Trước năm 1989, y tế là một lĩnh vực dịch vụ công hoàn toàn do Nhà nước đứng racung cấp, các bệnh viện công chỉ đơn thuần là cơ quan hành chính sự nghiệp được bao cấp toàn bộ.. Theo quan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2có thêm nhiều sự hiểu biết về ngành, nghề mà chúng em đã chọn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Thế Dũng và thầy Trần Tuấn Kiệt, chủnhiệm bộ môn Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế đã rất tận tình, bỏ ra nhiều thời gian củamình để có thể đứng lớp và giảng dạy cho chúng em Hai thầy đã giảng giải tận tình, vềcác vấn đề, từ nhỏ đến lớn, trong ngành y tế hay rộng hơn là trong xã hội, để chúng em cóthêm nhiều kiến thức trong quá trình học tập của mình
Em xin cảm ơn các thầy, cô khác đã cùng với 2 thầy giảng dạy cho bọn em trongsuốt thời gian học tập, và tìm hiểu về Quản lý bệnh viện và Kinh tế y tế
Em xin cảm ơn Ban Giám Đốc bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới đã tạo điều kiện và hỗ trợ
để chúng em có thể học tập 2 module này một cách thuận tiện và thoải mái nhất
Em xin cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Y đã thiết kế ra 2 module này, nó không đơnthuần chỉ là 2 môn học, mà sẽ là vốn sống giúp chúng em trong quãng thời gian làm bác sĩphía trước, để có thể làm việc hiệu quả và trở thành một người bác sĩ tốt
Vì sự nhận thức về xã hội còn chưa được sâu sắc, và lượng kiến thức chúng em thuthập được về Quản lý bệnh viện và Kinh tế y tế còn chưa nhiều, nên không thể tránh khỏithiếu sót trong quá trình viết bài thu hoạch Kính mong nhận được sự thông cảm và đónggóp ý kiến cho chúng em từ các thầy, cô giáo
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy, cô có thật nhiều sức khỏe, thành công trongcông việc và sự nghiệp, luôn là những người thầy, người cô đáng kính truyền tải kiến thứccho chúng em và các thế hệ tiếp sau
Trân trọng
Đồng Nai, ngày 15/08/2017
Sinh viên Nguyễn Hoàng Phong
Trang 3TÓM TẮT
Trong 2 module vừa qua – module Quản lý bệnh viện và Kinh tế y tế, các thầy cô đãgiúp chúng em tiếp cận được nhiều vấn đề khác về mặt chuyên môn trong ngành y tế, hầuhết là các vấn đề đang nổi hiện nay Tuy nhiên, với sự hiểu biết của em, và thời lượng củamôn học, em xin trình bày bài thu hoạch trong phạm vi về vấn đề Quản lý nhân lực, mộtvấn đề em nghĩ là khá quan trọng trong ngành y tế hiện nay, khi mà nhu cầu chăm sóc sứckhỏe trong dân số đang ngày một cao và nhân lực trong ngành y tế chỉ có hạn
Trong phạm vi bài viết, em sẽ cố gắng nêu lên các vấn đề xung quanh nội dung này,tình hình hiện tại, những vấn đề đang nổi cộm và phương hướng giải quyết các vấn đề đó,
từ đó nêu lên ý kiến của cá nhân em về vấn đề Quản lý nhân lực trong ngành y tế
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn I Tóm tắt II Mục lục III
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1 Đặt vấn đề 1
2 Sự cần thiết của vấn đề 1
3 Mục tiêu và phạm vi bài báo cáo 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1 Những khái niệm cơ bản 2
2 Mục tiêu của tự chủ tài chính bệnh viện 4
3 Những nhân tố tác động đến cơ chế tự chủ tài chính tại các bệnh viện công 4
4 Nội dung quản lý tài chính bệnh viện 5
4.1 Lập dự toán thu chi 5
4.2 Thực hiện dự toán 8
4.3 Quyết toán 9
4.4 Thanh tra, kiểm tra, đánh giá 10
5 Những đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính bệnh viện của nước ta 10
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG 1 Thực trạng về công tác thực hiện, triển khai cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở y tế công lập trong thời gian qua 11
2 Thành tựu đạt được trong quản lý tài chính của một vài bệnh viện cụ thể 13
3 Tình trạng còn tồn tại của quản lý tài chính bệnh viện 15
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Những thuận lợi 15
2 Những thách thức 15
3 Kiến nghị cải thiện việc quản lý tài chính trong bệnh viện 16
Trang 5Tài liệu tham khảo 19
Trang 6CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ:
Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Con nguời là một nhân tố quan trọng nhất quyết định trực tiếp đến sự phát triển của xã hội của đất nước Vì vậy muốn có một xã hội phát triển đòi hỏi chúng ta phải phát triển nguồn nhân lực trong
đó có việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Do đó hoạt động y tế - hoạt động chăm lo sức khoẻ cho con người là hoạt động rất quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm và chú trọng phát triển ngành y tế và việc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gắn các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội với các mục tiêu phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Ngành y tế phấn đấu đảm bảo công bằng, nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của mọi tầng lớp nhân dân
Trước năm 1989, y tế là một lĩnh vực dịch vụ công hoàn toàn do Nhà nước đứng racung cấp, các bệnh viện công chỉ đơn thuần là cơ quan hành chính sự nghiệp được bao cấp toàn bộ Do vậy đầu tư từ ngân sách nhà nứớc dù đã cố gắng tăng lên hàng năm nhưng cũng rất hạn chế, dẫn đến tình trạng các bệnh viện công quá tải, hiệu quả hoạt độngthấp, cơ sở vật chất thiếu thốn và xuống cấp, đội ngũ y bác sĩ, nhân viên thiếu động lực, không đáp ứng được đầy đủ và có chất lượng nhu cầu khám chữa bệnh đang ngày càng tăng lên của nhân dân Trong nền kinh tế thị trừờng, y tế đựợc xã hội hoá và trở thành mộtngành dịch vụ trong hệ thống kinh tế quốc dân có đóng góp quan trọng vào GDP của đất nứớc và phục vụ các nhu cầu có tính chất phúc lợi xã hội, trong đó hệ thống bệnh viện công lập được xem như xương sống của hệ thống y tế Chi tiêu cho các bệnh viện công chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi tiêu y tế Một trong những thay đổi căn bản trong ngành y tế là việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập Theo quan điểm mới, bệnh viện công là một đơn vị sự nghiệp có thu, có chức năng cung cấp các dịch vụ y tế cho nhân dân, nhưng khác với các đơn vị kinh doanh dịch vụ nói chung
và bệnh viện tư nói riêng ở chỗ, hoạt động cung cấp dịch vụ của bệnh viện công không đặt mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất Do đó Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để xã hội hoá các hoạt động y tế như: Quyết định số 95/HĐBT ngày 25/4/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cho phép ngành Y tế được thu một phần viện phí nhằm giải quyết một số khó khăn cho công tác khám chữa bệnh; bên cạnh đó Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, chính sách Bảo hiểm y tế (ra đời năm 1992), Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 và Nghị quyết số 46- NQ/TW ngày 23/2/2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính Phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, đã tạo điều kiện pháp
lý để huy động các nguồn lực khác của xã hội tham gia vào phát triển các dịch vụ y tế
phục vụ việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Cũng như hoạt động của bất cứ loại hình kinh tế nào, trong quá trình phát triển, cácđơn vị sự nghiệp công lập phải có nguồn tài chính đủ để thực hiện các chức năng của mình Triển khai quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá các hoạt
Trang 7động y tế, ngành y tế đã huy động được khá nhiều nguồn lực tài chính khác ngoài nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước để phục vụ cho các hoạt động của các cơ sở y tế công lập Nhận thức rõ vai trò của các đơn vị sự nghiệp công lập cũng như vai trò của tài chính trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện
và đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Song song với các chiến lược huy động nguồn lực tài chính cho ngành y tế cũng cần phải có các chính sách nhằm quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính một cách có hiệu quả Điều này đòi hỏi ngành y tế nói chung và cụ thể là các đơn vị sự nghiệp công lập - nơi trực tiếp nhận các nguồn lực tài chính này phải có cơ chế quản lý tài chính phù hợp
Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận, nhận thức được tầm quan trọng, tính cấp
thiết của vấn đề, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số kiến nghị để hoàn thiện cơ chế tự chủ
tài chính tại một số bệnh viện tại TP HCM”.
2 MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI BÀI BÁO CÁO:
a Mục tiêu:
Khái quát về tình hình của một số bệnh viện công trước cơ chế tự chủ về tài chính
Ưu điểm, nhược điểm, những khó khăn và thuận lợi của việc tự chủ tài chính
Những tồn tại và đưa ra một số giải pháp
b Phạm vi bài báo cáo.
Về nội dung: đề cập chủ yếu tới tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài chính củacác bệnh viện công trong thành phố Hồ Chí Minh
Về không gian: tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài chính của các bệnh viện công trong thành phố Hồ Chí Minh
Về thời gian: từ năm 2002 đến nay
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN:
Đầu tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm quản lý, để từ đó có thể hiểu rõ đượcvai trò của quản lý, và sâu xa hơn là quản lý tài chính Quản lý là sự tác động có chủ đíchcủa chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức nhằm đạt tớimục tiêu với kết quả tốt nhất
Quản lý bao gồm các yếu tố:
Có chủ thể quản lý nắm quyền lực và sử dụng quyền lực (chính trị, kinh tế, quân sự, )
Đối tượng quản lý là người thực hiện quyết định quản lý (trực tiếp tác động vàophương tiện để hoàn thành nhiệm vụ)
Có mục tiêu rõ ràng cho cả chủ thể và đối tượng quản lý
Gắn với môi trường hoạt động (luôn biến động)
Điều này đã được nhiều nhà khoa học nhấn mạnh như: “Quản lý là một quá trìnhlàm cho những hoạt động được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua nhữngngười khác” (S P Robbins) và “Các nhà quản lý có trách nhiệm duy trì các hoạt động
Trang 8làm cho các cá nhân có thể đóng góp tốt nhất vào mục tiêu của nhóm” (H Koontz, C O’donnell, H Weihrich).
Tiếp theo sẽ tìm hiểu về vấn đề tài chính, một phạm trù của lĩnh vực quản lý Quản
lý tài chính bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của Nhà nước về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động bệnh viện.Chính phủ Việt Nam đã trao quyền tự chủ cho các bệnh viện công như một phần trong quá trình mở rộng cải cách hành chính công với mục đích cải thiện kết quả hoạt động của các bệnh viện này cũng nhƣ giảm bớt gánh nặng đối với ngân sách nhà nước Nghị định 10/2002/CP-NĐ năm 2002 đã cho phép các bệnh viện và đơn vị có thu thuộc các lĩnh vựckhác nhau có quyền tự chủ trong sử dụng nguồn thu ngoài ngân sách với điều kiện phải tuân theo một số quy định Năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CPthay thế Nghị định 10 Nghị định 43 được áp dụng cho tất cả các bệnh viện công Cùng lúc, Chính phủ đã khuyến khích các bệnh viện thực hiện “xã hội hóa nguồn vốn” nhằm huy động nguồn đầu tư ngoài ngân sách từ các tổ chức tư nhân và các cá nhân, bao gồm
cả cán bộ bệnh viện để triển khai các hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân
Ở Việt Nam, quản lý tài chính bệnh viện là một nội dung của chính sách kinh tế-tàichính y tế do Bộ Y tế chủ trương với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực đầu tư cho
ngành y tế để cung cấp các dịch vụ y tế một cách hiệu quả và công bằng Tính hiệu quả
chú trọng đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực
quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân Tính công bằng
đòi hỏi cung cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những người có mức độ bệnh tật như nhau, thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi người khi ốm đau theo một mặt bằng chi phí nhất định mà không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện tiên quyết
Do vậy, quản lý tài chính trong bệnh viện ở Việt Nam được định nghĩa là quản lýtoàn bộ các nguồn vốn, tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữ bệnh,
đào tạo và nghiên cứu khoa học
Quản lý tài chính trong bệnh viện của Việt Nam gồm
Sử dụng, quản lý các nguồn kinh phí Ngân Sách Nhà nước cấp và các nguồn được coi là Ngân Sách Nhà nước cấp như viện phí, bảo hiểm y tế, viện trợ theo đúng quy địnhcủa Nhà nước
Tăng nguồn thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng các khoản chi có hiệu quả, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm
Thực hiện chính sách ưu đãi và đảm bảo công bằng về khám, chữa bệnh cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo
Từng bước tiến tới hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh
Trang 92 MỤC TIÊU CỦA QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG BỆNH VIỆN:
Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của quản lý tài chính bệnh viện Các yếu tố của mục tiêu này bao gồm:
Duy trì cán cân thu chi: sử dụng, quản lý các nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước cấp và các nguồn được coi là ngân sách Nhà nước cấp như: viện phí, bảo hiểm y tế,viện trợ theo đúng chế độ định mức qui định của Nhà nước được coi là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sựthành công trong cơ chế quản lý mới- tiến tới hạch toán chi phí
Tăng nguồn thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng các khoản chi có hiệu quả,chống lãng phí, thực hành tiết kiệm để duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiênquyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sựthành công trong cơ chế quản lý mới- tiến tới hạch toán chi phí
Từng bước tiến tới hạch toán chi phí và giá thành khám bệnh, chữa bệnh.Giám đốcbệnh viện là người chịu trách nhiệm quản lý tài chính trong bệnh viện
Bệnh viện phải cải thiện chất lượng thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn như: tỉ
lệ tử vong, tỉ lệ thành công của việc chữa bệnh.Nâng cao cơ sở vật chất và phát triển chuyên khoa
Mức độ hài lòng của nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên cần được cải thiện, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng văn hóa Bệnh viện
Bệnh viện phải phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa
Công bằng y tế: chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng
Như vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: bệnh nhân, nhân viên trong bệnh viện, Ban giám đốc bệnh viện và Nhà nước Đó là:
Với bệnh nhân: chất lượng chăm sóc và công bằng y tế
Với nhân viên: được hài lòng do đời sống được cải thiện
Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu chi
Y tế nhà nước: phát triển bệnh viện
Nhìn chung trong điều kiện kinh tế như nước ta hiện nay, mục tiêu của quản lý tài chính bệnh viện phải cùng lúc đạt được năm mục tiêu trên Tuy nhiên ở một số vùng sâu, vùng xa, gặp nhiều khó khăn thì phải sắp xếp thứ tự của ưu tiên nào cần phấn đấu trước
3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG.
Cơ chế quản lý tài chính là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới công tác tự chủtài chính tại các bệnh viện Nó là tổng thể các phương pháp, công cuuj và hình thức tácđộng lên một hệ thống để liên kếu phối hợp hành động giữa các bộ phận thành viên trong
hệ thống nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của quản lý Quyết định sự thành công haythất bại trong quản lý nói chung và trong quản lý thu-chi đơn vị nói riêng, đó chính làphương pháp và công cụ quản lý
Trang 10Tổ chức quản lý thu-chi tại các bệnh viện công là một trong những nhân tố có ảnhhưởng đến khả năng tự chủ tài chính cảu đơn vị Công tác tổ chức có tốt mới có thể tạothêm được nhiều nguồn thu và tăng thêm doanh thu trong những nguồn thu đã có đồngthời sử dụng hợp lý các khoản chi trong điều kiện các nguồn thu cho phép.
Trình độ các bộ quản lý : con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, làkhâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độcán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyếtđịnh quản lý, quyết định sự thành bài cả công tác quản lý nới chung cũng như công tác tựchủ tài chính nói riêng
4 NỘI DUNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN:
Quy trình quản lý tài chính trong bệnh viện ở Việt Nam gồm 4 bước:
Lập dự toán thu chi và qui chế chi tiêu nội bộ
Thực hiện dự toán
Quyết toán
Thanh tra, kiểm tra, đánh giá
4.1 Lập dự toán thu chi:
Lập dự toán thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện là thông qua các nghiệp vụ tài chính để cụ thể hóa định hướng phát triển, kế hoạch hoạt động ngắn hạn của bệnh viện,trên cơ sở tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc, đảm bảo được hoạt động thường xuyêncủa bệnh viện, đồng thời từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất của bệnh viện, tậptrung đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước tính công bằng trong sử dụng các nguồn đầu tư cho bệnh viện
Khi xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện căn cứ vào :
Phương hướng nhiệm vụ của đơn vị
Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được
Kinh nghiệm thực hiện các năm trước
Khả năng ngân sách nhà nước cho phép
Khả năng cấp vật tư của nhà nước và của thị trường
Khả năng tổ chức quản lý và kĩ thuật của đơn vị
a Quản lý các nguồn thu
Các nguồn tài chínhcủa bệnh viện
Hình thành ngân sách của bệnh viện và được quản lý thống nhất theo chế độ kếtoán hành chính sự nghiệp bao gồm:
Ngân sách Nhà nước cấp hàng năm
Thu viện phí và bảo hiểm y tế
Thu về viện trợ (nếu có)
Trang 11 Thu về thanh lý, nhượng bán tài sản.
Các khoản thu khác như trợ cấp khó khăn quỹ hỗ trợ khác
Các nguồn thu tài chính của bệnh viện phải được lập kế hoạch từng năm trên cơ sởđịnh mức của Nhà nước quy định, định mức do bệnh viện xây dựng đã được cơ quan chủquản duyệt và dự báo về khả năng thu
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế:
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế được Nhà nước quy định là một phần ngânsách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng Các nguồn ngânsách này được quản lý tập trung thống nhất tại phòng tài chính kế toán của bệnh viện theochế độ kế toán hành chính sự nghiệp
Giá viện phí do giám đốc bệnh viện đề xuất, phù hợp với tình hình kinh tế xã hộicủa địa phương và được cấp trên có thẩm quyền duyệt Bảng giá phải được niêm yết côngkhai Trưởng phòng tài chính - kế toán chịu trách nhiệm thu viện phí đảm bảo nhanhchóng, thuận tiện, tránh phiền hà cho người bệnh và hạch toán các khoản thu viện phítheo chế độ quy định
Đối với việc khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sởhạch toán và được cấp có thẩm quyền duyệt Bệnh viện không được tuỳ tiện đặt giá
Trưởng các khoa trong bệnh viện có trách nhiệm ký duyệt bảng kê các khoản chicho người bệnh để làm căn cứ cho phòng tài chính - kế toán thực hiện việc thu viện phí
Việc thu viện phí trực tiếp của người bệnh phải sử dụng hoá đơn theo mẫu quyđịnh của Bộ Tài chính, một liên của hoá đơn phải trả cho người bệnh
Đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế thì phòng tài chính kế toán có trách nhiệmthu viện phí từ cơ quan bảo hiểm y tế
Giám đốc bệnh viện hoặc người được uỷ quyền chịu trách nhiệm xét miễn, giảmviện phí cho người bệnh theo chế độ quy định
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác:
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác được Nhà nước quy định là một phần ngănsách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng được hạch toántheo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp
Khi bệnh viện tiếp nhận tiền, hàng viện trợ phải làm các thủ tục xác nhận viện trợtheo quy định
Các loại tài sản được viện trợ phải hạch toán tăng nguồn vốn và quản lý theo quyđịnh như các tài sản được mua bằng nguồn vốn sự nghiệp do Nhà nước cấp
Quản lý tiền mặt
Tất cả các nguồn thu bằng tiền mặt của bệnh viện phải được quản lý chặt chẽ theođúng chế độ Nhà nước quy định
Trang 12 Thủ quỹ là người chịu trách nhiệm trước trưởng phòng tài chính - kế toán và giámđốc bệnh viện về bảo quản, thu, chi và bồi thường nếu thiếu hụt ngân quỹ theo quy định.
Trưởng phòng tài chính - kế toán và thủ quỹ phải tổ chức kiểm kê quỹ định kỳhàng tháng và đột xuất nếu có lệnh của cấp trên
Giám đốc bệnh viện không được tuyển dụng cha, mẹ, vợ, chồng, con của trưởngphòng tài chính-kế toán của bệnh viện làm thủ quỹ
b Quản lý các nguồn chi: nội dung bao gồm:
Nhóm I: Chi cho con người
Bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp lương ( được tính theo chế độ hiện hành,
kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản nộp theo lương : bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Đây là khoản phí bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện Theo quy định trước đây, nhóm này ổn định, chiếm khoảng 20%tổng kinh phí và chỉ thay đổi nếu biên chế được phép thay đổi
Nhóm II: Chi quản lý hành chính
Bao gồm các khoản chi: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội
nghị, khánh tiết, xăng xe Tỷ lệ nhóm chi này 10-15% tổng kinh phí
Nhóm III: Chi nghiệp vụ chuyên môn
Bao gồm chi mua hàng hóa, vật tư dùng cho công tác điều trị và khám bệnh, trang thiết
bị kỹ thuật, sách, tài liệu chuyên môn y tế Đây là nhóm quan trọng, chiếm 50% tổng kinhphí và đòi hỏi nhiều công sức quản lý
Nhóm IV: Chi mua sắm, sửa chũa tài sản cố định
Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc hồi phục giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp Tỷ lệ nhóm này nên ở mức 20% với 4 mục tiêu chính:
Duy trì và phát triển cơ sở vật chất
Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc
Duy trì và phát triển trang thiết bị
Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên