LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ “Đo lường mức độ ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành
Trang 1
TRIỆU PHƯƠNG HỒNG
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THÀNH
TỐ ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2TRIỆU PHƯƠNG HỒNG
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THÀNH
TỐ ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM NGỌC TOÀN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ “Đo lường mức độ ảnh hưởng của các thành
tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong các nghiên cứu nào khác trước đây
Học viên
Triệu Phương Hồng
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.2 Các nghiên cứu trong nước 6
1.3 Khe hổng nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 9
2.1.1 Sơ lược sự ra đời và phát triển các lý thuyết kiểm soát nội bộ 9
2.1.1.1 Giai đoạn sơ khai 9
2.1.1.2 Giai đoạn hình thành 10
2.1.1.3 Giai đoạn phát triển 10
2.1.1.4 Thời kỳ hiện đại (thời kỳ hậu COSO – từ 1992 đến nay) 11
2.1.2 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ 12
2.1.3 Các thành phần của hệ thống Kiểm Soát Nội Bộ 14
2.1.3.1 Môi trường kiểm soát 14
2.1.3.2 Đánh giá rủi ro 15
2.1.3.3 Hoạt động kiểm soát 16
2.1.3.4 Thông tin truyền thông 16
2.1.3.5 Hoạt động giám sát 18
2.1.4 Lợi ích và hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ 19
2.1.4.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ 19
2.1.4.2 Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ 19
Trang 52.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu 20
2.2.1 Khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu 20
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ 21
2.2.2.1 Môi trường kiểm soát 21
2.2.2.2 Đánh giá rủi ro 22
2.2.2.3 Hoạt động kiểm soát 22
2.2.2.4 Thông tin và truyền thông 22
2.2.2.5 Hoạt động giám sát 23
2.2.2.6 Công nghệ thông tin 23
2.3 Lý thuyết nền 23
2.3.1 Lý thuyết hỗn độn 24
2.3.2 Lý thuyết ngẫu nhiên 24
2.4 Đặc điểm hoạt động của ngành xây dựng ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống Kiểm soát nội bộ 25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Phương pháp nghiên cứu 29
3.2 Quy trình nghiên cứu 29
3.3 Thiết kế nghiên cứu 31
3.3.1 Thiết kế bảng câu hỏi trong nghiên cứu định lượng 31
3.3.2 Mẫu nghiên cứu 31
3.3.3 Thang đo 32
3.3.3.1 Thang đo môi trường kiểm soát 32
3.3.3.2 Thang đo đánh giá rủi ro 33
3.3.3.3 Thang đo hoạt động kiểm soát 34
3.3.3.4 Thang đo thông tin và truyền thông 34
3.3.3.5 Thang do hoạt động giám sát 34
3.3.3.6 Thang đo công nghệ thông tin 35
3.3.3.7 Thang đo tính hữu hiệu của HTKSNB 35
3.3.4 Thu thập dữ liệu 36
Trang 63.3.5 Phân tích dữ liệu 36
3.4 Mô hình nghiên cứu 37
3.4.1 Mô hình nghiên cứu 37
3.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thực trạng ngành xây dựng tại Việt Nam hiện nay 41
4.2 Kết quả nghiên cứu 42
4.2.1 Thống kê mô tả mẫu 42
4.2.2 Dữ liệu nghiên cứu 42
4.2.3 Đánh giá thang đo 43
4.2.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 43
4.2.3.2 Đánh giá giá trị thang đo 47
4.2.4 Phân tích hồi quy đa biến 51
4.2.4.1 Mô hình hồi quy tổng thể 51
4.2.4.2 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 52
4.2.4.3 Kiểm định trọng số hồi quy 53
4.2.4.4 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 53
4.2.4.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan của phần dư 54
4.2.4.6 Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dư 54
4.2.4.7 Kiểm định giả định phương sai của sai số (phần dư) không đổi 56
4.2.4.8 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 59
4.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 63
5.2.1 Đối với môi trường kiểm soát 64
5.2.2 Đối với hoạt động đánh giá rủi ro 65
5.2.3 Đối với hoạt động kiểm soát 66
5.2.4 Đối với thông tin và truyền thông 67
Trang 75.2.5 Đối với hoạt động giám sát 68
5.2.6 Đối với công nghệ thông tin 69
5.3 Hạn chế và định hướng trong tương lai 71
KẾT LUẬN CHUNG 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
toán viên công chứng Hoa Kỳ
mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan
Commission - Ủy ban chống gian lận báo cáo tài chính
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Các giả thuyết nghiên cứu
Bảng 4.1 Kết quả phân tích Crobach’s Alpha cho thang đo biến độc lập
Bảng 4.2 Kết quả phân tích Crobach’s Alpha cho thang đo biến phụ thuộc
Bảng 4.3 Kiểm định KMO và Bartlett cho thang đo các biến độc lập
Bảng 4.4 Bảng phương sai trích cho thang đo biến độc lập
Bảng 4.5 Ma trận nhân tố xoay
Bảng 4.6 Kiểm định KMO và Bartlett cho thang đo biến phụ thuộc
Bảng 4.7 Bảng phương sai trích cho thang đo biến phụ thuộc
Bảng 4.8 Ma trận nhân tố biến phụ thuộc
Bảng 4.9 Bảng tóm tắt mô hình hồi quy
Bảng 4.10 Bảng ANOVA
Bảng 4.11 Bảng trọng số hồi quy
Bảng 4.12 Kết quả phân tích tương quan Spearman giữa các biến độc lập và biến
phụ thuộc
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu
Hình 4.1 Đồ thị Histogram của phần dư đã chuẩn hóa
Hĩnh 4.2 Đồ thị P-P Plot của phần dư đã chuẩn hóa
Hình 4.3 Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngành xây dựng giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một trong những lĩnh vực sản xuất vật chất lớn của nền kinh tế quốc dân Ngành xây dựng tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và những tài sản cố định mới, phục vụ đời sống con người và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển Những báo cáo gần đây nhất cho thấy nền kinh tế đang trên đà phục hồi, ngành Xây dựng đang có được những cơ hội phát triển tốt Theo số liệu báo cáo của
Bộ Xây dựng (2016), trong năm 2015, các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu của ngành Xây dựng tiếp tục tăng trưởng khá, giá trị tăng thêm của ngành đạt mức cao nhất kể từ năm 2010 Cụ thể, theo giá hiện hành, giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2015 đạt khoảng 974 nghìn tỷ đồng (tăng 11,4% so với năm 2014); tính theo giá so sánh năm 2010 đạt khoảng 778 nghìn tỷ đồng (tăng 11,2% so với năm 2014, tăng 40,2% so với cuối năm 2010, bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng khoảng 7%/năm) (Bộ xây dựng, 2016) Theo giá so sánh năm 2010, giá trị tăng thêm của ngành Xây dựng năm 2015 đạt khoảng 172 nghìn tỷ đồng, tăng 10,82% so với năm 2014, chiếm tỷ trọng 5,9% GDP cả nước và là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010 (Bộ xây dựng, 2016)
Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển thị trường ngành Xây dựng, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng cũng diễn ra ngày càng khốc liệt, nguy cơ các doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro cũng ngày càng tăng Do đó, nếu các doanh nghiệp không có biện pháp kiểm soát và đối phó hiệu quả, chắc chắn sẽ bị thua lỗ, thiệt hại lớn Hiện nay, đa số các sự thua lỗ trong các doanh nghiệp xây dựng đều có nguyên nhân từ sự yếu kém và hệ thống kiểm soát nội bộ lõng lẽo Các điểm yếu trong hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ gây tổn thất cho doanh nghiệp về khía cạnh hoạt động và ngăn cản doanh nghiệp đạt được nhiệm vụ, mục tiêu của mình Chính vì vậy, một hệ thống Kiểm soát nội bộ hữu hiệu đang là một nhu cầu bức thiết, một công cụ tối ưu để xác định sự an toàn của nguồn vốn đầu tư, xác định hiệu quả điều
Trang 12hành của Ban điều hành doanh nghiệp cũng như kịp thời nắm bắt hiệu quả hoạt đông
Theo sự tìm hiểu của tác giả, có rất ít các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty thuộc lĩnh vực xây dựng Trong khi đó, kiểm soát nội bộ - một khái niệm ra đời từ rất lâu, đã ngày càng trở nên quen thuộc đối với các doanh nghiệp Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng được thể hiện rõ rệt trong việc phát hiện, ngăn chặn các rủi ro, sai sót, gian lận…, giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình Tuy nhiên, phần lớn các luận văn liên quan đến kiểm soát nội bộ hiện nay chỉ dừng lại ở việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại một doanh nghiệp cụ thể, tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ chưa được nhận thức và quan tâm đúng mức tại các doanh nghiệp xây dựng Việt
Nam
Nhận thấy được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác điều hành quản lý và nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Đo lường mức độ ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Đo lường mức độ ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu cụ thể:
(1) Đo lường mức độ tác động của các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (2) Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu cần trả lời được các câu hỏi sau:
Trang 13(1) Mức độ ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn Tp HCM như thế nào? (2) Các biện pháp nào để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống KSNB và các thành tố ảnh hưởng đến tính hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
+ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2016 đến tháng 10/2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính kết hợp với phương pháp định lượng
- Phương pháp định tính: Tổng kết các lý thuyết có liên quan, xây dựng dàn bài thảo luận và tiến hành các cuộc thảo luận tay đôi (phỏng vấn các chuyên gia có liên quan đến vấn đề nghiên cứu), phân tích dữ liệu định tính, từ đó đưa ra giả thuyết nghiên cứu Những giả thuyết được xây dựng trong phần này sẽ được kiểm định bằng nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai
- Phương pháp định lượng: Dựa vào các lý thuyết và những nghiên cứu trước đây để đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu Từ đó xây dựng thang đo, bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu Dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý, phân tích bởi phần mềm thống kê SPSS
5 Ý nghĩa đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Khái quát hóa và phát triển những vấn đề lý luận về hệ thống KSNB, đóng góp
về mặt lý luận xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn Tp HCM
- Vận dụng phương pháp kiểm định mô hình hồi quy đa biến để đo lường mức
Trang 14độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Ý nghĩa thực tiễn:
Đo lường được mức độ ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu của HTKSB Từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn Tp HCM
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm những nội dung sau:
Phần mở đầu
Trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài, và kết cấu của đề tài
Phần nội dung: bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và Kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
- Amudo, A & Inanga, E.L (2009), Evaluation of Internal Control Systems: A Case Study from Uganda Interational Research Journal of Fiance and Econmics – Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ: trường hợp nghiên cứu tại Uganda Tạp chí nghiên cứu quốc tế về Kinh tế Tài Chính Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu các nước thành viên khu vực (RMCs) của Tổ chức Ngân Hàng Phát Triển Châu Phi (AFDB) tập trung vào Uganda ở Đông Phi Nghiên cứu này được tiến hành đối với
11 dự án, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kết hợp phân tích
để đánh giá các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Uganda và đưa ra các
đề xuất khác nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong hệ thống Trong mô hình nghiên cứu của tác giả có 6 thành phần ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát và công nghệ thông tin Kết quả của nghiên cứu cho thấy ngoài 5 thành phần của hệ thống KSNB, nhân tố công nghệ thông tin cũng
có ảnh hưởng đáng kể đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
- Annukka Jokipii (2010), Determinants and consequences of internal control in firms: A contingency theory based analysis – Các yếu tố và tầm quan trọng của kiểm soát nột bộ trong các công ty: Lý thuyết ngẫu nhiên trên cơ sở sự phân tích Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu 741 công ty có quy mô vừa và lớn ở Phần Lan Nghiên cứu tập trung vào kiểm soát nội bộ và sự hữu hiệu của kiểm soát nội
bộ, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát thang đo likert 7 điểm Kết quả nghiên cứu cho thấy để đo lường tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, phải dựa trên việc đạt được các mục tiêu của nó, bao gồm sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, thông tin đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định, đồng thời, sự hiện diện đầy đủ
và thực hiện đúng chức năng của năm thành phần liên quan đến từng loại mục tiêu của tổ chức sẽ đảm bảo cho sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
- Philip Ayagre (2014), The effectiveness of Internal Control Systems of banks:
Trang 16The case of Ghanaian banks – Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng: Trường hợp tại các ngân hàng Ghana Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu ở các ngân hàng tại quốc gia Ghana Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu đượng thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát dựa trên thang đo likert 5 điểm Tác giả tập trung nghiên cứu đánh giá về 2 thành phần của
hệ thống kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểm soát và hoạt động giám sát Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự kiểm soát vững chắc tồn tại trong thành phần môi trường kiểm soát và hoạt động giám sát trong hệ thống kiểm soát nội bộ ở các ngân hàng tại Ghana
1.2 Các nghiên cứu trong nước
- Chung Ngọc Quế Chi (2013), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại công
ty TNHH Sản xuất giày – xây dựng An Thịnh”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh Trên cơ sở tổng hợp những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp, kết hợp với việc khảo sát, tiếp cận hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH sản xuất giầy - Xây dựng An Thịnh trong điều kiện sản xuất hiện tại, và dựa vào những đặc điểm của ngành xây lắp Qua nghiên cứu, tác giả đã rút kết được những nhược điểm trong hệ thống kiểm soát nội
bộ tại công ty An Thịnh, đồng thời đưa các giải pháp tăng cường, hoàn thiện hơn hệ thống kiểm soát nội bộ cho công ty, giúp công ty phòng ngừa rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động
- Nguyễn Hữu Bình (2014), “Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán của các doanh nghiệp tại Tp Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh Nghiên cứu được tiến hành tại các doanh nghiệp ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Tác giả sử dụng phương pháp tổng kết và so sánh, phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng Qua nghiên cứu thực trạng tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã xây dựng được thang đo (sơ bộ) cho các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và xác định được ảnh hưởng của những thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đến chất
Trang 17lượng hệ thống thông tin kế toán và xác định ảnh hưởng của mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán
- Nguyễn Thanh Trang (2015), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Học viện tài chính Luận án đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp có cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra để thu thập thông tin, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa thông tin Qua nghiên cứu, luận án đã trình khá đầy đủ đặc điểm của ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam có ảnh hưởng tới hệ thống KSNB và đề cập đến một số rủi ro mà các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam phải đối mặt, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện với các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB được mở rộng gồm 05 bộ phận là: môi trường kiểm soát; quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị;
hệ thống thông tin và truyền thông; các hoạt động kiểm soát; và giám sát các kiểm soát
- Hồ Tuấn Vũ (2016), Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam Nghiên cứu khảo sát
37 ngân hàng thương mại tại Việt Nam, sử dụng phương pháp phỏng vấn các chuyên gia kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả đã xác định được 7 nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đó là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát, thể chế chính trị và lợi ích nhóm
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Kết quả tổng kết các nghiên cứu có liên quan cho thấy tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ từ đó cho thấy nhu cầu cần thiết phải xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu
Các nghiên cứu đều cho rằng sự hiện hữu và hữu hiệu của năm thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ chính là những nhân tố quyết định, ảnh hưởng đến sự hữu
Trang 18hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Amudo, A & Inanga, E.L (2009) cũng cho thấy rằng nhân tố công nghệ thông tin cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Ở Việt Nam, tuy có rất nhiều nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ, nhưng chủ yếu là nghiên cứu định tính, và có rất ít các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty thuộc lĩnh vực xây dựng Nghiên cứu của
Hồ Tuấn Vũ (2016) là một trong những nghiên cứu định lượng hiếm hoi về các nhân tố ảnh hưởng tới tính hữu hiệu của HTKSNB Tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện trên các ngân hàng thương mại, câu hỏi đặt ra là liệu có phù hợp khi đem kết quả này áp dụng cho các doanh nghiệp phi tài chính, cụ thể là các công ty xây dựng?
Vì vậy, từ mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB của các tác giả trước, tác giả thực hiện nghiên cứu định lượng, xây dựng mô hình và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 này tác giả giới thiệu một cách tổng quát các nghiên cứu trên thế giới
và tại Việt Nam có liên quan đến đề tài Từ đó, làm cơ sở để tác giả xác định vấn đề nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của luận văn Kết quả tổng kết nghiên cứu cũng hỗ trợ cho tác giả trong việc xây dựng nên các giả thuyết nghiên cứu, cũng như đánh giá được các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng Sau đó, dựa trên cơ sở những nghiên cứu đã tổng kết, tác giả tiến hành đánh giá các nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu cũng như định hướng nghiên cứu cho luận văn Ngoài ra, chương này cũng trình bày điểm khác biệt của đề tài với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam Đề tài “Đo lường mức độ ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” trong điều kiện hiện nay vẫn còn là một vấn đề cấp thiết
Trang 19CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.1 Sơ lược sự ra đời và phát triển các lý thuyết kiểm soát nội bộ
2.1.1.1 Giai đoạn sơ khai
Vào những năm cuối thế kỷ 19, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển mạnh mẽ, quyền sở hữu của các cổ đông tách rời quyền quản lý, các kênh cung cấp vốn cũng phát triển kịp thời để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô của các doanh nghiệp Để
có thế cung cấp vốn, các kênh cung cấp vốn cần có cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính có thể tin cậy được của các doanh nghiệp Điều này dẫn đến sự ra đời của các công ty kiểm toán độc lập, các công ty kiểm toán đảm nhiệm chức năng xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính
Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đã sớm nhận thức rằng không cần thiết phải kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, mà chỉ chọn mẫu, và dựa vào sự tin tưởng vào hệ thống KSNB do đơn vị được kiểm toán sử dụng trong việc xử lý, tập hợp các thông tin để lập BCTC Vì vậy các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến KSNB Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và từ cuộc cách mạng công nghiệp
Đến năm 1905, Robert Montgomery, đồng thời cũng là sáng lập viên, của công ty kiểm toán Lybrand, Ross Bros & Montgomery, đã đưa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến KSNB trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” Đến năm 1929, thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” được đề cập chính thức trong một Công bố của Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), theo đó KSNB được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động
Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) cũng đã đưa
ra định nghĩa về KSNB Đặc biệt là sau vụ phá sản của các công ty lớn có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán như công ty Mc Kesson & Robbins, Drayer Hanson… thì việc nghiên cứu và đánh giá về KSNB ngày càng được chú trọng
Trang 202.1.1.2 Giai đoạn hình thành
Vào năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề là: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và với kiểm toán viên độc lập”
Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB như SAP 29 (1958), SAP
33 (1962), SAP 54 (1972), SAS 1 (1973)…
Như vậy, trong suốt thời kỳ trên, khái niệm về KSNB đã không ngừng được
mở rộng và ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán Tuy nhiên, KSNB vẫn mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC trước khi báo cáo COSO (1992) ra đời
2.1.1.3 Giai đoạn phát triển
Vào những thập niên 1970-1980, nền kinh tế Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia khác đã phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đó, các vụ gian lận cũng ngày càng tăng, với quy mô ngày càng lớn, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh tế
Năm 1979, SEC bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác
kế toán ở đơn vị mình
Yêu cầu về báo cáo kiểm soát nội bộ của công ty cho công chúng là một chủ
đề gây ra nhiều tranh luận Các tranh luận cuối cùng đã đưa đến việc thành lập Ủy ban COSO vào năm 1985 COSO (The Committtee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commisson) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (The National Commisson on Fraudulent Financial Reporting hay còn gọi là Treadway Commission) Hội đồng quốc gia này được thành lập dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức là: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA)
Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về
Trang 21KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống nhất KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả các phương diện hoạt động và tuân thủ
2.1.1.4 Thời kỳ hiện đại (thời kỳ hậu COSO – từ 1992 đến nay)
Sau báo cáo COSO 1992, hàng loạt nghiên cứu về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời
Phát triển về phía quản trị
Dựa trên cơ sở báo cáo COSO 1992 Năm 2004, COSO chính thức ban hành Báo cáo COSO 2004 (ERM – Enterprise Risk Management Framework)
Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ
Năm 2006, COSO triển khai nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (gọi tắt là COSO Guidance 2006)
Phát triển theo hướng công nghệ thông tin
Năm 1996, Bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan” (CoBIT – Control Objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA – Information System Audit and Control Association) ban hành COBIT nhấn mạnh đến kiểm soát nội bộ trong môi trường tin học, bao gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát
Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập
Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB, bao gồm SAS 78 (1995), SAS 94 (2001) Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA – International Standard on Auditing) cũng sử dụng Báo cáo của COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC, cụ thể là: ISA 315 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu”, ISA 265 “Thông báo về những khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ”
Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ
Trang 22Các chuẩn mực của Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) không đi sâu nghiên cứu các thành phần của KSNB, vì IIA là một thành viên của COSO nên về nguyên tắc không có sự khác biệt giữa định nghĩa của IIA và COSO IIA định nghĩa các mục tiêu của KSNB gồm:
- Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin
- Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định
- Bảo vệ tài sản
- Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực
Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động hoặc chương trình
Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể
Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) đã đưa ra công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng Báo cáo Basel (1998) không đưa ra những lý luận mới mà chỉ vận dụng các lý luận cơ bản của COSO vào lĩnh vực ngân hàng
Hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ
Năm 2008, COSO cũng đưa ra Dự thảo Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm nâng cao hiệu quả giám sát đối với KSNB trong đơn vị
Vào năm 2013, COSO đã cập nhật khuôn mẫu hệ thống KSNB nhằm hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó
giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của đơn vị
2.1.2 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu KSNB đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau Hiện nay, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO
Theo báo cáo COSO (2013) “Kiểm soát nội bộ là một quá trình ảnh hưởng bởi Ban giám đốc, nhà quản lý và các cá nhân của tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp
bộ theo báo cáo COSO (2013) nhấn mạnh đến bốn nội dung quan trọng, bao gồm:
Trang 23- Quá trình: kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay một tình huống
riêng lẻ mà bao gồm một chuỗi các hoạt động có mối liên hệ với nhau, hiện diện ở mọi bộ phận, mọi hoạt động của tổ chức (COSO, 2013)
- Con người: kiểm soát nội bộ bị ảnh hưởng bởi yếu tố con người, chính con
người thiết lập ra các mục tiêu; xây dựng các chính sách, thủ tục và vận hành chúng để đạt được những mục tiêu Con người ở đây bao gồm hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức Trong đó, hội đồng quản trị là một yếu tố quan trọng của kiểm soát nội bộ, tầm quan trọng này thể hiện qua trách nhiệm giám sát của hội đồng quản trị thông qua việc đưa ra những lời khuyên và những hướng dẫn đối với nhà quản lý, phê chuẩn những chính sách, những giao dịch, và giám sát các hoạt động của nhà quản lý Ngoài ra, hội đồng quản trị và nhà quản lý cấp cao là những người thiết lập sắc thái cho tổ chức liên quan đến tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ và những tiêu chuẩn đạo đức được mong đợi trong tổ chức (COSO, 2013)
- Đảm bảo hợp lý: một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu chỉ có thể cung cấp
cho hội đồng quản trị và ban giám đốc một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu, chứ không phải là một sự đảm bảo tuyệt đối Điều này xuất phát từ những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến những sai sót của con người, sự thông đồng, sự lạm quyền của nhà quản lý hay ảnh hưởng của những sự kiện tiềm tàng bên ngoài… (COSO, 2013)
- Các mục tiêu: kiểm soát nội bộ được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo
hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức Các mục tiêu này bao gồm:
+ Mục tiêu hoạt động: những mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và
hiệu quả của các hoạt động của tổ chức, bao gồm những mục tiêu về thành quả hoạt động, thành quả tài chính, và đảm bảo an toàn cho tài sản
+ Mục tiêu báo cáo: những mục tiêu này liên quan đến việc lập các báo cáo
tài chính, phi tài chính bên trong và bên ngoài tổ chức và có thể bao gồm tính đáng tin cậy, tính kịp thời, tính minh bạch hay những tiêu chuẩn khác
+ Mục tiêu tuân thủ: những mục tiêu này liên quan đến sự tuân thủ luật pháp
Trang 24và các quy định mà tổ chức bị chi phối
2.1.3 Các thành phần của hệ thống Kiểm Soát Nội Bộ
COSO (2013) đã đưa ra năm thành phần của kiểm soát nội bộ và 17 nguyên tắc đại diện cho những khái niệm nền tảng liên quan đến từng thành phần Những thành phần và nguyên tắc này của kiểm soát nội bộ phù hợp với tất cả các tổ chức Tất cả
17 nguyên tắc có thể áp dụng cho từng nhóm mục tiêu (hoạt động, báo cáo, tuân thủ), cũng như các mục tiêu cụ thể trong mỗi nhóm
2.1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, các quy trình, và các cấu trúc làm cơ sở cho việc thực hiện kiểm soát nội bộ trong tổ chức Hội đồng quản trị và quản lý cấp cao thiết lập sắc thái từ cấp trên liên quan đến tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ và những tiêu chuẩn về đạo đức được mong đợi
Môi trường kiểm soát bao gốm tính chính trực và các giá trị đạo đức; trách nhiệm giám sát quản lý của hội đồng quản trị; cơ cấu tổ chức và phân định quyền hạn và trách nhiệm; đảm bảo năng lực nhân viên; chính sách nhân sự Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB Điều này không chỉ đúng trong giai đoạn thiết kế mà cả trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp Theo COSO (2013), Môi trường kiểm soát gồm 5 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1: Tổ chức chứng minh các cam kết về tính trung thực và giá trị đạo đức Điều này thể hiện rằng người quản lý phải chứng tỏ đơn vị quan tâm đến tính trung thực và giá trị đạo đức
- Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải chứng tỏ sự độc lập với người quản lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ
- Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị cần thiết lập
cơ cấu tổ chức, các loại báo cáo, phân định trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị
- Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về việc sử dụng nhân viên có năng lực thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với
Trang 25mục tiêu của đơn vị
- Nguyên tắc 5: Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức
2.1.3.2 Đánh giá rủi ro
Rủi ro được định nghĩa là khả năng một sự kiện sẽ xảy ra và ảnh hưởng xấu đến việc đạt được các mục tiêu Rủi ro ảnh hưởng đến sự tồn tại của mỗi đơn vị, đến sự thành công, tình hình tài chính, hình ảnh của đơn vị Không có cách nào để triệt tiêu rủi ro vì vậy nhà quản lý phải quyết định một cách thận trọng mức rủi ro như thế
nào là có thể chấp nhận được và cố gắng duy trì rủi ro ở mức cho phép
Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng và phân tích những rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu, là cơ sở cho việc quản trị được rủi ro Mọi tổ chức, không phân biệt quy mô, cấu trúc, ngành nghề , đều phải đối mặt với nhiều rủi ro từ các nguồn bên trong và bên ngoài, ở tất cả các cấp độ
Điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro là thiết lập mục tiêu Mục tiêu phải được thiết lập ở các mức độ khác nhau và phải nhất quán Nhà quản lý xác định các mục tiêu cụ thể liên quan đến từng nhóm mục tiêu, gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và mục tiêu tuân thủ một cách đầy đủ và rõ ràng để có thể nhận dạng và phân tích rủi ro đối với các mục tiêu này Nhà quản lý cũng phải xem xét sự phù hợp của các mục tiêu đối với tổ chức
Theo COSO (2013), đánh giá rủi ro gồm 4 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 6: Đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để nhận diện
và đánh giá rủi ro phát sinh trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị Các mục tiêu đơn vị thường thiết lập bao gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và phi tài chính cho người bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, mục tiêu tuân thủ
- Nguyên tắc 7: Đơn vị phải nhận diện rủi ro trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị, tiến hành phân tích rủi ro để xác định rủi ro cần được quản trị
- Nguyên tắc 8: Đơn vị cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi
ro không đạt được mục tiêu của đơn vị
- Nguyên tắc 9: Đơn vị cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi trường
Trang 26ảnh hưởng đến hệ thống KSNB Các thay đổi bao gồm thay đổi từ môi trường bên ngoài (kinh tế, chính trị ), thay đổi từ cách thức kinh doanh (loại hình kinh doanh mới, kỹ thuật mới ), thay đổi từ cách thức quản lý, từ thái độ và triết lý của người quản lý về hệ thống KSNB
2.1.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những hành động được thiết lập thông qua các chính sách và thủ tục nhằm giúp đảm bảo rằng những chỉ thị của nhà quản lý để giảm thiểu những rủi ro, được thực hiện Hoạt động kiểm soát được thực hiện ở tất cả các cấp của tổ chức, ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình kinh doanh, và trong môi trường công nghệ thông tin
Mọi hoạt động kiểm soát đều bao gồm hai yếu tố là:
- Chính sách kiểm soát: Là những nguyên tắc cần làm, là cơ sở cho việc thực hiện các thủ tục kiểm soát Chính sách kiểm soát có thể được tài liệu hóa đầy đủ và
có hệ thống hoặc được lưu hành theo kiểu truyền miệng
- Thủ tục kiểm soát: Là những quy định cụ thể để thực thi chính sách kiểm soát Một thủ tục sẽ không có tác dụng nếu áp dụng một cách máy móc mà không tập trung vào những yêu cầu nhà quản lý đã đề ra thông qua các chính sách Việc thiết lập các thủ tục kiểm soát cần phải cân đối mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, cân đối giữa hoạt động kiểm soát và rủi ro phát sinh
Theo COSO (2013), Hoạt động kiểm soát gồm 3 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 10: Tổ chức phải lựa chọn, thiết lập các hoạt động kiểm soát để góp phần hạn chế các rủi ro giúp đơn vị đạt mục tiêu trong giới hạn chấp nhận được
- Nguyên tắc 11: Tổ chức lựa chọn và phát triển hoạt động kiểm soát chung với công nghệ hiện đại để hỗ trợ sự thành công cho việc đạt được các mục tiêu của tổ chức
- Nguyên tắc 12: Tổ chức triển khai hoạt động kiểm soát thông qua nội dung các chính sách đã được thiết lập và triển khai thành các thủ tục
2.1.3.4 Thông tin truyền thông
Trang 27Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp
Thông tin là cần thiết cho tổ chức để thực hiện trách nhiệm kiểm soát nội bộ nhằm hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu đề ra Nhà quản lý phải thu thập hoặc tạo ra
và sử dụng thông tin phù hợp, có chất lượng từ các nguồn cả bên trong và bên ngoài
để hỗ trợ việc thực hiện chức năng của các thành phần khác của kiểm soát nội bộ Nhằm đáp ứng yêu cầu của các đối tượng sử dụng, các mục tiêu của hệ thống thông tin cần đạt được như sau:
- Xác định và ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật
- Diễn giải nghiệp vụ một cách chi tiết, đầy đủ để cho phép phân loại đúng đắn nghiệp vụ
- Đo lường giá trị của các nghiệp vụ để ghi chép đúng giá trị
- Xác định đúng thời gian của nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra để ghi chép đúng kỳ
- Trình bày đúng đắn và cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết trên báo cáo tài chính
Truyền thông là quá trình cung cấp, chia sẽ và thu thập thông tin cần thiết, được diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại Nó cho phép tổ chức chia sẻ những thông tin phù hợp và có chất lượng cho cả bên trong và bên ngoài tổ chức Đồng thời, nó cũng cung cấp những thông tin cần thiết cho việc thiết kế, thực hiện, và vận hành kiểm soát nội bộ, cũng như đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ Truyền thông nội bộ là phương tiện mà thông tin được phổ biến trên toàn bộ tổ chức, theo cả chiều dọc và chiều ngang Nó cho phép nhân viên nhận được thông báo một cách rõ ràng từ nhà quản lý cấp cao Truyền thông bên ngoài gồm hai hướng: nó cho phép truyền những thông tin có liên quan từ nguồn bên ngoài vào tổ chức, và nó cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài để đáp ứng theo yêu cầu và mong đợi
Theo COSO 2013, Thông tin và truyền thông gồm 3 nguyên tắc sau
- Nguyên tắc 13: Tổ chức thu thập, truyền đạt và sử dụng thông tin thích hợp,
Trang 282.1.3.5 Hoạt động giám sát
Hoạt động giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ Thông thường, cần kết hợp cả giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ để xác định liệu các thành phần của kiểm soát nội bộ, bao gồm việc thực hiện các nguyên tắc trong mỗi thành phần, có hiện hữu và được thực hiện hay không Hoạt động giám sát là một cơ sở chủ yếu cho việc đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ Nó cung cấp sự hỗ trợ có giá trị cho việc khẳng định tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Giám sát thường xuyên, được xây dựng trong các quy trình kinh doanh ở các cấp độ khác nhau của tổ chức, cung cấp thông tin kịp thời Việc giám sát thường xuyên được thực hiện đồng thời trong các hoạt động hàng ngày của đơn vị, bao gồm các hoạt động giám sát, quản lý thường nhật và các hoạt động khác Phạm vi và mức độ thường xuyên của việc giám sát định kỳ phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá rủi ro và sự hữu hiệu của các hoạt động giám sát thường xuyên Qua giám sát, các khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần được báo cáo lên cấp trên và nếu là những vấn đề quan trọng hơn sẽ báo cáo cho ban giám đốc hay hội đồng quản trị Giám sát định kỳ, được tiến hành định kỳ, và sẽ thay đổi về phạm vi và mức độ phụ thuộc vào việc đánh giá rủi ro, hiệu quả của việc giám sát thường xuyên, và những đánh giá khác của nhà quản lý Kết quả phát hiện được đánh giá theo tiêu chuẩn của nhà quản lý, và những thiếu sót sẽ được truyền đạt đến ban quản lý và ban giám đốc
Theo COSO (2013), Hoạt động giám sát gồm 2 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 16: Đơn vị phải lựa chọn, triển khai và thực hiện việc đánh giá
Trang 29liên tục hoặc định kỳ để biết chắc rằng liệu những bộ phận của hệ thống KSNB có hiện hữu và đang vận hành đúng
- Nguyên tắc 17: Đơn vị phải đánh giá và thông báo những yếu kém của hệ thống KSNB kịp thời cho các đối tượng có trách nhiệm bao gồm nhà quản lý và Hội đồng quản trị để có những biện pháp khắc phục
2.1.4 Lợi ích và hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.4.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ
KSNB sẽ giúp nhà quản trị giảm thiểu được những rủi ro thông qua việc phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không
phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính
Một hệ thống KSNB vững mạnh và hữu hiệu sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích như:
- Giảm bớt nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình sản xuất kinh doanh như sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng chi phí, bảo vệ tài sản khỏi
bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp
- Đảm bảo tính chính xác và đúng theo quy định của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính
- Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của pháp luật
- Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra là bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ đặc biệt là với những công ty đại chúng
2.1.4.2 Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo định nghĩa về kiểm soát nội bộ của COSO (2013) đã trình bày thì kiểm soát nội bộ được thiết lập nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, chứ không phải là một sự đảm bảo tuyệt đối Một hệ thống kiểm soát nội bộ cho dù được thiết lập và vận hành hữu hiệu đến đâu, cũng không thể ng ăn chặn được tất cả các rủi ro Những hạn chế này có thể xuất phát từ những trường hợp sau:
Trang 30(1) Các sự cố xảy ra do lỗi của con người: Bất kỳ một hoạt động kiểm soát trực
tiếp nào của hệ thống KSNB cũng phụ thuộc vào yếu tố con người Nguyên nhân do sai sót từ con người có thể là do mắc phải những sai lầm trong xét đoán, hay phạm phải những sai sót do cẩu thả, sao nhãng, hay do phải thực hiện khối lượng công việc quá lớn
(2) Những sự kiện bên ngoài không thể kiểm soát được : một hệ thống kiểm soát
nội bộ hoạt động ở những cấp độ khác nhau cho những mục tiêu khác nhau Đối với những mục tiêu liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, kiểm soát nội bộ không thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho việc đạt được các mục tiêu khi mà những sự kiện bên ngoài có thể có những tác động quan trọng đối với việc đạt được những mục tiêu, và những tác động đó không được giảm thiểu ở một mức độ có thể chấp nhận được Trong những trường hợp như vậy thì kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
(3) Nhà quản lý lạm quyền: một tổ chức với một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu
hiệu vẫn có thể có những nhà quản lý sẵn sàng và có khả năng lạm quyền trong kiểm soát nội bộ Sự lạm quyền của nhà quản lý ở đây được hiểu là việc không tuân thủ những chính sách, thủ tục đã được thiết lập cho những mục đích không hợp pháp nhằm thu lợi cá nhân hoặc làm tăng thành quả của tổ chức
(4) Sự cấu kết, thông đồng: sự thông đồng có thể dẫn đến những yếu kém, lỗ
hổng trong kiểm soát nội bộ Các cá nhân có thể phối hợp với nhau để vi phạm
và che dấu những hành vi vi phạm đó, vì vậy, nó không thể được phát hiện hoặc ngăn chặn bởi hệ thống kiểm soát nội bộ Sự thông đồng có thể xảy ra giữa nhân viên bên trong tổ chức với các đối tượng bên ngoài, hoặc giữa các nhân viên với nhau Ngoài ra, các nhà quản lý có thể thông đồng để phá vỡ những thủ tục kiểm soát, nhờ đó, các kết quả được báo cáo sẽ đáp ứng được những ngân sách và mục tiêu
2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu
2.2.1 Khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu
Theo quan điểm của COSO (2013) về kiểm soát nội bộ, một hệ thống kiểm soát
Trang 31nội bộ hữu hiệu sẽ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được những mục
là hữu hiệu khi nó cung cấp một sự đảm bảo hợp lý giúp nhà quản lý và hội đồng quản trị đạt được những mục tiêu của tổ chức, gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và mục tiêu tuân thủ (COSO, 2013), cụ thể như sau:
Đổi với mục tiêu hoạt động
- Tổ chức chỉ đạt được các hoạt động hữu hiệu và hiệu quả khi các sự kiện bên ngoài được coi là không thể có một tác động đáng kể nào đến việc đạt được các mục tiêu hoặc khi mà tổ chức có thể dự đoán một cách hợp lý về tính chất và thời gian của các sự kiện bên ngoài và giảm thiểu tác động đến một mức độ chấp nhận được
- Tổ chức phải hiểu được mức độ mà các hoạt động được quản lý một cách hữu hiệu và hiệu quả khi các sự kiện bên ngoài có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được các mục tiêu và những tác động này không thể được giảm thiểu đến một mức độ chấp nhận được
Đối với mục tiêu báo cáo
- Tổ chức phải chuẩn bị các báo cáo tuân theo những quy tắc, quy định và chuẩn mực hoặc theo những mục tiêu báo cáo đã xác định của tổ chức
Đối với mục tiêu tuân thủ
Tổ chức phải tuân thủ pháp luật, các quy tắc, quy định và những tiêu chuẩn bên ngoài
Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ của COSO yêu cầu sự phán đoán trong việc thiết
kế, thực hiện và vận hành kiểm soát nội bộ, cũng như đánh giá sự hữu hiệu của nó Việc sử dụng các phán đoán, trong phạm vi được thiết lập bởi luật pháp, các quy tắc, quy định và chuẩn mực, sẽ góp phần tăng cường khả năng của nhà quản lý để ra quyết định tốt hơn về kiểm soát nội bộ
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ 2.2.2.1 Môi trường kiểm soát
Theo Ramos (2004), môi trường kiểm soát là một trong những thành phần quan
Trang 32trọng của HTKSNB Môi trường kiểm soát bao gốm tính chính trực và các giá trị đạo đức; trách nhiệm giám sát quản lý của hội đồng quản trị; cơ cấu tổ chức và phân định quyền hạn và trách nhiệm; đảm bảo năng lực nhân viên; chính sách nhân
sự Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống KSNB, và cũng là nên tảng cho sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống KSNB
2.2.2.2 Đánh giá rủi ro
Theo Lannoye (1999), thành phần này của hệ thống kiểm soát nội bộ làm nổi bật tầm quan trọng của việc xác định thận trọng trong quản lý và đánh giá các yếu
tố để đạt được mục tiêu của tổ chức Điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro là thiết lập mục tiêu Mục tiêu phải được thiết lập ở các mức độ khác nhau của tổ chức Nhà quản lý xác định các mục tiêu cụ thể liên quan đến từng nhóm mục tiêu, gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và mục tiêu tuân thủ để có thể nhận dạng và phân tích rủi ro đối với các mục tiêu này Nhà quản lý cũng phải xem xét sự phù hợp của các mục tiêu đối với tổ chức Việc đánh giá rủi ro cũng yêu cầu nhà quản lý phải xem xét tác động của những thay đổi có thể có trong môi trường bên ngoài và bên trong tổ chức, mà có thể làm cho kiểm soát nội bộ hiệu quả
2.2.2.3 Hoạt động kiểm soát
Theo Jenkinson (2008), các chính sách và thủ tục kiểm soát phải được thiết lập
và thực thi để giúp đảm bảo các hành động cần thiết để đạt được các mục tiêu của tổ chức được thực hiện có hiệu quả ra Ramos (2004) cho thấy rằng một loạt các hoạt động kiểm soát phải được thực hiện để kiểm tra tính chính xác và đầy đủ của thông tin cũng như các uỷ quyền giao dịch
Hoạt động kiểm soát được thực hiện ở tất cả các cấp của tổ chức, ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình kinh doanh, và trong môi trường công nghệ thông tin Mọi hoạt động kiểm soát đều bao gồm hai yếu tố là: Chính sách kiểm soát và Thủ tục kiểm soát
2.2.2.4 Thông tin và truyền thông
Trang 33Theo Robert & Abbie (2003), thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn
vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Nhà quản
lý phải thu thập hoặc tạo ra và sử dụng thông tin phù hợp, có chất lượng từ các nguồn cả bên trong và bên ngoài để hỗ trợ việc thực hiện chức năng của các thành
phần khác của kiểm soát nội bộ
2.2.2.5 Hoạt động giám sát
Theo Annukka Jokipii (2010), giám sát là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của kiểm soát nội bộ trong bất kỳ tổ chức nào Bản thân hệ thống KSNB cần được giám sát Giám sát là quá trình đánh giá hệ thống KSNB theo thời gian Mục đích của việc giám sát là để đảm bảo tất cả năm thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện đúng , đầy đủ và hiệu quả, từ đó, đảm bảo cho hệ thống kiểm soát nội bộ luôn hoạt động hữu hiệu
2.2.2.6 Công nghệ thông tin
Năm 1996, Ban tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” (COBIT – Control Objectives for Infomation and Related Technology) do hiệp hội kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA – Information System Audit and Control Association) ban hành COBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học (CIS – Computer Infomation System), bao gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát
COBIT xác định CNTT là một nguồn lực quan trọng trong quy trình của tổ chức, bao gồm các thành phần: con người, hệ thống ứng dụng, công nghệ, thiết bị
và dữ liệu
Kết quả ghiên cứu của Amudo, A & Inanga, E.L (2009) cho thấy bên cạnh 5 thành phần của hệ thống KSNB, nhân tố công nghệ thông tin phải hiện hữu và hoạt động hiểu quả để tạo nên sự hữu hiệu của hệ thống KSNB
2.3 Lý thuyết nền
Trang 342.3.1 Lý thuyết hỗn độn
“Hiệu ứng cánh bướm” - một hiện tượng được tìm ra bởi Edward Lorenz (1961), theo đó một cái đập cánh của con bướm nhỏ bé có thể gây ra sự thay đổi (dù rất nhỏ) trong điều kiện gốc của hệ vật lý, dẫn đến kết quả là những thay đổi lớn về thời tiết như cơn lốc tại một địa điểm cách nơi con bướm đập cánh rất xa Hiệu ứng cánh bướm được xem là một dấu mốc trong việc phát triển “Lý thuyết hỗn loạn” (Chaos theory) Đây là một lý thuyết nghiên cứu các hệ thống vận động cực kỳ nhạy cảm với những điều kiện ban đầu Về mặt ngữ nghĩa, từ "hỗn đoạn" (chaos) trong ngữ cảnh khoa học mang nghĩa khác với thông thường được sử dụng là trạng thái lộn xộn, thiếu trật tự Từ hỗn độn trong thuyết hỗn độn ám chỉ một hệ thống có vẻ như không có trật tự nào hết nhưng lại tuân theo một quy luật hoặc nguyên tắc nào
đó
Lý thuyết hỗn độn đang ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, bởi vì người ta khám phá ra rằng có rất nhiều hệ thống phức tạp trong tự nhiên và xã hội chịu sự tác động của “hiệu ứng con bướm”
Ứng dụng: Lý thuyết này cho thấy, trong một hệ thống KSNB, chỉ cần một tác động nhỏ của một bộ phận sẽ ảnh hưởng đến các bộ phận khác cũng như toàn bộ hệ thống KSNB
2.3.2 Lý thuyết ngẫu nhiên
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng: Thành công hay thất bại của người lãnh đạo không đơn thuần phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân hay hành vi ứng xử của họ Hoàn cảnh bên ngoài cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng quan trọng Vì vậy phong cách lãnh đạo phải phù hợp với tình huống cụ thể
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng xác định các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tính hiệu quả của lãnh đạo Lý thuyết Fiedler, lý thuyết đường dẫn tới đích là những
lý thuyết về lãnh đạo theo tình huống (hay còn gọi là lý thuyết ngẫu nhiên – bởi vì các yếu tố môi trường tác động đến việc lãnh đạo thường mang tính ngẫu nhiên) được nhiều người quan tâm
Trang 35Fred Fiedler đã phát triển mô hình đầu tiên về sự lãnh đạo theo tình huống Ông cho rằng hiệu quả hoạt động của nhóm phụ thuộc vào sự hòa hợp giữa nhà lãnh đạo với nhân viên và mức độ ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài Vì vậy, để lãnh đạo có hiệu quả, người ta phải xác định phong cách lãnh đạo của mỗi người và đặt
họ vào hoàn cảnh phù hợp với phong cách đó
Ứng dụng: Từ đó, ta có thể thấy, trong môi trường kiểm soát, công ty cần phải xác định phong cách lãnh đạo của mỗi người quản lý và đặt họ vào hoàn cảnh, vị trí phù hợp với phong cách đó
2.4 Đặc điểm hoạt động của ngành xây dựng ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của
hệ thống Kiểm soát nội bộ
Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng lớn đến quản lý và phương thức tổ chức sản xuất xây dựng, làm cho việc thi công xây dựng công trình
có nhiều điểm khác biệt so với việc sản xuất sản phẩm của các ngành công nghiệp khác Sản xuất xây dựng có những đặc điểm sau đây ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
Sản xuất xây dựng là loại hình sản xuất không ổn định
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là đơn chiếc, quy mô lớn, thời gian sử dụng lâu dài Dẫn đến đặc điểm sản xuất của ngành xây dựng khác với các ngành sản xuất khác là mỗi công trình được tiến hành ở một địa điểm khác nhau Vì vậy các phương án về xây dựng, về kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn phải thay đổi theo từng địa điểm, cải tiến cho phù hợp với điều kiện sản xuất Phát sinh nhiều chi phí cho việc di chuyển máy móc thiết bị và nhân lực Máy móc thiết bị phải có tính
cơ động cao Ngoài ra đòi hỏi công tác quản lý phải lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất, sử dụng vật tư vật liệu và lực lượng nhân công tại chỗ một cách linh hoạt bởi
vì nhân công tại chỗ chi phí thấp nhưng tay nghề không cao Tương tự như vậy vật
tư vật liệu rẻ nhưng chất lượng không tốt
Thiết kế có thể thay đổi theo yêu cầu của chủ đầu tư về công năng hoặc trình độ
kỹ thuật, về vật liệu Ngoài ra thiết kế có thể phải thay đổi cho phù hợp với thực tế phát sinh ở công trường
Trang 36Các phương án công nghệ và tổ chức xây dựng phải luôn biến đổi phù hợp với thời gian và địa điểm xây dựng, gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và nảy sinh nhiều chi phí cho vấn đề di chuyển lực lượng sản xuất, cho xây dựng công trình tạm phục vụ thi công
Với đặc điểm về loại hình sản xuất không ổn định đã ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, cụ thể là ảnh hưởng đến thiết kế và vận hành cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, các hoạt động giám sát, công nghệ thông tin
Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài
Sản phẩm của xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh mang tính chất
là tài sản cố định nên thời gian sản xuất ra chúng thường dài (tháng, năm) do bị chi phối bởi quy mô và mức độ phức tạp về kỹ thuật xây dựng công trình, dự án Đặc điểm này đòi hỏi việc quản lý chất lượng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và có hệ thống từ khi khởi công đến khi đưa dự án vào khai thác sử dụng Đặc điểm này cũng gây ra một số tác động đến hoạt động xây dựng như:
- Vốn đầu tư bị ứ đọng, chậm sinh lợi
- Vốn sản xuất của nhà thầu không được sinh lợi ngay
- Các rủi ro tiềm ẩn theo thời gian lớn
- Chịu nhiều tác động của sự biến động về giá cả và các biến động khác
- Khi lựa chọn những biện pháp kỹ thuật, công nghệ phải luôn quan tâm đến yếu tố chất lượng, thời gian và chi phí
Với đặc điểm về thời gian xây dựng công trình lâu dài đã ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, cụ thể là ảnh hưởng đến nhận diện và đánh giá các rủi ro tiềm tàng, hoạt động kiểm soát, các hoạt động giám sát
Sản xuất xây dựng chủ yếu ngoài trời chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố tự nhiên như khí hậu, thời tiết
Điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, mưa gió, bão lụt đều ảnh hưởng đến quá trình xây dựng Ảnh hưởng này thường làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực của các doanh nghiệp không được điều hòa Từ đó ảnh hưởng đến sản phẩm dở
Trang 37dang, đến vật tư, đến thiết bị thi công, đến sức khỏe của người lao động và sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình Do đó, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công phải tổ chức tốt vị trí và hệ thống kho bãi, để bảo quản vật tư, vật liệu, sản phẩm dở dang nhằm tránh hư hỏng, thất thoát tài sản, vật tư, vật liệu, thiết bị trong quá trình xây dựng Đặc điểm này đòi hỏi cần chú ý tới một số điểm sau:
- Khi lập kế hoạch sản xuất xây dựng phải chú ý đến yếu tố thời tiết, khí hậu trong khu vực, để tận dụng các điều kiện tự nhiên thuận lợi và hạn chế những tác động xấu của nó
- Phải chú ý đến cải thiện điều kiện cho người lao động
Với đặc điểm Sản xuất xây dựng chủ yếu ngoài trời chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố tự nhiên đã ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, cụ thể
là ảnh hưởng đến chính sách nhân sự, nhận diện và đánh giá các rủi ro tiềm tàng, hoạt động kiểm soát, các hoạt động giám sát
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp
Trong quá trình thi công xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia, nhiều thành phần kinh tế tham gia thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công chật hẹp Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải tôn trọng hợp đồng không gây chậm trễ cản trở lẫn nhau, đặc biệt là sự phối hợp ăn khớp trong sản xuất để đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng công trình Ngoài ra do sự chi phối của đặc điểm này nên không chỉ có giải pháp để tổ chức phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình thi công mà còn phải nghiên cứu để có biện pháp kiểm tra, giám sát tốt hoạt động thi công của các đơn vị và sự phối hợp giữa các đơn vị nhằm đảm bảo chất lượng công trình và giảm tối đa thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng.Với đặc điểm quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp đã ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, cụ thể là ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, nhận diện và đánh giá các rủi ro tiềm tàng, hoạt động kiểm soát, các hoạt động giám sát
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 này tác giả trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ Theo đó, tác giả trình bày sơ lược về sự ra đời và phát triển các lý thuyết kiểm soát nội bộ qua từng giai đoạn: giai đoạn sơ khai, giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và thời kỳ hiện đại (thời kỳ hậu COSO - từ 1992 đến nay) Trình bày Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ theo khuôn mẫu kiểm soát nội bộ của COSO (2013), tìm hiểu thế nào là hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và các nhân
tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, đồng thời trình bày đặc điểm hoạt động của ngành xây dựng ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống Kiểm soát nội bộ, qua đó xây dựng được nền tảng lý thuyết cho mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng
- Thiết kế thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của HTKSNB trong các công ty xây dựng trên địa bàn Tp HCM
- Đánh giá giá trị và độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) bằng cách sử dụng phần mềm hỗ trợ SPSS
- Đánh giá và kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy bằng cách sử dụng
phần mềm hỗ trợ SPSS
3.2 Quy trình nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước: xây dựng mô hình, kiểm tra
mô hình và thang đo, thu thập dữ liệu chính thức, kiểm định độ tin cậy, phân tích
nhân tố, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu, được thể hiện ở Hình 3.1
Trang 40Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Nguyễn Đình Thọ, 2011) Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, tác giả xây dựng mô hình
và thang đo Sau đó tiến hành kiểm tra mô hình và thang đo thông qua nghiên cứu định tính Sau khi đã có được thang đo hoàn chỉnh, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi khảo sát Dữ liệu thu thập được sẽ được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của thang đo (dùng phương pháp phân tích hệ số tin cậy Cronbach Alpha) và kiểm định giá trị của thang đo (dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA) Sau khi đã đánh giá được độ tin cậy và kiểm định giá trị thang đo,
Mô hình và thang đo
Cơ sở lý thuyết,
Các nghiên cứu trước đây
và thang đo
Khảo sát thông qua bảng
câu hỏi
Thu thập dữ liệu chính thức
Đánh giá độ tin cậy của
hồi quy đa biến