút trả lời, hãy tự mặc định mục đích của câu hỏi ngay từ đầu để định hướng cách trả lời cho hiệu quả
Câu hỏi 1:
+ Nhận biết là câu hỏi ở cấp độ 1: chỉ cần
hoc sinh đọc kĩ văn bản để nhận ra phong
cách, phương thức biểu đạt hay nội dung
chính của văn bản… câu hỏi cấp độ này chỉ
cần trả lời thật ngắn gọn, đủ ý
Câu hỏi 2:
+ Thông hiểu là câu hỏi đòi hỏi bắt đầu tư duy và suy nghĩ để tìm câu trả lời, đôi khi câu trả lời nằm ở ngay phần văn bản Dạng câu hỏi thông hiểu thường là vì sao, ý nghĩa của, liệt kê các hình ảnh… học sinh không cần suy nghĩ quá sâu xa, không cần suy nghĩ ngoài văn bản
Câu hỏi 3:
+ Vận dụng là câu hỏi cấp độ 3 thường yêu
cầu học sinh nhận định đánh giá vấn đề
hoặc phân tích một phần văn bản Câu hỏi
này đòi hỏi học sinh có thái độ, quan điểm
riêng của bản thân Câu hỏi chưa đòi hỏi
khả năng hành văn nhưng ý phải rõ ràng,
mạch lạc
Câu hỏi 4:
+ Vận dụng cao là câu hỏi cấp độ 4 thường yêu cầu học sinh từ vấn đề đặt ra trong văn bản vận dụng vào giải quyết một tình huống thực tiễn Bạn phải vận dụng kiến thức xã hội cộng với khả năng hành văn để viết đoạn văn ngắn sao cho thật xúc tích, các ý không trùng lặp
Trang 3Doing to learn vs learning to do
(Làm để học và học để làm)
Trang 4Đọc hiểu văn bản theo cấu trúc của PISA
Như vậy, xu thế quốc tế hiện nay cho thấy sự mở rộng về văn bản đọc hiểu: có bao nhiêu loại văn bản trong cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy đọc hiểu trong nhà trường
phổ thông Ví dụ như một đơn thuốc, một thông báo, một trang báo, một cuộc tranh
luận… Việc dạy học đọc hiểu văn bản ở nhà trường phổ thông phải đảm bảo giúp HS
hình thành và phát triển năng lực đọc, vận dụng được vào thực tế đời sống của bản thân
Theo đó, PISA hướng trọng tâm tới kỹ năng đọc hiểu văn bản thông tin Cụ thể như PISA
2012 cho rằng khi đọc hiểu, người đọc phải hoàn thành 5 nhiệm vụ đọc như sau: lấy thông tin từ văn bản; tạo nên sự hiểu biết chung về văn bản; phát triển sự giải thích về văn bản; phản ánh và đánh giá về nội dung của văn bản; phản ánh và đánh giá về hình thức của
văn bản Năm nhiệm vụ trên được tổ chức thành ba khía cạnh chính: truy cập và lấy thông
tin; tích hợp và giải thích; phản ánh và đánh giá
PISA 2012 đã đưa ra các mức độ đọc hiểu xếp từ cao xuống thấp cho từng loại văn bản
Ở đây chỉ nói đến các mức độ đọc hiểu văn bản Có 6 mức độ đọc hiểu như sau:
- Mức độ 6: yêu cầu người đọc tạo ra được nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chi tiết và cụ thể Yêu cầu người đọc phải thể hiện/trình bày một cách đầy đủ và tỉ mỉ hiểu biết của mình về một hoặc nhiều văn bản và có thể tích hợp thông tin từ nhiều văn bản Nhiệm vụ này cũng có thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác nhau bằng việc nêu ra những ý tưởng/thông tin nổi bật, mang tính
khái quát của văn bản Phản ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa ra giả thuyết
hoặc phê bình về một văn bản có tính tổng hợp/đa dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc về văn bản Một điều kiện quan trọng đối với
phản ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm đến
từng chi tiết nhỏ trong văn bản
- Mức độ 5: liên quan đến việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ
chức một số mảng thông tin liên quan đến các ý nằm sâu trong văn bản Các nhiệm vụ
phản ánh đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến thức
chuyên sâu/chuyên ngành Cả hai nhiệm vụ diễn giải và phản ánh đều đòi hỏi một sự
hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một văn bản có nội dung hoặc hình thức mới Đối với tất
cả các khía cạnh của đọc, nhiệm vụ ở cấp độ này thường liên quan đến việc xử lí với các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường
- Mức độ 4: bao gồm việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một
số thông tin lấy từ trong văn bản Một số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải thích ý
nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào chỉnh thể của văn
bản Các nhiệm vụ diễn giải khác đòi hỏi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới Các nhiệm vụ phản ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử dụng các kiến thức cơ bản và
phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một văn bản Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một văn bản dài hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc
- Mức độ 3: đòi hỏi người đọc xác định vị trí, và trong một số trường hợp nhận ra các
mối quan hệ giữa một số thông tin Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này đòi hỏi người
Trang 5đọc tích hợp một số phần của một văn bản để xác định nội dung chính, hiểu một mối quan
hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ Người đọc cần phải đưa ra được những biểu hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại Các thông tin đưa ra thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/nhiễu, hoặc có những trở ngại khác từ văn bản, chẳng hạn như các ý tưởng (của người viết) trái với kỳ vọng/suy nghĩ
thông thường hoặc có những cách diễn đạt tiêu cực Những nhiệm vụ phản ánh ở mức
này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích, hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của văn bản Một số nhiệm vụ phản ánh yêu cầu độc giả chứng minh một
ý hay của văn bản liên quan đến tri thức hàng ngày
Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chi tiết văn bản, nhưng yêu cầu người đọc rút ra kiến thức ít phổ biến hơn
- Mức độ 2: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tin có thể
cần phải được suy ra và có thể gặp trong một số hoàn cảnh nhất định Những yêu cầu khác như nhận ra nội dung chính của một văn bản, hiểu các mối quan hệ, hoặc giải thích
ý nghĩa của một phần của văn bản được giới hạn khi thông tin là không nổi bật và người đọc phải đưa ra được suy luận ở mức độ thấp Các nhiệm vụ ở cấp độ này có thể liên quan đến việc so sánh hoặc tương phản dựa trên một đặc điểm nào đó của văn bản Các nhiệm
vụ phản ánh tiêu biểu ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh hoặc tạo ra sự kết nối giữa các văn bản và kiến thức bên ngoài, bằng cách dựa trên kinh nghiệm và thái độ của cá nhân
- Mức độ 1a: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều phần thông tin để
nhận ra chủ đề chính hay mục đích của tác giả trong một văn bản về một đề tài quen thuộc, hoặc để tạo ra một kết nối đơn giản giữa các thông tin trong các văn bản và kiến thức thông thường hàng ngày Thông thường các thông tin cần thiết trong văn bản là nổi bật và có rất ít tính cạnh tranh/nhiễu Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố liên quan trong nhiệm vụ và trong văn bản
- Mức độ 1b: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy
định rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một văn bản đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc về chủ đề và thể loại, chẳng hạn như một văn bản tự sự hay một bản danh sách đơn giản Các văn bản thông thường cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại các thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh tranh/nhiễu Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện các kết nối đơn giản giữa các thông tin gần kề nhau
Để đạt được các nhiệm vụ trên, trong quá trình dạy học đọc hiểu, HS cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
a) Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết về chủ
đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản)
b) Thể hiện những hiểu biết về văn bản:
- Tìm kiếm thông tin: đọc lướt để tìm ý chính; đọc kĩ để tìm các chi tiết
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, phân tích, so sánh, kết nối, tổng hợp… thông tin
để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
Trang 6+ Giải thích nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết, biện pháp tu từ
trong văn bản
+ Thu thập thông tin từ những yếu tố khác của văn bản như các bản đồ, biểu đồ,
đồ thị… (nếu có)
+ Chỉ ra được mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản
+ Sắp xếp các chi tiết trong văn bản theo một trình tự nhất định (theo thứ tự thời
gian hoặc không gian), phân loại các chi tiết được đưa ra
+ Nắm được ý chính của các đoạn trong văn bản
+ So sánh để chỉ ra sự tương đồng hoặc khác biệt giữa các tư tưởng/quan điểm (của
các nhân vật)
+ Phân tích các mô hình tổ chức trong văn bản: liệt kê/nêu trình tự các ý tưởng
hay sự kiện, so sánh – đối lập, nguyên nhân – kết quả, các lí do/tổng hợp-kết luận, vấn đề-giải pháp
+ Đưa ra những kết luận về văn bản từ các thông tin, quan điểm của người viết
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản:
+ Đánh giá các thông tin, các cảm xúc, suy nghĩ của người viết
+ Nhận ra những khuynh hướng tư tưởng của người viết (ví dụ: qua những từ ngữ, ngôn ngữ văn học mà người viết sử dụng)
+ Đưa ra những sự khái quát hóa ở mức độ phê bình bằng cách: kết nối/ so sánh với các văn bản khác (về thể loại, về các hình ảnh, chi tiết…)
+ Làm rõ phong cách của người viết ở các khía cạnh: sử dụng ngôn từ (từ vựng, ngữ pháp), sử dụng các kĩ thuật viết/biện pháp nghệ thuật, cách thức và quan điểm khi đề cập đến một chủ đề hoặc đề tài nào đó
c) Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn
bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống
yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu
+ Đọc các văn bản khác (ngoài chương trình, sách giáo khoa) có cùng đề tài/chủ đề hoặc hình thức thể hiện để củng cố những hiểu biết và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu
+ Suy luận để bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống có thể giải quyết bằng sự học hỏi từ nội dung của văn bản đã đọc hiểu
+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu
Tuy nhiên yêu cầu và phương pháp đọc hiểu của PISA phù hợp hơn với văn bản thông tin, có quan điểm khoa học, rõ ràng, khách quan Khoảng cách giữa các văn bản thông tin này và thực tiễn rất gần nhau vì vậy việc vận dụng tri thức đọc hiểu để giải quyết các vấn đề trong đời sống trở nên thiết thực hơn, dễ dàng hơn
Mục tiêu của việc tập trung phát triển những năng lực trên là xây dựng những con người hành động, có năng lực thực tiễn, cụ thể là:
- Khai thác được thông tin ở mọi văn bản trong cuộc sống
- Chủ động trong tiếp nhận và lựa chọn được những thông tin hữu ích đối với nhận thức và hành động của mình
Trang 7- Vận dụng được tri thức đọc hiểu tiếp nhận được để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
- Đưa ra những phản hồi, đánh giá về nội dung, hình thức, giá trị của văn bản
- Trình bày được quan điểm của bản thân, thuyết phục được người khác đồng ý với quan điểm của mình
Đề bài: Đọc đoạn văn sau để trả lời các câu hỏi bên dưới
Cách đây hai năm, các quốc gia trên thế giới đã nhất trí rằng để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS, cần phải có sự cam kết, nguồn lực và hành động Tại phiên họp đặc biệt vào năm 2001 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về HIV/AIDS, các quốc gia đã nhất trí thông qua Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS, trong đó đưa ra một loạt mục tiêu cụ thể kèm theo thời hạn để chiến đấu chống lại dịch bệnh này
Ngày hôm nay, chúng ta đã cam kết và các nguồn lực đã được tăng lên Song những hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế
Đến thời điểm này, ngân sách dành cho phòng chống HIV đã được tăng lên một cách đáng
kể, nhờ vào sự cam kết đóng góp tại từng quốc gia Đồng thời, vấn đề thành lập quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS, lao và sốt rét cũng đã được thông qua
Đại đa số các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS của mình Ngày càng có nhiều công ti áp dụng chính sách phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc Nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng đã luôn đi đầu trong cuộc chiến chống AIDS, hiện đang hoạt động tích cực trong việc phối hợp chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức khác để cùng nhau ứng phó với bệnh dịch này
Nhưng cũng chính lúc này, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm Trong năm năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV
Ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ Giờ đây phụ nữ đã chiếm tới một nửa trong tổng số người bị nhiễm trên toàn thế giới
Bệnh dịch này đang lan rộng nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn – đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ châu Á, từ dãy núi U- ran đến Thái Bình Dương
(Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1/12/2003 - Cô-phi An-nan)
Câu 1: Trên đây là đoạn mở đầu của văn bản Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống
aids, 1/12/2003 của tác giả Cô - phi An –nan, Tổng thư kí Liên hiệp quốc (1997- 2007)
Mở đầu văn bản, tác giả nhiều lần nhắc về thời gian hiện tại Ngày hôm nay …, Đến thời
điểm này…, cũng chính lúc này… nhằm mục đích gì?
a Động viên các nước đang có những hoạt động tích cực phòng chống HIV/ AIDS
b Tổng hợp tình hình hiện tại của việc phòng chống HIV/ AIDS
c Khẳng định những nguy cơ của bệnh dịch HIV/ AIDS trong hiện tại
d Định hướng lý do cấp bách của bản thông điệp
Câu 2:
Trang 8Cô-phi An-nan không nêu tổng số người nhiễm HIV trong một năm mà thống kê số người
bị nhiễm HIV trong một phút mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người
bị nhiễm HIV Hiệu quả cách đưa dữ liệu ấy?
a Giảm nỗi sợ hãi của người đọc trước sự hoành hoành của bệnh dịch HIV
b Gây ấn tượng mạnh mẽ về sự hoành hoành dữ dội của bệnh dịch HIV
c Dễ ghi nhớ số liệu được thống kê
d Khẳng định chắc chắn bệnh dịch HIV xảy ra chưa được một năm
Câu 3:
Bệnh dịch HIV gây tử vong cao, giảm sút tuổi thọ của con người, mức độ lây lan với tốc
độ báo động ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn
Anh/chị sẽ làm gì để làm chậm lại và ngăn chặn hậu quả nhiễm HIV ở địa phương mình?
Trang 9Mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời
Kỹ thuật QAR (QtA)
Đọc thành công không chỉ đơn giản là quá trình cơ học của "giải mã" văn bản Thay vào đó, nó là một quá trình điều tra tích cực Các độc giả có năng lực tiếp cận văn bản với các câu hỏi và phát triển các câu hỏi mới khi họ đọc, ví dụ:
Nội dung cơ bản của văn bản này là gì?
Quan điểm của tác giả muốn là nói gì?
Tác giả đã truyền đạt được điều đó chưa? Nếu vậy thì sao?
Ngay cả sau khi đọc, độc giả tham gia vẫn đặt câu hỏi:
Ý nghĩa của những gì tôi đã đọc?
Tại sao tác giả kết thúc đoạn văn (hoặc chương, hoặc cuốn sách) theo cách này? Mục đích của tác giả trong việc viết bài này là gì?
Bằng cách này, đọc trở thành một sự hợp tác giữa người đọc và tác giả Tác phẩm của tác giả là đặt câu hỏi và trả lời chúng - hoặc cung cấp một số câu trả lời có thể Người đọc hợp tác bằng cách đặt các câu hỏi đúng, chú ý cẩn thận đến các câu trả lời của tác giả, và đặt câu hỏi của riêng mình
Cấp độ 1: Trong văn bản
Ngay tại văn bản
Những loại câu hỏi này là câu hỏi theo nghĩa đen Bởi vì câu trả lời nằm trong một câu của văn bản; câu hỏi và câu trả lời thường có cùng một từ ngữ Câu trả lời thường là đáp án ngắn, thông thường chỉ có một câu trả lời đúng cho câu hỏi dạng này Về mặt hình thước, có những cụm từ thường được sử dụng cho kiểu câu hỏi này:
Văn bản hình thức gì, thuộc loại văn bản nào?
Trong đoạn văn bản, ai là…? ở đâu….?
Sự việc này diễn ra ở đâu? Trong bối cảnh nào?
Những gì là…?
Bao nhiêu…?
Suy nghĩ và tìm kiếm
Câu trả lời có thể được tìm thấy trong một số phần của văn bản Tuy nhiên không dừng ở việc trích lại thông tin, chi tiết có sẵn, câu hỏi dạng này đòi hỏi độc giả phải tư duy về thông tin ấy xem chúng có liên quan như thế nào giữa các phần của văn bản từ đó
mà cắt nghĩa, lí giải, đưa ra câu trả lời Câu hỏi và trả lời có những đoạn văn khác nhau Câu trả lời thường là câu trả lời ngắn
Một số ví dụ về cụm từ được sử dụng cho các câu hỏi suy nghĩ và tìm kiếm:
Lý do gì ?
Như thế nào ?
Tại sao đã ?
Điều gì đã gây ra ?
Cấp độ 2: Trong đầu tôi
Học sinh phải sử dụng kiến thức nền tảng có sẵn để trả lời những loại câu hỏi này
Trang 10 Tác giả và tôi
Câu trả lời cho câu hỏi bắt nguồn từ cả hai manh mối trong văn bản và kiến thức sẵn
có của học sinh Sinh viên phải tổng hợp văn bản để hiểu đầy đủ câu hỏi Đây là kiểu câu hỏi sáng tạo tạo ra kết nối trong hoạt động đọc, đào sâu những tầng ngữ nghĩa phía sau câu chữ
Một số ví dụ về cụm từ được sử dụng cho câu hỏi tác giả và tôi:
Tác giả ngụ ý gì…?
Quan điểm của tác giả…?
Điều tác giả nói có gì giống và khác biệt với những văn bản khác?
Bạn đã đồng ý với ?
Bạn nghĩ gì về ?
Suy nghĩ riêng tôi
Câu trả lời hoàn toàn dựa trên kiến thức của học sinh Những câu hỏi này đòi hỏi suy luận và trình bày quan điểm cá nhân Các câu trả lời không đòi hỏi thông tin từ văn bản nhưng yêu cầu học sinh phải đưa ra một số đánh giá về hoặc liên quan đến chủ đề của văn bản Đòi hỏi đây phải là những câu hỏi mở vì tri thức, trải nghiệm và quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi độc giả trước văn bản có thể có những khác biệt
Một số ví dụ về cụm từ được sử dụng cho câu hỏi Suy nghĩ của riêng tôi:
Bạn có biết ?
Bạn có bao giờ ?
Theo ý kiến của bạn thì….?
Điều gì khiến bạn tâm đắc?
Dựa vào trải nghiệm của chính bạn…