LỜI NÓI ĐẦU Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách Khoa học kỹ thuật đã chỉ rõ: “Nghiên cứu lịch sử triết học của dân tộc và sự thắng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM Tác giả: Th.s Lương Thị Lan Huệ
Năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM 3
1.1 Đối tượng, đặc điểm, phương pháp nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam 3
1.2 Cơ sở xã hội của việc nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam 8
1.3 Đặc điểm tư tưởng triết học Việt Nam 9
1.4 Một số đóng góp của tư tưởng triết học Việt Nam 11
1.5 Một số hạn chế của tư tưởng triết học Việt Nam 11
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM 13
2.1 Khái quát về niên biểu Việt Nam 13
2.2 Những nét khái quát của tư tưởng triết học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 14
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ YẾU TỐ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM 27
3.1 Quan niệm về thế giới quan 27
3.2 Quan niệm về nhân sinh quan 30
3.3 Yếu tố biện chứng trong tư tưởng triết học Việt Nam 36
3.4 Yếu tố siêu hình trong tư tưởng triết học Việt Nam 38
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách Khoa học kỹ thuật đã chỉ rõ: “Nghiên cứu lịch sử triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởng triết học Mác-Lênin ở Việt Nam là một công việc có ý nghĩa trọng đại và hết sức cấp thiết hiện nay” Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp phối hợp với Viện triết học và chỉ đạo các Khoa giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin thảo luận, biên soạn chương trình khung môn Tư tưởng triết học Việt Nam Phải nói rằng, đây là học phần đang mới mẻ, tài liệu tham khảo để giảng dạy và nghiên cứu còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu của môn học Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên đồng thời
nghiên cứu để hiểu sâu hơn nội dung học phần, chúng tôi đã biên soạn bài giảng Tư tưởng triết học Việt Nam
Bài giảng gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về tư tưởng triết học Việt Nam
Chương 2: Qúa trình hình thành, phát triển tư tưởng triết học Việt Nam
Chương 3: Một số yếu tố tư tưởng triết học Việt Nam
Mặc dù đã cố gắng để thâu tóm nội dung bài giảng một cách đô đọng, hệ thống và khoa học nhất, tuy nhiên không thể tránh khỏi sai sót cần chỉnh sửa và bổ sung Rất mong nhận được ý kiến phản hồi từ các sinh viên và giảng viên để bài giảng hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM
( 5LT-0TL)
1.1 Đối tượng, đặc điểm, phương pháp nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu của triết học và đối tượng nghiên cứu của tư tưởng triết học
Triết học là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm, thể hiện trong văn học dân gian, trong tôn giáo học nhưng triết học với tư cách là một khoa học (có các khái niệm, phạm trù, quy luật, học thuyết) thì xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN ở
cả phương Đông và phương Tây
Về mặt xã hội, triết học ra đời trong xã hội phong kiến ở phương Đông và xã hội chiếm hữu nô lệ ở phương Tây do nhu cầu giải quyết những vấn đề sống còn của con người và vấn đề thực tiễn đặt ra trong cuộc sống Lúc này trên thế giới đã có 3 trung tâm triết học lớn là Ấn Độ, Trung Quốc và Hy-La cổ đại Về mặt nhận thức, triết học ra đời khi con người đã đạt đến trình độ tư duy nhất định, có thể khái quát hóa thành các quy luật, phạm trù khi nghiên cứu về thế giới khách quan Với nghĩa
đó, triết học được xem là sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh, về con người, giải thích thế giới bằng tư duy lý luận
Ở mỗi nơi có quan niệm khác nhau về triết học, ví dụ ở phương Đông, triết có nghĩa là trí tuệ là hiểu biết sâu rộng về đạo lý, ở phương Tây, triết học có nghĩa là sự thông thái, yêu mến tri thức Theo nghĩa chung nhất, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó
Triết học ra đời từ thời kỳ cổ đại Từ đó đến nay triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển Trong quá trình phát triển đó, đối tượng của triết học cũng có nhiều thay đổi
Trước khi triết học Mác ra đời, đối tượng của triết học là mọi lĩnh vực tri thức
do sự phân ngành các khoa học chưa phát triển Nhiệm vụ của triết học là nghiên cứu
Trang 5và phát triển chung nhất của chúng Triết học không nghiên cứu thế giới trong tĩnh tại mà nghiên cứu nó trong sự vận động và phát triển Trong sự vận động và phát triển ấy, triết học không mô tả thế giới một cách cụ thể mà chỉ nghiên cứu thế giới trên cơ sở cái chung nhất nhằm chỉ ra được bản chất của thế giới mà thôi Từ khi triết học xuất hiện cho đến trước triết học Mác, Triết học được mệnh danh là khoa học của các khoa học
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, trước yêu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản và sự phát triển của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ triết học Mác ra đời đã đoạn tuyệt quan niệm triết học là “khoa học của các khoa học” và xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật, nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con người nhằm cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội theo chiều hướng tiến bộ
Cần nhận thấy rằng đối tượng nghiên cứu của triết học khác với đối tượng nghiên cứu của lịch sử triết học Đối tượng nghiên cứu của lịch sử triết học là các tư tưởng, quan điểm, học thuyết của các triết gia, các tiền đề, điều kiện xuất hiện, phát triển các tư tưởng triết học đó, nghiên cứu về cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học
Tư tưởng triết học Việt Nam với tư cách là một môn học mới xuất hiện trong thời gian gần đây Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách khoa học kỷ thuật (1981) đã chỉ rõ: Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởng triết học Mác-Lênin Ở Việt Nam và cho rằng đây là một công việc có ý nghĩa trọng đại, cấp thiết hiện nay Từ đó đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học, giảng viên dạy triết học nghiên cứu tư tưởng triết học của dân tộc như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Hùng Hậu, Trần Văn Giàu, Nguyễn Trọng Chuẩn và đi đến khẳng định: Ở Việt Nam có tư tương triết học, có các học thuyết triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Trang 6Nguyễn Trãi, Lê Qúi Đôn Nếu xem xét chức năng cơ bản của triết học, chức năng thế giới quan, chức năng nhân sinh quan, chức năng phương pháp luận thì ở Việt Nam hoàn toàn có triết học Tư tưởng triết học Việt Nam được trình bày rải rác trong các bộ sách về Lịch sử tư tưởng Việt Nam, các sách báo, Tạp chí triết học, trong nền văn học dân gian Nhìn chung nhiều vấn đề triết học Việt Nam đã được nghiên cứu dưới góc độ lịch sử, văn học, chính trị, đạo đức Cần nhận thấy rằng, trước khi xuất hiện triết học Mác-Lênin, ở Việt Nam đã có truyền thống văn-sử-triết bất phân Sỡ dĩ như vậy là vì do hoàn cảnh lịch sử dân tộc luôn phải đương đầu đấu tranh chống kẻ thù, do điều kiện kinh tế, chính trị-xã hội ở Việt Nam không có triết học với tư cách
là một bộ môn khoa học độc lập Do đó, muốn hiểu được tư tưởng triết học cần phải bóc tách nó từ văn học, từ sử học và từ chính trị, đạo đức
- Đặc điểm nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam
Nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam thường bắt đầu từ việc nghiên cứu tư tưởng triết học ẩn chứa trong văn học, sử học, chính trị học
Hầu hết các nhà nghiên cứu chưa thống nhất quan niệm về tư tưởng triết học Việt Nam Cho đến nay có hai quan điểm khi nghiên cứu về tư tưởng triết học Việt Nam Đó là, đó ý kiến cho rằng, ở Việt Nam không có tư tưởng triết học Nếu theo tiêu chí của một nền triết học thì phải có triết gia, có các tác phẩm triết học, có các trường phái triết học thì ở Việt Nam không có nền triết học Các nhà nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam thường bắt đầu bằng việc nghiên cứu tư tưởng triết triết học của các nhà quân sự, nhà lãnh tụ cách mạng dựa trên các tác phẩm văn học, sách chính trị Bên cạnh đó, ở Việt Nam, vấn đề cơ bản của triết học như duy vật và duy tâm, biện chứng, siêu hình chưa được đặt ra và giải quyết Nếu có những tư tưởng triết học nào đó thì cũng đang trộn lẫn trong văn học, sử học Thậm chí có quan điểm cho rằng, người Việt Nam chỉ biết tiếp thu, sao chép mà không có sáng tạo gì thêm Quan niệm ở Việt Nam không có tư tưởng triết học đã thống trị trong tư tưởng người Việt suốt một thời kỳ dài Ngược lại, có ý kiến khẳng định rằng, ở Việt Nam có tư
Trang 7tưởng triết học, tuy chưa phải là triết học thuần túy nhưng đã có tư tưởng triết học,
nó vượt ra khỏi tư duy tiền triết học
Thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu đã đi đến thống nhất là có tư tưởng triết học dân tộc, đã và đang tạo ra phong trào nghiên cứu sâu hơn về tư tưởng triết học Việt Nam Có rất nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về tư tưởng triết học của các nhà quân sự, nhà giáo dục tiền bối Những nghiên cứu của họ đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận triết học của dân tộc
- Phương pháp nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt là phép biện chứng duy vật Bởi phép biện chứng duy vật là phương pháp luận khoa học nhất, nó có nhiều khả năng giải quyết một cách hợp lý nhất những vấn đề do bộ môn lịch sử triết học đặt ra Chỉ trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mới có điều kiện làm sáng tỏ các vấn đề: hiện tượng tư tưởng, trào lưu tư tưởng, cá nhân nhà tư tưởng, mới có khả năng giải thích tốt các mối quan hệ: Tư duy và tồn tại, lôgíc và lịch sử, cá nhân và xã hội, kế thừa và sáng tạo, cái bản địa và cái ngoại lai, mới có triển vọng trình bày lịch sử tư tưởng như một quá trình phát triển hợp quy luật
Đặc thù của triết học Việt Nam là văn sử triết bất phân do đó để hiểu được các quan điểm triết học cần phải nghiên cứu, bóc tách từ văn học, sử học Nghiên cứu tư tưởng của các nhà quân sự qua đường lối trị nước, nghiên cứu tư tưởng của các nhà khoa học, nhà vua để tìm hiểu về triết học thể hiện qua đường lối trị quốc, chuẩn mực đạo đức xã hội
- Nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam cần phải sử dụng phương pháp so sánh và phân tích Sở dĩ như vậy là do tư tưởng triết học Việt Nam có sự giao thoa, ảnh hưởng của các nền triết học lớn do đó khi nghiên cứu các tư tưởng, phạm trù triết học cần phải so sánh, đối chiếu để thấy được điểm tương đồng và khác biệt của các khái niệm triết học Sử dụng phương pháp phân tích vì phân tích mới thấy được
ý nghĩa của các khái niệm ấy và giá trị của những nội dung ấy Cần nhận thấy rằng,
Trang 8những tư tưởng triết học Việt Nam không phải là mệnh đề có sẵn mà phải trải qua nghiên cứu
- Cuộc đấu tranh trong lịch sử tư tưởng Việt Nam xung quanh vấn đề cơ bản của triết học là không trực diện, không rõ Nhưng nếu muốn tránh sự trình bày một chiều, đơn điệu, không phù hợp với thực tế và phải làm rõ những giá trị tư tưởng của lịch sử tư tưởng Việt Nam thì phải trình bày và phân tích nó thông qua các mặt đối lập và thấy rằng: Các quan điểm khách quan, duy vật biện chứng, vô thần, dân chủ
và độc lập thường là tiếng nói của các lực lượng tích cực trong lịch sử, còn các quan điểm chủ quan, duy tâm, siêu hình, hữu thần, chuyên chế và lệ thuộc thường là tiếng nói của các lực lượng tiêu cực trong lịch sử
1.2 Cơ sở xã hội của việc nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam
Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách khoa học kỷ thuật (1981) đã chỉ rõ: Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởng triết học Mác-Lênin Ở Việt Nam
và cho rằng đây là một công việc có ý nghĩa trọng đại, cấp thiết hiện nay Từ đó đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học, giảng viên dạy triết học nghiên cứu tư tưởng triết học của dân tộc như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Hùng Hậu, Trần Văn Giàu, Nguyễn Trọng Chuẩn và đi đến khẳng định: Ở Việt Nam có tư tương triết học, có các học thuyết triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Lê Qúi Đôn xem xét chức năng cơ bản của triết học, chức năng thế giới quan, chức năng nhân sinh quan, chức năng phương pháp luận thì ở Việt Nam hoàn toàn có triết học Vấn đề đặt ra là triết họcViệt Nam có nguồn gốc ra đời như thế nào
Xét về nguồn gốc nhận thức của triết học:
Triết học ra đời khi trình độ nhận thức của con người về thế giới đã đạt đến mức độ trừu tượng hóa, khái quát hóa từ những sự vật, hiện tượng cụ thể, đơn lẻ thành các khái niệm, phạm trù, quy luật triết học Ở Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu thì Việt Nam là một nước có nền văn hiến lâu đời, trình độ tư duy lý luận sắc
Trang 9qua văn hóa dân gian chứng tỏ người Việt có tư duy về thế giới quan, nhân sinh quan
rõ nét
Xét về nguồn gốc xã hội của triết học:
Triết học ra đời khi có sự phân chia giai cấp cũng như có sự xuất hiện đội ngũ trí thức Tuy nhiên, nguồn gốc xã hội của triết học Việt Nam có những nét đặc thù riêng Qúa trình ra đời của triết học Việt Nam không gắn với sự ra đời của giai cấp
mà gắn với cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giành độc lập dân tộc
- Việt Nam có sự giao lưu tiếp biến về văn hóa các nước trên thế giới, trong đó
có sự giao thoa triết học Ấn Độ, Triết học Trung Hoa cổ đại, Triết học phương Tây, triết học Mác-Lênin Những tư tưởng triết học trên đây đã được Việt Nam tiếp nhận
có chọn lọc, sau đó bản địa hóa
Cần thấy rằng, Việt Nam ở vào giữa Ấn Độ và Trung Quốc là hai nôi triết học của nhân loại, nhất định phải chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học của hai quốc gia đó
Mặt khác, lịch sử Việt Nam là một quốc gia văn minh hùng cường chúng ta phải có một trình độ lý luận, một tư duy khái quát ngang tầm với mỗi thời đại
Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan riêng, nhưng rất tiếc cho đến nay lịch sử chưa đúc kết tư duy lý luận của Việt Nam thành những hệ thống triết học
Nhưng phải thấy rằng những lý luận ở mức độ khái quát, những lý luận giữ vai trò thế giới quan chung và phương pháp luận cho các lĩnh vực hoạt động tinh thần và hoạt động thực tiễn dựng nước và giữ nước đã hình thành và phát triển Những tư duy đó chưa đạt tới trình độ tư duy triết học thực thụ, nhưng đã vượt qua giai đoạn tiền triết học Nó chưa là triết học thuần tuý, nhưng nó đã đề cập đến một
số vấn đề của bản thân triết học Ở đó nó không còn là tư tưởng chung chung nữa mà
nó đã là tư tưởng triết học
Đi vào cụ thể: Việt Nam chưa xuất hiện các khái niệm “vật chất”, “tinh thần”,
tư duy”, “tồn tại”, “biện chứng”, “siêu hình” như phương Tây, nhưng lại có các phạm trù và các vấn đề tương đương: “trời-người”, “hình-thần”, “tâm-vật”, “hữu-
vô”, ‘lý-khí” thuộc về vấn đề cơ bản của triết học; “tĩnh-động”, “thường-biến”,
Trang 10“pháp cổ (bắt chước cổ)”, “pháp tiên vương (bắt chước vua đời trước)”, “thuận lẽ
trời, thuận lòng người” thuộc về phương pháp tư duy; có các quan niệm về đường lối trị nước, về trị-loạn, về thành-bại, về quan hệ vua-dân thuộc về triết học về xã hội; có
quan niệm về bản chất con người, về đạo làm người, về xây dựng con người, về
chuẩn mực đạo đức con người thuộc về triết học về con người
Đó cũng chính là đối tượng và phạm vi nghiên cứu của môn Lịch sử tư tưởng Việt Nam mà không thể nhầm nó với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Chính trị học, Luật học, Văn học hay Sử học
Lịch sử tư tưởng và tư tưởng triết học có sự giao thoa về nội dung nhưng không phải là một Tư tưởng triết học Việt Nam trước hết nó là tư tưởng của người dân Việt Nam tuy nhiên có nhiều tư tưởng không thuộc về tư tưởng triết học
Chúng ta cần xác định; tư tưởng triết học Việt Nam là một môn học, một khoa học nó nghiên cứu về những điều kiện kinh tế xã hội dẫn đến sự xuất hiện các tư tưởng triết học, nghiên cứu tư tưởng triết học, các vấn đề triết học, nghiên cứu về
chính trị-xã hội Tức là những nội dung xoay quanh cái trục triết học và thể hiện các
mức độ phát triển của triết học Việt Nam Người nghiên cứu phải lựa chọn lấy một trong số đó
VD: Nghiên cứu tư tưởng triết học về quan hệ giữa tư duy và tồn tạo, giữa con người với tự nhiên, giữa trời và người, giữa lý và khí, tâm và vật
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tĩnh và động, thường và vô thường, thuận lẽ trời và lòng người
Nghiên cứu về bản chất con người, đạo làm người, các chuẩn mực đạo đức Nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển các tư tưởng triết học ở Việt Nam hay nói cách khác là nghiên cứu tư tưởng, quan điểm triết học của người Việt Nam qua mỗi thời kỳ lịch sử nhất định
Trang 111.3 Đặc điểm tư tưởng triết học Việt Nam
Cần xác định rằng: Tư tưởng triết học Việt Nam dù được hình thành trên cơ sở bản địa hay được kế thừa từ ngoài vào, tất cả đều trải qua quá trình vận động và phát triển ở Việt Nam, đều bị thực tiễn xã hội Việt Nam chi phối nên nó có những nét đặc trưng khác biệt
- Nếu như triết học Phương Tây thường gắn với những thành tựu khoa học (khoa học tự nhiên), triết học Ấn Độ gắn với tôn giáo, triết học Trung Hoa gắn liền với chính trị-đạo đức-xã hội thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước Nội dung chủ đạo của tư tưởng triết học Việt Nam đó là vấn đề đạo làm người, chủ nghĩa yêu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội –
Chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản nhất của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Ở đây không xét chủ nghĩa yêu nước trên phương diện tình cảm, tâm trạng, tâm lý hay chuẩn mực đạo đức, hiện tượng đạo đức, hành vi đạo đức mà xét chủ nghĩa yêu nước trên phương diện lý luận Tức phải xét nó trên phương diện tư tưởng chính trị-xã hội hoặc quan điểm triết học về xã hội Chủ nghĩa yêu nước phải được đề cập đến với tư cách là một hệ thống những lý luận, những quan điểm về đánh giặc giữ nước và phát triển đất nước
Lịch sử thế giới cho thấy có nhiều dân tộc có chủ nghĩa yêu nước của mình, nhưng ít thấy có dân tộc nào khác có chủ nghĩa yêu nước như dân tộc Việt Nam được xét đến ở tất cả các phương diện: ý thức trách nhiệm về nòi giống, về cộng đồng, về dân tộc; những nhận thức về con đường, biện pháp đấu tranh giải phóng dân tộc, về động lực và khả năng dành lại lãnh thổ và xây dựng đất nước, về quan hệ giữa dân tộc và dân tộc
- Nếu triết học phương Tây có khuynh hướng tội là đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan thì triết học Việt Nam lại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan Ở Việt Nam vấn đề trung tâm hàng đầu là đạo làm người (nhân sinh quan) sau đó các nhà tư tưởng mới tìm cách lý giải, đặt cơ sở cho vấn đề trên (thế giới quan) Điều này bị quy định bới phương thức sản xuất châu Á
Trang 12Về kết cấu của tư tưởng, thế giới quan của triết học Việt Nam là thế giới quan phức hợp, là một thể kết hợp của Nho-Phật-Lão
Về khuynh hướng của tư duy, thế giới quan triết học Việt Nam nặng về vấn đề
xã hội và nhân sinh, mà ít quan tâm đến vấn đề tự nhiên và các hình thức tư duy của con người
Nó chú trọng xây dựng lý lẽ cho chính trị-xã hội và luân lý, mà ít bàn đến quan hệ khách thể và chủ thể giữa các thành phần của tư tưỏng để hình thành nhận thức luận và lôgíc học
Nó thiên về giáo dục đạo làm người hơn là cung cấp cho con người những nhận thức mới về thế giới khách quan bên ngoài cũng như thế giới nội tâm
Nó thường xuất phát từ những định đề có sẵn hơn là từ sự phát triển của thực
tế khách quan để khái quát lên thành các nguyên lý khác trước làm cơ sở cho luận chứng
- Vấn đề cơ bản của triết học, ở Việt Nam ít bàn đến, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không trải ra trên khắp mọi vấn đề, khuynh hướng duy tâm tôn giáo có vẻ nổi trội hơn khuynh hướng duy vật, vô thần
1.4 Một số đóng góp của tư tưởng triết học Việt Nam
- Tư tưởng triết học Việt Nam (nhân sinh quan) có giá trị to lớn trong đời sống của nhân dân ta ở nhiều phương diện khác nhau như về lao động sản xuất, về lối sống, về đạo làm người Những giá trị và ý nghĩa của nó không dừng lại thời đại đã qua mà còn có giá trị to lớn trong đời sống hiện nay
Tư tưởng triết học Việt nam là sản phẩm của sự hiểu biết của nhân dân Việt Nam về tự nhiên-xã hội, con người là một kho tàng lý luận phong phú trên tất cả các lĩnh vực Nó trở thành công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới của người Việt
Tư tưởng triết đã có tác dụng nhất định trong việc đấu tranh chống thiên tai, địch họa, chống áp bức bất công trong xã hội, khơi dậy tinh thần đoàn kết góp phần hình thành và phát triển nhan cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 13Ngoài ra phương pháp tư duy biện chứng là một trong những giá trị tư tưởng của người Việt Phương pháp tư duy biện chứng không chỉ cho chúng ta nhìn nhận đúng thế giới khách quan mà còn cho ta sự lạc quan tin tưởng vào cuộc sống
1.5 Một số hạn chế của tư tưởng triết học Việt Nam
- Triết học Việt Nam ít có các cuộc cách mạng, cũng giống như triết học Trung Hoa, Ấn Độ cổ đại, các nhà tư tưởng khi xây dựng học thuyết triết học, chính trị-xã hội của mình thường kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm của nhà tiền bối với thái độ trân trọng, ít phủ định, phê phán Người Việt Nam rất coi trọng đạo đức, lễ nghĩa, tôn sư trọng đạo, kính lão đắc thọ nó đã trở thành truyền thống văn hóa tốt đẹp của của dân tộc Tuy nhiên, xét dưới góc độ khoa học thì tư tưởng cả nể, chỉ có kế thừa mà ít có tư duy phản biện cũng là một trong những hạn chế trong tư tưởng người Việt
- Các tư tưởng triết học rời rạc nằm trong chính trị-xã hội, văn học, sử học Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mờ nhạt, ít có các tác phẩm thuần túy về triết học Do điều kiện lịch sử đặc biệt của Việt Nam đó là trong quá khứ, Việt Nam luôn bị kẻ thù bên ngoài xâm lược, do đó toàn bộ sức lực, vật lự phải phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ độc lập cho dân tộc Ở Việt Nam có rất nhiều anh hùng dân tộc, nhiều nhà chính trị học, văn hóa học nhưng ít có nhà triết học là do điều kiện lịch sử, văn hóa của dân tộc chi phối
- Tư tưởng triết học Việt Nam mang tính hướng nội, tâm linh, nhận thức còn đậm tính kinh nghiệm chủ nghĩa, duy tâm, siêu hình: Ví dụ: Thân ai nấy lo, phận ai nấy giữ; được mùa cau đau mùa mùa lúa; Ai mà nói dối cùng ai thì trời giáng họa cây khoai giữa đồng
- Một số tư tưởng mang tính tiêu cực do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế-xã hội như quan niệm Vua là người thay trời trị vì thiên hạ, mọi số phận con người giàu nghèo, thọ yểu do trời sắp đặt không thể thay đổi được Những tư tưởng đó thủ tiêu
ý chí đấu tranh của nhân dân, con người có tâm lý tự ty, an phận
Trang 14Câu hỏi ôn tập chương 1
Câu 1: Anh/chị hãy nêu sự khác biệt giữa triết học với tư tưởng triết học
Câu 2: Trình bày đặc điểm tư tưởng triết học Việt Nam Lấy ví dụ minh họa Câu 3: Phân tích những đóng góp và hạn chế của tư tưởng triết học Việt Nam
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT
HỌC VIỆT NAM (7LT-3TL) 2.1 Khái quát về niên biểu Việt Nam
Phân kỳ lịch sử là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng Lịch sử tư tưởng Việt Nam có nhiều khó khăn trong việc phân định các thời kỳ Thường có 3 cách phân kỳ lịch sử được sử dụng:
- Theo các triều đại
- Các thế thế kỷ
- Hình thái kinh tế-xã hội (thường dùng)
Ở Việt Nam, trước cách mạng tháng 8 năm 1945 không xuất hiện các cuộc cách mạng xã hội, việc chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-
xã hội khác diễn ra trong một thời kỳ dài Hơn nữa hình thái kinh tế-xã hội sau nó bảo lưu nhiều dấu vết của hình thái kinh tế-xã hội trước Vì vậy, hợp lý hơn cả là kết hợp các mốc hình thái kinh tế-xã hội với các mốc là sự kiện lịch sử-xã hội lớn của dân tộc để phân kỳ
- Thời kỳ đồ đá cũ: cách ngày nay khoảng 300.000 năm
- Thời kỳ đồ đá mới: cách ngày nay khoảng 5.000 năm
- Thời kỳ Hồng Bàng, Văn Lang: Từ 2879 tcn đến 258 tcn
- Thời kỳ đấu tranh giành độc lập: cuối thế kỷ XII tcn đến thế kỷ X scn
- Thời kỳ đấu tranh giữ gìn độc lập:938 đến năm 1400
- Thời kỳ thịnh vượng và ổn định của xã hội phong kiến: thế kỷ XV đến thế kỷ
Trang 15- Thời kỳ khủng hoảng chia cắt của xã hội phong kiến: Thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII
- Thời kỳ chiến tranh nông dân và sụp đổ của các chính quyền Đàng trong, Đàng ngoài: 1624 đến 1802 tức khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII
- Thời kỳ từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX
2.2 Những nét khái quát tư tưởng triết học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
2.2.1 Thời kỳ tiền sử (đồ đá)
- Đặc điểm kinh tế-xã hội
Đây là một thời kỳ kéo dài Theo các nhà khảo cổ học, Việt Nam nằm trong trung tâm phát sinh và phát triển của xã hội loài người (từ Bắc đến Nam đều phát hiện răng của người vượn cổ) điều này thể hiện từ xa xưa, trên mãnh đất Việt Nam
đã có người vượn cổ sinh sống Công cụ lao động chủ yếu của họ làm bằng đá Nó được đặt thuật ngữ là thời tiền sử với nghĩa là con người chưa biết viết, là sự khởi đầu của truyền thống lịch sử con người Do hoàn cảnh lúc đó, để tồn tại họ phải dựa vào nhau để sống thành từng bầy, đàn Mỗi đàn có từ 20 đến 30 người, có thể là nhóm gia đình mẫu quyền từ 5 đến 7 gia đình
Họ sống bằng săn, bắt và hái lượm Cuối thời tiền sử (cuối thời đồ đá mới), người Việt đã biết trồng lúa và các loại rau, tuy nhiên thức ăn chủ yếu vẫn là thành quả của săn bắt và hái lượm Họ bắt đầu sống định cư trên các hang núi, xóm làng
Ví dụ, (1968 các nhà khảo cổ học đã tìm thấy đấu vết của người Vượn ở Núi Đọ, Thanh Hóa, Bàu Tró Quảng Bình, Phú Thọ) Họ biết tạo ra công cụ lao động bằng
đá, các vật dụng bằng đồ gốm
- Tư tưởng triết học
Qua các tư liệu khảo cổ học cho thấy người Việt cổ bước đầu đã có ý niệm về sự cân xứng, đã có tư duy phân loại, có lòng tin về thế giới bên kia, họ tin khi chết đi con người về thế giới âm phủ vẫn tiếp tục lao động (tìm thấy công cụ lao động bên cạnh người chết ở Sơn Vi, Hòa Bình) Cư dân Hòa Bình đã biết chọn nơi cư trú, dùng ký hiệu để ghi Đây là thời kỳ bắt đầu hình thành tư duy toán học, số đếm, phạm trù số
Trang 16lượng, từ đó ra đời số đếm tách khỏi vật đếm tức là đã có tư duy trừu tượng hóa Cuối thời đồ đá mới, người Việt đã có ý niệm về đường tròn, có quan niệm về thời gian, vũ trụ, họ tôn thờ sức mạnh tự nhiên mưa gió, đặc biệt Mặt trời trở thành thần linh của họ
2.2.2 Thời kỳ buổi đầu dựng nước (Hồng Bàng- Văn Lang năm 2879 tcn đến
258 tcn)
- Đặc điểm kinh tế-xã hội
Thời kỳ này, ở lưu vực sông Hồng, sông Đồng Nai, cư dân Việt Nam đã bước vào giai đoạn đồng thau (hợp kim đồng với thiếc) Thời kỳ này được các nhà nghiên cứu gọi là thời kỳ tiền Đông Sơn vìvăn hóa phát triển sau đó là văn hóa Đông Sơn Tuy nhiên sự phát triển văn hóa tiền Đông Sơn đến Đông Sơn là một quá trình liên tục nó đánh dấu bước phát triển mới về kinh tế-xã hội ở Việt Nam Con người sống theo kiểu liên minh các bộ lạch, tạo thành các nhóm bộ lạc và có sự giao lưu văn hóa giữa các nhóm Đây cũng là giai đoạn hình thành một quốc gia, một nhà nước đầu tine ở Việt Nam, truyền thuyết gọi là nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng
Cư dân tiền Đông Sơn chủ yếu trồng lúa Họ đã biết chăn nuôi gia súc, trâu bò Họ
đã biết kỷ thuật rèn, đúc kim loại, có ý niệm về cái đẹp
-Về tư tưởng triết học
Thời kỳ này người Việt đã có sự quan sát thế giới bên ngoài, từ đó tái tạo lại những hình ảnh khá chân thực về đời sống, tư duy, trí tượng của người Việt Qua tượng bò,
gà làm bằng đất nung, các đồ trang sức đã có tính cân xứng, hoa văn đẹp mắt Người Đông Sơn đã có suy nghị, nhận xét tính toán về hình học (đã biết chia hình tròn làm sáu phần bằng nhau, đã biết liên hệ giữa bán kinh và đường tròn Trên một số đồ gốm, các trang trí bằng hoa văn thể hiện mô hình về vũ trụ gồm ba thế giới: Trời, người và đất, trong đó có sự chuyển biến mùa màng, đời sống thực vật liên tục, không cùng thể hiện qua các đường xoắn nối liền nhau Ở đây đã xuất hiện phong cách tư duy tượng trưng với những ký hiệu quy ước- được xem là bước phát triển
Trang 17Qua các trống đồng ta thấy, người Việt đã có tri thức khá cao về luyện kim, chế tạo
đồ đồng, đồ sắt Khi tái hiện thế giới hiện thực họ đã không chú ý đến chi tiết của đối tượng mà chỉ chú ý đến đặc điểm được miêu tả, thể hiện những đường nét cách điệu nhưng rất sinh động Trên trống Đồng Đông Sơn, ngôi sao nhiều cánh ở giữa mặt trống đồng là hình mặt trời, còn người, chim, hươu trên mặt trống đồng đều xoay theo mặt trời theo chiều hướng ngược kim đồng hồ trùng với chiều quả đất quay sung quanh mặt trời Vành ngoài cùng của trống đồng ngọc lũ chứa 336 vòng tròn nhỏ ứng với chu kỳ 1 năm mặt trăng quay quanh mặt trời Qua trống đồng rất có thể
cư dân Đông Sơn đã có lịch pháp riêng cần thiết cho nông nghiệp và hàng hải Những chiếc thuyền trên tang trống có thể là nghi lễ đưa tiễn hồn người chết, có thể
là lễ hội cầu mùa Từ đó có thể suy ra những ghi lễ của nông nghiệp khác như như hát đối, đua thuyền, tục thả diều ra đời trong thời kỳ này
Thời kỳ này người Việt đã bắt đầu có tư duy biện chứng, tư duy về sự đối lập và thống nhất như giao tranh, giao hòa; khô và ướt, lửa và nước, cao và thấp Quan niệm về thế giới nổi bật nhất là chuyện bành chưng, bánh dầy Người Việt cổ cho rằng trời thì tròn, đất thì vuống, tròn là sáng tạo, vuông là vạn vật Bởi vậy, bình dân
có câu: Mẹ tròn, con vuông, trăm năm tính cuộc vuông tròn là như vậy
Nhìn chung tư tưởng triết học Việt Nam thời kỳ tiền sử, sơ sử còn khá đơn giản, mộc mạc, chất phác
Đây là thời kỳ mà các thị tộc, bộ lạc sống riêng rẻ liên kết lại thành một cộng đồng quốc gia tạo nên nhà nước Văn Lang-Âu Lạc Cùng với quá trình hình thành nhà nước là quá trình hình thành những cơ sở ba đầu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
2.2.3 Thời kỳ đấu tranh lâu dài giành độc lập dân tộc (cuối thế kỷ II tcn đến thế kỷ X sau cn)
- Đặc điểm kinh tế-xã hội, lịch sử
Năm 179 tcn Triệu Đà xâm chiếm đất Âu Lạc, Vua An Dương Vương thất bại,
từ đó Việt Nam bước vào thời kỳ Bắc thuộc Thời kỳ này kéo dài hơn 1000 năm cho
Trang 18đến năm 938 Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng đất nước mới dành được độc lập
Điểm nổi bật của giai đoạn này là dân tộc ta bị phụ thuộc, đất nước ta trở thành châu, quận của phương Bắc Dân ta sống trong tủi nhục, cực khổ, căm phẫn Đây cũng là thời kỳ cuộc đấu tranh giữa nhân nhân ta với phong kiến phương Bắc kéo dài, giữa khuynh hướng hán hóa và chống hán hóa Tùy từng thời kỳ, tùy thế và lực của mỗi bên mà cuộc đấu tranh này lúc căng lúc dịu
- Về tư tưởng triết học
Giai đoạn Bắc thuộc về tư tưởng diễn ra hai quá trình: Hán hóa và chống hán hóa để giữ gìn bản sắc dân tộc Cả hai chiều hướng này đều tác động đến đất nước, con người, xã hội Việt Nam
+ Hán hóa là hiện tượng rõ ràng, dễ nhận biết diễn ra trong suốt thời kỳ Bắc thuộc Chúng bắt người Việt Nam học tập như người Hán với mục đích đào tạo những người làm việc cho chính quyền Hán (tuy nhiên một số người học nho là để nắm bắt kiến thức đương thời), ăn mặc như người Hán, tổ chức đời sống xã hội như người Hán Chúng đưa đàn ông người Hán sang lấy vợ người Việt Nam để duy trì nòi giống và đồng hóa văn hóa Đồng thời chúng truyền bá các học thuyết như Nho giáo, Đạo giáo
+ Đây cũng là giai đoạn tam giáo (Nho, Phật, Lão) bắt đầu truyền vào nước ta, trong đó Phật giáo là nổi trội hơn cả Nếu Nho, Lão vào nước ta theo vó ngựa của quân xâm lược thì Phật giáo vào nước ta chủ yếu bằng đường biển trực tiếp từ Ấn
Độ
+ Đạo Nho: Chủ trương dùng đức trị để quản lý xã hội, ngoài ra còn có các nguyên tắc tam cương, ngũ thường, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín vừa là chuẩn mực để điều chỉnh hành vi, vừa là công cụ thiết lập trật tự ổn định xã hội (Nho giáo cho rằng kẻ dưới phải tuyệt đối phục tùng người trên; Kẻ tiểu nhân làm ruộng là việc của họ ) Cần nhận thấy rằng, nho giáo vào nước ta là do bọn thống trị áp đặt thế nhưng khi xã
Trang 19hội Việt Nam ít nhiều mang tính chất của phương Bắc thì Nho giáo lại là một yêu cầu, học thuật tư tưởng mà người trong nước phải tiếp thu
+ Đạo Lão Trang: Đạo trời không làm gì nhưng không có cái gì là không sinh
ra từ đó Do đó, con người không cần can thiệp vào xã hội, cứ để cho nó tự nhiên phát triển, con người cũng không nên rèn luyện bản thân mình cứ để cho nó phát triển theo bản tính vốn có của nó Trên đời này cái gì cũng có tính tương đối không thể biến nó thành cái tuyệt đối, cái chuẩn để bắt người khác noi theo Trong cuộc sống con người không cần phải tranh giành nhau mà cần phải giữ thái độ mềm yếu Lão Trang cho rằng: Đời người ngắn ngủi như giấc mộng, chẳng có ý nghĩa gì, chẳng cần quan tâm đến
Đạo Lão Trang trong thời kỳ Bắc thuộc chủ yếu lưu hành trong một số người Hán, những người thất thế trên con đường chính trị và bị ngược đãi thì tìm đến Lão Trang để an ủi mình, để yên số phận Ảnh hưởng đạo Lão Trang lúc này đối với người Việt chưa nhiều Cuối thời Bắc thuộc mới ảnh hưởng sâu sắc
+ Phật giáo: Truyền bá Phật giáo vào Việt Nam là các nhà sư Ấn Độ, Trung Quốc nhưng để hiểu tường tận lễ, nghĩa, giáo lý thì phải kể đến các nhà trí thức Thời Trần, Phật giáo là quốc giáo, các nhà Vua đồng thời là nhà tu hành Phật cho rằng thế giới này là vô thường, vô ngã, vô tạo giả, có có không không, mọi sự vật hiện tượng vận động và phát triển tuân theo quy luật nhân duyên Nhân duyên do Nghiệp chi phối Từ đó, nhà Phật khuyên con người sống lương thiện để hưởng được hạnh phúc trong cuộc sống và sau này
Ba đạo du nhập vào Việt Nam đã tạo cơ sở tư tưởng cho người Hán đẩy nhanh việc thực hiện chính sách văn hóa, chính trị-xã hội Xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi, sự biến đổi này một mặt do cưỡng bức, một mặt do ảnh hưởng tại chỗ
Hậu quả chính sách Hán hóa ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực:
Công cụ lao động: Từ đồ đồng chuyển sang đồ sắt, từ đốt nương, chọc lỗ trồng trỉa chuyển sang dẫn nước, làm cỏ, cày cấy; từ nhờ trời chuyển sang chú trọng thời
vụ
Trang 20Thứ bậc nghề nghiệp: Theo thứ tự sĩ-nông-công-thương
Thể chế chính trị:Từ chỗ liên minh bộ lạc chuyển sang chế độ châu, quận lệ thuộc, từ quan hệ tộc trưởng thủ lĩnh bộ lạc chuyển sang hào trưởng, địa chủ, người nông dân bị lệ thuộc
Tư tưởng: Tôn sùng đạo Nho nhưng vẫn cho lưu hành đạo Lão Trang, Phật giáo
Tiếng nói người Việt có thêm nhiều thuật ngữ Hán (độc lập, tự do, dân chủ, dân quyền, công hàm ) nhưng Hán hóa với mục tiêu đồng hóa thì người hán không thực hiện được Bởi vì thời Bác thuộc ngoài chiều hướng hàn hóa còn có chiều hướng chống hán hóa để giữ gìn bản sắc dân tộc
Người Việt đã có tư duy phát triển, biết đánh giá và nhìn nhận, thể hiện bản lĩnh Đòi hỏi cấp bách nhất đối với người Việt thời Bắc thuộc là độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước Trong suốt thời kỳ này có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra thắng lợi có, thất bại có Mỗi lần như thế đều có tổng kết, nhờ đó mà tư duy lý luận của người Việt được phát triển, nảy sinh cơ sở phương pháp luận, lý luận về đấu tranh giải phóng dân tộc về chủ nghĩa yêu nước Tư tưởng yêu nước, ý thức cộng đồng dân tộc được thể hiện rất rõ trong các huyền thoại Lạc long quân và Âu cơ, ý thức cộng đồng đạt đến đỉnh cao thời Lý Bí, sau khi đánh đổ quân Lương ông tự xưng là Nam
đế đặt quốc hiệu là Vạn Xuân đóng đô ở Long Biên với mong muốn sự thịnh vượng, ổn định đời đời của đất nước, từ đó tạo lập tư tưởng quyết tâm giữ gìn đất nước độc lập lâu dài
Qua lăng kính tư tưởng yêu nước tư tưởng Nho, Phật, Lão có sự thay đổi Phật
ở giai đoạn này như là người cứu dân ra khỏi nỗi cơ cực bằng cách tham gia chống hoạn nạn, gạt bỏ những tên quan tham tàn bạo, nguyền rủa bọn phương Bắc bằng quan điểm gieo ác sẽ gặp ác, gieo gió sẽ gặp bão Các phạm trù trong Nho giáo cũng được cải biến đi cho phù hợp ví dụ người quân tử không học cũng biết, kẻ tiểu nhân học mãi cũng không biết, ở Việt Nam dốt đến đâu học lâu cũng biết; ông bảy mươi
Trang 21học ông bảy mốt; học khôn học đến chết, học nết học đến già; quan nhất thời dân vạn đại
Sỡ dĩ thời kỳ Bắc thuộc kéo dài 1.000 năm, phong kiến phương Bắc thi hành chính sách Hán hóa nhưng không thực hiện được vì:
Nhân dân ta luôn có ý thức cộng đồng, tinh thần yêu nước tạo thành sức mạnh, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược trên các bình diện quân sự và văn hóa
Nhân dân ta có một nền văn hóa bản địa từ thời các vua Hùng, đến thời Bắc thuộc để đối phó với chính sách Hán hóa dân tộc ta đã tôn vinh văn hóa Ấn Độ mà đại diện là Phật giáo, nhờ vậy mà văn hóa bản địa vẫn được duy trì, giữ vững và tiếp tục đi theo con đường riêng của nó
2.2.4 Thời kỳ phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập và khủng hoảng của xã hội phong kiến ( Thế kỷ X đến thế kỷ XVIII)
- Đặc điểm kinh tế-xã hội
Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XVIII là thời kỳ phục hồi và xây dựng và khugr hoảng đất nước, nó trải qua hiều triều đại triều đại Về kinh tế, nhà nước đặc biệt quan tâm đến sản xuất nông nghiệp , thể hiện ở chỗ xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi , đẩy mạnh khai khẩn đất hoang Từ đó nông nghiệp phát triển và kéo theo các ngành thủ công nghiệp phát triển (dệt vải, nung gạch ngói, đồ gốm ) Ruộng đất suy cho cùng đều thuộc quyền quản lý của nhà Vua, bên dưới còn có điền trang của quý tộc và ruộng của nhà chùa
Về giai cấp có tầng lớp quý tộc, quan lại đứng đầu là Vua, có các tầng lớp như tăng lữ, nông dân, nông nô, thợ thủ công và lái buôn, địa chủ nhỏ và nho sĩ Tất cả các giai cấp này tuy có lúc có nơi đấu tranh lẫn nhau nhưng đều có một nhiệm vụ chung là dựng nước và giữ nước Chính nhiệm vụ giữ nước đã làm cho các giai cấp đối kháng xích lại gần nhau để chống kẻ thù chung Nhưng khi hết quân xâm lược giai cấp thống trị đi vào con đường ăn chơi hưởng lạc, xã hội đi xuống thì mẫu thuẫn giữa thống trị và bị lại nổi lên bằng những cuộc khỏi nghĩa nông dân ở cuối triều Lý
và triều Trần