1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình chuyên đề kinh tế chính trị

93 217 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 746,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình phát triển sản xuất xuất hiện đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ) CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ (Dành cho Sinh viên ngành Giáo dục chính trị-Hệ chính quy)

Tác giả: Th.S Nguyễn Thị Hương Liên

Năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC Trang LỜI NÓI ĐẦU -3 CHUYÊN ĐỀ 1 LÝ LUẬN MÁC - LÊNIN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1 Sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường……… 4 1.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam……… 7 1.3 Thực trạng và các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế t định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam………10

CHUYÊN ĐỀ 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM

2.1 Quan điểm và bản chất của công nghiệp hóa……….18 2.2 Một số mô hình và kinh nghiệm về công nghiệp hóa trên thế giới…………20 2.3 Quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam……… 43

CHUYÊN ĐỀ 3 SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT VÀ NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

3.1 Sở hữu và cơ cấu sở hữu……… 59 3.2 Sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam……… 59 3.3 Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội………65

CHUYÊN ĐỀ 4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN PHỐI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

4.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối………72 4.2 Vấn đề phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa……… 75 4.3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế phân phối nhằm bảo đảm công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ……… 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Kinh tế chính trị là nền tảng lý luận cho một tổ hợp các khoa học kinh tế Những kết luận của kinh tế chính trị biểu hiện ở các phạm trù và quy luật kinh tế

có tính chất chung là cơ sở lý luận của các môn kinh tế chuyên ngành và các môn kinh tế chức năng, nó là cơ sở lý luận cho một số môn khoa học khác Vì thế, kinh tế chính trị Mác - Lênin cần phải phát hiện bản chất của các hiện tượng, quá trình kinh tế của đời sống xã hội, tìm ra các quy luật chi phối sự vận động của chúng, giúp con người vận dụng các quy luật kinh tế một cách có ý thức vào

hoạt động kinh tế nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao Từ việc nghiên cứu các

hiện tượng và các quá trình kinh tế của đời sống xã hội, phát hiện ra bản chất, các quy luật chi phối và cơ chế hoạt động của các quy luật, từ đó kinh tế chính trị cung cấp những luận cứ khoa học để hoạch định đường lối, chính sách và biện pháp kinh tế Đường lối, chính sách và các biện pháp kinh tế dựa trên những luận

cứ khoa học đúng đắn đã nhận thức được sẽ đi vào cuộc sống làm cho hoạt động

kinh tế có hiệu quả cao hơn nhiều

Tài liệu cung cấp cho sinh viên cách nhìn tổng quan về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Một số vấn đề cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; Sở hữu tư liệu sản xuất và nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Một số vấn đề cơ bản về phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 4

NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ 1

LÝ LUẬN MÁC-LÊNIN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1.1 Sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường

1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế - xã hội trong đó, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là hướng vào việc kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của thị trường

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình phát triển sản xuất xuất hiện đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như: đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm và dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua bán, là hàng hóa

Tóm lại: Kinh tế thị trường là một trong những phương thức tồn tại của nền kinh tế mà trong đó các quan hệ kinh tế đều được biểu hiện thông qua quan hệ hàng hoá - thị trường Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá

1.1.2 Các bước phát triển của kinh tế thị trường

1.1.2.1 Từ nền kinh tế tự nhiên chuyển sang nền kinh tế hàng hoá giản đơn

Bước đi tất yếu của sản xuất tự cung, tự cấp là tiến lên sản xuất hàng giản đơn Điều kiện cho quá trình chuyển hoá này là sự phát triển của phân công xã hội Phân công xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hoá Họ trở thành những người sản xuất hàng hoá Trao đổi, mua bán, thị trường, tiền tệ ra đời và phát triển

Sản xuất hàng hoá ra đời, lúc đầu dưới hình thức sản xuất hàng hoá nhỏ, giản đơn, nhưng là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại

1.1.2.2 Từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển sang nền kinh tế tự do cổ điển

Quá trình chuyển từ nền kinh tế giản đơn sang nền kinh tế tự do cổ điển được thực hiện qua ba giai đoạn phát triển cả về lực lượng sản xuất, cả về quan hệ sản xuất mới thích ứng với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất

- Kỹ thuật thủ công dựa trên lao động hiệp tác giản đơn:

Trong giai đoạn hiệp tác giản đơn, công nhân phụ thuộc vào nhà tư bản về kinh

tế nhưng vẫn còn độc lập về mặt kỹ thuật Để tổ chức hiệp tác lao động, bước

Trang 5

đầu tiên phải tập trung tư liệu sản xuất, trên cơ sở đó tập trung sức lao động Với sản xuất quy mô lớn, trong hiệp tác giản đơn, phải mua nguyên liệu và buôn bán hàng hoá, do đó đã làm xuất hiện một mạng lưới mua gồm nguyên liệu và bán lẻ hàng hoá, từ đó thúc đẩy việc sản xuất và trao đổi sâu rộng trong xã hội Hiệp tác giản đơn đã bước đầu làm xuất hiện sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa, nâng cao năng suất lao động xã hội lên rất nhiều Việc hiệp tác giản đơn làm xuất hiện sản xuất lớn về mặt quy mô là một bước ngoặt rất quan trọng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn

- Phân công công trường thủ công Tư bản chủ nghĩa

Sự phát triển của hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa tất yếu dẫn tới hiệp tác có phân công, làm xuất hiện các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa Công trường thủ công là hình thức xí nghiệp tư bản thực hiện sự hiệp tác có phân công dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công Đặc điểm về tổ chức và kỹ thuật của công trường thủ công là: Quá trình sản xuất được phân chia thành những giai đoạn, những công việc bộ phận để có sản phẩm hoàn chỉnh, trên cơ sở đó mỗi công nhân chỉ chuyên làm một công việc bộ phận Đặc điểm của sự phân công này là chuyên môn hoá hẹp

Cơ cấu tổ chức của công trường thủ công là những người lao động bộ phận, sử dụng công cụ chuyên dùng thích ứng, hợp thành lao động tập thể

- Đại công nghiệp cơ khí

Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể được xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc Máy móc được sử dụng phổ biến trong xã hội thông qua cuộc cách mạng công nghiệp Đó là cuộc các mạng kỹ thuật thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc

Cơ khí hoá trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá ở các ngành liên quan Cơ khí hoá trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy

cơ khí hoá ngành giao thông vận tải… cơ khí hoá bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ đến các ngành công nghiệp nặng Máy móc và đại công nghiệp có tác dụng chủ yếu làm năng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hoá lao động và sản xuất ngày càng cao, mở rộng thị trường, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp và những thành thị lớn; đồng thời, tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật

1.1.2.3 Từ nền kinh tế thị trường tự do chuyển sang nền kinh tế thị trường hỗn hợp

Xuất phát từ những khuyết tật của cơ chế thị trường:

Trang 6

Do chạy theo lợi nhuận cho nên các doanh nghiệp thường gây ô nhiễm môi trường, thường khai thác tài nguyên một cách bừa bãi dẫn tới làm mất cân bằng sinh thái mà doanh nghiệp không phải đền bù một khoản thiệt hại nào

Cơ chế thị trường dễ làm xuất hiện căn bệnh: khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát và suy thoái

Cơ chế thị trường dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo, dễ phát sinh những tiêu cực

xã hội

Kinh tế thị trường là một bước phát triển sau của kinh tế tự nhiên và khi kinh tế hàng hoá phát triển tới trình độ cao thì đó chính là kinh tế thị trường Trong cơ chế thị trường thì do những khuyết tật của nó dẫn đến phá vỡ cân đối của nền kinh tế, gây lãng phí nhiều nguồn lực: tư liệu sản xuất, lao động, tạo ra sự phân hóa xã hội Vì vậy nhà nước phải có vai trò nhất định để khắc phục những nhược điểm trên

Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kì tự do cạnh tranh thì kinh tế thị trường phát triển theo tư tưởng lý thuyết bàn tay vô hình, nghĩa là nhà nước không can thiệp kinh tế Điều đó dẫn đến việc khủng hoảng kinh tế sau này (1929 - 1933) Vì vậy đã xuất hiện lý thuyết kinh tế của Keyes yêu cầu nhà nước phải can thiệp kinh tế và đến năm 1948 đã xuất hiện lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp trong đó có sự kết hợp của hai nhân tố: sự điều tiết của thị trường (Bàn tay

vô hình) và sự can thiệp của chính phủ (Bàn tay hữu hình) và cả hai nhân tố này đều tác động vào nền kinh tế

Hạn chế và khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường

Trực tiếp đầu tư một số lĩnh vực của nền kinh tế: những ngành kinh tế công cộng, năng lượng, cầu nhiều vốn…

Quản lý và bảo vệ tài sản công, kiểm kê, kiểm soát hoạt động kinh tế - xã hội

Phân phối hợp lý các nguồn lực sản xuất

1.1.3 Những đặc trưng của kinh tế thị trường

Thị trường có những đặc trưng chủ yếu sau:

Thứ nhất, các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất

kinh doanh, nhưng có sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh tế tham gia thị

Trang 7

trường nhằm giành giật những điều kiện kinh doanh thuận lợi Trong đó, tất yếu

sẽ có người được và người thua Tuy nhiên, cần phân biệt cạnh tranh lành mạnh

và cạnh tranh không lành mạnh

Thứ hai, giá cả do thị trường quyết định Giá cả là phạm trù kinh tế trung tâm,

là công cụ quan trọng thông qua cung cầu để kích thích và điều tiết hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế tham gia thị trường Sự biến động của cung cầu kéo theo sự biến động của giá cả thị trường và ngược lại, giá cả thị trường cũng điều tiết cung cầu Hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế

Thứ ba, nền kinh tế vận động theo những qui luật vốn có của kinh tế thị trường

như qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh…Sự tác động của các qui luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế

Thứ tư, đối với nền kinh tế thị trường hiện đại cần có sự điều tiết vĩ mô của

nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch hoá, các chính sách kinh tế Tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một thị trường hoàn chỉnh – thị trường xã hội thống nhất, là một thị trường đồng bộ giữa các loại thị trường (thị trường lực lượng sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vốn, kĩ thuật, sức lao động… )

và có luật pháp thương mại chi phối

Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường

có sự quản lí của nhà nước, căn cứ vào thị trường, các doanh nghiệp sẽ quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai với số lượng là bao nhiêu

1.2 Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá Hay có thể nói, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, trong

đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường Điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hoá cũng như các trình độ phát triển của nó do sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo ra Kinh tế hàng hoá phát triển ở hai trình độ khác nhau:

Trang 8

Ở giai đoạn thấp, còn gọi là kinh tế hàng hoá giản đơn, dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất, kết hợp với sức lao động cá nhân, trình độ lao động thấp, năng suất lao động không cao

Giai đoạn cao, kinh tế hàng hoá phát triển với qui mô lớn dựa trên cơ sở sản xuất lớn bằng máy móc, năng suất lao động cao, bao gồm kinh tế hàng hoá TBCN và kinh tế hàng hoá XHCN Kinh tế hàng hoá qui mô lớn vận động theo yêu cầu các qui luật kinh tế khách quan trên thị trường người ta gọi là nền kinh

tế thị trường

Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường về cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và bản chất nhưng không đồng nhất với nhau Chúng khác nhau về trình độ phát triển

+ Phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hoá vẫn tồn tại và ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Thể hiện ở chổ các ngành nghề nước ta ngày càng đa dạng, phong phú và chuyên môn hóa sâu góp phần phá vỡ tính chất tự cung, tự cấp của nền kinh tế trước đây và thúc đẩy kinh

tế hàng hoá phát triển mạnh hơn

+ Sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu tạo nên sự tách biệt kinh tế giữa các chủ thể kinh tế Là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá Bởi vì sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của riêng họ, cho nên các chủ thể trong nền kinh tế khi cần sản phẩm của nhau tất yếu phải thông qua con đường trao đổi, mua bán

1.2.3 Tác dụng của sự phát triển kinh tế thị trường

- Phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường ở nước ta có lợi ích:

+ Nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH, muốn phát triển lực lượng sản xuất phải xã hội hoá và chuyên môn hóa lao động Quá trình đó chỉ có thể diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế hàng hoá, thông qua sự trao dổi hàng hoá giữa các đơn vị sản xuất để đảm bảo những nhu cầu cần thiết của các hoạt động sản xuất khác nhau

+ Chỉ có phát triển kinh tế thị trường mới làm cho nền kinh tế nước ta phát

Trang 9

triển năng động Sử dụng kinh tế thị trường buộc các chủ thể kinh tế buộc phải tuân theo quy luật của kinh tế thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu Cho nên cần phải chủ động, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm

+ Phát triển kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế phù hợp với lực lượng sản xuất của nước ta Một mặt tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, mặt khác cho phép khai thác tối đa các tiềm năng để phát triển

+ Qua cạnh tranh trên thị trường, những nhân tài quản lý kinh tế và lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều Đó là một dấu hiệu quan trọng của tiến bộ kinh tế

1.2.4 Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

1.2.4.1 Đặc trưng về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường

Đặc trưng này được thể hiện ở chỗ: xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH Thiết lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN Nghĩa là chúng ta không chỉ quan tâm phát triển kinh tế đơn thuần mà còn phải chú trọng đến các vấn đề xã hội, thực hiện đồng thời mục tiêu tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Làm cho dân giàu nước mạnh với thực hiện dân chủ và công bằng xã hội

1.2.4.2 Đặc trưng về chế độ sở hữu

Nói đến kinh tế thị trường là nói đến một nền kinh tế với sự đa dạng về các hình thức sở hữu: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước Vì vậy, đa dạng hoá sở hữu là vấn đề tất yếu và do đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác

nhau Tuy nhiên, khác với nền kinh tế thị trường TBCN dựa trên sở hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất, thì trong nền kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất Từ sự đa dạng về các hình thức sở hữu dẫn đến đa dạng các thành phần kinh tế, các thành phần kinh tế này vừa cạnh tranh vừa hợp

tác với nhau

1.2.4.3 Đặc trưng về quan hệ phân phối

Chính sự đa dạng về các hình thức sở hữu dẫn đến tồn tại nhiều hình thức phân phối Không như nền KTTT TBCN lấy phân phối theo tư liệu sản xuất và theo vốn là chủ yếu, trong nền KTTT định hướng XHCN chủ yếu thực hiện phân phối theo lao động, ngoài ra còn có nhiều hình thức phân phối khác như: phân phối theo nguồn lực đóng góp, phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể

Trang 10

Nhà nước phải có chính sách điều tiết sao cho phù hợp để đảm bảo tính công bằng cũng như làm giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập trong xã hội

1.2.4.4 Đặc trưng về vai trò điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế

Nhà nước quản lý nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, là nhà nước của dân, do dân và vì dân

Định hướng XHCN được đảm bảo bởi sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước Nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế Đây vừa là điều kiện vừa

là nội dung để phân biệt sự khác biệt về bản chất của mô hình KTTT của nước ta với KTTT của các nước TBCN trên thế giới

1.2.4.5 Đặc trưng về xu hướng phát triển

Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời của thời đại, coi trọng việc kết hợp vai trò thúc đẩy sự ra đời các nhân tố của KTTT

và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước XHCN trong quá trình chuyển sang KTTT

Từ các đặc trưng trên có thể nói: quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là quá trình tiến tới thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh Từng bước phát triển kinh tế và hướng tới một xã hội hiện đại và tốt đẹp, trong

đó nhân dân được làm chủ, nhân ái, có văn hoá có trình độ, không có áp bức bóc

lột, mọi người đều được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển

1.3 Thực trạng và giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.3.1 Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.3.1.1 Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai

- Cơ sở vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp, bên cạnh một số lĩnh vực, một

số cơ sở kinh tế đã được trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại, trong nhiều ngành kinh tế, máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu

Trang 11

- Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc còn lạc hậu, kém phát triển Chính hệ thống giao thông kém phát triển làm cho các địa phương, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho nhiều tiềm năng của các địa phương không thể được khai thác, không chuyên môn hoá sản xuất để phát huy thế mạnh

- Do cơ sở vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Nền kinh tế nước ta chưa thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ Nông nghiệp vẫn sử dụng khoảng 70% lực lượng lao động, nhưng chỉ đóng góp khoảng 26% GDP, các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỉ trọng thấp

- Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước còn rất yếu Do cơ sở vật chất - kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, nên năng suất lao động thấp, dẫn đến khối lượng hàng hoá nhỏ, chủng loại hàng hóa còn nghèo, chất lượng hàng hoá thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu

1.3.1.2 Hệ thống các thị trường đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đồng bộ

- Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu vẫn làm rối loạn thị trường)

- Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện tượng khủng hoảng Nét nổi bật của thi trường này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất nhiều, trong khi đó cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá

xa cầu, nhiều người có sức lao động không tìm được việc làm

- Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều trắc trở, như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân rất thiếu vốn nhưng không được vay vì vướng mắc thủ tục, trong khi nhiều ngân hàng thương mại huy động được tiền gửi mà không thể cho vay

- Thị trường chứng khoán ra đời nhưng chưa có nhiều hàng hoá để mua bán và mới có rất ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thị trường này

- Thị trường bất động sản còn biểu hiện nhiều tiêu cực và lúng túng

1.3.1.3 Quản lý nhà nước về nền kinh tế - xã hội còn yếu

Do thể chế mới của nền kinh tế thị trường còn chưa được xác lập hoàn chỉnh và vững chắc, mà cơ chế quan liêu vẫn còn tồn tại giai dẳng và tái lập lại dưới nhiều hình thức khác nhau Vẫn chưa tách bạch rạch ròi giữa chức năng quản lý nhà

Trang 12

nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh, dẫn tới sự can thiệp quá sâu, mang tính hành chính quan liêu của các cơ quan nhà nước vào hoạt động kinh doanh của cơ sở Không hiếm trường hợp cán bộ công quyền năng lực, phẩm chất kém và thiếu công tâm, lạm dụng chức quyền để hành dân hơn là phục vụ nhân dân Đây là nguyên nhân làm suy yếu vai trò và sức mạnh của nhà nước pháp quyền, phát triển tệ nạn tham nhũng và cửa quyền đang làm nhức nhối xã hội và mất lòng tin của nhân dân

Sự yếu kém của Nhà nước trong việc thực thi pháp luật cần thiết cho sự ra đời

và vận hành đồng bộ, khách quan của hệ thống kinh tế thị trường tới mọi mặt sản xuất và đời sống cũng đang là lực cản lớn cho sự phát triển kinh tế thị trường Đáng chú ý là trong thời gian qua, cơ chế xin cho gắn với quyền lợi ích kỷ của

bộ máy hành chính quan liêu, trên thực tế vẫn còn tồn tại và có chiều hướng gia tăng Các doanh nghiệp không được thật sự chủ động kinh doanh theo pháp luật Vẫn chưa có sự bình đẳng thật sự giữa khu vực nhà nước và tư nhân Doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp nhiều khó khăn về mặt bằng, vay vốn, gặp nhiều sách nhiễu phiền toái

1.3.2 Những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN

1.3.2.1 Tiếp tục đổi mới đột phá tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo của Đảng

Cần khẳng định rằng sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản là điều kiện tiên quyết, sống còn đảm bảo cho việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đây là điểm khác biệt căn bản so với các nền kinh tế thị trường thông thường

Hơn nữa, phải nhận thức sâu sắc rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa vừa là vấn đề khoa học, vừa là vấn đề chính trị Đây là một sự nghiệp to lớn và mới mẻ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Vì vậy, nếu thiếu sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng thì không thể nói tới bất kỳ việc xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nào cả Tuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường cũng đặt Đảng trước những thử thách phức tạp và mang tính sáng tạo Cho nên Đảng phải đi tiên phong trong trong đổi mới tư duy lý luận, nhận thức

về kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội

Để làm được điều này, trước hết Đảng phải nâng cao bản lĩnh và trí tuệ, loại bỏ những tư duy giáo điều, không còn phù hợp, tiếp thu, đào sâu tìm tòi những quan niệm mới, tiến bộ về thế giới và thời đại; có cách nhìn biện chứng về các quá

Trang 13

trình kinh tế và xã hội ở nước ta hiện nay Phải xem xét và đánh giá các quá trình này một cách khách quan, tránh võ đoán và duy ý chí, lấy thực tiễn sinh động và

sự phát triển tiến bộ làm tiêu chuẩn cao nhất để kiểm nghiệm chân lý Đồng thời Đảng phải tiến hành tổ chức nghiên cứu, học tập lý luận một cách nghiêm túc, đặc biệt là nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

để nắm được bản chất, linh hồn sống của học thuyết mácxít Không biết vận dụng đúng đắn, sáng tạo học thuyết mácxít, chắc chắn sẽ thất bại trong thực tiễn

và phá sản trong đường lối chiến lược

Ngoài ra, Đảng phải nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thị trường Chỉ có như vậy mới mong tránh khỏi rơi vào cực đoan, giáo điều, bị ngưng trệ và nô lệ về tư tưởng

Chúng ta cần đổi mới tư duy mạnh mẽ hơn nữa, kiên quyết tháo dỡ những rào cản nhận thức và định kiến không đúng xưa nay về kinh tế thị trường Rõ ràng nếu không có kinh doanh, lợi nhuận và làm giàu thì không thể cải thiện mức sống, tích luỹ và tái sản xuất mở rộng, tăng trưởng và phát triển, không thể tiến tới xây dựng chủ nghĩa giàu đẹp, phồn vinh và hạnh phúc

Tuy nhiên kinh tế thị trường hàm chứa những mâu thuẫn, còn nhiều khiếm khuyết và bất cập đối với yêu cầu của xã hội văn minh Vì vậy chúng ta cần phải

sử dụng khôn khéo và thông minh kinh tế thị trường, mà không loại bỏ quy luật khách quan, lại càng không thể chấp nhận một chiều hay sùng bái một cách mù quáng Nếu chúng ta đủ bản lĩnh và tri thức để sử dụng kinh tế thị trường, thì kinh tế thị trường không có gì đáng sợ Điều đáng sợ lại là không xác lập được kinh tế thị trường, không biết vận dụng các quy luật và phạm trù của kinh tế thị trường

Thứ hai, Đảng cần nhanh chóng thay đổi căn bản phương thức lãnh đạo và cầm quyền theo hướng không bao biện, làm thay chính quyền và bao trùm lên chính quyền Đảng và Nhà nước cũng phải nhanh chóng chuyển sang quản lý đất nước bằng pháp luật Đảng cầm quyền phải bằng cách giới thiệu được những cán bộ

ưu tú phục vụ nhân dân, được nhân dân tâm phục, khẩu phục, chứ không phải áp đặt bất chấp lòng dân Cần xoá bỏ tình trạng Đảng can thiệp quá sâu vào công việc cụ thể của chính quyền và cơ quan chức năng nhưng không chịu trách nhiệm gì trước pháp luật

1.3.2.2 Xây dựng hệ thống hạ tầng hiện đại, phát triển đồng bộ các loại thị trường

Trước tiên, cần thiết phải tập trung phát triển hạ tầng hiện đại của nền kinh tế

Trang 14

thị trường Hạ tầng thị trường gồm đường sá, thông tin - liên lạc, sân bay, bến cảng, nhà xưởng .Hạ tầng thị trường tốt sẽ cho phép bảo đảm tính văn minh, năng động và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường Đầu tư ưu tiên cho một hạ tầng hiện đại là cách đầu tư đúng đắn, khôn ngoan và mang lợi ích lớn cho nền kinh tế

Đầu tư cho lĩnh vực hạ tầng là những khoản đầu tư rất tốn kém, lãi suất thấp và lại chậm thu hồi Về nguyên tắc, các nhà đầu tư tư không muốn làm, vì vậy chỉ

có nhà nước mới có khả năng, hoặc phải dựa vào các khoản viện trợ viện trợ hay vốn vay ưu đãi của nước ngoài, kể cả kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển hạ tầng ở Việt Nam

Ngoài ra, cũng cần trao đổi và tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực

hạ tầng Nhất là hợp tác với những nước phát triển trong việc quy hoạch, xây dựng hệ thống giao thông và đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại và bền vững Thuờ các chuyên gia và tổ chức nước ngoài làm tư vấn thiết kế, giám sát và nhà thầu xây dựng hạ tầng

Bên cạnh đó cần phát triển đồng bộ các loại thị trường Vì đây là điều kiện không thể thiếu của nền kinh tế thị trường Nhằm:

+ Bảo đảm cho thị trường vận hành liên tục và nhịp nhàng, sự ăn khớp giữa các mắt trong khâu sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng của quá trình tái sản xuất xã hội

+ Để thống nhất giữa các quan hệ phân công, quan hệ giá trị và quan hệ trao đổi

+ Bảo đảm phù hợp giữa các quá trình tạo ra giá trị sử dụng, giá trị, giá trị thặng dư và giá trị gia tăng

+ Bảo đảm sự kết hợp xã hội các quá trình kinh tế cũng như giữa các chủ thể thị trường riêng, sự cân đối giữa cung - cầu cũng như gắn bó giữa sản xuất và tiêu dùng

Nhờ thế, cơ chế thị trường và các quy luật thị trường mới phát huy tác dụng điều tiết và thúc đẩy sản xuất cũng như lưu thông

Chúng ta tiến hành đổi mới đã hơn hai thập kỷ, nhưng hiện nay hệ thống thị trường phát triển chưa đồng bộ, một số thị trường cơ bản và quan trọng vẫn chưa phát triển, còn rất yếu và thiếu (như thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường khoa học và công nghệ) hoặc thậm chí phát triển lệch lạc và bộc lộ nhiều tiêu cực (như thị trường đất đai - bất động sản) Tình hình này là do những lý do sau:

+ Do bị ảnh hưởng của quan niệm cũ nên nhiều người không chỉ kỳ thị và trấn

Trang 15

áp các quan hệ thị trường nói chung, mà còn tìm cách hạn chế một số loại hình thị trường phát triển, nhất là các thị trường bậc cao của nền kinh tế thị trường như thị trường tài chính, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường lao động, thị trường bất động sản

+ Trong khi thị trường hàng hoá - dịch vụ ra đời tương đối đơn giản và thuận lợi, thì trái lại việc hình thành một số thị trường bậc cao lại diễn ra phức tạp, khó khăn hơn Nhưng điều cốt lõi là chưa có các thể chế đặc thù thích hợp làm nền tảng cho sự hình thành và vận động của các loại thị trường này

Yêu cầu hội nhập và tăng trưởng đòi hỏi không thể chậm trễ trong việc hình thành đồng bộ các loại thị trường

Hình thành đồng bộ các loại thị trường là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tư duy và chính sách về hỡnh thành và phỏt triển đồng bộ các loại thị trường được khởi nguồn từ Đại hội lần thứ VI của Đảng với tư tưởng giải phóng sức sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá bằng việc thực hiện ba chương trỡnh mục tiờu về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Tư duy này tiếp tục được làm rõ ở Đại hội Đảng lần VII, VIII Đến đại hội lần IX của Đảng vạch rõ ràng và dứt khoát hơn chủ trương xây dựng đồng bộ các loại thị trường theo định hướng XHCN

Sự cần thiết phải hình thành đồng bộ các loại thị trường được biểu hiện: Thực tiễn ở các nước chuyển đổi và ở nước ta thời gian qua cho thấy dù muốn hay không, một khi đó lựa chọn con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, có nghĩa là đó chấp nhận sự hiện hữu của thị trường với đầy đủ các loại thị trường Chúng ta cần xây dựng đầy đủ các loại thị trường để nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam vận hành có hiệu quả Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các nguồn lực kinh tế đều thông qua thị trường mà được phân

bổ vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế một cách tối ưu Vì vậy, để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta phải hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường

Phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành thị trường sức lao động có tổ chức để tạo điều kiện cho sự di chuyển sức lao động theo yêu cầu phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực

Xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành và phát triển thị trường chứng khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất

Trang 16

Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường nhà ở Xây dựng, phát triển thị trường thông tin, thị trường khoa học công nghệ Hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với khuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà nước, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh, có biện pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại

Phương pháp tiếp cận để xây dựng đồng bộ các loại thị trường:

Việc xây dựng đồng bộ không có nghĩa là phải cùng một lúc xây dựng đầy đủ các loại thị trường mà được tiến hành từng bước, có thử nghiệm, rút kinh nghiệm

và làm tiếp Cần hiểu quá trình phát triển đồng bộ các loại thị trường là một quá trình liên tục, kiên định và cần có thời gian, không thể nóng vội cũng không

được ngập ngừng, do dự, gây ra chậm trễ và tổn thất mọi mặt

1.3.2.3 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh CNH - HĐH

Một trong những điều kiện để các doanh nghiệp có thể đứng vững trong cạnh tranh là thường xuyên đổi mới công nghệ để hạ chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới của khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá

Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học công nghệ Ứng dụng nhanh và phổ biến hơn ở mức độ cao hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức

1.3.2.4 Hoàn thiện vai trò quản lý kinh tế của nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của nhà nước, cần nâng cao năng lực của các cơ quan luật pháp, hành pháp và tư pháp, có hệ thông chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho hoạt động kinh tế, hạn chế khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường Nhà nước sử dụng các biện pháp kinh tế là chính để điều tiết nền kinh tế, chứ không phải là mệnh lệnh Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính

sách tiền lương và giá cả

Hiện nay, mặc dù nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta còn ở trình

độ kém phát triển, bởi lẽ cơ sở vật chất, kĩ thuật còn lạc hậu, thấp kém, nền kinh

tế còn mang tính tự cấp tự túc Tuy nhiên, nước ta không lặp lại nguyên vẹn tiến

Trang 17

trình phát triển của các nước đi trước: Kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển lên kinh tế thị trường tự do, rồi từ kinh tế thị trường tự do chuyển lên kinh tế thị trường hiện đại, mà cần phải và có thể xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xó hội chủ nghĩa theo kiểu rút ngắn Điều này có nghĩa là phải đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, xây dựng tương đối được cơ sở vật chất kĩ thuật, nắm bắt kịp thời với tốc

độ phát triển chung của thế giới Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý kinh tế vĩ mô và thực hiện định hướng XHCN

1.3.2.5 Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Mỗi cơ chế quản lý kinh tế có đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh tương ứng Chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo

và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ kinh doanh cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ mới Đội ngũ đó phải có năng lực và chuyên môn giỏi thích ứng mau lẹ với kinh tế thị trường, dám chịu trách nhiệm, dám chịu rủi ro và trung thành với con đường xã hội chủ nghĩa và nhân dân ta đã chọn Song song với đào tạo và đào tạo lai cần phải có phương hướng sử dụng, bồi dưỡng đãi nộ đúng đắn với đội ngũ đó nhằm kích thích hơn nữa việc không ngừng nâng cao trìng độ nghiệp vụ, bản lĩnh quản lý tài năng kinh doanh của họ

Cơ cấu của đội ngũ cán bộ cần phải được chú ý và đảm bảo cả ở vị trí vĩ mô và

vi mô của cán bộ quản lý lẫn cán bộ kinh doanh

1.3.2.6 Thực hiện chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Trong giai đoạn hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực

và thế giới, mới thu hút được vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác tiềm năng thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế

Khi mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Mở rộng kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại Chủ động tham gia tổ chức thương mại quốc tế, các diễn đàn, các tổ chức một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp

Trang 18

CHUYÊN ĐỀ 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ,

HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 2.1 Quan điểm và bản chất của công nghiệp hóa

2.1.1 Các quan điểm về công nghiệp hóa

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao động Việt Nam (1960) xác định: Công nghiệp hoá là quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng Đây được coi là quan niệm chính thống về công nghiệp hoá ở nước ta vào thời kỳ bấy giờ Quan điểm này thể hiện nội dung, mục tiêu, tính lịch sử của quá trình công nghiệp hoá Tuy vậy, quan điểm này dường như đã đồng nhất công nghiệp hoá với cách mạng kỹ thuật

Dù có những điểm khác nhau, nhưng trong quan niệm của các tác giả cả trong

và ngoài nước vẫn đều có những điểm chung Trên cơ sở đó, có thể khái quát lại như sau:

Công nghiệp hoá là quá trình tạo sự chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp với

cơ cấu kinh tế lạc hậu, dựa trên lao động thủ công, năng suất thấp sang nền kinh

tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế hiện đại dựa trên lao động sử dụng bằng máy móc, tạo ra năng suất lao động cao

2.2 Bản chất của công nghiệp hóa

Công nghiệp hoá tuy diễn ra tại nhiều nước khác nhau, vào những thời điểm khác nhau và với những cách làm khác nhau, song xét về mặt kinh tế kỹ thuật thì công nghiệp hoá là một quá trình có bản chất giống nhau Đó là:

Thứ nhất: công nghiệp hoá là quá trình thực hiện cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế

Con đường duy nhất để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế là thực hiện công nghiệp Quá trình công nghiệp hoá sẽ đảm bảo cho nền kinh tế của một nước đạt được tốt độ tăng trưởng nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước phát triển khác Đây cũng là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp Trong xu thế phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - công nghệ thế giới, khiến cho tuổi thọ của công nghệ ngày càng ngắn lại thì việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá là yêu cầu cấp thiết đối với mọi nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế kém phát triển

Thứ hai, công nghiệp hoá là quá trình bao trùm toàn bộ mọi ngành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế

Trang 19

Công nghiệp hoá không chỉ là việc trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại, phương pháp sản xuất tiên tiến, tạo khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, mà công nghiệp hoá còn là quá trình thực hiện bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm tạo dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, trong đó các ngành, các lĩnh vực được phát triển một cách hợp lý, tức là làn thay đổi vị trí của các ngành, các lĩnh vực trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Nói cách khác, công nghiệp hoá không đơn thuần chỉ là sự phát triển công nghiệp, mà còn bao hàm cả sự phát triển của các ngành khác, các lĩnh vực khác

có liên quan đến công nghiệp trong toàn bộ cơ cấu kinh tế

Thứ ba, công nghiệp hoá là quá trình mở rộng quan hệ quốc tế

Ngày nay không thể có công nghiệp hoá trong phạm vi một quốc gia, lại càng không thể công nghiệp hoá trong một nền kinh tế khép kín Sự xuất hiện những lực lượng sản xuất mới dựa ngày càng nhiều vào công nghệ, kỹ thuật mới, hiện đại như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nanô nhưng tại các nước tiến hành công nghiệp hoá muộn lại không thể tạo ra những điều đó Do vậy, để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các nước cần thiết phải mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế để tranh thủ công nghệ từ các nước phát triển, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình Thứ tư, công nghiệp hoá không chỉ là quá trình kinh tế - kỹ thuật, mà còn là quá trình kinh tế - xã hội

Công nghiệp hoá có nội dung cơ bản là ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật để tăng nhanh năng suất lao động xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Do vậy, công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó, một

bộ phận của cải quốc dân được huy động ngày càng tăng để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành với kỹ thuật hiện đại, nhờ đó mà bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế

- xã hội Theo cách hiểu này, công nghiệp hoá cũng là quá trình gắn liền với xoá đói giảm nghèo, gắn liền với quá trình chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí, từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá với năng suất lao động cao

Nhưng cũng phải thấy rằng, công nghiệp hoá nhanh và tăng trưởng cao cũng có mặt trái của nó, đó là dễ dẫn đến tình trạng mất cân đối, thiếu công bằng, làm tổn hại đến môi trường sinh thái Vì vậy, công nghiệp hoá cũng là một quá trình mang tính xã hội cao, trong đó yếu tố con người và văn hoá được đặt lên vị trí rất

Trang 20

cao, bởi những nhân tố văn hoá là phương tiện có hiệu quả nhất trong việc khắc phục tình trạng lạc hậu

Mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và văn hoá, xã hội là mối quan hệ hữu cơ, thúc đẩy lẫn nhau, trong đó văn hoá là chìa khoá phát triển, còn phát triển lại làm giàu thêm văn hoá Chính vì lý do đó mà không thể bỏ qua hay xem nhẹ khía cạnh văn hoá trong quá trình công nghiệp hoá

2.2 Một số mô hình và kinh nghiệm công nghiệp hóa trên thế giới

2.2.1 Các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới

2.2.1.1 Mô hình công nghiệp hoá cổ điển

Mô hình công nghiệp hoá cổ điển là mô hình công nghiệp hoá diễn ra trong thời đại phát triển cổ điển, được các nước phát triển phương Tây, mà điển hình nhất là nước Anh, thực hiện vào khoảng từ giữa thế kỷ thứ XVIII đến giữa thế kỷ XIX; và Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu thực hiện vào đầu thế

kỷ XX

Mô hình công nghiệp hoá cổ điển có những đặc trưng cơ bản sau đây:

+ Quá trình công nghiệp hoá theo mô hình cổ điển diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên Bước đi của quá trình này là: lúc đầu là máy móc được sản xuất bằng công cụ thủ công (công nghệ truyền thống), từ máy công tác đến máy truyền lực và cuối cùng là máy phát lục (tức động cơ) Khi máy móc đạt đến hình thức hoàn bị và được sản xuất bằng máy, thì cũng có nghĩa là công nghiệp hoá đã đạt được bước tiến căn bản, xuất hiện một ngành công nghiệp mới - công nghiệp chế tạo máy móc Nhờ đó, kỷ thuật cơ khí phát triển, có khả năng cải tạo toàn bộ kỷ thuật của nền sản xuất xã hội, biến nền sản xuất xã hội từ ngành sản xuất truyền thống thành một hệ thống công nghiệp

+ Công nghiệp hoá theo mô hình cổ điển được thực hiện trong một cơ cấu kinh

tế khép kín hoàn bị

Do không tranh thủ được ưu thế của phân công lao động quốc tế, nên nguồn vốn tích luỹ cho công nghiệp hoá chủ yếu được lấy từ cướp bóc thuộc địa và phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ trong nước Với mục tiêu hướng tới một nền kinh tế hoàn bị, các nước tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình cổ điển đã chọn điểm “đột phá” là công nghiệp nhẹ Cụ thể là công nghiệp dệt da, dệt len, vải bông Sự phát triển của ngành dệt đã gây ra sự bất cập trong việc cung cấp nguyên liệu của nền nông nghiệp truyền thống Vì vậy, việc tiến hành cuộc cách mạng trong nông nghiệp đã trở nên tất yếu Sau đó, cuộc cách mạng

Trang 21

được truyền sang lĩnh vực công nghiệp nặng (cơ khí, luyện kim, điện lực, hoá chất) và cuối cùng là hiện đại hoá các ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ

+ Mô hình công nghiệp hoá cổ điển được đặc trưng bởi trạng thái phát triển tự

do

Công nghiệp hoá theo mô hình cổ điển diễn ra dưới tác động của “bàn tay vô hình” Nhà nước với tính cách là một lực lượng điều hành, tuy có tác dụng to lớn đối với sự ra đời của nền kinh tế phát triển, song lại không can thiệp sâu vào các quá trình kinh tế

+ Mô hình công nghiệp hoá cổ điển được hoàn thành trong một thời gian tương đối dài

Nếu kể từ cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh thì các nước Anh, Pháp tiến hành công nghiệp hoá vào giữa thế kỷ XVIII, và phải đến nữa cuối thế kỷ XIX mới hoàn thành Phương thức tiến hành của mô hình công nghiệp hoá cổ điển là dựa hoàn toàn vào cơ sở khoa học và kỹ thuật của chính mình, và đó cũng

là lý do tại sao họ đều trở thành những quốc gia đi đầu trong tiến bộ khoa học và

kỹ thuật

Có thể thấy, mô hình công nghiệp hoá cổ điển là quá trình mò mẫm, tự vận động, vì vậy, phải mất một khoảng thời gian rất dài mới hoàn thành được

2.2.1.2 Mô hình công nghiệp hoá phi cổ điển (công nghiệp hoá rút ngắn)

Mô hình công nghiệp hoá phi cổ điển hay còn gọi là mô hình công nghiệp hoá rút ngắn, là mô hình công nghiệp hoá cho phép bỏ qua hoặc rút ngắn một số bước đi và quá trình đã bị lạc hậu, hoặc đã thay đổi trong thời kỳ hiện đại so với

thời kỳ cổ điển

Thực chất của công nghiệp hoá rút ngắn là các nước đi sau nỗ lực tăng tốc để đuổi kịp các nước đi trước bằng cách lựa chọn con đường hay mô hình phát triển mang tính “phi cổ điển” để đạt tới một nền kinh tế có chất lượng, cơ cấu cao hơn

so với mức độ giàu có về của cải thực tế Nói cách khác, do các nước công nghiệp hoá muộn, những nước đi sau có lợi thế là có thể tiếp thu những kinh nghiệm, những thành quả của các nước đi trước, và thêm vào đó là sự phát triển mạnh mẽ của tổ chức tín dụng - ngân hàng, các hình thái công ty, các phương thức hoạt động ngoại thương, kỹ năng quản lý nên có thể rút ngắn thời gian công nghiệp hoá, tăng tốc, đuổi kịp và vượt các nước đi trước Mô hình rút ngắn kiểu của Mỹ, Đức và Nhật Bản được gọi là mô hình công nghiệp hoá rút ngắn cổ điển, còn mô hình công nghiệp hoá các nước NICs và gần đây là một số nước ASEAN, Trung Quốc, ấn Độ là mô hình công nghiệp hoá rút ngắn hiện đại

Trang 22

Thực chất của mô hình công nghiệp hoá rút ngắn cổ điển là mô hình công nghiệp hoá mà các nước đã thực hiện trong thế kỷ XIX Các nước này có điều kiện để dựa vào khuôn mẫu và kỹ thuật, công nghệ của các nước đi trước để chuyển biến nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, thông qua cách tiếp cận tổng hợp và đồng bộ về cơ cấu ngành cũng như về các thể chế kinh

tế thị trường Điển hình là các nước Đức, Mỹ, Nhật Bản, Đan Mạch, Phần Lan,

Hà Lan, Thuỷ Điển, áo, Bỉ, Thuỵ Sĩ là những nước tiến hành công nghiệp hoá muộn, nên có lợi thế của các nước đi sau

Vào giữa thế kỷ XX đã nổi lên mô hình công nghiệp hoá rút ngắn tại các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (NICs) châu á và gần đây là ấn Độ và Trung Quốc lại đưa ra những bằng chứng mới thuyết phục hơn nữa về quá trình rút ngắn khác hẳn so với kiểu rút ngắn mà NICs đã từng thực hiện rất thành công trong những thập niên 1980 - 1990

Các nước như Xingapo, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông bắt đầu công nghiệp hoá vào cuối những năm 50 và hoàn thành vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX Các nước này tiến hành công nghiệp hoá trong bối cảnh mới với sự phát triển của cách mạng khoa học - kỹ thuật và xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, các lý thuyết kinh tế và quản lý kinh tế mới đã thay thế cho các lý thuyết cổ điển trước đây, trong đó nổi lên là lý thuyết về vai trò nhà nước trong kinh tế thị trường Trong mô hình này, thị trường có vai trò kích thích các doanh nghiệp đầu tư kỹ thuật, công nghệ mới và lựa chọn ngành nghề kinh doanh có nhiều lợi thế, còn nhà nước có vai trò điều chỉnh cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp

2.2.1.3 Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là mô hình công nghiệp hoá mà theo đó các quốc gia tiến hành công nghiệp hoá nổ lực thành lập và nuôi dưỡng các ngành công nghiệp trong nước để sản xuất ra các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu

Tư tưởng cơ bản của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là mỗi nước đang phát triển mong muốn phát triển hầu hết mọi ngành công nghiệp thiết yếu,

tự đáp ứng các nhu cầu thay vì trước đây phải nhập khẩu

Thực chất của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là công nghiệp hoá hướng nội, được thực hiện dựa trên quan điểm “tự lực cánh sinh”, “dựa vào sức mình là chính” Về mặt lịch sử, mô hình này được các nước đi tiên phong trong công nghiệp hoá thực hiện từ cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, nhưng được

Trang 23

áp dụng phổ biến vào thập kỷ 50 - 60 của thế kỷ XX tại các nước thuộc thế giới thứ ba Lúc đầu mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được áp dụng ở các nước Mỹ Latinh, sau đó lan sang các châu lục khác và được các nước đang phát triển mới giành được độc lập coi là mô hình phù hợp với tư tưởng tự lực cách sinh, chống chủ nghĩa đế quốc, tư tưởng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ

Tại Nhật Bản, công nghiệp hoá bắt đầu được thực hiện từ cuối thế kỷ XIX Lúc này, Nhật Bản đang đứng trước sự đe doạ của các nước phương Tây, nên chiến lược Nhật Bản cũng phải nhanh chóng hiện đại hoá quân sự, xây dựng những ngành công nghiệp then chốt

Các nước NICs châu á (những năm 60 của thế kỷ XX) và ASEAN (những năm

70 của thế kỷ XX) cũng áp dụng mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

Họ tập trung phát triển công nghiệp dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp chế biến nguyên liệu hoặc lắp ráp các hàng tiêu dùng đơn giản Chính sách này kéo dài cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, nhưng sau đó đã linh hoạt chuyển sang

mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu, và mô hình này đã được thực hiện thắng lợi ở các nước trên

Các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây cũng là những nước tích cực thực hiện công nghiệp hoá theo mô hình thay thế nhập khẩu, trong đó đi đầu

là Liên Xô những năm 30, Trung Quốc những năm 50 - 70 và Việt Nam những năm 60 - 70 của thế kỷ XX Các nước này đều chủ trương “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” để giúp cho việc trang bị các máy móc, tư liệu sản xuất cần thiết cho các ngành khác Vì vậy, các nước này đã theo đuổi chính sách tự sản xuất bằng mọi thứ cần thiết có thể nhằm hình thành một cơ cấu công nghiệp tự chủ

2.2.1.4 Mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu

Tư tưởng cơ bản của mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu là phát triển các ngành sản xuất sản phẩm chủ yếu phục vụ xuất khẩu

Thực chất của mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu là giải pháp “mở cửa” ở các nước đang phát triển nhằm tranh thủ các yếu tố thuận lợi từ bên ngoài (vốn, công nghệ ) và khai thác các lợi thế trong nước để tiến hành công nghiệp hoá theo con đường rút ngắn Các nước NICs châu á và các nước ASEAN đã nhanh chóng trở thành các con “rồng”, “con hổ” chính là nhờ đã sớm chuyển hướng từ mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu

Trang 24

2.2.1.5 Mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu

Mô hình này được xây dựng trên cơ sở kết hợp các yếu tố ưu việt của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu (còn gọi là mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp)

Mỗi mô hình công nghiệp hoá không chỉ có ưu thế mà còn có cả hạn chế của

nó Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu với quan điểm hẹp hòi về độc lập dân tộc và tự lực cánh sinh, chủ trương không tham gia vào phân công lao động quốc tế vì thế đã hạn chế những khả năng phát triển Còn mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu thì thổi phồng các nhân tố bên ngoài, coi nhẹ những khả năng bên trong của đất nước, cho rằng sự tăng trưởng chỉ có thể đạt được trên cơ sở dựa vào vốn, công nghệ và viện trợ nước ngoài, từ đó đi đến chổ chấp nhận những sự phụ thuộc một chiều vào một số trung tâm công nghiệp phát triển, bất chấp quyền lợi của đại đa số nhân dân dẫn đến kết quả khó tránh khỏi khủng hoảng kinh tế

Mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp (hướng vào xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu) đã và đang trở thành xu hướng phát triển mạnh ở các nước đang phát triển từ những thập niên 70 của thế kỷ XX cho đến nay Thực ra đây không phải

là một mô hình mới, mà chỉ là sự điều chỉnh trọng tâm của hai mô hình công nghiệp hoá đã nêu trên, tránh sự cực đoan trong việc xác định thị trường và phương hướng phát triển các ngành kinh tế Hàn Quốc là nước đi đầu trong mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu, và cũng là nước đầu tiên nhận thức được những khó khăn nên đã điều chỉnh theo hướng của mô hình hỗn hợp

Việt Nam vào những năm 60 cho đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX đã lựa chọn mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, nhưng đến năm 1986, tại Đại hội lần thứ VI và đặc biệt là Đại hội VII và VIII, Đảng đã lựa chọn mô hình bổ sung giữa hướng vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu Trong đó hướng vào xuất khẩu là trọng tâm, đóng vai trò quyết định và chi phối, còn thay thế nhập khẩu đóng vai trò bổ sung Kinh nghiệm chỉ ra rằng nếu thiếu một mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phù hợp để kết hợp được các nguồn lực bên ngoài và bên trong ắt sẽ dẫn đến thất bại Vì vậy mà lựa chọn đúng mô hình công nghiệp hoá cho phép chúng ta thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn

2.2.1.6 Mô hình công nghiệp hoá kết hợp giữa cơ chế thị trường và chủ nghĩa xã hội

Trang 25

Đây là mô hình công nghiệp hoá mới được thực hiện tại Trung Quốc từ hai thập niên cuối thế kỷ XX Sau thất bại của chiến lược công nghiệp hoá theo kiểu phát triển công nghiệp nặng với phương châm “toàn dân làm gang thép” của những năm 1950 Đến 1978, Trung Quốc cải cách kinh tế theo hướng tập trung khai thác thế mạnh nền kinh tế nông nghiệp của mình, nhờ đó kinh tế có sự tăng trưởng cao Trung quốc đã thực hiện chính sách khoán sản xuất nông nghiệp đến

hộ nông dân, thúc đẩy cải tạo kỷ thuật, từng bước đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất kỷ thuật cho nông nghiệp, sớm đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn hiện đại, phù hợp với đặc điểm nông thôn của họ Những cải cách kinh tế của Trung Quốc với nội dung phát triển hướng vào nông nghiệp đã tạo cho đất nước này một bước nhảy vọt không chỉ trong nông nghiệp mà trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Mô hình công nghiệp hoá mà Trung Quốc lựa chọn kể từ 20 năm cuối thế kỷ

XX là một cách đi riêng - nhiều người gọi đó là một mô hình công nghiệp hóa mới, vì nó không giống với mô hình công nghiệp hoá mà Trung Quốc đã từng thực hiện trước đây, đó là quá trình công nghiệp hoá được đặt trên cơ sở thể chế kinh tế không giống như trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và cũng có nhiều điểm khác biệt với các mô hình công nghiệp hoá đang diễn ra trên thế giới hiện nay Đó là quá trình công nghiệp hoá được thực hiện trên cơ sở của thị trường gắn với tính chất xã hội chủ nghĩa Nói cách khác cái mới của mô hình công nghiệp hoá của Trung Quốc hiện nay mang đậm đặc sắc Trung Quốc, trong đó nổi bật là sự kết hợp khéo léo giữa chủ nghĩa xã hội và thị trường Thực chất cũng là sự kết hợp giữa mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với mô hình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa

Đặc trưng chủ yếu của mô hình công nghiệp hoá mới của Trung Quốc:

+ Công nghiệp hoá dựa vào các ngành khoa học mũi nhọn, trước hết là tin học Trung Quốc đưa ra nguyên tắc: xây dựng kinh tế phải dựa vào khoa học công nghệ, khoa học công nghệ phải hướng vào phục vụ xây dựng kinh tế Vì vậy, trong chiến lược của mình, Trung Quốc yêu cầu: phải nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của khoa học công nghệ, huy động và lôi kéo phần lớn cán bộ khoa học - công nghệ vào các hoạt động kinh tế, nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới kỹ thuật, thu hút công nghệ tiên tiến của thế giới

+ Công nghiệp hóa được đặt trong chiến lược phát triển bền vững

Để thực hiện công nghiệp hoá mà không ảnh hưởng tới văn hoá, xã hội và môi trường, Trung Quốc đã đặt việc phát triển bền vững vào ví trí hàng đầu và chủ

Trang 26

trương khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho toàn dân, làm tốt việc bảo vệ và xây dựng môi trường sinh thái theo mô hình khép kín Chẳng hạn, nước này đã tiến hành xây dựng đường chuyển nước từ Nam lên Bắc, nhằm giải quyết vấn đề thiếu nước nghiêm trọng ở miền Bắc, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường Đây được coi là dự án chuyển nước có quy mô lớn nhất thế giới Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã và đang nổ lực thực hiện nhiều dự án khác, như chuyển đổi một khối lượng lớn đất trồng cỏ, đất trũng thành khu vực sinh thái, kiểm soát ô nhiễm không khí và sa mạc hoá đất đai, hạn chế việc dùng than để giảm hiệu ứng nhà kính Trung Quốc đã coi việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là quốc sách hàng đầu và lâu dài trong chiến lược công nghiệp hoá + Khai thác sức mạnh của người Trung Quốc cả trong nước và ngoài nước Trung Quốc là một nước lớn, có dân số đông nhất thế giới, có tài nguyên thiên nhiên phong phú đó là những nhân tố quan trọng liên quan đến các nguồn lực đầu vào cho sản xuất, do đó cũng là những nhân tố cơ bản của công nghiệp hoá Đặc biệt, với lượng dân số đông đảo đã tạo cho Trung Quốc một thị trường nội địa khổng lồ Trung Quốc có Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan là những vùng lãnh thổ khá phát triển, có quan hệ chặt chẽ với Đại lục Thêm vào đó, Trung Quốc còn có gần 60 triệu người Hoa và Hoa Kiều sống ở nhiều nơi trên thế giới, trong

đó tập trung nhiều ở khu vực Đông Nam á Ngoài những nguồn tài chính khổng

lồ có trong tay, lực lượng này còn tạo ra một cơ sở quan trọng để Trung Quốc phát triển các quan hệ thương mại, đầu tư, mở mang thị trường cũng như phát triển hợp tác quốc tế trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá

2.2.2 Một số kinh nghiệm về công nghiệp hóa ở các nước

2.2.2.1 Bài học thành công

Thứ nhất, thực hiện mô hình công nghiệp hoá kết hợp giữa phát huy nội lực

và thích ứng, chuyển đổi các yếu tố ngoại lực - Kinh nghiệm Nhật Bản và Trung Quốc

Nhật Bản ngày nay là nước đứng đầu châu á và đứng thứ hai thế giới về phát triển kinh tế, nhưng cách đây hơn 100 năm, Nhật Bản cũng là một nước nông nghiệp cổ truyền tự cấp, tự túc, sản xuất manh mún, với những hộ nông dân quy

mô nhỏ như Việt Nam, thậm chí về điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết để phát triển sản xuất nông nghiệp còn có phần khó khăn hơn cả Việt Nam (70% diện tích đất đai là đồi núi, đồng bằng nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi nhiều con sông chảy xiết) Song Nhật Bản đã nhanh chóng chuyển được nền nông nghiệp cổ truyền

Trang 27

kiểu châu á thành nền nông nghiệp hiện đại, đưa nền kinh tế thuần nông trở thành nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ Có được thành công đó là do Nhật Bản biết lựa chọn và thực hiện mô hình công nghiệp hoá dựa trên sự tương tác năng động của hai hệ thống nội lực và ngoại lực, đồng thời chuyển hoá thành công các yếu tố ngoại lực thành nội lực

Nhật Bản tiến hành công nghiệp hoá từ nửa cuối thế kỷ XIX, và đến đầu thế kỷ

XX, sự nghiệp công nghiệp hoá tại Nhật Bản đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trong đó, một số ngành công nghiệp nặng đã đạt được trình độ hiện đại của thế giới Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra và để lại hậu quả nặng nề và lâu dài cho Nhật Bản: 34% máy móc trong công nghiệp, 81% tàu bè, 25% công trình xây dựng đã bị phá huỷ tổng sản phẩm quốc dân năm 1946 chỉ bằng 61%, sản lượng công nghiệp bằng 14% và thu nhập quốc dân bình quân đầu người bằng 55% so với trước chiến tranh Trước tình hình đó, Chính phủ Nhật Bản đã xác định vừa phải khôi phục nền kinh tế với nhiều mục tiêu “đảm bảo an ninh lương thực và cải cách kinh tế nông thôn”, vừa tiếp tục đẩy mạnh quá trình hiện đại hoá

+ Thực hiện mục tiêu thứ nhất (đảm bảo an ninh lương thực), Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều đạo luật và thực thi nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển và bảo vệ lợi ích của nông nghiệp, nông dân và nông thôn, như: Luật Tài trợ cho nông dân trong trường hợp gặp thiên tai; Luật Tăng cường độ màu

mở của đất; Luật Đất đai nông nghiệp; thực thi các chính sách phát triển nông nghiệp toàn dân, lấy an ninh lương thực làm mục tiêu chính Nhờ những chủ trương đúng đắn đó mà sau 15 năm sau chiến tranh, nông nghiệp Nhật Bản đã đảm bảo được 102% nhu cầu về gạo, 91% nhu cầu về thịt, 101% nhu cầu về trứng, 98% nhu cầu về sữa và 100% nhu cầu về rau

+ Thực hiện mục tiêu thứ hai (cải cách kinh tế nông thôn), Chính phủ Nhật Bản tiến hành nhiều biện pháp khai thác tối đa các nguồn lực từ bên ngoài và làm cho chúng thích ứng với điều kiện Nhật Bản theo phương châm kết hợp “kỹ thuật phương Tây với tinh thần Nhật Bản” Kết quả là, chỉ trong vòng ba thập kỷ từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, công nghiệp hoá tại Nhật Bản đã trở thành hiện tượng “thần kỳ” trước sự ngạc nhiên của cả thế giới Vào năm 1972, Nhật Bản đã trở thành nước sản xuất lớn nhất thế giới về sợi tổng hợp, sản phẩm cao su, phôi kim loại, ô tô khách và là nhà sản xuất lớn thứ ba thế giới về bột giấy, xi măng, thép, đồng và nhôm Điều này đã đưa Nhật Bản trở thành một trong những nước có nhiều lợi thế nhất thế giới về công nghiệp

Trang 28

Phương pháp chủ yếu và xuyên suốt của Nhật Bản trong việc tiếp cận với kỷ thuật tiên tiến phương Tây là bằng con đường nhập khẩu với nhiều hình thức khác nhau: nhập khẩu trực tiếp công nghệ, mua bằng phát minh sáng chế, khuyến khích người Nhật đi du học để tiếp thu những tri thức mới của phương Tây, và “nhập khẩu” cả chuyên gia giỏi từ nhiều nước khác nhau trên thế giới Cách thức cụ thể là, chính phủ Nhật đưa ra các chính sách thu hút nhân tài các nước bằng chế độ ưu đãi, thu hút những người có bằng sáng chế đến Nhật Bản làm việc, thu hút trở lại những người đi du học ở nước ngoài Bằng cách đó, số người nước ngoài đến làm việc tại Nhật Bản ngày càng nhiều, từ cố vấn kỹ thuật, giáo viên, nhà đầu tư cho đến nhà quản lý và thợ lành nghề

Nhật Bản không chỉ nhập khẩu máy móc thiết bị để sử dụng, mà còn nhập khẩu

cả bằng phát minh sáng chế để nghiên cứu, bắt chước Không chỉ học tập phương Tây về kỹ thuật, mà họ còn học tất cả các mặt tiên tiến khác về thể chế kinh tế, kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm phát triển giáo dục Đặc biệt là, Nhật Bản không bắt chước nguyên mẫu của nước ngoài, mà họ luôn tìm cách cải tiến, chuyển đổi công nghệ nhập khẩu để thích nghi, thích ứng với điều kiện của Nhật Bản Đây là bí quyết thành công để rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá của Nhật Bản

Đối với Trung Quốc, sau 30 năm thực hiện công nghiệp hoá theo cơ chế kế

hoạch hoá tập trung, họ đã tự rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm quý báu Vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, Trung Quốc bắt đầu thực hiện những cải cách, mở của để để phát huy lợi thế sẳn có về tài nguyên thiên nhiên và sức lao động dồi dào, giá rẻ; đồng thời tranh thủ tối đa nguồn vốn, công nghệ và đặc biệt là tri thức từ bên ngoài thông qua ba hướng chủ yếu là: thương mại, đầu tư

và du học

+ Để triển khai hướng thứ nhất (mở rộng thương mại), Chính phủ Trung Quốc

đã sớm từ bỏ chính sách độc quyền ngoại thương và từng bước tự do hoá hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Đặc biệt, Trung Quốc rất chủ động trong việc mở cửa nền kinh tế Để không bị phụ thuộc quá sâu vào một thị trường nào đó, Trung Quốc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm và đa dạng hoá thị trường Sự thay đổi trong chính sách thương mại như vậy đã thúc đẩy quan hệ buôn bán hai chiều giữa Trung Quốc và các nước phát triển rất nhanh Chẳng hạn: tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 510 tỷ USD năm 2001 lên đến 1.155 tỷ USD năm 2004, và Trung Quốc đã vượt lên Nhật Bản để trở thành cường quốc ngoại thương thứ ba của thế giới, chỉ đứng sau Mỹ và Đức Năm

Trang 29

2007, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của nước này đạt tới mức kỷ lục, với 1.760 tỷ USD Từ 2002, trên thị trường Nhật Bản, Trung Quốc đã vượt Mỹ và trở thành một nước có thị phần lớn nhất trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nước Nhật Còn tại Mỹ, ngay từ năm 2003, với 21% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc đã xuất sang thị trường này

+ Thực hiện hướng thứ hai (mở rộng đầu tư), Trung Quốc đã mở rộng cửa nền kinh tế để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trung Quốc đã mở rộng cửa nền kinh tế để thu hút đầu tư nước ngoài Trung Quốc rất coi trọng nguồn vốn, công nghệ của phương Tây và xác định mở cửa là để lợi dụng vốn và kỹ thuật nước ngoài phục vụ hiện đại hoá đất nước Chính vì vậy, trong suốt thập kỷ

1980, Trung Quốc đã sử dụng nhiều hình thức như vay vốn, hợp tác liên doanh, thành lập các khu kinh tế, các thành phố mở cửa đi đôi với kiện toàn pháp luật

về kinh tế đối ngoại, thực hiện tốt các chính sách ưu đãi, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn từ nước ngoài Với các chiến lược như “làm tổ cho chim phượng hoàng vào đẻ trứng” , Trung Quốc đã thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài, cùng với kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý Hiện nay có khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đầu tư vào Trung Quốc, trong đó có đến 450/500 công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới

Con đường thích ứng, chuyển đổi công nghệ nước ngoài của Trung Quốc được thực hiện theo một chu trình gồm ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, thu hút FDI

để lắp ráp sản phẩm, gia công theo thiết kế chế tạo gốc; giai đoạn thứ hai, thông qua các quan hệ liên kết, liên doanh để chuyển sang sản xuất trong nước các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao và vẫn giữ ngyên thương hiệu gốc của các tập đoàn nước ngoài; giai đoạn thứ ba, tiến tới sản xuất các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao nhờ các liên kết, liên doanh do Trung Quốc tự thiết kế và mang thương hiệu riêng của Trung Quốc Có thể thấy, con đường để tiếp cận công nghệ mới của Trung Quốc cũng có điểm tương đồng với Nhật Bản, đó là bắt chước và “thích ứng chuyển đổi” công nghệ Bằng cách đó, Trung Quốc trở thành “mô hình” mẫu về sản xuất hàng nước ngoài ở trong nước để tiêu thụ ở nước ngoài Với cách đi đó, ngày nay sản phẩm của Trung Quốc đã có mặt tại hầu hết khắp các nước trên thế giới, kể từ những sản phẩm có hàm lượng giản đơn như quần áo, giày dép, đồ chơi trẻ em đến sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như ô tô, xe máy, tivi, tủ lạnh Thậm chí nhiều xí nghiệp tại các nước phát triển cũng đã chịu thất bại trước hàng giá rẻ của Trung Quốc

Trang 30

+ Hướng thứ ba (mở rộng chương trình du học) được thực hiện qua con đường học hỏi và kế thừa tiên bộ khoa học - công nghệ của phương Tây mà chủ yếu là của Mỹ Mục tiêu phát triển giáo dục của Trung Quốc: giáo dục hướng về hiện đại nhằm mục tiêu đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền kinh tế; giáo dục hướng về tương lai nhằm đón đầu các tri thức mới để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đang vận động và phát triển; và giáo dục hướng ra thế giới nhằm tiếp thu tinh hoa của nhân loại để vận dụng vào điều kiện đặc thù của Trung Quốc Phương châm này đã giúp cho Trung Quốc mở cửa giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài để tận dụng cơ hội do thời đại tạo ra, mà vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình Đó chính là bản chất của quá trình công nghiệp hoá kết hợp giữa phát huy nội lực và thích ứng, chuyển đổi các yếu tố ngoại lực để thực hiện thành công công nghiệp hoá rút ngắn tại Trung Quốc

Để học hỏi một cách có hiệu quả, một mặt Trung Quốc đưa người ra nước ngoài, nhất là đến các nước phát triển để học tập; mặt khác, họ mời chuyên gia nước ngoài đến Trung Quốc để giảng dạy, hoặc đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo Về mặt thứ nhất, Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi nhất để tăng cường

số lượng học sinh du học, trải thảm đỏ đón học sinh du học trở về phục vụ đất nước, mời gọi Hoa Kiều đóng góp tiền của và trở về phục vụ đất nước, khuyến khích các nhà khoa học và các nhà đầu tư bỏ thời gian, công sức, tiền bạc và trí tuệ vào nghiên cứu, phát minh, sáng tạo khoa học phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Về mặt thứ hai, chính phủ tạo môi trường để các chuyên gia nước ngoài đến làm ăn tại Trung Quốc, nhất là các chuyên gia trong các ngành công nghệ cao; kêu gọi người nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư phát triển nguồn nhân lực Nhờ đó

mà một số công ty lớn không chỉ đến Trung Quốc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, mà còn xây dựng cả trường học để đào tạo tại chỗ nguồn nhân lực chất lượng cao và thành thạo nghề nghiệp cho Trung Quốc

Quá trình học hỏi, chuyển giao công nghệ nước ngoài theo cách đó đã giúp Trung Quốc tiết kiệm được thời gian và tiền của cho việc nghiên cứu công nghệ mới, cũng như tiếp nhận chuyển giao công nghệ Về điều này, Trung Quốc đã đi trước khá xa so với nhiều nước khác ở châu á

Thứ hai, thực hiện mô hình công nghiệp hoá kết hợp giữa thay thế nhập khẩu với hướng vào xuất khẩu và hướng tới công nghệ cao - Kinh nghiệm của các nước NICs

Trang 31

Các nước NICs châu á là tên gọi quen thuộc để chỉ những nước công nghiệp hoá mới thuộc thế hệ thứ nhất, gồm: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Xingapo Các nước này đã tạo nên những nền công nghiệp tăng trưởng nhanh chưa từng thấy trong lịch sử

Vào trước năm 1960, các nước NICs châu á cũng là những nước nông nghiệp, với tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tới 75% lao động và 30% GDP Tuy có những đặc điểm khác nhau, nhưng tất cả các nước đều có điểm chung là thực hiện kết hợp và chuyển đổi giữa các mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu và công nghiệp hoá hướng tới công nghệ cao phù hợp với yêu cầu và mục tiêu đặt ra trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Điều đó đã tạo nên thành công của sự nghịêp công nghiệp hoá tại các nước này Bài học thành công này của các nước NICs đã cung cấp những kinh nghiệm quý báu cho các nước đi sau để rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá của mình Trong giai đoạn đầu, họ thực hiện mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

- công nghiệp hoá hướng nội, là mô hình được áp dụng phổ biến tại nhiều nước vào những năm giữa thế kỷ XX về trước Mô hình này giúp các nước giải quyết được các vấn đề về vốn và kỹ thuật để phát triển một số ngành công nghiệp giúp dân chúng có việc làm và thu nhập

Đến cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, với xu hướng toàn cầu hoá diễn ra mạnh

mẽ, mô hình này đã bộc lộ những hạn chế, thì các nước NICs đã bắt đầu chuyển sang thực hiện mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu (công nghiệp hoá hướng ngoại), mà Xingapo là nước đầu tiên trong nhóm thực hiện mô hình này Mục tiêu của mô hình này là khai thác lợi thế về nguồn lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, giá rẻ để xuất khẩu, tạo nguồn vốn tích luỹ cho phát triển công nghiệp

Còn từ giữa thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, các nước NICs đã chuyển sang mô hình công nghiệp hoá hướng tới công nghệ cao, bằng việc tập trung phát triển các ngành có hàm lượng khoa học cao như: sản xuất xe hơi Máy công

cụ, máy kỹ thuật số, người máy làm đầu tàu cho tăng trưởng

Bài học kinh nghiệm quan trọng nhất của các nước NICs đối với các nước đi sau là ở chổ biết kết hợp khéo léo, thay thế lẫn nhau giữa các mô hình công nghiệp hoá bằng chính sách bổ sung lẫn nhau giữa hướng vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, trong đó hướng vào xuất khẩu là trọng tâm Công nghiệp hoá đi

từ bước nhỏ tới bước lớn, từ thị trường trong nước tới thị trường khu vực rồi ra thị trường thế giới

Trang 32

Công nghiệp hoá kết hợp thay thế nhập khẩu, hướng vào xuất khẩu và hướng tới công nghệ cao được thực hiện bằng các bước đi lần lượt theo một trình tự Cụ thể:

Bước thứ nhất, các nước này thực hiện xuất khẩu các sản phẩm truyền thống của nền kinh tế nông nghiệp như lương thực, thực phẩm thô

Bước thứ hai là tự sản xuất các sản phẩm vốn trước đó phải nhập khẩu như quần áo, giày dép và các hàng hóa tiêu dùng thông dụng khác

Bước thứ ba là xuất khẩu các sản phẩm chế biến có nguồn gốc từ nông nghiệp như giấy, đồ gỗ, dệt may, mía đường

Bước thứ tư là sản xuất hàng công nghiệp chế tạo lâu bền để thay thế nhập khẩu như máy móc, dụng cụ

Bước thứ năm là xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo cao cấp như ti vi, tủ lạnh,

xe hơi, phần mềm Tại Hàn Quốc và Đài Loan, quá trình chuyển từ bước thứ nhất sang bước thứ hai diễn ra vào khoảng những năm 1950 - 1960; bước thứ hai vào những năm 1960 - 1970; bước thứ tư bắt đầu từ nữa cuối của thập niên 70;

và bước thứ năm từ cuối những năm 1980 đầu năm 1990 của thế kỷ XX

Mô hình này đã giúp các nước NICs phát huy được tiềm năng nội sinh và cơ hội ngoại sinh để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá Tại Đài Loan, sau 10 năm thực hiện mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu (những năm 1950 của thế kỷ XX), với trọng tâm chính là thúc đẩy phát triển nông nghiệp (lợi thế của nước này lúc đó), tăng tích luỹ từ nông nghiệp, lấy công nghiệp nuôi công nghiệp, cho nên đến những năm 60 của thế kỷ XX họ đã chuyển từ mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang từng bước mở của, hướng vào xuất khẩu Thông qua việc thành lập các khu chế xuất (Cao Hùng năm 1966; Đài Trung năm 1969), Chính phủ khuyến khích các dự án đầu tư quy mô nhỏ, sử dụng nhiều lao động, quay vòng nhanh (nhất là các ngành giấy, kính, nhựa ), nền kinh tế Đài Loan đã có bước phát triển khá nhanh Vào những năm 1960 - 1970, Đài Loan đã xuất khẩu sang thị trường Mỹ khoảng 40 - 50% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của họ Mặc dù vậy, họ vẫn chú trọng phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ để sản xuất hàng tiêu dùng, vật tư kỹ thuật và tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, sử dụng được hàng ngàn lao động ở nông thôn Tại Hàn Quốc, trong thời gian đầu vẫn phụ thuộc vào nước ngoài (chủ yếu vào Nhật) thông qua hình thức liên doanh vốn để chế tạo động cơ và máy kéo nhỏ; sau đó, khi đã đủ năng lực, họ dần dần sản xuất trong nước phần lớn các máy móc chủ yếu cho nông nghiệp

Trang 33

Việc thực hiện chuyển giao công nghệ thông qua khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là con đường phổ biến tại nhiều nước, nhưng Hàn Quốc lại thực hiện điều đó chủ yếu bằng các hợp đồng nhập khẩu công nghệ và bằng sáng chế kỹ thuật Vì vậy, nếu các dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp đưa công nghệ vào Hàn Quốc thì phải chấp nhận điều kiện là tỷ lệ góp vốn của đối tác chỉ dưới 49% Để làm được như vậy, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành quy chế giám sát cần thiết

để lựa chọn công nghệ tiên tiến với giá cả phù hợp; đồng thời đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để tiếp thu, học hỏi và phát triển công nghệ Ngoài ra, Chính Phủ cũng tăng cường bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển với mục tiêu là phát triển và hoàn thiện các công nghệ du nhập từ nước ngoài và thành lập các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu để phổ biến, khai thác và hướng dẫn chuyển giao công nghệ

Nhìn chung, các nước NICs đều chú trọng việc nghiên cứu, phân loại tính chất công nghệ và đặc điểm các kênh chuyển giao để tránh nhập các công “nghệ rác”,

mà đi thẳng vào công nghệ hiện đại, công nghệ cao

Để hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới, hầu hết các nước NICs đều thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc “xuất khẩu hay là Chết” Nguyên tắc này vừa nhằm đề cao vai trò trách nhiệm của Doanh nghiệp, vừa tạo ra sức ép đối với các doanh nghiệp trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế Theo nguyên tắc đó, nếu doanh nghiệp nào không tạo được những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì sẽ không có cơ hội tồn tại Cho nên, những công ty nào chỉ quen dựa dẫm vào vị thế độc quyền trên thị trường nội địa nhờ vào sự hỗ trợ của nhà nước mà không phải đối mặt với áp lực cạnh tranh thì sớm muộn sẽ bị thất bại

Như vậy, rõ ràng mô hình công nghiệp hoá kết hợp thay thế nhập khẩu, hướng vào xuất khẩu và hướng tới công nghệ cao đã cho phép các nước đang phát triển

có thể vận dụng được những hạt nhân hợp lý của mỗi mô hình, trong đó đặt trọng tâm vào mô hình hướng vào xuất khẩu, hướng tới công nghệ cao và lấy mô hình thay thế nhập khẩu để bổ sung Sự kết hợp các mô hình này cũng là cách để các nước đang phát triển tham gia sâu rộng vào quá trình phân công lao động quốc tế nhằm tranh thủ khai thác tối ưu các nguồn lực từ bên ngoài, đồng thời phát huy được nguồn lực từ bên trong, tạo ra sức bật mạnh mẽ và khả năng to lớn để thực hiện công nghiệp hoá bền vững

Ngay nay, đối với các nước thực hiện công nghiệp hoá muộn, việc thực hiện

mô hình công nghiệp xen kẽ giữa thay thế nhập khẩu và hướng vào xuất khẩu đã

Trang 34

trở thành xu thế tất yếu, nhưng kết hợp thế nào để đạt đến thành công sự nghiệp công nghiệp hoá thì lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của các chính phủ Vì vậy, kinh nghiệm của các nước đi trước là bài học bổ ích cho các

nước đi sau trong vấn đề này

Thứ ba, thực hiện công nghiệp hoá kết hợp giữa sức mạnh của thị trường và

sự dẫn dắt của nhà nước - Kinh nghiệm một số nước ASEAN

Trong khối ASEAN, Inđônêxia Malaixia, Philíppin và Thái Lan là những nước tuy kém phát triển hơn các nước NICs châu á kể trên, nhưng lại phát triển cao hơn các nước trong khối Tốc độ công nghiệp hoá tại các nước này trong những năm gần đây tiến triển rất nhanh, đưa những nước này trở thành “con hổ” châu á, trong đó Malaixia, Philípphin và Thái Lan đã trở thành các nước công nghiệp mới thuộc thế hệ thứ hai

Các nước ASEAN tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện khác với các nước NICs về thời điểm (muộn hơn khoảng một thập kỷ) Về bối cảnh quốc tế có

sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỷ thuật và xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá thương mại đang diễn ra rất sôi động

Mô hình công nghiệp hoá mà các nước ASEAN áp dụng là sự kết hợp sức mạnh của thị trường với sự dẫn dắt của nhà nước Vai trò của nhà nước tại các nước ASEAN trong công nghiệp hoá khác với nhà nước Liên Xô trước đây Nếu nhà nước Liên Xô trước đây đóng vai trò là người trực tiếp tổ chức, quản lý và thực hiện quá trình công nghiệp hoá với công cụ chủ yếu là kế hoạch hoá tập trung cao độ Thì tại các nước ASEAN, vai trò nhà nước được phát huy trong điều kiện gắn với quan hệ thị trường Hệ thống điều tiết của nhà nước tại các nước này được thiết lập không phải chỉ dựa vào sức mạnh quyền lực và sự chi phối tuyệt đối quá trình công nghiệp hoá, mà nhà nước căn cứ vào thị trường để định hướng, quy hoạch, kiểm soát và hỗ trợ công nghiệp hoá theo các mục tiêu của mình, thông qua việc ban hành các luật lệ, chính sách kinh tế và xây dựng bộ máy điều hành Mục tiêu can thiệp của nhà nước ASEAN là nhằm làm cho thị trường hoạt động có hiệu quả hơn

Khác với Nhật Bản, nhà nước các nước ASEAN không chỉ có vai trò đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, đưa ra các chính sách khuyến khích tiếp thu

kỹ thuật, công nghệ của các nước đi trước, tôn trọng và nuôi dưỡng sáng kiến cá nhân, mà còn có những chính sách cụ thể nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp, tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ và mở rộng luồng vốn tài chính

từ nước ngoài để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá đất nước

Trang 35

Để thu hút kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước đi trước một cách có hiệu quả nhất, nhà nước của các nước ASEAN đã chủ trương mở rộng thị trường, tạo môi trường để dòng vốn, công nghệ và chuyên gia của nước ngoài chảy vào nền kinh tế một cách nhanh chóng và thuận lợi Chẳng hạn, để tăng năng lực công nghệ quốc gia, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, một mặt, nhà nước tăng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cho các hoạt động nghiên cứu

- triển khai; mặt khác, khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực đó Ngoài ra, các nước còn thực hiện các chính sách khuyến khích, kêu gọi các nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật đang ở nước ngoài về làm việc, và “nhập khẩu” cả các chuyên gia, kỹ sư giỏi của nước ngoài với chế độ đãi ngộ đặc biệt Đó thực sự là những đột phá có tác dụng đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá nền kinh tế tại các nước ASEAN

Để thu hút FDI, chính phủ các nước ASEAN đã mở rộng cửa nền kinh tế đi kèm với nhiều chính sách tích cực như: mở cửa không hạn chế đầu tư nước ngoài, tạo bầu không khí đầu tư thuận lợi cho đầu tư, khuyến khích vật chất để các công ty đa quốc gia lựa chọn đất nước mình là “công xưởng” của thế giới Chính phủ các nước ASEAN đều ban hành các chính sách phát triển khoa học - cộng nghệ phù hợp với điều kiện của nước mình Chẳng hạn: Inđônêxia và Philíppin đã xây dựng các khu chế xuất với cơ chế đặc biệt để thu hút đầu tư nước ngoài kết quả là nhiều công ty từ các quốc gia phát triển đã tìm đến ASEAN, trong đó nhiều nhất là từ Nhật Bản và Mỹ Tại Malaixia nhờ biết tận dụng những ưu việt của cơ chế thị trường và hộ nhập quốc tế, cơ cấu kinh tế - xã hội đã nhanh chóng chuyển dịch theo hướng hiện đại Có thể thấy, việc tập trung phát triển các ngành công nghiệp điện tử, vi tính, thông tin và viễn thông trên cơ

sở nguồn công nghệ trực tiếp và chủ yếu là từ Nhật Bản và các công ty đa quốc gia là sự lựa chọn mang tính quyết định hướng tới tương lai của Malaixia

Đối với Thái Lan, có thể nhận thấy một sự kết hợp hết sức kéo léo giữa mục tiêu công nghiệp hoá và thu hút đầu tư nước ngoài qua chính sách thu hút đầu tư FDI năng động, liên tục điều chỉnh để phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước Thành công của Thái Lan trong lĩnh vực này là đưa ra các chính sách

thông thoáng và được thực hiện bởi một bộ máy nhà nước hiệu quả

Thứ tư, thực hiện mô hình công nghiệp hoá kết hợp giữa cơ chế thị trường

và chủ nghĩa xã hội, gắn chặt công nghiệp hoá với cải cách và mở cửa - Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trang 36

Trung Quốc là nước đầu tiên trong số các nước tiến hành công nghiệp hoá theo

cơ chế kế hoạch hoá tập trung thực hiện thành công cải cách thể chế kinh tế, mà nội dung chủ yếu là chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa nền kinh tế, xây dựng xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc Cụ thể như sau:

- Sự chuyển hướng mô hình công nghiệp hoá của Trung Quốc được bắt đầu từ bước chuyển các “công xã nông dân” thành “kinh tế nông hộ” Cơ chế đó đã có tác dụng tích cực trong việc làm tăng sản lượng và thực phẩm cho hơn 1,2 tỷ người Và quan trọng hơn là chuyển được một bộ phận đông đảo lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ (150 triệu người)

- Thành công nhất và cũng độc đáo nhất trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá theo hướng cải cách và mở cửa kinh tế của Trung Quốc là việc thành lập và phát triển các xí nghiệp “hương trấn” Thực chất đây là bước đi đầu tiên để chuyển mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường Với nguyên tắc hoạt động là “lời ăn lỗ chịu” nên mô hình xí nghiệp hương chấn đã tạo được tính tự chủ cao của xí nghiệp

Sự phát triển các xí nghiệp hương chấn ở Trung Quốc đã đem lại hiệu quả cao, góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội Đó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

từ thuần nông, sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, sử dụng được phần lớn lao động dư thừa của nông nghiệp ngay trên đại bàn nông thôn, thúc đẩy quá trình hiện đại hoá nông nghiệp truyền thống Có thể nói, các xí nghiệp hương chấn đã đóng một vai trò đáng kể trong sự phát triển năng động của kinh

tế Trung Quốc trong thời cải cách mở cửa, là bằng chứng về sự sáng tạo độc đáo, đặc sắc Trung Quốc: kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường

- Bước chuyển từ mô hình công nghiệp hoá theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình mới - mô hình kết hợp giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội

ở Trung Quốc thể hiện tập trung nhất là sự chuyển đổi khu vực quốc hữu sang hoạt động kinh tế thị trường Bước chuyển này được bắt đầu từ 1984 và đột phá thực sự vào năm 1993 Trung Quốc vẫn luôn xác định vai trò trụ cột của các xí nghiệp quốc hữu, do đó việc cải cách khu vực này được tính toán một cách rất thận trọng, đi từ làm thử nhóm nhỏ trước, sau đó mở rộng dần, đồng thời cởi trói cho các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh Thực chất đây là sự mở rộng chế độ khoán sản phẩm từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp theo kiểu

“lấy nông thôn bao vây thành thị” Các xí nghiệp quốc hữu sau khi hoàn thành kế hoạch pháp lệnh về nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước thì được quyền quyết định

Trang 37

sản xuất “cái gì”, “cho ai”, “và thế” nào để đạt hiệu quả cao nhất Một cuộc cải cách như vậy đã tạo động lực mạnh mẽ cho hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Thực hiện công nghiệp hoá gắn chặt với cải cách mở cửa nền kinh tế được thể hiện rõ nét nhất qua chính sách cải cách hệ thống thương mại và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài

Về thương mại, Chính phủ Trung Quốc đã từ bỏ chính sách độc quyền ngoại thương thông qua việc cho phép hàng ngàn công ty được phép buôn bán quốc tế

Cụ thể, Chính phủ thực thi nhiều chính sách khuyến khích, như: duy trì chính sách tỷ giá hối đoái thực tế có lợi cho xuất khẩu, cho phép các doanh nghiệp được giữ lại một phần ngoại tệ từ hoạt động này, cho phép các ngân hàng tham gia giao dịch ngoại tệ nhờ những chính sách như vậy, hoạt động ngoại thương của Trung Quốc trên bản đồ ngoại thương thế giới đã thay đổi Vị trí của Trung Quốc trên bản đồ ngoại thương thế giới đã thay đổi Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP của nước này đã tăng từ 7% năm 1980 lên 15% năm 1990 và lên tới gần 30% những năm gần đây Từ năm 2002, Trung Quốc là nước có thị phần lớn nhất trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản Hiện nay Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ ba trên thế giới, với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu lên tới 1.760 tỷ USD, trong đó xuất siêu là 212 tỷ USD

Về đầu tư, Trung Quốc mở rộng việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thông qua phát triển các đặc khu kinh tế Thực tế là ngay từ đầu thập

kỷ 1980, Trung Quốc đã thành lập bốn đặc khu kinh tế (lúc đầu chỉ là khu chế xuất) là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu và Hạ Môn, sau thêm Hải Nam (đảo) Đến giữa thập kỷ 1980, Trung Quốc đã hình thành được một “cách cung” khổng

lồ các đặc khu kinh tế và các thành phố mở ven biển hướng ra Thái Bình Dương Hiện nay, Trung Quốc là là một trong số những nước thu hút FDI nhiều nhất của thế giới

Năm 2007, dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc đạt 67,3 tỷ USD Hiện nay khu vực FDI chiếm hơn 30% tổng giá trị xuất khẩu và trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu công nghiệp của Trung Quốc Trung Quốc đã dần dần thay thế

vị trí của Nhật Bản trong lĩnh vực này Điều đó đã khẳng định khả năng sản xuất hàng hóa giá rẻ và chất lượng cao của Trung Quốc, đặc biệt là đồ điện gia dụng trên thị trường tiêu thụ của thế giới Ngay từ cuối thập niên 1990, Trung Quốc đã được cả thế giới biết đến như là một “nhà máy sản xuất khổng lồ của thế giới”,

và đến năm 2000, Trung Quốc đã chiếm 40% tổng sản lượng sản xuất máy điều

Trang 38

hoà không khí của thế giới, 24% tivi màu, 11% máy tính cá nhân, 10% điện thoại

di động Đồ điện, điện tử gia dụng, đồng hồ, máy tính cá nhân, xe máy và các loại máy móc khác chiếm tới 43% tổng xuất khẩu năm 2003

Từ thực tế trên, có thể khẳng định sự thành công của mô hình công nghiệp hoá tại Trung Quốc 20 năm gần đây chủ yếu là do ba nguyên nhân

Thứ nhất, Trung Quốc đã tiến nhanh vào cơ chế thị trường, nhất là trong lĩnh vực sản xuất Đặc biệt là nhà nước đã tạo điều kiện về cơ chế cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rất nhanh, điển hình là các doanh nghiệp hương chấn

Thứ hai, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra sôi động ngay từ những năm đầu sau khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành (1979), mà trước hết là

sự hưởng ứng tích cực của tư bản hoa kiều ở Hồng Kông, Đài Loan và các nước Đông Nam á, sau đến các nước Âu - Mỹ và Nhật Bản

Thứ ba, Trung Quốc đã xác định được con đường công nghiệp hoá riêng của mình nhưng phù hợp với bối cảnh mới - phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế

Chính vì vậy, chỉ trong vòng 20 năm cuối thế kỷ XX, Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong lịch sử phát triển của mình, và cũng là cao nhất thế giới, với mức tăng trưởng bình quân 9,8%/năm, riêng năm 2007 là 11,4% Năm 2004, GDP của Trung Quốc đạt 1.649 tỷ USD, xếp thứ bảy trên thế giới, năm 2008 là 3.280 tỷ USD, đứng thứ tư (sau Mỹ, Nhật và Đức), với GDP bình quân đầu người 2.460

Như vậy, Trung Quốc đã trải qua hai thời kỳ, ứng với những mô hình công nghiệp hoá khác nhau và kết quả công nghiệp hoá đạt được cũng khác nhau Nếu

mô hình công nghiệp hoá trước năm 1980 là thất bại, thì ngược lại, mô hình công nghiệp hoá Trung Quốc thực hiện từ 1980 đến nay lại rất thành công, trở thành một mẫu mô hình công nghiệp hoá mới Đó là mô hình công nghiệp hoá kết hợp giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, gắn chặt công nghiệp hoá với cải cách và mở cửa nền kinh tế

2.2.2.2 Bài học thất bại

Thực tiễn đã chứng minh là không có một quốc gia nào tiến hành công nghiệp hoá mà không gặp phải những thất bại nào đó Xét đến cùng, sự thất bại của các nước đều xuất phát từ việc lựa chọn và thực thi mô hình công nghiệp hoá phiến diện, tuyệt đối hoá một mặt nào đó Dưới đây là những bài học thất bại cụ thể từ

Trang 39

mô hình công nghiệp hoá các nước đi trước, mà những nước đang tiến hành công nghiệp hoá cần phải tránh

- Thứ nhất, thất bại của mô hình công nghiệp hoá tuyệt đối hoá vai trò công nghiệp nặng và quyền lực nhà nước của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây

Lịch sử đã chứng kiến sự thành công của công nghiệp hoá ở Liên Xô, nước đầu tiên trong hệ thống XHCN thực hiện công nghiệp hoá, và là nước duy nhất trong khối thực hiện thành công Chỉ chưa đầy 15 năm (1928 - 1941), tiềm lực công nghiệp của Liên Xô đã đạt trình độ tương đương các nước công nghiệp châu âu, một đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật hùng hậu vào bậc nhất nhì thế giới, một tiềm lực quốc phòng “ngang ngửa” với Mỹ và trở thành một trong hai siêu cường quân sự của thế giới Tuy nhiên, sự hùng hậu đó kéo dài không lâu, bởi lúc đạt tới đỉnh cao ấy cũng là lúc bộc lộ dấu hiệu sụp đổ

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự sụp đổ của mô hình công nghiệp hoá ở Liên Xô và các nước XHCN lúc bấy giờ Nhưng nguyên nhân chủ yếu là ở đường lối hiện đại hoá phiến diện, thiếu tính bền vững Sự phiến diện thể hiện ở chỗ mô hình này quá coi trọng phát triển công nghiệp nặng mà không quan tâm đến nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Các nước XHCN lúc đó đều dành từ 70 - 80% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để phát triển công nghiệp nặng, và duy trì tỷ lệ đó trong suốt quá trình công nghiệp hoá Bên cạnh đó do dựa vào cơ chế kế hoạch hoá tập trung nên đã quá coi trọng các chỉ tiêu kế hoạch, cứng nhắc trong giải quyết các mối quan hệ kinh tế, mà bỏ qua các quan hệ thị trường, không tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan vì vậy, sự thành công của Liên

Xô chỉ dừng lại ở trình độ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, mà không thể tiếp cận được với cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật tiếp theo

Lịch sử đã chứng minh rằng, nếu không tính đến đặc điểm thời chiến thì mô hình công nghiệp hoá theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung là mô hình kém hiệu quả nhất Mô hình này được hình thành và thực hiện dựa vào ý chí chủ quann của nhà nước, lại là nhà nước toàn trị nên đã khiến cho tính độc lập, chủ động sáng tạo của cá nhân cũng như tập thể lao động bị bào mòn và đi đến triệt tiêu Điều đó làm cho hiệu quả đầu tư thấp, nền kinh tế tăng trưởng chậm, không bảo đảm được hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân Đến những năm 1970 - 1980, nền kinh tế Xô Viết bước vào tình trạng đình đốn Cuối cùng, mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa dù đã tạo được cơ sở vững chắc để Liên Xô chiến

Trang 40

thắng trong chiến tranh thế giới thứ hai, thì chưa đầy 50 năm sau, trong bối cảnh toàn cầu hóa nó lại trở thành lực cản bởi không thể thích ứng được

Tuy nhiên, các nước XHCN thực hiện mô hình công nghiệp hoá này cũng có yếu tố hợp lý trong việc cho phép các nước này huy động nhanh chóng và sử dụng đúng chỗ cần thiết các nguồn lực trong điều kiện bị các nước tư bản chủ nghĩa bao vây, cấm vận gây ra rất nhiều khó khăn trong việc khai thác thành tựu của các nước đi trước và tranh thủ công nghệ của nước ngoài Nhưng vì cơ chế

đó tồn tại quá lâu trong điều kiện thiếu hẳn một định chế quản lý xã hội năng động để điều chỉnh kinh tế thích ứng và mở ra những viễn cảnh phát triển mới, nên sự thất bại cũng là tất yếu Trên thực tế mô hình công nghiệp hoá theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung tại các nước XHCN đã không còn tồn tại, song những kinh nghiệm rút ra từ sự thất bại của mô hình này vẫn còn nguyên ý nghĩa

- Thứ hai, thất bại của mô hình công nghiệp hoá tuyệt đối hoá “thay thế nhập khẩu” hoặc “hướng về xuất khẩu” - Bài học từ các nước Châu á

Lịch sử công nghiệp hoá thế giới đã cho thấy, không thể có một mô hình công nghiệp hoá nào hoàn hảo, mà mỗi mô hình công nghiệp hoá đều có những điểm hợp lý và bất hợp lý Vì vậy, các nước thực hiện công nghiệp hoá theo quan điểm tuyệt đối hoá một mô hình nào đó đều gặp phải những khó khăn, thậm chí nhiều nước đều thất bại

Vào nữa thế kỷ XX, hầu hết các nước đều thực hiện mô hình công nghiệp hoá hướng nội, với quan điểm độc lập dân tộc và tự lực cánh sinh, chủ trương không tham gia vào phân công lao động quốc tế Dù hoàn cảnh thực hiện công nghiệp hoá khác nhau, nhưng những nước thực hiện mô hình công nghiệp hoá hướng nội (kể cả theo mô hình thay thế nhập khẩu hay mô hình kế hoạch hoá tập trung) đều giống nhau ở mục đích công nghiệp hoá là nhằm khai thác các yếu tố tài nguyên thiên nhiên và lao động sẳn có của mỗi nước Mô hình này trên thực tế

đã tạo được sự phát triển nhất định trong thời gian đầu, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đã bộc lộ giới hạn của nó, do sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hoá đã làm thay đổi lợi thế cạnh tranh trên thế giới Cho nên, vào những năm 1980 - 1990, tại nhiều nước thuộc các châu lục khác nhau, tố độ tăng trưởng kinh tế đã bắt đầu chậm lại, thậm chí các nước Braxin, Mêhicô, áchentina, Nigiêria và cả Việt Nam đã lâm vào tình trạng khủng hoảng Cơ cấu kinh tế các nước này bị mất cân đối, cơ sở hạ tầng kinh tế -

xã hội lạc hậu, nợ nước ngoài cao, hiệu quả nền kinh tế thấp Ngay cả Mỹ, nền kinh tế mạnh nhất thế giới hiện nay cũng đã từng trả giá cho việc thực hiện mô

Ngày đăng: 24/08/2017, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Văn Hảo (2007), Kinh tế chính trị Mác-Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chính trị Mác-Lênin
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
[3]. PGS.TS Nguyễn Đình Kháng (2007), Phát triển nhận thức Kinh tế chính trị Mác - Lênin trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhận thức Kinh tế chính trị Mác - Lênin trong quá trình đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đình Kháng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
[4]. Ngô Đăng Thành (chủ biên), Trần Quang Tuyến, Mai Thị Thanh Xuân, (2009), Các mô hình công nghiệp hoá trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình công nghiệp hoá trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Ngô Đăng Thành (chủ biên), Trần Quang Tuyến, Mai Thị Thanh Xuân
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
[6] Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1987
[7] Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
[8] Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[12] Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[13] Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2016
[2]. Lý Bân (2006), Phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w