TÓM TẮTSau khi trải qua liên module Quản lý bệnh viện và Kinh tế y tế, em đã học được vànhìn thấy được rất nhiều những vấn đề hết sức thực tế đang diễn ra trong ngành y tếchúng t
Trang 1BÀI THU HOẠCH MODULE QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
VÀ MODULE KINH TẾ Y TẾ
THỰC TRẠNG VÀ TRỞ NGẠI TRONG LỘ TRÌNH
TIẾN TỚI BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN
NGÔ VŨ PHƯƠNG MSSV: 125272079
Tp HCM, 08/2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô trong module Quản lý bệnhviện và module Kinh tế y tế của Khoa Y - Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh vừa qua đãtận tình giảng dạy và hướng dẫn chúng em trong suốt cả module Cám ơn các quý thầy, cô
đã cố gắng dành thời gian trong lịch làm việc bận rộn của mình để đến giảng dạy chochúng em Ngoài những bài giảng về kiến thức chuyên ngành, các thầy cô còn mang đếncho chúng em những kinh nghiêm nghiệm rất thực tế để chúng em hiểu rõ hơn về thựctrạng ngành y tế hiện nay của đất nước ta cũng như trên thế giới, đồng thời cũng rất cảm
ơn quý thầy, cô đã cùng thảo luận và giải đáp rất nhiều thắc mắc cho chúng em
Với lòng biết ơn sâu sắc, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Thế Dũng,cám ơn thầy đã dành rất nhiều thời gian và tâm sức của mình để giảng dạy cho chúng emtừng bài giảng một cách tận tình nhất, cám ơn những câu chuyện của thầy đã mang đếncho chúng em những bài học rất hữu ích trong cuộc đời làm nghề y, cám ơn thầy đã dạycho chúng em cách tự tư duy và trả lời những câu hỏi của bản thân mình
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới
và các giảng viên trong bộ môn Nhiễm –Vi sinh –Kí sinh đã tạo điều kiện, hỗ trợ chochúng em nơi học tập, làm việc tốt nhất
Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn đến Ban Chủ nhiệm Khoa Y - Đại học quốc giaTP.Hồ Chí Minh và Ban điều phối module đã tạo nên module này, một module mà chỉKhoa Y- Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh mới có Module này đã mang đến cho chúng
em cơ hội được tiếp cận với những vấn đề của nghề y chúng ta hiện nay và đồng thờicũng dạy cho chúng em cách hành xử, giải quyết những vấn đề khó khăn xảy ra trongthực tế, bên cạnh đó module còn mang đến cho chúng em một ngọn lửa nhiệt tâm và yêunghề hơn
Cuối cùng, thông qua bài thu hoạch này, đây chính là những gì em học tập được,tiếp thu được, cảm nhận được qua những bài giảng của thầy cô, tuy nhiên do kiến thức, sựtiếp thu cũng như việc nhận thức vấn đề vẫn còn nhiều hạn chế, kính mong các thầy, cô sẽxem xét và rất mong nhận được những lời góp ý quý báu của quý thầy cô
Trân trọng
TP.Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 08 năm 2017
Trang 3
TÓM TẮT
Sau khi trải qua liên module Quản lý bệnh viện và Kinh tế y tế, em đã học được vànhìn thấy được rất nhiều những vấn đề hết sức thực tế đang diễn ra trong ngành y tếchúng ta hiện nay, tuy nhiên trong khuôn khổ bài báo cáo lần này em sẽ trình bài về vấnđề bảo hiểm y tế toàn dân, đây là vấn đề thời sự, cũng là một chính sách xã hội mà quốcgia ta luôn chú trọng thực hiện Để xây dựng một nền bảo hiểm y tế xã hội hoá, đảm bảocông bằng trong công tác khám chữa bệnh cho mọi người dân, đồng thời tránh nghèo hoáquốc gia do chi phí y tế thì một nhiệm vụ tất yếu trong thời kì này chính là một nền bảohiểm y tế toàn dân
Trong khuôn khổ bài viết này, em sẽ nêu lên thực trạng, những khó khăn - tháchthức mà hiện tại chúng ta đang gặp phải, thông qua đó em cũng sẽ đưa ra những giải phápđể khắc phục và giải quyết vấn đề đưa ra
Trang 42.7/ Quản lý và sử dụng quỹ BHYT 72.8/ Lộ trình thực hiện BHYT toàn dân 9 2.9/ Kinh nghiệm thực hiện BHYT toàn dân ở một số quốc gia trên
thế giới 10
3.1/ Thực trạng ngành BHYT Việt Nam 123.2/ Những khó khăn, thách thức và bất cập của ngành BHYT Việt Nam 19
Tài liệu tham khảo 28Phụ lục 29
Trang 5DANH SÁCH HÌNH VẼ
Danh sách hình
Hình ảnh 01 Khái niệm không gian 3 chiều của BHYT toàn dân 3
Hình ảnh 04
Hình ảnh 05 Số người tham gia BHYT, BHXH ở Việt NamTỉ lệ người dân tham gia BHYT qua các năm 1617
Trang 7DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
WHO: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới BHYT : Bảo hiểm y tế
BHXH : Bảo hiểm xã hội
Trang 8CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
Sinh, lão, bệnh, tử là điều tất yếu mà mỗi người trong chúng ta đều phải trải qua trongcuộc sống này Bệnh tật chính là thứ rủi ro mà chúng ta hiếm khi lường trước được vànó sẽ mang đến rất nhiều hậu quả về cả kinh tế lẫn xã hội Ngoài việc sức khoẻ củachúng ta bị tổn hại, năng lực lao động mất đi hoặc giảm sút, chúng ta sẽ phải chi trảmột số tiền nhỏ hoặc lớn để chữa trị bệnh tật, làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sốngkinh tế của mỗi cá nhân, gia đình, đặc biệt là những cá nhân, gia đình có hoàn cảnhkinh tế khó khăn, việc này sẽ đẩy họ vào hoàn cảnh càng thêm khó khăn hơn Do đó,cần thiết phải có một biện pháp để đảm bảo về mặt tài chính khi có những biến cố bấtbất lợi về mặt sức khoẻ xảy ra, đó chính là lí do phải có BHYT để đảm bảo sức khoẻcho người dân cũng như an sinh xã hội
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, để nâng cao chất lượng dịch y
tế, dịch vụ KCB, các bệnh viện, trung tâm y khoa, cũng như các cơ sở KCB đã đầu tưnhững máy móc, trang thiết bị hiện đại đón đầu những phát triển công nghệ, đi kèm vớiđó là chi phí cho các dịch vụ y tế ngày càng cao Đặc biệt, y học phát triển ngày càngcao, các loại thuốc biệt dược điều trị đặc hiệu cũng như các liệu pháp chữa trị mới gópphần làm chi phí KCB càng thêm đắt đỏ Một bộ phận lớn người dân sẽ không thể chitrả nổi cho những chi phí này do vậy bắt buộc phải có sự hỗ trợ từ phía BHYT
Kinh tế, y học ngày càng phát triển, đời sống của người dân nâng cao, đi kèm theo đó
là tuổi trung bình của dân số cũng tăng theo, cơ cấu dân số dịch chuyển theo hướng giàhoá, làm cho nhu cầu KCB ngày càng tăng, dẫn đến tình trạng hệ thống cơ sở y tế chưađáp ứng được, cũng như ngân sách Nhà nước không thể đáp ứng nổi việc chi trả cho tất
cả các nhu cầu này Vì vậy cần phải có BHYT để huy động nguồn lực từ mọi ngườitrong cộng đồng tạo lập một quỹ BHYT để hỗ trợ chi phí KCB cho các đối tượng thamgia BHYT, tránh làm ảnh hưởng ngân sách
BHYT chính là chính sách xã hội quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của đấtnước ta, chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm và đẩy mạnhphát triển sâu rộng trên phạm vi cả nước Với mức phí đóng BHYT vừa phải phù hợpvới thu nhập của mỗi cá nhân, đặc biệt còn có hỗ trợ chi phí cho những hoàn cảnhnghèo, khó khăn, thì mỗi người khi không may mắc bệnh, dù cho có là bệnh hiểmnghèo, phải chi trả một lượng chi phí lớn, người tham gia BHYT vẫn sẽ được KCB chuđáo, không phân biệt giàu nghèo, mang lại ý nghĩa nhăn văn và tính nhân đạo sâu sắc
mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng đến khi thực hiện BHYT Trong nhiều năm quathì Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi nhiều chính sách quan trong trọng về hệ thốngBHYT, đặc biệt đã ban hành bộ luật về BHYT, tạo nên tiền đề và cơ sở pháp lí để pháttriển hoàn thiện hơn nữa ngành BHYT Trong đó việc thực hiện BHYT toàn dân đã,đang và được Đảng và Nhà nước ta đặt ra là một nhiệm vụ cấp thiết và lâu dài để đảmbảo công tác chăm sóc sức khoẻ toàn dân lâu dài, bền vững, công bằng đúng với mụcđích an sinh xã hội
Trang 9Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công cuộc phát triển vàthực hiện lộ trình BHYT toàn dân, vẫn còn khá nhiều hạn chế và trở ngại mà ngànhBHYT cần phải vượt qua để hoàn thành mục tiêu BHYT toàn dân Do vậy cần thiếtphải có những giải pháp để khắc khục những khó khăn, trở ngại trên để tiến tới việcxây dựng một nền BHYT toàn dân bền vững.
Trang 10CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1/ Một số khái niệm về BHYT:
2.1.1/ Khái niệm về BHYT:
Theo Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 thì “BHYT là hình thức bảohiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, không vì mục đích lợi nhuận, doNhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo luật địnhcủa luật BHYT” [1].Về cơ bản thì đây là một quỹ tiền lập ra do sự đóng phí tham giaBHYT của mỗi cá nhân hay hộ gia đình, do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp cácthành viên tham gia BHYT chi trả chi phí cho cơ sở dịch vụ KCB khi mà thành viêntham gia không may mắc bệnh và phải sử dụng các dịch vụ KCB Cơ quan bảo hiểm sẽchi trả phí KCB theo quy định của luật BHYT
BHYT là một chính sách an sinh xã hội quan trọng, là cơ chế tài chính vững chắc giúpbảo vệ, chăm sóc sức khoẻ người dân Chính sách BHYT được thực hiện tại Việt Namtừ năm 1992, trải qua hơn 25 năm, ngành BHYT đã đạt được rất nhiều thành tựu đángkể, là minh chứng cho tính đúng đắn của chính sách an sinh xã hội của Nhà nước ta,đồng thời chính sách BHYT cũng mang lại tính công bằng trong dịch vụ KCB cho mỗithành viên trong xã hội
2.1.2/ Khái niệm về BHYT toàn dân:
Theo WHO, BHYT toàn dân phải được đề cập đầy đủ trên cả 3 phương diện về chămsóc sức khoẻ, bao gồm : (1) Bao phủ dân số, tức là tỷ lệ phần trăm dân số tham gia, (2)bao phủ gói quyền lợi về BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y tế được đảm bảo, (3) baophủ về chi phí hay mức độ bảo hiểm để giảm mức phí phải chi trả của người bệnh
Hình ảnh 01 Khái niệm không gian 3 chiều của BHYT toàn dân [6]
Theo Luật số 25/2008/QH12 thì “BHYT toàn dân là các đối tượng được quy định trongLuật này đều tham gia vào BHYT” [1]
Trang 11Theo quan niệm về BHYT toàn dân thì BHYT toàn dân có nghĩa là mọi người dân đềuquyền và nghĩa vụ phải tham gia vào BHYT, đều được BHYT bảo trợ và có quyền tiếpcận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ mà không cần phải lo lắng các gánh nặng về tàichính Hệ thống BHYT do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện và được đảm bảo bằng
hệ thống pháp luật Mọi công dân đều có nghĩa vụ phải đóng góp tài chính vào quỹBHYT toàn dân, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi cá nhân, đối tượng mà có sự
hỗ trợ nhất định khi tham gia vào hệ thống BHYT toàn dân Đồng thời BHYT toàn dânphải đi kèm với sự mở rộng phạm vi quyền lợi, chất lượng dịch vụ y tế cùng với mứchưởng bảo hiểm y tế tương xứng
Thực hiện BHYT toàn dân là một chính sách hữu hiệu trong công cuộc xã hội hoá côngtác y tế, chủ động nguồn tài chính y tế bền vững, đáp ứng yêu cầu công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong việc đổi mới, chuyển mình sang nền kinh kế thịtrường như hiện nay
2.2/ Các nguyên tắc cơ bản trong BHYT:
Các nguyên tắc của BHYT được quy định theo Luật số 25/2008/QH-12:
- Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người những người tham gia BHYT
- Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công,
tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính(sau đây gọi chung là mức lương tối thiểu)
- Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền
lợi của người tham gia BHYT
- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả.
- Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm
cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ
2.3/ Đối tượng và phạm vi BHYT:
2.3.1/ Đối tượng BHYT:
Hoạt động BHYT bao gồm 3 mảng chính: phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chứcnăng
BHYT ở mỗi nước khác nhau có thể sẽ có những tên gọi khác nhau như bảo hiểm sứckhoẻ (bao gồm cả hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh hoặc chữa bệnh, phục hồi chứcnăng, đôi khi bao gồm cả 3 mảng trên) hoặc là BHYT (thường chỉ bao gồm hoạt độngchữa bệnh) Dù tên gọi có khác nhau nhưng đối tượng chính của BHYT vẫn là sứckhoẻ của người tham gia BHYT, có nghĩa là khi người tham gia BHYT gặp những rủi
ro không may về sức khoẻ thì BHYT sẽ đứng ra xem xét và chi trả các chi phí KCBcho cơ sở y tế theo quy định [2] Như vậy đối tượng tham gia BHYT chính là tất cảmọi người dân có nhu cầu bảo hiểm cho sức khoẻ của mình hoặc cũng có thể là mộtngười đại diện cho một tập thể, một đơn vị, một cơ quan,… đứng ra kí kết hợp đồngBHYT cho tập thể, đơn vị, cơ quan đó, trong trường hợp mỗi cá nhân tham gia
Trang 12BHYT tập thể sẽ được cấp một văn bản chứng nhận tham gia BHYT để đảm bảoquyền lợi của chính mình
Bắt đầu triển khai BHYT, thông thường sẽ bao gồm 2 nhóm đối tượng tham gia : bắtbuộc và tự nguyện BHYT bắt buộc áp dụng đối với các công nhân viên chức và một
số đối tượng chính sách Còn BHYT tự nguyện áp dụng cho các đối tượng khác trong
xã hội và thường có giới hạn độ tuổi nhất định tuỳ theo chính sách của từng quốc gia.Ở Việt Nam, hiện nay các đối tượng bắt buộc phải tham gia BHYT bao gồm : côngnhân viên chức Nhà nước, các tổ chức kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp,
cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan đoàn thể hưởng lương từngân sách, các doanh nghiệp quốc danh có từ 10 nhân công trở lên, các doanh nghiệpcó vốn đầu tư nước ngoài, các đối tượng nghỉ hưu, các đối tượng chính sách, đốitượng có công với cách mạng,… BHYT tự nguyện áp dụng cho tất cả các đối tượngkhác trong xã hội bao gồm cả người nước ngoài đến học tập, làm việc, du lịch tại ViệtNam
2.3.2/ Phạm vi của BHYT :
BHYT là một chính sách xã hội của Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sựđóng góp của các cá nhân, tập thể để thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảohiểm Thông thường, BHYT hoạt động dựa trên cơ sở quỹ tài chính của mình làchính, Nhà nước chỉ hỗ trợ khi thật cần thiết Vì dựa trên nguyên tắc cân bằng thu chinhư vậy nên moi người dân trong xã hội đều có quyền tham gia BHYT
Mặc dù trên nguyên tắc mọi người dân có thể tham gia BHYT, tuy nhiên vẫn có một
số trường hợp BHYT không chấp nhân bảo hiểm như : những người mắc bệnh nan y,những trường hợp cố tình huỷ hoại bản thân, hoặc trong tình trạng say rượu, vi phạmpháp luật, hoặc các trương hợp không được bảo hiểm khác theo quy định của luậtBHYT [3]
Mỗi cá nhân hoặc hoặc tập thể tham gia BHYT khi gặp các rủi ro về sức khoẻ sẽđược thanh toán chi phí theo các mức độ khác nhau tuỳ theo luật và chính sách quyđịnh
Bên cạnh đó, mỗi quốc gia đều có những chương trình sức khoẻ quốc gia khác nhau,
và BHYT sẽ không thanh toán cho những trường hợp nằm trong các chương trìnhnày Ở Việt Nam, hiện tại BHYT đang loại trừ các trường hợp bệnh sau : phong, lao,sốt rét, tâm thần, dại, tiêm chủng, kế hoạch hoá gia đình, chỉnh hình – thẩm mỹ, làmtay , chân, mắt giả, máy trợ thính, các bệnh bẩm sinh, bệnh nghề nghiệp, tai nạn laođộng, tai nạn giao thông, các trường hợp tự tử, nghiện ma tuý, vi phạm pháp luật, cáctrường hợp an dưỡng – điều dưỡng, …[3]
2.4/ Phương thúc bảo hiểm y tế :
Có nhiều phương thức thanh toán BHYT dựa trên mức độ thanh độ thanh toán chi phíbao gồm :
Trang 13- BHYT trọn gói là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệmvề mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người tham gia BHYT.
- BHYT trọn gói trừ các đại phẫu thuật là phương thức BHYT trong đó cơ quanBHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người đượcBHYT, trừ các chi phí cho cuộc đại phẫu thuật dựa trên quy định của cơ quan y tế
- BHYT thông thường là phương thức BHYT trong đó có trách nhiệm của cơ quanBHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của người đượcBHYT.[4]
Ở các quốc gia phát triển có thu nhập trên đầu người cao và mức sống của dân cưcao, hoạt động BHYT đã có từ lâu và được thực hiện với cả 3 phương thức trên Cònở các quốc gia đang phát triển, thường chỉ mới triển khai được hình thức BHYTthông thường
Như đã đề cập thì hiện tại BHYT thông tường được tổ chức tại Việt Nam với 2 hìnhthức: BHYT tự nguyện và bắt buộc Đối với hình thức BHYT bắt buộc thì tất cả cácđối tượng được quy định trong luật đều bắt buộc phải tham gia vào BHYT Đối vớihình thức BHYT tự nguyện thì tuỳ theo nhu cầu và khả năng của của các đối tượngtham gia BHYT sẽ chi trả 80% chi phí KCB theo giá viện phí cho cả 2 hình thứcBHYT trên (không thanh toán phần chênh lệch giữa giá viện phí và giá dịch vụ theoyêu cầu của riêng bệnh nhân), người tham gia sẽ chịu trách nhiệm thanh toán 20% chiphí còn lại (không vượt quá 6 tháng lương tối thiểu trong vòng 1 năm) Tuy nhiên đốivới những bệnh nhân thuộc diện ưu đãi xã hội ( quy định tại pháp lệnh ưu đãi đối vớingười hoạt động cách mạng, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, …) sẽđược chi trả 100% chi phí KCB theo giá viện phí
Trong thực tế, có một số loại BHYT mang đặc trưng của BHXH hoặc một số loạiBHYT mang tính chất kinh doanh như bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm trợ cấpnằm viện và phẫu thuật,…
2.5/ Phí BHYT:
Người tham gia BHYT bắt buộc có mức đóng bằng 6 % lương cơ sở, làm căn cứđóng quy định cho từng trường hợp cụ thể trong đó cá nhân tham gia đóng 1% cònngười sử dụng lao động, cơ quan sử dụng công chức, viên chức, cơ quan cấp sinhhoạt phí đóng 2%
Đối với đối tượng có công với cách mạng, đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội thìmức đóng bằng 6% mức lương tối thiểu hiện hành do cơ quan trực tiếp quản lí kinhphí của đối tượng đóng
Người đang hưởng thụ trợ cấp hưu, hưởng các chế độ BHXH thì mức đóng bằng 6%tiền lương hưu, tiền trợ cấp BHXH hàng tháng và do cơ quan BHXH trực tiếp đóng.Người tham gia BHYT tự nguyện có mức đóng do Liên Bộ Y tế – Tài chính quy định
áp dụng cho từng địa phương
2.6/ Mức hưởng BHYT:
Trang 14Tuyến tỉnh, thành phố 60% chi phí KCB đến
ngày 31/12/2020Tuyến quận, huyện 100% chi phí KCB từ
ngày 1/1/2016
Bảng 1 Mức hưởng BHYT [3]
2.7/ Quản lý và sử dụng quỹ BHYT:
Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất trong toàn bộ hệ thống BHYT ViệtNam, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước, và được Nhà nước trực tiếp đứng
ra bảo hộ
Quỹ BHYT được hình thành từ các nguồn sau :
- Phí đóng từ các đối tượng tham gia BHYT theo quy định là chủ yếu
- Ngân sách Nhà nước cấp
- Các khoản viện trợ từ các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước
- Các khoản viện trợ từ các tổ chức quốc tế
- Lãi do hoạt động đầu tư
- Các khoản thu khác (nếu có)
Trang 15Hình ảnh 02 Các nguồn thu từ quỹ BHYT [5]
Quỹ BHYT tự nguyện được hạch toán và quản lý độc lập với quỹ BHYT bắt buộc đểtriển khai BHYT tự nguyện Như đã trình bày do hoạt động BHYT thường có haihình thức bắt buộc và tự nguyện, phạm vi bảo hiểm của hai nhóm này khác nhau nênphí BHYT cũng khác nhau Mức phí thường được quy định thống nhất cho nhómBHYT bắt buộc, còn đối với nhóm BHYT tự nguyện thì mức phí thay đổi tùy theotừng điều kiện hợp đồng BHYT Các khoản chi cũng không giống nhau, cụ thể là đốivơi nhóm BHYT tự nguyện thì chi thanh toán chi phí y tế thùy theo phạm vi hợpđồng BHYT đã giao kết Vì vậy việc quản lý quỹ cũng được tách riêng cho hai nhómnày
Hàng năm quỹ BHYT bắt buộc dành 91.5% cho quỹ KCB trong đó lấy 5% để lập quỹdự phòng KCB Quỹ KCB trong năm không sử dụng hết được sẽ được chuyển vàoquỹ dự phòng Trong trường hợp chi phí KCB trong năm vượt quá khả năng thanhtoán của quỹ KCB thì được bổ sung từ quỹ dự phòng [7]
Lấy 8.5% quỹ để làm chi phí quản lý thường xuyên của hệ thống BHYT Việt Namtheo dự toán hằng năm để cấp có thẩm quyền phê duyệt và chế độ chi tiêu do Nhànước quy định [7]
Trang 16Tiền tạm thời còn dư (nếu có) của quỹ BHYT được mua tín phiếu, trái phiếu kho bạcNhà nước, ngân hàng thương mại quốc doanh phát hành và được thực hiện các biệnpháp nhằm bảo tồn và tăng trưởng quỹ phải đảm bảo nguồn chi trả khi cần thiết [7].Nguồn thu BHYT được hạch toán riêng và sử dụng để chi trả cho các nội sung sau:
- Chi trả phí KCB cho người có thẻ BHYT tự nguyện theo quy định: đây là nguồnchi lớn nhất, thường xuyên của quỹ BHYT
- Chi dự trữ, dự phòng dao động lớn: để đảm bảo quyền lợi cho người tham giaBHYT
- Chi đề phòng hạn chế tổn thất: mục đích nhằm giảm thiểu nếu có các rủi ro xảyra
- Chi trả cho các đại lý thu, phát hành thẻ BHYT tự nguyện
- Chi quản lí thường xuyên của các cơ quan BHYT, đảm bảo cho bộ máy BHYThoạt động bình thường
BHYT Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý thống nhất quỹ BHYT tự nguyện , LiênBộ Y tế–Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn sử dụng quỹ BHYT tự nguyện.Liên Bộ Y tế–Tài chính ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHYT Việt Nam
2.8 / Lộ trình thực hiện BHYT toàn dân:
Luật BHYT xác định mốc thời gian 01/01/2014 là thời điểm các đối tượng có tráchnhiệm tham gia BHYT, được gọi là lộ trình BHYT toàn dân
Việc thực hiện BHYT toàn dân đã được thể chế trong Luật BHYT bằng lộ trình vớitừng nhóm đối tượng Theo quy định tại Điều 12 Luật BHYT hiện hành, phạm vi đốitượng tham gia bao gồm 25 nhóm đối tượng nhằm bao trọn toàn bộ dân chúng Bêncạnh những đối tượng có tính “truyền thống” (những đối tượng thuộc diện tham giabắt buộc như người lao động theo hợp đồng, công chức viên chức nhà nước, lựclượng vũ trang, đối tượng chính sách ), Luật bổ sung các nhóm đối tượng với lộtrình bắt buộc vào các thời điểm khác nhau:
- Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kĩ thuật đang
công tác trong lực lượng công an nhân dân, người đang hưởng trợ cấp thấtnghiệp, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sốngtại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, thân nhân củangười có công với cách mạng; trẻ em dưới 6 tuổi, người đã hiến bộ phận cơ thểmình theo quy định của pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người
và hiến, lấy xác Những nhóm đối tượng trên thực hiện BHYT bắt buộc từ01/07/2009
- Học sinh, sinh viên Nhóm đối tượng này thực hiện BHYT bắt buộc từ
01/01/2010
- Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm
nghiệp Hiện nay nông dân chiếm khoảng 56% dân số cả nước, trong đó cókhoảng gần 60% đã được Nhà nước mua BHYT dưới nhiều hình thức như:
Trang 17người nghèo, người có công, đối tượng trợ giúp xã hội… Thực tiễn cho thấy khókhăn nhất vẫn là BHYT cho nông dân Theo Luật BHYT, nông dân là đối tượngbắt buộc từ ngày 01/01/2012.
- Thân nhân của người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật BHYT mà
người lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng và sống trong cùng hộ gia đình, xãviên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể Những đối tượng này sẽ thực hiện BHYTbắt buộc từ ngày 01/01/2014
Khoản 3 điều 50 Luật BHYT năm 2008 quy định những đối tượng nêu trên khi chưathực hiện BHYT bắt buộc theo lộ trình thì có quyền tự nguyện tham gia theo quy địnhcủa Chính phủ
Cùng với việc xác định lộ trình, Luật BHYT cũng đảm bảo tính khả thi bằng việc xácđịnh sự an toàn tài chính, đảm bảo cân đối thu chi, nâng cao chất lượng khám chữabệnh Vì vậy, cũng quy định mức đóng góp của người dân với giới hạn tối đa là 6%tiền lương, tiền công tháng, tiền lương hưu, trợ cấp BHXH hoặc mức lương tối thiểuchung Trong điều kiện cụ thể xác định mức đóng sao cho phù hợp Nhà nước cóchính sách hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần mức đóng đối với các đối tượng thuộc hộgia đình nghèo hoặc cận nghèo [8]
Trong tương quan đảm bảo tính khả thi của lộ trình BHYT toàn dân, mức đóng cũng
là yếu tố quyết định Mức đóng quá cao thì người dân sẽ không tham gia BHYT Mứcđóng quá thấp thì không đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân
Bên cạnh quy định về phạm vi đối tượng, hình thức tham gia, lộ trình thực hiệnBHYT toàn dân, Luật BHYT còn quy định cụ thể hơn trách nhiệm của các cơ quan,tổ chức, cá nhân, các quy định về chế tài xử phạt vi phạm, mức hưởng cũng có nhiềuthay đổi không dựa trên một mức hưởng cụ thể như trước mà phụ thuộc vào tìnhtrạng bệnh tật, nhu cầu KCB của người dân, quy định liên quan đến thẻ BHYT cũngcó những thay đổi đáng kể, phạm vi hưởng BHYT của các đối tượng khác nhau làkhông giống nhau, thực hiện chế độ cùng chi trả, việc tổ chức KCB cho các đối tượngtham gia BHYT cũng có nhiều bước phát triển… Tất cả các quy định nêu trên nhằmđảm bảo cho việc thực hiện lộ trình BHYT toàn dân
2.9/ Kinh nghiệm thực hiện BHYT toàn dân của một số quốc gia trên thế giới:
Trên thế giới, BHYT là một vấn đề không mới nhưng rất được các nhà khoa học pháp
lý quan tâm nghiên cứu vì BHYT luôn mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộngđồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong việcbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân BHYT toàn dân là mục tiêu hướngtới của tất cả các quốc gia khi thực hiện chính sách BHYT
Nhiều quốc gia khu vực châu Á đã thực hiện BHYT toàn dân từ vài năm đến vài chụcnăm nay với độ phủ 80-90% dân số như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn QuốcNăm 1922, Nhật Bản là quốc gia châu Á đầu tiên ban hành Luật BHYT Tiếp đó, năm
1938 Nhật Bản ban hành Luật BHYT quốc gia, năm 1939 ban hành Luật BHYT cho
Trang 18người lao động, Luật BHYT cho ngư dân và đến năm 1961, Nhật Bản thực hiệnBHYT cho toàn dân Đối tượng tham gia BHYT theo quy định của pháp luật NhậtBản rất rộng, bao gồm những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân vàngười không có nghề nghiệp Tuy nhiên, pháp luật BHYT có những quy định phùhợp dành riêng cho từng đối tượng BHYT cho người lao động được thực hiện theonơi làm việc BHYT quốc gia được thực hiện theo vị trí địa lý Nguồn quỹ BHYTđược hình thành từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và tài trợcủa Nhà nước Trách nhiệm đóng BHYT được thực hiện theo nguyên tắc mức phíđóng BHYT được chia đều, người lao động đóng 50%, chủ sử dụng lao động đóng50% Luật BHYT Nhật Bản xác định riêng hai loại quỹ cho các đối tượng để có sự hỗtrợ cho những đối tượng yếu thế Quỹ BHYT quốc gia áp dụng cho lao động tự do,nông dân và người không có nghề nghiệp Nhà nước bảo trợ nhiều hơn cho loại quỹnày, vì đối tượng của quỹ thường có thu nhập thấp và không ổn định Quỹ BHYT củangười làm công ăn lương, đây là đối tượng có thu nhập thường xuyên và ổn định.Luật BHYT Nhật Bản quy định bệnh nhân BHYT phải thực hiện trách nhiệm cùngchi trả Quy định này nhằm tăng thêm chi phí cho quỹ BHYT, đồng thời hạn chế sựlạm dụng quỹ từ phía người thụ hưởng Mức cùng chi trả phụ thuộc vào đối tượnghoặc nhóm đối tượng Cụ thể: người lao động tự do trả 30%, công chức trả 20%,người lao động hưởng lương trả 10% chi phí khám chữa bệnh [9].
Ở Hàn Quốc, tháng 12 năm 1963 Luật BHYT có hiệu lực và bắt đầu thực thi tại HànQuốc Đến tháng 12 năm 1976 Luật BHYT đã được sửa đổi gần như hoàn toàn Saukhi Luật BHYT được sửa đổi và áp dụng năm 1976, đối tượng tham gia BHYT đượcmở rộng nhanh chóng Đến năm 1989, Hàn Quốc đã đạt độ bao phủ toàn dân với gần100% người Hàn Quốc có BHYT Thực hiện chính sách BHYT toàn dân, Hàn Quốccó điều kiện bao cấp y tế tốt hơn cho diện đối tượng dễ bị tổn thương Mức đóngBHYT của người dân Hàn Quốc tính theo thu nhập hoặc tài sản cố định Thôngthường người lao động đóng 2-8% thu nhập, công chức đóng 4,2% thu nhập, Chínhphủ cùng nộp 4,2% Còn đối với lao động tự do, mức đóng được tính theo mức xếploại thu nhập hoặc tài sản cố định Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% mức phí nhằmmục đích đảm bảo chi phí quản lý [9]
Ở Thái Lan, từ năm 1975 đến năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện BHYTcho nhóm người nghèo và nhóm người bị thiệt thòi Đến năm 1981, Chính phủ triểnkhai chương trình cấp thẻ cho người có thu nhập thấp (LIC) đến những người có thunhập hàng tháng dưới 1.000 baht/tháng Năm 1983, chương trình LIC mở rộng đếnnhững người già trên 60 tuổi Vào năm 1993, LIC được mở rộng đến trẻ em dưới 12tuổi và các lãnh đạo tôn giáo Với việc ngày càng mở rộng đối tượng, đến tháng 4năm 2002 Thái Lan đã thực hiện thành công BHYT toàn dân [9]
Trang 19CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG
3.1/ Thực trạng ngành BHYT Việt Nam:
3.1.1/ Sự ra đời và phát triển của ngành BHYT Việt Nam:
Với sự thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào ngày15/4/1992 tại phiên họp lần thứ 11 Quốc hội khoá VIII, BHYT đã chính thức đượcquy định tại điều 39 của hiến pháp “ Thực hiện BHYT để tạo điều kiện cho mọi ngườidân được chăm sóc sức khoẻ ” Đây chính là cơ sở pháp lí quan trọng để triển khai cácchính sách BHYT sau này
Chính sách BHYT ra đời vào ngày 15/8/1992 căn cứ trên việc ban hành Nghị định số299/HĐBT ban hành điều lệ BHYT
Từ khi ra đời điều lệ BHYT đầu tiên, nhiều nghị định và các thông tư hướng dẫn mớiđược ban hành nhằm điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chính sách BHYT, thể hiện sự quantâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển BHYT
Chính sách BHYT của nước ta đã qua 3 lần sửa đổi, bổ sung thông qua 3 Nghị địnhcủa Chính phủ (Nghị định số 47/CP, Nghị định số 58/1998/NĐ-CP, Nghị định số63/2005/NĐ-CP) Các văn bản sửa đổi, bổ sung đã làm cho chính sách BHYT ngàycàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội trong từng thời phát triển của đất nước.Luật BHYT có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 đã đưa đường lối phát triển của BHYThướng đến BHYT toàn dân Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX(2001), lần thứ X (2006) và lần thứ XI (2011) của Đảng đều nhất quán chủ trương “tiếntới BHYT toàn dân” và định hướng phải có lộ trình thực hiện hiệu quả phù hợp BHYTtoàn dân chính là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước
ta
Thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, lộ trình thực hiện BHYT toàn dân đượcquy định trong Luật BHYT số 25/2008/QH12 Nghị quyết số 15-NQ-TW, ngày1/6/2012 của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khoá XI lần thứ 5 về một số vấn đềchính sách xã hội trong giai đoạn 2012-2020 và Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày22/11/2012 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về tăng cườnglãnh đạo công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 đã đặt ra mục tiêu đến năm
2020 phấn dấu đạt 80% dân số tham gia BHYT
Theo đó, đề án thực hiện lộ trình BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020 đẫđược Chính phủ phê duyệt ngày 29/3/2013 với một lộ trình cụ thể, đó là : “ Tăng tỉ lệdân số tham gia BHYT, tiếp tục duy trì các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT đạt100%, để đến năm 2015 trên 70% dân số tham gia BHYT, đến năm 2020 trên 80%dân số tham gia BHYT ” Mục tiêu của đề án là mở rộng phạm vi bao phủ của BHYTtiến tới BHYT toàn dân nhằm mục đích chăm sóc sức khoẻ toàn dân theo hướng côngbằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững Đây được xem là sự cam kết chínhtrị mạnh mẽ trong việc hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần mức đóng BHYT đối với người
Trang 20nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số, các hộ gia đình làm nghề nông, lâm, ngư, diêmnghiệp có mức sống từ trung bình trở xuống, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi và trợgiúp xã hội Đây cũng là chính sách bảo đảm an sinh xã hội và là một trong nhữngnhiệm vụ chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Hình ảnh 03 Quá trình phát triển BHYT ở Việt Nam [5]
3.1.2/ Cơ cấu quản lý ngành BHYT Việt Nam:
3.1.2.1/ Sơ đồ tổ chứ bộ máy quản lý BHYT ở Việt Nam:
Trang 213.1.2.2/ Chức năng, nhiệm vụ các bộ phận của cơ cấu tổ chức BHYT Việt Nam:
- Phòng giám định BHYT:
+ Thực hiện giám định BHYT, bảo đảm quyền lợi cho người tham gia BHYT
Trang 22+ Hướng dẫn các chi nhánh BHYT thực hiện giám định BHYT theo đúng quy địnhcủa Ngành, đồng thời kiểm tra, đôn đốc thực hiện.
+ Thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình và dự báo diễn tiến tình hình KCB vàđề xuất những biện pháp đảm bảo cho chi phí KCB hợp lí, tránh lạm dụng và thấtthoát quỹ, đảm bảo quyền lợi cho người bệnh
- Phòng tài chính – kế toán:
+ Chịu trách nhiệm trước giám đốc về công tác thu BHYT của các đối tượng tham gia,hàng tháng báo cáo với giám đốc về tổng số thu, công nợ, lý do và biện pháp thu hồicông nợ, chỉ đạo nghiệp vụ tài chính, kế toán đối với các chi nhánh BHYT tỉnh, thànhphố, quận, huyện theo đúng chuyên môn
+ Kế toán chịu trách nhiệm kiểm tra lại mức đóng, danh sách đóng, số tiền đóngBHYT, nếu đúng thì phải phù hợp với số tiền mà phòng khai thác đã xác định
- Phòng tổng hợp:
+ Thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, bảo mật, quản lý và sử dụng condấu theo quy định Chịu trách nhiệm về tính thể chức, nội dung và tính hợp pháp củacác văn bản trước khi trình lãnh đạo kí ban hành
+ Lập chương trình, kế hoạch công tác của đơn vị để trình giám đốc phê duyệt để đônđốc, theo dõi, giải quyết và xử lý các văn bản và các chương trình để đảm bảo thựcthực hiện đúng tiến độ đề ra
+ Phối hợp với các bộ phận khác để xây dựng các kế hoạch khác theo quy định hiệnhành
+ Đảm bảo các điều kiện về cơ sở chất, trang thiết bị cũng như điều kiên môi trườnglàm việc
+ Thực hiện công tác tổ chức cán bộ, xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộtheo thẩm quyền
+ Tham mưu, đề xuất, thực hiện các công tác tuyên truyền với những nội dung, hìnhthức phù hợp, đáp ứng kịp với từng giai đoạn phát triển
3.1.3/ Thực trạng tình hình BHYT ở Việt Nam và những kết quả đạt được :
Sau 25 năm thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, Việt Nam đã đạt được kết quảrất đáng khích lệ, đang từng bước tiếp cận mục tiêu BHYT toàn dân, góp phần thựchiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển kinh tế và bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.Nhờ định hướng đúng và các giải pháp quyết liệt của Đảng, Nhà nước, tỷ lệ dân sốtham gia BHYT ngày càng cao, chất lượng KCB BHYT được cải thiện nhiều, ngườidân được hưởng dịch vụ kỹ thuật y tế hiện đại, hiệu quả, giúp các đối tượng tham giaBHYT
3.1.3.1/ Độ bao phủ của BHYT:
Trang 23Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong những năm qua, số người tham gia BHYT gia tăngnhanh chóng Từ khi Luật BHYT năm 2008 ra đời đã mở rộng các đối tượng tham gialên 25 đối tượng, bao trùm hầu hết các tầng lớp nhân dân.
Theo cơ quan BHXH Việt Nam, tính đến 30/04/2016, tỷ lệ số người tham gia BHYTchiếm gần 77% tổng dân số Việt Nam [10]
Theo Luật BHYTnăm 2008, các đối tượng quy định từ khoản 1 đến khoản 21 Điều 12của luật phải thực hiện BHYT bắt buộc Đây là những lộ trình đầu tiên hướng tớiBHYT toàn dân Theo quy định tại Điều 13 Khoản 1 Luật BHYT năm 2008, tráchnhiệm đóng BHYT cho những nhóm đối tượng trên thường do tổ chức, cơ quan, ngânsách Nhà nước, hoặc được hỗ trợ một phần, hoặc theo tỷ lệ như: tổ chức BHXH, cơquan, tổ chức, đơn vị cấp học bổng, người sử dụng lao động đóng theo tỷ lệ với ngườilao động, ngân sách Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ một phần Bởi những đặc điểm trên, đãthúc đẩy làm tăng độ bao phủ của BHYT
Hình ảnh 04 Số người tham gia BHYT, BHXH tại Việt Nam [10]
Trang 24Hình ảnh 05 Tỉ lệ người dân tham gia BHYT qua các năm [10]
3.1.3.2 / Thu– chi quỹ BHYT:
Trong giai đoạn các năm 2008-2009, đã có sự mất cân đối về thu – chi của hoạt độngBHYT, điển hình bội chi năm 2008 là 656 tỉ đồng, năm 2009 là 3083 tỉ đồng Tuynhiên nhờ vào các chính sách mở rông phạm vi các đối tượng tham gia vào BHYT,điều chỉnh mức đóng phù hợp cho từng đối tượng, đồng thời thực hiện các giải phápđảm bảo cân đối thu chi thì vào năm 2010 sau khi bù lỗ cho năm 2009, quỹ BHYT đãkết dư 2818 tỉ đồng, năm 2011 kết dư 7818 tỉ đồng và tiếp tục tăng dần qua từng năm.Theo báo cáo của BHXH Việt Nam thì tổng thu BHXH, BHYT và BHTN năm 2015đạt 216.576,9 tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm 2014 Trong đó, thu BHXH bắt buộc là146.027,4 tỷ đồng, tăng 12,3%; thu BHXH tự nguyện là 883,3 tỷ đồng, tăng 24,1% sovới năm 2014, thu BHYT là 59.726,7 tỷ đồng, tăng 8,3% [10]
Tổng chi BHXH, BHYT và BHTN năm 2015 là 202.126,2 tỷ đồng, tăng 12,2% so với năm 2014 Trong đó, chi BHXH từ nguồn ngân sách Nhà nước là 44.640,1 tỷ đồng(chiếm 22,1% tổng chi toàn ngành), chi từ quỹ BHXH bắt buộc 102.202,1 tỷ đồng(50,6%), chi từ quỹ BHXH tự nguyện 315,6 tỷ đồng (0,2%), chi bảo hiểm tai nạn4.833,4 tỷ đồng (2,4%), thanh toán chi phí KCB BHYT là 50.135 tỷ đồng (24,8%)[10]
Trang 25Hình ảnh 06 Thu và chi BHXH, BHYT năm 2015 [10]
3.1.3.3/ Tiếp cận các dịch vụ BHYT:
Trong những năm gần đây, số lượt người có thẻ BHYT đi KCB tăng nhanh cả về sốlượng và tần suất tại tất cả các tuyến y tế Năm 2012, ước tính có 121 triệu lượt ngườicó thẻ BHYT đi KCB, tăng gần 2,6 triệu lượt so với năm 2011 Tần suất KCB tănghàng năm, đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở, đạt 2,1 lần/người/năm Theo thống kê tronggiai đoạn 2011-2015, BHXH Việt Nam đã thanh toán BHYT cho 630 triệu lượt KCBtại các bệnh viện, bình quân 10,5 triệu lượt/tháng hay 350.000 lượt KCB BHYT/ngày[11] Bên cạnh đó, quyền lợi của người tham gia BHYT được bảo đảm và ngày càngmở rộng theo đúng quy định Tham gia BHYT, mỗi người dân đã được hưởng nhữngquyền lợi tiếp cận dịch vụ y tế từ nội trú, ngoại trú, phục hồi chức năng, dự phòng, dịchvụ kỹ thuật cao
Số liệu tổng kết hoạt động khám chữa bệnh của Ngành Y tế Thành phố năm 2016 chothấy: hơn 35 triệu lượt khám và hơn 1,7 triệu lượt điều trị nội trú tại các bệnh viện cônglập và ngoài công lập thuộc Sở Y tế TP.HCM Tỉ lệ bệnh nhân cư trú tại các tỉnh phíaNam chiếm 30-40% số lượt khám và điều trị ngoại trú và chiếm 40-60% số lượt điều trịnội trú Điều đáng ghi nhận là số lượt điều trị tại các bệnh viện quận, huyện đều tăng sovới cùng kỳ: tăng 20,8% lượt điều trị ngoại trú và tang 10,67% lượt điều trị nội trú.Về cơ sở khám chữa bệnh, các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước, của tư nhân và80% số trạm y tế xã đã tổ chức khám chữa bệnh BHYT
3.1.3.4/ Quyền lợi của người tham gia BHYT: