1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Việc thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận khi kết hôn trong pháp luật một số nước trên thế giới

4 326 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 178,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iĐ ều 17 của luật này giữ nguyên qui định của luật cũ rằng tất cả thu nhập kiếm được và tài sản của các bên được coi là tài sản chung ngoại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác iđ

Trang 1

Việc thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận khi kết hôn trong pháp luật một số nước trên thế giới

2.1 Trung Quốc

Trước khi ban hành Luật hôn nhân 2001, hôn ước không được công nhận ở Trung Quốc Theo qui định của luật cũ thì mọi tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu chung theo pháp luật Tuy nhiên, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với sự gia t ng că ủa cải cá nhân c ng nh mũ ư ức độ phức tạp ngày càng t ng că ủa vấn liên quan đến của cải có được từ quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu đối với cổ phần và phần vốn góp mà việc thay đổi qui định pháp luật trở nên cần thiết ở nước này N mă

2001, Luật hôn nhân Trung Quốc bổ sung qui định mới liên quan đến tiền hôn nhân hay hôn ước iĐ ều

17 của luật này giữ nguyên qui định của luật cũ rằng tất cả thu nhập kiếm được và tài sản của các bên được coi là tài sản chung ngoại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác ( iđ ều 19).Cụ thể, điều 19 qui định: vợ hoặc chồng có thể, bằng thỏa thuận, ước định tài sản của mỗi bên trước và sau hôn nhân H n nơ ữa, thỏa thuận này có thể qui định chế độ sở hữu tài sản, hoặc là sở hữu chung toàn bộ, hoặc là sở hữu chung một phần hoặc là sở hữu riêng Tất cả những thỏa thuận này đều phải được thể hiện bằng v n bă ản Nếu thỏa thuận này không rõ ràng hoặc thiếu thì qui định về chế độ sở hữu vợ chồng theo pháp luật được áp dụng

Từ khi được công nhận, hôn ước ngày nay trở nên rất phổ biến ở những thành phố lớn của Trung Quốc như Thượng Hải, Bắc Kinh, đặc biệt là ở thế hệ trẻ Chúng được biết đến nh ư một chứng nhận tài sản trước hôn nhân Tuy nhiên, đ ều này không phổ biến ở khu vực nông thôn và ở thế hệ lớn tuổi Tranh chấp được xử lýi trong phạm vi gia đình hoặc rộng h n, giá trơ ị truyền thống gia đình và cộng đồng hãy còn tồn tại trong khi

xu hướng độc lập về tài chính và tự bảo vệ đã bắt đầu ở Trung Quốc Mặc dù việc sử dụng hôn ước đã trở thành trào l u và chính phư ủ cũng muốn luật hóa lựa chọn này nh ng thư ực tế cho thấy Trung Quốc đã gặp phải một số vấn đề trong khi thi hành qui định của iđ ều 19 Một mặt, nước này không có hướng dẫn cụ thể

và thiếu thống nhất trong cách giải thích pháp luật Mặt khác, người dân thường tự cho rằng có thể thỏa thuận mọi vấn đề liên quan đến tài chính mà thực sự không dự oán đ được tài sản sẽ thay đổi nh thư ế nào nhất là trong trường hợp chuyển nhượng cổ phần Do ó, vđ ấn đề đặt ra là phải làm rõ được tài sản nào là đối tượng của hôn ước, đối tượng của việc phân chia khi ly hôn, trong trường hợp phân chia thì theo tỷ lệ nào

và cách thức nào

2.2 Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia mang nặng nhiều biểu hiện phong kiến và bất bình đẳng giới Hôn nhân một vợ một chồng của Nhật Bản mới được ghi nhận khoảng 100 n m tră ước vào đầu thời kì Minh Trị, ngay cả đến thời iđ ểm hiện nay Nhật Bản cũng chỉ cho phép phụ nữ được tái giá sau 6 tháng kể từ ngày cuộc hôn nhân trước của họ chấm dứt và người vợ khi kết hôn thì phải mang họ chồng, luật dân sự ở Nhật Bản được coi là một trong những sản phẩm của cuộc cái cách Minh Trị 1868 Hôn ước hay phần lớn những qui định trong bộ luật dân sự Nhật Bản thường do được học tập từ dân luật Đức hoặc Pháp, tuy nhiên ó là sđ ự cấy ghép có chọn lọc chứ không phải là sự sao chép nh trong dân luư ật Việt Nam thời kì Pháp thuộc, nó thể hiện ở những nét đặc tr ng riêng trong qui ư định về hôn ước ở Nhật Bản

Về hình thức, không giống nh pháp luư ật các quốc gia khác, Nhật Bản có riêng một v n bă ản pháp luật iđ ều chỉnh về hình thức của hôn ước và vấn đề đăng kí hôn ước (Mặc dù tên tiếng anh của v n bă ản này được dịch theo các cách khác nhau: “Family Registration Act” hay “Matrimonial property agreement Registration Act” nh ng toàn bư ộ nội dung của nó chỉ nói về việc đăng kí hôn ước và hình thức của hôn ước).Về nội dung, nội dung của của hôn ước được qui định trong bộ luật dân sự (Civil Code) iĐ ều 755 Bộ luật dân sự Nhật Bản ghi nhận quyền được lập hôn ước của các cặp vợ chồng: các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sẽ được tuân theo các qui định dưới ây nđ ếu nh vư ợ chồng không kí vào một hợp đồng qui định trước về tài sản của họ trước khi đăng kí kết hôn Luật c ng qui ũ định: Nếu vợ chồng có một thỏa thuận về tài sản mà trong ó qui đ định khác với chế độ tài sản pháp định thì hôn ước này không được chống lại người thừa kế hàng thứ nhất của vợ hoặc chồng hoặc người thứ ba trừ khi nó được đăng kí trước khi đăng kí kết hôn

2.3 Hoa Kỳ

Trang 2

Có thể nói rằng không có ở một quốc gia nào mà vấn đề lập hôn ước lại trở nên phổ biến nh ư ở Hoa Kì Ở Hoa Kì, những người có mức sống cao hoặc những người thừa kế giàu có thường gặp rất nhiều phiền toái với vợ/chồng cũ của mình cũng như ật s c lu ư ủa cô/anh ta trong suốt thời kì giải quyết việc li hôn Thêm vào

ó, nh

đ ững luật s ư làm về luật gia đình đặc biệt là giải quyết các vụ li hôn thường có thu nhập rất cao, tổng phí phải chi trả cho một vụ li hôn thường không dưới 150.000 USD Ngoài hôn ước (prenuptial agreement), Hoa Kì còn cho phép các cặp vợ chồng lập một thỏa thuận tương tự nh hôn ư ước trong thời kì hôn nhân (postnuptial agreement tạm dịch là hậu hôn ước) Trong suốt thế kỉ 18 thì thông luật (common law) không cho phép vợ chồng lập hôn ước bởi vì họ cho rằng khi hai người kết hôn thì họ đã hòa làm một và không thể có giao dịch khi chỉ có một chủ thể, một lí do nữa là một người phụ nữ đã có chồng thì họ không được phép tham gia kí kết các hợp đồng trừ khi đã li thân Đến khoảng giữa thế kỉ 19 thì một số án lệ ở Hoa

Kì đã cho phép sự tồn tại của hôn ước, đến tháng 7 n m 1983ă một đạo luật về hôn ước (Uniform premarital agreement Act gọi tắt là UPAA) đã được ban hành dựa trên kết quả của các án lệ, UPAA được chấp nhận ở a sđ ố các bang của Hoa Kì, một số bang còn lại có những qui định khác hay đặc biệt h n soơ với UPAA

2.4 Công Hòa Pháp

Nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân bắt nguồn từ việc thực hiện nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đã được thừa nhận ở Pháp từ thế kỷ XVI, khi mà những quan hệ kinh tế, thương mại phát triển mạnh Từ thời kỳ ó, luđ ật pháp và tập quán đã thừa nhận những sự thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của họ, nh là mư ột quyền tự do cá nhân Bộ luật dân sự 1804 ra đời đã kế thừa tinh thần này và duy trì nguyên tắc không thay đổi những thỏa thuận của vợ chồng về chế độ hôn sản[5] Đạo luật ngày 13 tháng 7 n m 1965 vă ề cải cách chế độ tài sản của vợ chồng đã hủy bỏ nguyên tắc này vì cho rằng nó hạn chế quyền quyết định của vợ chồng về chế độ tài sản Hiện nay, nguyên tắc vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản được khẳng định ngay trong quy định đầu tiên của phần những quy định chung của Bộ luật dân sự về các chế độ tài sản của vợ chồng iĐ ều 1387 quy định: «Luật pháp chỉ iđ ều chỉnh quan hệ vợ chồng về tài sản khi không có thỏa thuận riêng, mà vợ chồng có thể làm vì cho rằng iđ ều óđ

là cần thiết, miễn sao những thỏa thuận ó không trái vđ ới thuần phong mỹ tục và những quy định sau ây»

đ

Thực tế, nhà lập pháp của Pháp đã đưa ra một hệ thống các chế độ tài sản của vợ chồng, bao gồm chế độ tài sản pháp định và các chế độ tài sản ước định Dưới ảnh hưởng của nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng, chế độ tài sản pháp định không có hiệu lực áp dụng một cách đương nhiên, trái lại, nó chỉ là một chế độ tùy nghi (facultatif) Những người kết hôn hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận một chế độ tài sản cho riêng mình Nếu họ không thiết lập những thỏa thuận về vấn đề này, chế độ tài sản pháp định sẽ

ng nhiên

đươ được áp dụng Mặt khác, nguyên tắc tự do thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng còn giữ hiệu lực ngay cả trong những trường hợp chế độ tài sản đã được xác định, bằng việc vợ chồng có quyền thỏa thuận thay đổi Sự thay đổi này có thể được thực hiện trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân Theo quy định của iđ ều 1394 BLDS, những thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải được tiến hành với sự tham gia của công chứng viên, theo những thể thức nhất định

II Các qui định cụ thể về chế độ tài sản theo thỏa thuận khi kết hôn ở một số nước trên thế giới

Cùng với những qui định công nhận quyền tự do định ođ ạt của vợ chồng đối với tài sản (chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận) thì pháp luật các nước còn có các qui định cụ thể khác qui định hình thức, nội dung

và cả iđ ều kiện thay đổi,chấm dứt thỏa thuận này

1 Các qui định về hình thức và nội dung của thỏa thuận

1.1 Các qui định về hình thức thỏa thuận

Có rất nhiều cách gọi khác nhau thỏa thuận của vợ chồng liên quan đến tài sản Dù tồn tại dưới tên nào : hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận tài sản của vợ chồng thì nhìn chung hầu hết các quốc gia đều qui định thỏa thuận của vợ chồng phải được viết thành v n bă ản và có chữ ký của hai bên Đ ều này thểi hiện sự tự nguyện và ý chí của họ khi thỏa thuận vấn đề liên quan Nếu nh ư ở Hoa Kỳ, quyền tự do định

Trang 3

đ ạt tài sản cá nhân được đề cao nên hôn ước chỉ cần lập thành v n bă ản và có chữ ký của hai bên thì sẽ

có hiệu lực mà không cần bất kỳ một xe m xét nào ( UPAA, các đ ều 52B-2 và 52B-3) thì Trung Quốc, ii đ ều này ch a ư đủ, v n bă ản ó cđ ần phải được công chứng để có thể phát huy hiệu lực Tương tự nh vư ậy, hôn ước ở Nhật bản được xác lập ngay trước khi kết hôn Việc xác lập hôn ước và hình thức của loại giấy tờ này được tiến hành cùng với thủ tục xin đăng ký kết hôn.Hôn ước được lập phải được em đ đến phòng tư pháp n i có ơ địa chỉ thường trú của bên còn lại có thẩm quyền đối với việc đăng ký kết hôn C quan nàyơ sau ó sđ ẽ cung cấp cho người ó mđ ột tờ chứng nhận đăng ký và giấy tờ này sẽ được nộp cùng với những tài liệu nh hư ộ khẩu thường trú, giấy tờ chứng minh tình trạng độc thân, giấy tờ chứng minh không phải là người nhật (đối với người nước ngoài) để làm thủ tục đăng ký kết hôn Ở Pháp, hôn ước phải do hai bên nam nữ thỏa thuận và phải được lập ra trước khi kết hôn Về hình thức, nó phải được lập bằng v n bă ản trước mặt công chứng viên với sự có mặt và thỏa thuận chung của cả hai bên hoặc người được ủy quyền Khi lập hôn ước công chứng viên cấp cho các bên giấy chứng nhận có ghi rõ họ tên, n i c trú cơ ư ủa công chứng viên, t cách và n i ư ơ ở của các bên kết hôn, ngày lập hôn ước, trong giấy chứng nhận cũng phải ghi rõ là phải nộp giấy này cho viên chức hộ tịch trước khi đăng kí kết hôn Để đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba trong giao dịch với vợ chồng, việc lập hôn ước có thể được ghi trong giấy đăng kí kết hôn hoặc ghi rõ trong các văn bản giao dịch với người thứ ba nếu không thì với người thứ ba vợ chồng được coi nh là kư ết hôn theo chế độ pháp lí chung

Nh vư ậy, ngoài hình thức v n bă ản bắt buộc và chữ ký hợp lệ của các bên thì luật pháp các nước ràng buộc thêm iđ ều kiện có công chứng viên hoặc được xác nhận bởi c quan có thơ ẩm quyền đối với hôn ước Việc qui định nh vư ậy làm t ng thêm tính chă ặt chẽ của hôn ước và giúp chúng ta kiểm soát được tính xác thực

và tự nguyện của các hôn ước, tránh những xung đột, tranh chấp liên quan đến hôn ước sau này

1.2 Các qui định về nội dung của thỏa thuận

Nhìn chung, khi chấp nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, nhà làm luật thường chỉ qui định chặt chẽ mặt hình thức, phần nội dung do vợ chồng tự do lựa chọn miễn là không trái với qui định của pháp luật Tuy nhiên, pháp luật các nước vẫn để một số iđ ều khoản qui định nội dung của hôn ước để làm c sơ ở cho

vợ chồng thực hiện Không có ràng buộc về mặt thủ tục chặt chẽ nh các nư ước khác nh ng Hoa Kư ỳ lại có qui định về nội dung rất rõ ràng Pháp luật nước này đề cập đến 8 nội dung cần có trong hôn ước bao gồm: (1) quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với bất kỳ tài sản của riêng từng người và của chung, thu được hoặc

có sẵn; (2) quyền mua bán, sử dung, trao đổi, từ bỏ, cho thuê, tiêu thụ, mở rộng và bảo mật trong việc thế chấp, quản lý hoặc kiểm soát tài sản;(3) định ođ ạt tài sản khi chia, kết thúc hôn nhân, chết, hoặc sự kiện nào khác, (4) việc sửa đổi hay loại bỏ hỗ trợ giữa vợ chồng, (5) sự thể hiện ý chí, niềm tin và các hành động khác để thực hiện các iđ ều khoản của thỏa thuận, (6) các quyền sở hữu và định ođ ạt từ bảo hiểm sau khi chết, (7) lựa chon luật iđ ều chỉnh việc thỏa thuận hôn ước, (8) các vấn đề khác bao gồm quyền nghĩa vụ của

cá nhân không vi phạm chính sách công cộng hoặc hình sự Ở Trung Quốc, phần nội dung không được làm

rõ, nhà làm luật chỉ khuyến khích hai bên làm rõ thời iđ ểm thực hiện, tài sản thuộc sở hữu của bên nào, trong trường hợp phân chia thì phân chia theo tỷ lệ nào và cách thức ra sao iĐ ều này xảy ra tương tự ở Nhật Bản Trong khi ó,đ CH Pháp là quốc gia có những qui định chặt chẽ cả về hình thức và nội dung Theo họ, điều này nhằm đảm bảo quyền lợi của người thứ ba, trật tự xã hội c ng nh cũ ư ủa chính người vợ hoặc người chồng Liên quan đến nội dung của hôn ước, pháp luật CH Pháp cho phép vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng Trong ó, các chđ ế độ tài sản chung được dự liệu bao gồm: chế độ cộng đồng toàn sản, chế độ cộng đồng động sản và tạo sản Chế độ cộng đồng toàn sản: nếu vợ chồng thỏa thuận chọn chế độ cộng đồng toàn sản: tất cả tài sản của vợ chồng sẽ có và hiện có (bao gồm cả tài sản của riêng vợ hoặc chồng trước thời kì hôn nhân) sẽ thuộc khối tài sản qui định tại iĐ ều 1404 (đồ dùng, t trang cáư nhân…) Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản: về c bơ ản sẽ gần giống với chế độ tài sản pháp định

nh ng c ng có mư ũ ột số iđ ểm khác biệt, ví dụ nh : vư ợ chồng có thể thỏa thuận về việc phân chia tài sản không đều nhau, về việc trích khấu tài sản có bồi thường Đối với chế độ tài sản riêng, vợ chồng có thể thỏa thuận lựa chọn giữa chế độ biệt sản và chế độ tài sản riêng tương đối Nếu lựa chọn chế độ biệt sản, vợ chồng không có tài sản cộng đồng, mỗi bên giữ quyền quản lí, hưởng dụng và định ođ ạt đối với khối tài sản thuộc về mình Mỗi bên vợ, chồng chịu trách nhiệm về những khoản nợ riêng và có nghĩa vụ óng góp vàođ

Trang 4

nhu cầu chung của gia đình Việc thực hiện theo thoả thuận hoặc theo qui định của pháp luật Trong quan hệ với người thứ ba vợ chồng có thể dùng mọi cách để chứng minh rằng mọi tài sản thuộc về mình Chế độ tài sản riêng tương đối được coi là một chế độ tài sản hỗn hợp: tách riêng tài sản trong thời kỳ hôn nhân và cộng đồng tài sản khi chấm dứt hôn nhân Trong thời kì hôn nhân, vợ chồng thực hiện chế độ tách riêng tài sản, mỗi bên giữ một phần tài sản riêng và quyền quản lí, hưởng dụng và định ođ ạt Vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ riêng bằng tài sản riêng của mình Tuy nhiên, khi chấm dứt hôn nhân, mỗi bên được hưởng một nửa những tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân mà hiện còn Ngoài những qui định chung trên, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng là doanh nhân, pháp luật có những yêu cầu mang tính đặc thù đối với việc sản xuất kinh doanh Có thể thấy, so với qui định của các nước trên, qui định của

CH Pháp đơn giản và ít phức tạp h n Vơ ợ chồng không phải xác định âu là tài sđ ản riêng, âu là tài sđ ản chung và việc chuyển hóa của khối tài sản này Qui định nh vư ậy vừa chặt chẽ, vừa cô đọng, súc tích, vừa giúp vợ chồng tránh được những khó kh n khi soă ạn thảo hôn ước ây thĐ ực sự là kinh nghiệm quí báu cho Việt Nam trong việc xây dựng các qui định liên quan đến hôn ước

2 Các qui định về việc thay đổi thỏa thuận tài sản của vợ chồng

Khi thỏa thuận của vợ chồng thỏa mãn đầy đủ các iđ ều kiện về hình thức và nội dung, v n bă ản này được coi là có hiệu lực pháp luật và không bị tuyên bố vô hiệu Tuy nhiên, do thỏa thuận về tài sản còn có ảnh hưởng tới bên thứ ba nên việc thay đổi v n bă ản này cũng cần được luật hóa rõ ràng Pháp luật các nước đã công nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận đều có những qui định về việc chấm d t, thay ư đổi thỏa thuận tài sản của vợ chồng Ở Pháp, hôn ước có thể được sửa đổi trước hoặc sau khi kết hôn Trước khi kết hôn, việc sửa đổi thỏa thuận về tài sản vợ chồng trước khi kết hôn phải do hai người nam nữ thỏa thuận, việc thỏa thuận này phải có mặt của các bên tham gia hợp đồng và người được ủy quyền Bản hôn ước đã sửa đổi cũng phải đảm bảo những yêu cầu về hình thức c ng nh ũ ư đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba nh bư ản hôn ước đã lập ban đầu Sau khi kết hôn, sửa đổi chỉ được tiến hành sau khoảng thời gian 2 n m theo quiă định của iđ ều 1397 Luật dân sự CH Pháp, cụ thể: sau hai n m áp dă ụng chế độ tài sản trong hôn nhân theo thỏa thuận hoặc theo luật định, hai vợ chồng có thể, vì lợi ích của gia đình, xin sửa đổi hoặc thay đổi hoàn toàn chế độ tài sản trong hôn nhân bằng một chứng th có ch ng thư ư ực của công chứng viên và được Tòa

án nơ ưi c trú phê chuẩn.Nh vư ậy, việc sửa đổi ngoài việc tuân thủ iđ ều kiện về thời gian thì vẫn phải tuân thủ i

đ ều kiện về thể thức và thủ tục xác nhận nh ư đã làm với bản hôn ước ban đầu Khác với Pháp, Nhật Bản

ch a có như ững qui định chặt chẽ về vấn đề này iĐ ều 758 và 759 Luật dân sự Nhật bản chỉ qui định việc thay đổi nh ng c n cư ă ứ xác định tài sản của vợ chồng trong hôn nước có thể được tiến hành cho phù hợp với thực tế tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định ođ ạt tài sản của vợ chồng Nhìn chung, hôn ước không được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân trừ khi có hành vi phá hoại hoặc không thực hiện tốt vai trò quản lý từ một bên Vấn đề này phải được bên kia yêu cầu lên tòa án và tòa án có thẩm quyền là tòa án riêng biệt Đối với Hoa Kỳ thì qui định về thay đổi và chấm dứt hôn ước có sự khác nhau giữa pháp luật liên bang và các bang Theo luật liên bang, sau khi kết hôn, hôn ước có thể được các bên sửa đổi bằng cách lập thêm một v n bă ản khác và kí tên vào ó, sđ ự sửa đổi này không cần thêm một sự xem xét nào cả Tuy nhiên theo luật một số bang, hôn ước còn có thể tự động hết hiệu lực sau 7 n m áp dă ụng hoặc sau khi đứa con đầu tiên ra đời, hay hôn ước chỉ được sửa đổi sau 1,5 n m áp dă ụng

Ngày đăng: 24/08/2017, 10:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w