Cụ thể, về phía doanh nghiệp: Có thể họ chưa quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, bí quyết công nghệ với cơ quan có thẩm quyền
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận văn do chính tôi soạn thảo, không sao chép từ luận văn khác, các nội dung từ các tác giả và các công trình đã công bố được tôi sử dụng là tài liệu tham khảo trong luận văn này được trích dẫn cẩn thận
Người cam đoan
Nguyễn Văn Cường
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Kết cấu dự kiến của luận văn 4
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM 5
1.1.KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 5
1.1.1 Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ 5
1.1.2.Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế - xã hội 8
1.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 10
1.2.1 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 10
1.2.2 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 11
1.3 KINH NGHIỆM BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÁC ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 15
1.3.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh 15
1.3.2.Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng 17
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC THI KÉM HIỆU QUẢ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI TÂY NINH 21
2.1.KHÁI QUÁT KINH TẾ XÃ HỘI TÂY NINH 21
2.1.1.Tổng quan về kinh tế 21
2.1.2.Tổng quan về doanh nghiệp và đầu tư 21
2.2.TÌNH HÌNH XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (SHCN) TẠI TÂY NINH23 2.2.1.Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu 23
2.2.2.Thực tiễn xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 27
Trang 4HỮU TRÍ TUỆ 30
2.3.1 Hệ thống các quy định của pháp luật chưa hoàn chỉnh, còn bất cập 30
2.3.2.Nguyên nhân từ tổ chức bộ máy thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 43
2.3.3 Một số nguyên nhân khác có liên quan 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 48
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP THỰC THI HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 50
3.1 HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 50
3.2 TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 55
3.2.1 Cần có chế tài đủ mạnh trong việc xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 55
3.2.2 Tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về sở hữu trí tuệ 56
3.2.3 Giải pháp về vấn đề kiểm soát hàng hóa ở biên giới: 57
3.2.4 Một số giải pháp khác 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG III 63
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
WIPO: World Intellectual Property Organization FDI: Foreign Direct Investment
WTO: World Trade Organization
TRIPS: Trade-Related Intellectual Property Rights
DSB: Dispute Settlement Board
TPP: Trans-Pacific Partnership
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations
AFTA: ASEAN Free Trade Area
EFTA: European Free Trade Association
PCT: Patent Cooperation Treaty
GDP: Gross Domestic Product
UBND: Ủy ban nhân dân
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
KCN: Khu công nghiệp
HDBT: Hội đồng bộ trưởng
SHTT: Sở hữu trí tuệ
NĐ-CP: Nghị địnhChính phủ
Trang 6Hình 1.1 Số đơn đăng ký sáng chế tại Tp Hồ Chí Minh từ năm 2000 - 2013 17
Hình 1.2 Thống kê số đơn và văn bằng sở hữu công nghiệp của Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2014 18
Hình 1.3 Tổng số văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp của Đà Nẵng 19
Hình 2.1 Sơ đồ xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính 37
Hình 2.2 Sơ đồ xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự 38
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng các biện pháp hình sự 41
Sơ đồ 2 Trình tự kiểm soát biên giới của Nhật Bản 60
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Thực thi hiệu quả các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng Lợi ích thứ nhất là kích thích sự sáng tạo, góp phần tạo ra nhiều sản phẩm hữu ích Bởi vì không cá nhân, doanh nghiệp nào mạnh dạn đầu tư phát triển sản phẩm mới khi họ biết rằng sản phẩm hoặc dịch vụ của mình sẽ bị làm giả và không được bởi cơ quan thực thi luật pháp bảo vệ Lợi ích quan trọng nữa chính là giúp đổi mới công nghệ Khi các nhà đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ sẽ thúc đẩy tạo ra các sản phẩm với giá cả cạnh tranh, chất lượng tốt hơn và gia tăng năng suất Thứ ba, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ tạo ra một nền kinh tế cạnh tranh lành mạnh, qua đó thúc đẩy đầu tư, tái tạo việc làm, cũng như hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới Cụ thể, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2006, ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương Sắp tới, Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) được thông qua sẽ thúc đẩy hơn nữa tính hội nhập của nền kinh tế Việt Nam Một trong những vấn đề của thương mại và đầu tư chính là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Để thu hút các nhà đầu tư từ nước ngoài cũng như khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư phát triển, cần phải bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ của họ Để thực hiện điều này, Việt Nam cần phải xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
Vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ càng quan trọng hơn khi Việt Nam có đến 95% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), yếu về vốn và khả năng quản lý Nếu các
sản phẩm và dịch vụ của họ không được bảo vệ và hàng giả, “hàng nhái” tràn lan trên
thị trường, chắc chắn, các doanh nghiệp này rất khó tồn tại và phát triển Trong khi đó,
bộ phận SME góp phần tạo công ăn việc làm và đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam và ngân sách quốc gia
Tỉnh Tây Ninh, do đặc thù về vị trí địa lý, là khu vực trọng điểm của vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Phía Tây và Bắc giáp Campuchia, với đường biên giới dài 240 km và có hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát (10 cửa khẩu chính và 4 cửa khẩu phụ) Cửa khẩu Mộc Bài chỉ cách Tp.HCM 70 km và Thủ Đô Phnôm Pênh - Campuchia 170 km Ngoài ra, trong nội địa, Tây Ninh tiếp giáp với các địa phương trọng điểm kinh tế như Tp.HCM và Long An về phía Nam, giáp Bình
Trang 8Dương và Bình Phước về phía Đông Về kết nối giao thông, Tây Ninh nằm trên trục đường quốc tế xuyên Á và quốc lộ 22B, kết nối với các nước trong khu vực ASEAN Các tuyến giao thông vận tải kết nối Tây Ninh với khu vực trọng điểm trong nước đang được gấp rút xây dựng, bao gồm: Đường cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Mộc Bài, đường Hồ Chí Minh, đường vành đai biên giới, đường sắt TP.Hồ Chí Minh - Tây Ninh
Với vị trí địa lý thuận lợi của Tây Ninh cho giao thương quốc tế và thương mại nội địa như vậy, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến sản phẩm, hàng hóa thực sự rất quan trọng Một trong những vấn đề thực tế đã xảy ra tại Tây Ninh liên quan
đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ chính là hàng giả, “hàng nhái” (nhãn hiệu hàng hóa
và kiểu dáng công nghiệp) Cụ thể, các loại hàng giả từ Campuchia tràn vào Việt Nam qua cửa khẩu Tây Ninh, sau đó từ Tây Ninh di chuyển về các địa phương trong cả nước
Ngoài ra, hàng giả, “hàng nhái” từ Việt Nam xuất cảng sang Campuchia qua cửa khẩu
thực sự đáng quan ngại Theo báo cáo của cơ quan Hải quan Tây Ninh1, tình trạng buôn
lậu hàng giả, “hàng nhái” từ Campuchia vào Việt Nam và ngược lại ngày càng tinh vi
và phức tạp Tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như sức khỏe người tiêu dùng trong nước, do phải sử dụng hàng hóa kém chất lượng, đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm và hàng hóa tiêu dùng hàng ngày Ngoài ra, ngân sách quốc gia cũng tổn thất do không thu được thuế từ các sản phẩm này
Thực trạng buôn bán hàng giả, “hàng nhái” tại tỉnh Tây Ninh (qua biên giới và
nội địa) và từ đó tràn vào các địa phương khác sẽ ảnh hưởng đến: (i) Trước hết là sức khỏe người tiêu dùng, do phải sử dụng hàng kém chất lượng; (ii) sau đó tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp (đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ) kinh doanh chân chính,
do phải cạnh tranh các sản phẩm hàng giả, “hàng nhái”; (iii) ngoài ra, nhà nước sẽ bị
thất thu thuế; (iv) điều quan trọng, sẽ giảm sự sáng tạo, không kích thích đầu tư đổi mới công nghệ trong nước, từ đó sẽ làm cho nền kinh tế của Việt Nam kém cạnh tranh và kết quả sẽ góp phần suy giảm năng suất và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong dài hạn Với những lý do như vậy, đề tài: “Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ tại địa bàn tỉnh Tây Ninh và các giải pháp khắc phục” được lựa chọn
2 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề này, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
(1) Nguyên nhân nào dẫn đến việc thực thi kém hiệu quả các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại địa bàn tỉnh Tây Ninh
1 Báo cáo kết quả chống buôn lậu của Hải Quan tỉnh Tây Ninh năm 2015.
Trang 9Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thực thi kém hiệu quả các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Cụ thể, về phía doanh nghiệp: Có thể họ chưa quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, bí quyết công nghệ) với cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Một nguyên nhân nữa có thể đến từ cơ quan thi hành pháp luật, có hai biện pháp xử lý đối với các vấn đề vi phạm luật sở hữu trí tuệ Biện pháp hành chính, liên quan đến cơ quan như hải quan, thanh tra chuyên ngành, quản lý thị trường, ủy ban nhân dân, cảnh sát điều tra Biện pháp dân sự: Cơ quan tòa án, viện kiểm sát Nguyên nhân thứ 3 có thể đến
từ hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Hiện tại, các văn bản pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Luật sở hữu trí tuệ, Luật hải quan, Luật cạnh tranh, Luật xử lý vi phạm hành chính
Tìm ra nguyên nhân cụ thể liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại địa bàn tỉnh Tây Ninh sẽ mang lại những lợi ích to lớn đối với kinh tế Tây Ninh nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung
(2) Tác động và mức độ ảnh hưởng đến tình hình vi phạm quyền sở hữu trí tuệ như thế nào?
Sau khi tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc thực thi kém hiệu quả vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, luận văn sẽ đánh giá cụ thể tác động của từng nguyên nhân đối với vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Cụ thể, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội và môi trường đầu tư tại tỉnh Tây Ninh Việc tìm ra nguyên nhân và tác động của từng nguyên nhân sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách địa phương có những chính sách phù hợp trong việc đưa ra các biện pháp xử lý, qua đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế của địa phương và cải thiện môi trường đầu tư
(3) Những giải pháp và kiến nghị đưa ra trong việc thúc đẩy thực thi hiệu quả các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là gì?
Sau khi tìm ra nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng, luận văn sẽ đưa ra các kiến nghị và giải pháp cụ thể để tăng tính hiệu quả trong việc thực thi các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ tại địa bàn tỉnh Tây Ninh
3 Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp so sánh: Luận văn sẽ so sánh theo chiều dọc và theo chiều ngang
các quy định liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (i) Theo chiều dọc (phương pháp lịch sử): So sánh với các quy định của pháp luật ban hành trước đây về vấn đề bảo
Trang 10vệ quyền sở hữu trí tuệ (ii) Theo chiều ngang, so sánh quy định cụ thể về bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan Qua đó, tìm ra những điểm phù hợp hay chồng chéo trong vấn đề này Ngoài ra, việc tham chiếu các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đối với các hiệp ước quốc tế sẽ được thực hiện
Phương pháp phân tích đánh giá: Phương pháp này sử dụng các số liệu thống
kê về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại tỉnh Tây Ninh, cũng như ý kiến đánh giá của các chuyên gia, cơ quan thực thi pháp luật về tình hình và thực trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Tây Ninh
4 Kết cấu dự kiến của luận văn
Chương 1 “Tổng quan pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam” Chương này trình bày các quy định cụ thể của pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và các hiệp ước quốc tế về vấn đề này
Chương 2 “Thực trạng và nguyên nhân dẫn đến thực thi kém hiệu quả vấn đề bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Tây Ninh”
Chương 3 “Giải pháp và kiến nghị”
Trang 11CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM 1.1.KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1.1 Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, cùng với sự phát triển không
ngừng của khoa học và công nghệ, vấn đề quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ ngày càng
khẳng định vị trí và tầm quan trọng của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Chính vì lẽ đó, Tiến sĩ Kamil Idris, Tổng giám đốc tổ chức trí tuệ thế
giới đã nhận định: “Tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu
chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều đó nay không còn đúng nữa Động lực mới tạo ra
và ông đã phát đi
thông điệp nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2007 (26/4) với tựa đề “Khuyến khích
sáng tạo - khích lệ các tài năng sáng tạo và đổi mới đang tạo dựng thế giới và tương lai của chúng ta - đó là mục đích cuối cùng mà sở hữu trí tuệ đang phụng sự” Tài sản trí
tuệ là yếu tố cơ bản hình thành quyền sở hữu trí tuệ Tài sản trí tuệ được hiểu là những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo được thừa nhận là tài sản Giống như các loại tài sản vật chất khác như động sản hay bất động sản, tài sản trí tuệ có thể được mua, bán, cho phép sử dụng, trao đổi hoặc biếu tặng Song, điểm khác biệt cơ bản nhất giữa tài sản trí tuệ và các loại tài sản vật chất đó chính là những mẩu thông tin kết hợp chặt chẽ với nhau trong những vật thể hữu hình Quyền sở hữu trong trường hợp này không phải là quyền đối với bản thân các vật thể hữu hình này mà chính
là những thông tin chứa đựng trong đó.3
Và sở hữu trí tuệ đã được định nghĩa một cách cụ thể trong Công ước thành lập
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ký ngày 14-7-1967 tại Điều 2, khoản 8 của
Công ước quy định:"Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan đến các tác phẩm văn
học, nghệ thuật và khoa học; các cuộc biểu diễn của nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm
và các chương trình phát sóng; các sáng chế trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người; các khám phá khoa học; các kiểu dáng công nghiệp; các nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ và các tên thương mại; bảo hộ chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh; và tất cả các quyền khác nảy sinh từ kết quả của hoạt động trí tuệ thuộc các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học và công nghiệp" Theo cuốn“Sổ tay về thực thi quyền
sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS dùng cho Hải quan trong ASEAN” (Bản quyền
tháng 3 năm 2007 của ECAP II, Cơ quan Sáng chế châu Âu/Ủy ban châu Âu) thì: “Sở
hữu trí tuệ là những sáng tạo hợp pháp của một cá nhân được Nhà nước bảo hộ trong
Trang 12một thời hạn nhất định nh m ngăn ch n việc khai thác trái phép sáng tạo đó Sở hữu trí tuệ được chia thành hai nhánh, cụ thể là: (i) sở hữu công nghiệp; và (ii) quyền tác giả
và các quyền liên quan đến bản quyền” Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, được
sửa đổi năm 2009 không đưa ra định nghĩa về sở hữu trí tuệ mà tại Khoản 1 Điều 4 giải
thích về quyền sở hữu trí tuệ, theo đó: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.” Như vậy, quyền sở
hữu trí tuệ là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sản phẩm của hoạt động trí tuệ
và tinh thần do con người sáng tạo, là độc quyền được công nhận cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ được sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo Luật sở hữu trí tuệ được sửa đổi năm 2009 cũng quy định cụ thể về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được chia làm ba nhóm gồm: nhóm quyền tác giả (đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá); nhóm sở hữu công nghiệp (đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý) và nhóm giống cây trồng (đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch).4
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra
hoặc sở hữu 5
(hay còn được gọi là bản quyền) là quyền lợi của người sáng tác ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện ở dạng hữu hình, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn và trình diễn hay trưng bày tác phẩm của mình trước công chúng Quyền tác giả là quyền do nhà nước trao cho tác giả của tác phẩm để ngăn cản việc in sao, sửa đổi hoặc phân phối tác phẩm, trình diễn hoặc trình bày tác phẩm đó mà không được sự đồng ý của tác giả Nhà nước bảo hộ quyền tác giả thông qua hệ thống pháp luật xác lập quyền của chủ thể (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) đối với đối tượng quyền tác giả tương ứng và bảo vệ quyền đó chống lại bất cứ sự vi phạm nào của phía thứ ba Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được bảo hộ không phụ thuộc vào chất lượng của chúng
Quyền liên quan: Đó là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các cuộc biểu diễn,
bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hóa Đây là các cá nhân, tổ chức không phải là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm gốc, nhưng lại có sáng tạo trong việc thể hiện tác phẩm, hoặc chuyển tác phẩm đến với
4
Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009
Trang 13công chúng Ở các nước, quyền liên quan từ lâu đã được đưa vào luật quyền tác giả Đối với Việt Nam, quyền liên quan là một lĩnh vực tương đối mới
Quyền Sở hữu công nghiệp: Theo Luật SHTT 2005, quyền sở hữu công nghiệp là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Bản chất của quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo, chống lại việc khai thác bất hợp pháp ở quy mô công nghiệp Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm:
Sáng chế (patent):”là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm
giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” (điều 4 khoản
12 Luật SHTT) Bằng sáng chế là một quyền theo luật định mà chính phủ ban cho nhà sáng chế trong một thời hạn xác định để ngăn ngừa các đối tượng khác sản xuất, sử dụng hoặc bán sản phẩm được bảo hộ theo bằng sáng chế hoặc sử dụng phương pháp hoặc quy trình đang được bảo hộ Có thể nói rằng bằng sáng chế là hợp đồng giữa một bên là toàn thể xã hội và một bên là nhà sáng chế Theo các điều khoản của hợp đồng này, nhà sáng chế được toàn quyền ngăn chặn người khác không được áp dụng, sử dụng
và bán một sáng chế đã được cấp bằng sáng chế trong một khoảng thời gian nhất định
để đổi lại việc nhà sáng chế phải công bố chi tiết sáng chế của mình cho công chúng Bằng sáng chế không được cấp cho những ý tưởng mơ hồ mà chỉ được cấp cho những đơn xin cấp bằng được trình bày một cách cụ thể và cẩn thận Quy trình xét duyệt và cấp bằng sáng chế đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức của các nhà chuyên môn
Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng
hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này
Bí mật thương mại: Bí mật thương mại có thể là công thức sản xuất ra các sản
phẩm, chẳng hạn như công thức sản xuất Coca Cola Thông tin bí mật đó được bảo hộ chống lại những người tiếp cận thông tin này qua cách thức không phù hợp hoặc bằng việc tiết lộ bí mật Vi phạm bí mật thương mại là một kiểu cạnh tranh không lành mạnh
Nhãn hiệu: Nhãn hiệu là chỉ số chỉ dẫn thương mại, là dấu hiệu phân biệt để xác
định một loại hàng hóa hay dịch vụ do một cá nhân hay công ty cụ thể sản xuất hoặc cung cấp Nhãn hiệu đặc biệt quan trọng khi người sản xuất và tiêu dùng ở cách xa nhau Ở hầu hết các nước trên thế giới, nhãn hiệu cần phải được đăng ký theo Luật Nhãn hiệu hàng hóa thì mới có thể bảo hộ được và việc đăng ký cần phải được gia hạn Hiện nay, số đơn đăng ký và số giấy chứng nhận đăng bạ nhãn hiệu hàng hóa ngày càng tăng ở từng nước, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Trong
Trang 14những năm gần đây, hàng năm trên thế giới có từ 600 đến 700 nghìn nhãn hiệu được cấp giấy chứng nhận đăng ký
Chỉ dẫn địa lý: Chỉ dẫn địa lý là khái niệm rộng hơn tên gọi xuất xứ hàng hoá, bao
gồm cả dấu hiệu, biểu tượng hình ảnh, dùng để chỉ về một khu vực địa lý, nơi hàng hoá xuất xứ có “đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác” chủ yếu
do nguồn gốc địa lý tạo nên
Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn: là cấu trúc không gian của các phần tử
mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn
Tên thương mại: là tên gọi của tổ chức cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh
để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Quyền đối với giống cây trồng: Giống cây trồng và vật liệu nhân giống đã trở
thành đối tượng của quyền SHTT được bảo vệ theo Công ước về bảo vệ giống cây trồng năm 1961 Theo Luật SHTT 2005, quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức,
cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu
Một nội dung khá quan trọng trong pháp luật về SHTT trên thế giới và pháp luật Việt Nam, đó là vấn đề bảo vệ quyền SHTT Bảo vệ quyền SHTT là việc các chủ thể quyền hoặc tự mình hoặc nhờ đến các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ các quyền hợp pháp của mình Trong Luật SHTT đã liệt kê các hành vi xâm phạm quyền như: xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; xâm phạm quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng; các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN Luật cũng quy định các biện pháp bảo vệ như biện pháp tự bảo vệ; biện pháp hành chính, dân sự
và hình sự; các quy định về biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu liên quan đến SHTT
1.1.2.Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế - xã hội
1.1.2.1.Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển kinh tế
Nói về vai trò của quyền sở hữu trí tuệ, Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) cho rằng các tài sản trí tuệ thuộc về mọi dân tộc, liên quan đến mọi nền văn hóa và đã góp phần đáng kể vào sự tiến bộ xã hội Nơi nào quyền sở hữu tư nhân, trong đó có tài sản trí tuệ được bảo hộ như những giá trị thiêng liêng thì ở đó có động lực cho sự cạnh tranh, thúc đẩy xã hội phát triển Ngược lại, nếu không có sự bảo hộ quyền sở hữu tư nhân thì các nguồn tài nguyên khan hiếm, kể cả năng lực con người, sẽ lãng phí theo thời gian Báo cáo về triển vọng kinh tế toàn cầu của Ngân hàng thế giới năm 2002 đã
Trang 15khẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của quyền sở hữu trí tuệ đối với các nền kinh
tế toàn cầu hóa hiện nay
- Trong hoạt động thương mại: Ý nghĩa kinh tế của quyền sở hữu trí tuệ được thể hiện rõ nét trong việc thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích sự sáng tạo Trong tiến trình
áp dụng đổi mới và sáng tạo trong thương mại để cải thiện nền kinh tế thế giới nói chung, quyền sở hữu trí tuệ là nguồn động lực bởi nó hỗ trợ và đền đáp công lao cho các nhà sáng tạo và đổi mới, kích thích tăng trưởng kinh tế Trong sản xuất, kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình gắn liền với uy tín của nhà sản xuất, kinh doanh, thông qua việc bảo hộ các đối tượng có chức năng nhận dạng như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, hoặc chỉ dẫn địa lý, là những đặc điểm cho phép phân biệt một sản phẩm với các sản phẩm tương tự khác Thực tiễn cho thấy, nhiều công ty, doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công và trở nên nổi tiếng nhờ khai thác có hiệu quả các tài sản trí tuệ được bảo hộ của họ Thông qua việc xây dựng và phát triển các quyền sở hữu trí tuệ, uy tín, vị thế của doanh nghiệp luôn được củng cố và mở rộng, khả năng cạnh tranh, thị phần và doanh thu của doanh nghiệp sẽ được nâng cao Trên thị trường quốc tế, các sản phẩm và dịch vụ được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể được quảng cáo dễ dàng hơn để tăng cường hình ảnh và tiếng tăm của doanh nghiệp Ngoài
ra, quyền sở hữu trí tuệ còn có thể tạo điều kiện để mở rộng thị trường quốc tế thông qua các liên doanh, nhượng quyền thương hiệu và bản quyền Các đối tượng sở hữu công nghiệp trở thành "hàng hoá" thông qua các hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, theo đó chủ sở hữu có khả năng thu lợi bằng cách cho phép người khác khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ
- Trong lĩnh vực đầu tư và chuyển giao công nghệ: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ chặt chẽ của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và khả năng thực hiện các hợp đồng có tác động quan trọng đến các quyết định đầu tư và chuyển giao công nghệ qua FDI của các công ty đa quốc gia, bởi vì nguồn vốn FDI thường có lợi thế hiệu quả thông qua công nghệ cao Như vậy, để thu hút được vốn đầu tư và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, cần có sự bảo vệ thích đáng quyền lợi của các nhà đầu tư trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, cụ thể là phải xây dựng công cụ thực thi quyền sở hữu trí tuệ đủ mạnh và hiệu quả
- Phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng đóng một vai trò tương đối quan trọng trong việc phát triển lực lượng lao động chất lượng cao, làm nòng cốt cho sự phát triển của mỗi quốc gia Sự tích lũy và cải thiện nguồn vốn con người đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung
Trang 161.1.2.2 Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển văn hoá xã hội
Có thể nói, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế mà ngày nay nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động văn hóa - xã hội Bảo hộ bản quyền là một nhân tố quan trọng và cần thiết cho việc đảm bảo
sự sáng tạo văn hóa trong xã hội Về nguyên tắc, các tác giả được trao cho những quyền lợi đặc biệt trong các lĩnh vực cụ thể liên quan tới hoạt động sáng tạo của họ (ví dụ như tái bản, phân phối hay trình chiếu) Những quyền này cho phép các tác giả đảm bảo được những lợi ích kinh tế cũng như lợi ích phi kinh tế của họ, do đó sẽ thúc đẩy các hoạt động sáng tác văn chương và nghệ thuật, đồng thời đem lại nhiều lợi ích cho xã hội
Phải nhấn mạnh rằng, quyền sở hữu trí tuệ đem lại nền tảng vững chắc cho việc xây dựng nền văn hóa phát triển bền vững Khi lao động sáng tạo được coi trọng, được bảo vệ thì đó là một trong những động lực thúc đẩy lao động sáng tạo để phục vụ xã hội ngày càng tốt hơn Bảo vệ quyền tác giả văn học nghệ thuật - là một tiêu chuẩn của xã hội văn minh, tiến bộ
1.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.2.1 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1.2.1.1 Hành vi xâm phạm quyền tác giả
Theo Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam các hành vi sau đây bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả: Xâm phạm quyền nhân thân không gắn với tài sản: chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, mạo danh tác giả; sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả Xâm phạm quyền nhân thân gắn với tài sản: công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả; công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó Xâm phạm quyền tài sản: trừ trường hợp pháp luật cho phép, hành vi xâm phạm là hành vi sao chép tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc; xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo; sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật; cho
Trang 17thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.6
1.2.1.2 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí: Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp
được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết
kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định7
1.2.1.3 Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng của chủ bằng bảo hộ: Khai thác,
sử dụng các quyền của chủ bằng bảo hộ mà không được phép của chủ bằng bảo hộ Sử dụng tên giống cây trồng mà tên đó trùng hoặc tương tự với tên giống cây trồng đã được bảo hộ cho giống cây trồng cùng loài hoặc loài liên quan gần gũi với giống cây trồng đã được bảo hộ Sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ mà không trả tiền đền bù theo quy định8
1.2.2 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Theo pháp luật Việt Nam thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, người xâm phạm có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của toà án Việc
áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp9
1.2.2.1 Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự
Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá,
Trang 18nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ10
- Nguyên tắc xác định thiệthại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực
tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây
ra11
- Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:
Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo quy định trên thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá 500 triệu đồng Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại Ngoài ra, còn có quyền yêu cầu Toà án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư12
Trang 19
1.2.2.2 Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính
Các hành vi vi phạm sau đây bị xử phạt hành chính về sở hữu trí tuệ:
+ Thực hiện các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội
+ Mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng không chấm dứt việc xâm phạm
đó
+ Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ hoặc giao cho người khác thực hiện những hành vi này
+ Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa
lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện những hành vi này
+ Vi phạm quy định về nghĩa vụ sở hữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật cạnh tranh13
Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng một trong hai hình thức xử phạt chính đó là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền14 Ngoài ra, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị
áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
+ Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, tang vật, nguyên liệu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ
+ Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra xâm phạm Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
+ Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ mà không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
+ Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên
Trang 20vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá
Mức tiền phạt được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được
và nhiều nhất không vượt quá 5 lần giá trị hàng hoá vi phạm phát hiện được
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 quy định về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính được bổ sung hành vi
“xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu ”, đồng thời bỏ quy
định về hành vi “Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ m c dù đã được
Như
vậy, với quy định mới này, chỉ cần một tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu đã có thể bị xử phạt hành chính mà không cần chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải có bất kỳ khuyến cáo nào từ chủ thể mang quyền hay chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ Mức xử lý vi phạm được điều chỉnh có thể lên tới 500 triệu đồng theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành
1.2.2.3 Xử lý xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự
Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự16 Để bảo vệ quyền tác giả, Bộ luật hình sự quy định hai tội: tội xâm phạm quyền tác giả và tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác17 Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Bộ luật hình sự quy định các tội: tội sản xuất, buôn bán hàng giả; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng
để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; tội lừa dối khách hàng; tội xâm phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp18 Năm 2009 Bộ luật Hình sự đã bổ sung tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại19
15 Điều 27 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009
16 Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Trang 211.3 KINH NGHIỆM BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÁC ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có hoạt động kinh tế sôi động, hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua cả đường biển, đường hàng không Trong đó, với tuyến sông Sài Gòn dài hơn 40 km có khoảng 179 hãng tàu hoạt động, mỗi năm có gần 10.000 chuyến tàu biển xuất nhập cảnh; tuyến hàng không với hơn 55 hãng hàng không đang khai thác, với khoảng 200 chuyến bay xuất nhập cảnh mỗi ngày… vì vậy hoạt động chống buôn lậu và gian lận thương mại luôn được Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh quan tâm thực hiện.20
Phương thức buôn lậu và gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, thủ đoạn của các đối tượng ngày càng tinh vi và phức tạp nhằm nhập khẩu hàng cấm, gian lận, trốn thuế…Trong đó, thủ đoạn phổ biến nhất là doanh nghiệp lợi dụng phân luồng hàng hóa để buôn lậu, gian lận thương mại Bên cạnh đó, lãnh đạo một số doanh nghiệp có tâm lý chủ quan, không coi trọng việc bảo mật chữ ký số, thường giao cho nhân viên làm thủ tục hải quan quản lý nên đã bị các đối tượng này lợi dụng để nhập lậu hàng hóa, chỉ đến khi cơ quan Hải quan phát hiện thì mới biết sự việc Đáng chú ý, còn có tình trạng các doanh nghiệp sử dụng hình thức quá cảnh để buôn lậu, gian lận thương mại Nhằm giải quyết tình trạng trên, các cơ quan chức năng đã đẩy mạnh triển khai nhiều giải pháp phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, nhất là với những loại hàng hóa trọng điểm Trong đó, Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh triển khai thực hiện soi chiếu trước đối với hàng nhập khẩu và soi chiếu sau thông quan đối với hàng xuất khẩu tại một số cửa khẩu cảng biển Kết quả, đơn vị đã kịp thời ngăn chặn nhiều vụ buôn lậu, gian lận thương mại với thủ đoạn tinh vi, nhiều hàng hóa trong danh mục hàng cấm Kết quả xử lý các trường hợp vi phạm là trong năm 2014, Ban Chỉ đạo thành phố đã triển khai kiểm tra 56.052 vụ, trong đó có gần 51.230 vụ vi phạm, tăng 71% so với cùng kỳ năm trước Cụ thể, lực lượng chức năng kiểm tra và phát hiện hơn 3.770 vụ hàng cấm; gần 12.000 vụ gian lận thương mại; 430 vụ hàng giả, hàng kém chất lượng…Tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2015, Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh
đã phát hiện và lập 947 biên bản vi phạm trong xuất nhập khẩu Trong đó có 73 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; 26 vụ về ma túy, tiền, chất gây nghiện; 12 vụ vận chuyến trái phép vũ khí và trên 100 vụ gian lận thương mại, trốn thuế…21
Trang 22Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác phòng chống buôn lậu, hàng giả, “hàng nhái”,
Thành phố Hồ Chí Minh còn đẩy mạnh phong trào sáng tạo kỹ thuật Thành phố, thúc đẩy các nhà khoa học, các học sinh, sinh viên, doanh nghiệp và cả người dân nghiên cứu, phát triển các sản phẩm sở hữu trí tuệ Từ đó, nâng cao được nhận thức của người dân về sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, gắn quyền lợi của họ với quyền lợi của bảo hộ sở hữu trí tuệ và đã đạt được kết quả Từ năm 2007, phong trào sáng tạo kỹ thuật của Thành phố được vận hành theo Đề án tổ chức Phong trào Sáng tạo Khoa học
Kỹ thuật TP.HCM giai đoạn 2007 - 2012, được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt theo Quyết định số 4077/QĐ-UBND ngày 11/9/2007 Hiện Phong trào bao gồm 3 hình thức triển khai chính với các kết quả tóm tắt như sau: Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thành phố: do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố chủ trì, nhằm vừa hưởng ứng các nội dung phát động của Hội thi Sáng tạo Toàn quốc định kỳ hai năm một lần, vừa phát động thêm một số lĩnh vực công nghệ có tính bức thiết của Thành phố qua từng năm Theo đó, trong 5 năm qua, Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thành phố đã tiếp nhận 1.078 giải pháp kỹ thuật dự thi cấp Thành phố, chuyển tiếp 337 đề tài ra tham dự Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Toàn quốc và Giải thưởng Khoa học Công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) Kết quả là đã có 243 giải pháp được vinh danh cấp Thành phố và 55 giải pháp được trao tặng giải thưởng cấp quốc gia
Từ kết quả của các giải thưởng trên, số đơn đăng ký sáng chế của các chủ thể trên địa bàn Thành phố tăng vọt, được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Trang 23Hình 1.1 Số đơn đăng ký sáng chế tại Tp Hồ Chí Minh từ năm 2000 - 2013 22
Từ những thành tựu trên đây, có thể rút bài học kinh nghiệm giúp tỉnh Tây Ninh nâng cao khả năng thực thi quyền sở hữu trí tuệ Đó chính là nâng cao ý thức và hiểu biết của người dân, đưa quyền của các chủ thể gắn liền với quyền lợi khi bảo hộ sở hữu trí tuệ thì các chủ thể trên mới tự có ý thức bảo vệ quyền của mình và các chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ khác, nâng cao kết quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Thành phố Đây chính là bài học kinh nghiệm quý báu nhất, phương án đầy sáng tạo mà mang lại hiệu quả cao của Thành phố Hồ Chí Minh với cả nước trong quá trình bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
1.3.2.Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng
Tại Thành phố Đà Nẵng, công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Thành phố trong những năm qua cũng đạt được những kết quả đáng chú ý Trong vòng 8 năm kể từ năm 2006, các cơ quan chức năng đã phối hợp xử lý trên 600 vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng với tổng số tiền phạt trên 9,8 tỷ đồng, số sản phẩm bị xử lý hơn 30.000 sản phẩm Trong đó, số vụ vi phạm quyền sở hữu công nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 87,8% tổng số vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn Thành phố Số vụ vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan tương đối cao, chiếm 12,2% Chưa phát hiện trường hợp nào vi phạm quyền đối với giống cây trồng Trong số các vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ kể trên, Quản lý thị trường thuộc
Sở Công Thương xử lý 537 vụ, chiếm 88,9%, Sở Khoa học và Công nghệ: 32 vụ, chiếm 5,3%, Công an: 29 vụ, chiếm 4,8%; các đơn vị khác (Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Cục Hải quan, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thông tin và Truyền thông) chiếm tỷ lệ rất thấp là 0,8% Gần như toàn bộ các vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy
ra trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng đều được xử lý bằng biện pháp hành chính, trong khi việc áp dụng các biện pháp dân sự hay hình sự thông qua Tòa án là rất khiêm tốn, chỉ chiếm 0,2% tổng số các vụ xâm phạm xảy ra trong thực tế.23
Bên cạnh thành tích đạt được trên, một dấu hiệu tại Đà Nẵng là trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng đã có nhận thức đúng đắn về vai trò của tài sản trí tuệ, vai trò của việc đăng ký xác lập và bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ đối với chiến lược kinh doanh dài hạn, vươn ra thị trường khu vực và quốc tế Số lượng đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ được cấp của Thành phố năm sau luôn cao hơn năm trước, trung bình tăng 2 - 3 %/năm
Trang 24Hình 1.2 Thống kê số đơn và văn bằng sở hữu công nghiệp của Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2014 24
Theo thống kê của Cục sở hữu trí tuệ, trong giai đoạn 2011 - 2014, trung bình mỗi năm, Thành phố Đà Nẵng có khoảng 415 đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp, trong đó: ¼ tổng số đơn được hướng dẫn xác lập quyền tại Sở khoa học và công nghệ, số đơn còn lại được tư vấn thủ tục tại Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại Thành phố Đà Nẵng hoặc các tổ chức dịch vụ sở hữu trí tuệ Tính đến đầu năm 2015, Thành phố Đà Nẵng có 2.474 văn bằng được cấp Trong đó, nhãn hiệu là 2.340 văn bằng (chiếm 95%); kiểu dáng công nghiệp là 100 văn bằng (chiếm 4%); sáng chế và giải pháp hữu ích là 34 văn bằng (chiếm 1%) Hiện tại, Thành phố Đà Nẵng đứng thứ 6 toàn quốc về số văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
24
N guồn Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Đà Nẵng
Trang 25Hình 1.3 Tổng số văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp của Đà Nẵng 25
Cũng theo thống kê của Tổ chức Sở SHTT thế giới (WIPO) thì Đà Nẵng có tổng cộng 8 đơn đăng ký quốc tế về nhãn hiệu thông qua Thỏa ước Madrid và 2 đơn đăng ký quốc tế về sáng chế thông qua hiệp ước PCT (Patent Cooperation Treaty) Trong quá trình phát triển thương hiệu, mở rộng phạm vi kinh doanh, một số doanh nghiệp của Thành phố Đà Nẵng rất chú trọng đến công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tiêu biểu như Công ty CP Dược Danapha (166 văn bằng bảo hộ nhãn hiệu và 01 văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp), Công ty CP Khoa học Công nghệ An Sinh Xanh (7 văn bằng bảo hộ sáng chế/giải pháp hữu ích), Công ty CP Dệt May 29/3 (10 văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, 3 văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp) Đây cũng là những doanh nghiệp đã đạt Giải thưởng Cúp Vàng sở hữu trí tuệ - giải thưởng dành cho doanh nghiệp xuất sắc trong việc áp dụng hệ thống sở hữu trí tuệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
Từ kết quả trên của thành phố Đà Nẵng, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Thứ nhất, một khi bảo hộ và bảo vệ quyền shtt được quan tâm đúng mức thì những hiệu quả kinh tế đối với cá nhân, doanh nghiệp tăng lên đáng kể điều này rõ ràng
sẽ kích thích mạnh mẽ đến năng lực sáng tạo và tạo ra những giá trị mới cho cộng đồng
và doanh nghiệp
- Thứ hai, cần tăng cường củng cố và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và không ngừng nâng cao chất lượng của công tác quản lý, thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại địa phương Trong đó, Sở Khoa học và Công nghệ phải đóng vai trò là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chung về sở hữu trí tuệ và chịu trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong lĩnh vực giống cây trồng
Các cơ quan có chức năng và thẩm quyền về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ như Sở Khoa học và Công nghệ cùng với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền liên quan gồm: Sở Công Thương, Sở Thông tin và Truyền thông, Công an, Cục Hải quan, Tòa án nhân dân và UBND các quận, huyện tổ chức có hiệu quả công tác thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ Các nguyên tắc, cơ chế và nội dung phối hợp hoạt động quản lý và thực thi quyền giữa các cơ quan chức năng được quy định rõ ràng, cụ
25 Nguồn Cục Sở hữu trí tuệ
Trang 26thể tại kế hoạch về phối hợp hành động phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn địa phương
- Thứ ba, phải chú trọng nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ phụ trách công tác sở hữu trí tuệ Thực tiễn cho thấy, nhà nước, thong qua đội ngũ của mình
sẽ tác động đến công tác bảo hộ và bảo vệ quyền SHTT theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Do vậy, Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng cán bộ chuyên môn phải được quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức
Từ những bài học trên, mà Thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công quá trình thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù vẫn còn hạn chế nhưng đã mang lại hiệu quả tích cực Bởi vậy, tỉnh Tây Ninh cần nghiêm túc học hỏi để có thể đạt được thành quả tốt nhất trong công tác thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam được xây dựng, đặt nền móng ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX và được phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử với hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện và quốc tế hóa, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế cũng như phù hợp với các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Đạt được thành quả trên là sự tiến bộ vượt bậc của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành nhất là trong hoạt động lập pháp về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đảm bảo cho sự hội nhập mạnh mẽ của nước
ta Hệ thống pháp luật được hoàn thiện tạo ra cơ sở pháp lý về việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ đối với doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nước ngoài và cả các
cá nhân, tổ chức tại Việt Nam Là căn cứ để các cơ quan chức năng thực thi nhiệm vụ
và quyền hạn của mình trong việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ, đưa luật sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành đi vào cuộc sống
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC THI KÉM HIỆU QUẢ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI TÂY NINH 2.1.KHÁI QUÁT KINH TẾ XÃ HỘI TÂY NINH
2.1.1.Tổng quan về kinh tế
Tây Ninh là một tỉnh nằm ở phía Bắc khu vực Đông Nam bộ và thuộc Vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam Trong giai đoạn 2001 - 2010, kinh tế của tỉnh phát triển rất ấn tượng: tốc độ tăng trưởng GDP trên 14%, tốc độ tăng trưởng công nghiệp đạt 26%, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 47,7% xuống còn 26,8% Tây Ninh đã quy hoạch các vùng trồng cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, chẳng hạn như vùng chuyên canh mía (37.564 ha), vùng chuyên canh khoai mì (hay sắn, 45.137 ha), vùng chuyên canh cao su (48.182 ha), và vùng chuyên canh đậu phộng (hay lạc, 20.883 ha)
Giai đoạn 2011 - 2015 tổng sản phẩm (GRDP) bình quân hàng năm trong giai đoạn này tăng 10,5% GRDP bình quân đầu người đạt 2.630 USD (năm 2010 là 1.357 USD) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa: nông - lâm - thủy sản 28%; công nghiệp - xây dựng 36%; dịch vụ 36%
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công chủ yếu bao gồm hệ thống các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng chuyên canh như các nhà máy đường, chế biến bột củ mì, chế biến mủ cao su Mặc dù tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của Tây Ninh khá cao, song xét về mặt tuyệt đối, giá trị sản xuất công nghiệp của Tây Ninh chưa tới 10% so với các tỉnh công nghiệp hàng đầu trong vùng Đông Nam bộ Tiềm năng phát triển công nghiệp và dịch vụ trong tương lai chủ yếu dựa vào các khu công nghiệp giáp Thành phố Hồ Chí Minh và các khu kinh tế cửa khẩu đang được xây dựng và phát triển.26
2.1.2.Tổng quan về doanh nghiệp và đầu tư
Vào tháng 5-2012, toàn tỉnh Tây Ninh mới chỉ thu hút hơn 1,4 tỷ USD vốn đăng
ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với 206 dự án tại các khu công nghiệp (KCN), thì đến tháng 5-2015, toàn tỉnh có 257 dự án đầu tư (95 dự án trong nước, 162 dự án FDI), với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 2.560 triệu USD và hơn 11.948 tỷ đồng, trong đó
có 172 dự án đang hoạt động sản xuất, kinh doanh Trong giai đoạn này, năm 2014 được xem là năm thành công khi tổng vốn thu hút đầu tư đạt khoảng 820 triệu USD và 1.300
tỷ đồng, tăng 64,35% so với cùng kỳ, vượt 120,5% so với kế hoạch
Từ những hoạt động thu hút đầu tư khá hiệu quả đã góp phần quan trọng làm thay
26
https://congbao.tayninh.gov.vn (Nghị quyết số 38/2016/NQ-HĐND)
Trang 28đổi bộ mặt kinh tế của Tây Ninh, trong giai đoạn 2011 - 2015, tỉnh giải quyết việc làm cho hơn 45 nghìn lao động trên địa bàn Trong những năm tiếp theo, Tây Ninh tiếp tục thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài tỉnh để thu hút doanh nghiệp đến với Tây Ninh, đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, nhằm đáp ứng yêu cầu, hoạt động của các doanh nghiệp đến đầu tư trên địa bàn Tây Ninh có 7 khu công nghiệp nằm trong danh mục quy hoạch khu công nghiệp Việt Nam đến 2020 đã được Trung ương phê duyệt Có 5 khu công nghiệp hiện đang hoạt động bao gồm: Trảng Bàng, Linh Trung 3, Thành Thành Công, Phước Đông và Chà Là Tổng diện tích đất quy hoạch là 3.384 ha, đã giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng diện tích 2.209 ha Đất công nghiệp có thể cho thuê là 1.445 ha, đến nay đã cho thuê 790,09 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 54,6%
Thời gian qua, với phương châm đồng hành cùng doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Tây Ninh đã thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ theo hướng giảm thiểu các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép có thể nhanh chóng đi vào hoạt động Nhờ vậy, tình hình thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế của tỉnh đã có nhiều khởi sắc, đạt được một
số thành quả đáng kể
Đến cuối năm 2015, tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh có 267 dự án đăng ký đầu tư còn hiệu lực (trong đó: 174 dự án FDI, 93 dự án trong nước) với số vốn đăng ký đầu tư đạt 3.137 triệu USD và 12.575 tỷ đồng (tương đương 3.836 triệu USD), 183 dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh Nhiều dự án lớn đi vào hoạt động đã giải quyết việc làm cho số đông lao động địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người lao động Nếu như năm 2011 số lượng lao động trong nước làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp là 49.996 người, thì đến năm 2015 con số này đã tăng lên gấp đôi với 100.245 người - chiếm khoảng 43% so với tổng số lao động toàn tỉnh (235.112 người)
Theo báo cáo “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011” do VCCI và Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam thực hiện, Tây Ninh xếp thứ 25/63; về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xếp 9/63 tỉnh, thành cả nước Điều này cho thấy: Tây Ninh là một “Điểm đến” được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm Hiện tại, đã có các nhà đầu tư từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ đến đầu tư tại Tây Ninh với 207 dự án, tổng vốn 1.441 triệu USD Ngoài các khu công nghiệp đã lấp đầy, Tây Ninh còn có 2 khu công nghiệp (Bourbon - An Hoà, Phước Đông - Bời Lời), cùng các cụm công nghiệp với tổng diện tích “đất sạch” trên 2.000 ha sẵn sàng chào đón các nhà đầu tư
Trang 29Tỉnh Tây Ninh đã tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp kiềm chế lạm phát, chống suy giảm kinh tế và đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp và tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng đã góp phần quan trọng giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm Trong giai đoạn này, toàn tỉnh có 2.185 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng vốn đăng ký 7.705 tỷ đồng Đến nay, Tây Ninh có 100 hợp tác xã, 1.800 tổ hợp tác với gần 60.000 tổ viên.27
Với những thành tựu đạt được trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư, Tây Ninh đang tiến tới là điểm đến hứa hẹn cho các nhà đầu tư về một môi trường kinh doanh thân thiện và phát triển
2.2.TÌNH HÌNH XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (SHCN) TẠI TÂY NINH
2.2.1.Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu (*)
Tây Ninh là tỉnh có đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu trọng điểm nên tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu, nhất là nhãn hiệu hàng hóa là rất phổ biến
Hình thức xâm phạm chủ yếu là sản xuất, buôn bán hàng giả, “hàng nhái”, hàng
kém chất lượng Hầu hết chúng đều có mẫu mã giống với các thương hiệu uy tín, nên
người mua rất dễ bị mắc lừa Với các loại hàng giả “hàng nhái” xuất hiện trong thị
trường tiêu thụ tại tỉnh Tây Ninh, Theo Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, ngoài việc giả lô-gô, nhãn mác, bao bì tương tự hàng chính hãng, các đối tượng sản xuất hàng giả còn
có thể dán tem giả vào hàng hoá giả, hàng trốn thuế… để đánh lừa người tiêu dùng Nếu không có thiết bị kiểm tra, mẫu hàng thật để đối chứng và các biện pháp nghiệp vụ thì rất khó phát hiện hàng giả
Phương thức xâm phạm chủ yếu là được buôn lậu qua biên giới khá phổ biến mặc
dù các cơ quan Hải quan đã hết sức vất vả để ngăn chặn nhưng tình trạng này vẫn diễn
ra thường xuyên Bên cạnh các đối tượng hàng giả, “hàng nhái” là các mặt hàng tiêu
dùng và nông sản là chủ yếu, từ năm 2010 - 2015, Hải quan tỉnh Tây Ninh còn phát hiện các vụ việc buôn lậu các thiết bị điện tử, điện thoại di động, Ipad, laptop, vàng miếng, các trang sức bằng vàng, trang sức bằng ngà voi, tiền mặt và ngoại tệ…với giá trị vi
(*) Do điều kiện đặc thù của tỉnh Tây Ninh, tình trạng xâm phạm quyền SHTT chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực thương mại với đối tượng bị xâm phạm là nhãn hiệu Vì vậy, trong Luận văn này tác giả tập trung phân tích tình trạng xâm phạm đối với đối tượng này
27 Nguồn Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Tây Ninh, https://tayninh.gov.vn/ ( Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020, ban hành kèm theo Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND, ngày 05 tháng 01 năm 2016 của UBND tỉnh)
Trang 30phạm lên tới hàng tỷ đồng Các loại hàng giả, hàng kém chất lượng đã và đang gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất, an ninh lương thực, sức khỏe người tiêu dùng và môi
sinh, môi trường
Lĩnh vực xâm phạm có thể thấy ở khắp các loại hàng hóa Trên thực tế, rất nhiều
mặt hàng có thể bị làm giả, từ thực phẩm, bánh kẹo đến quần áo, mắt kính, mỹ phẩm, giày dép, mũ bảo hiểm, hàng điện tử, bột ngọt, sữa, đồ chơi trẻ em…đến các sản phẩm cao cấp như các thiết bị điện tử
Tính chất xâm phạm hết sức tinh vi, phức tạp Một số số liệu và vụ việc điển hình
sau đây cho thấy điều đó: Chỉ riêng tháng 11.2014, Chi cục đã kiểm tra, phát hiện và xử
lý 12 vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả, nhái và 69 vụ mua bán vận chuyển hàng cấm, hàng nhập khẩu trái phép Mặc dù chưa có những thống kê chính thức, tuy nhiên, theo nhận định thì số vụ phát hiện còn rất ít so với diễn biến thực tế ngoài thị trường Hiện nay, trên thị trường có không ít mặt hàng làm giả rất tinh vi, khó có thể phân biệt bằng mắt thường.28
Sáu tháng cuối năm 2015, nổi lên tình hình buôn lậu đường cát Thái Lan với số lượng lớn Các đối tượng dùng xe mô tô vận chuyển nhỏ lẻ đường cát nhập lậu từ biên giới Campuchia vào tập kết trong nội địa, sau đó thay đổi bao bì mang nhãn hiệu của các nhà máy đường Việt Nam rồi vận chuyển đi Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ Mặc
dù vậy, các cơ quan chức năng vẫn không thể ngăn chặn triệt để và xử lý mạnh tay với tình hình này, chúng vẫn tiếp tục tiếp diễn tới năm 2016 mà chưa có biện pháp xử lý cụ thể để răn đe các đối tượng vi phạm Cũng trong năm 2015, khi nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng, hàng nông sản nhập lậu từ Campuchia vào Việt Nam qua hai bên cánh gà các cửa khẩu tại hai huyện Tân Biên và Tân Châu diễn ra công khai nhưng cơ quan chức năng lại không tiến hành xử lý
Theo báo cáo năm 2015 của Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh, tình hình vận chuyển trái phép hàng hóa qua địa bàn cửa khẩu Xa Mát, Mộc Bài có những diễn biến phức tạp (nhất là trong quí III/2015) Các mặt hàng nhập lậu chủ yếu là: Rượu ngoại, quần áo, thuốc lá điếu, đường, bột ngọt, tiền Việt Nam (chủ yếu tại khu vực Cửa khẩu Mộc Bài),
củ mì tươi, mì lát khô, hạt điều thô, gạo, phế liệu, đô la Mỹ (khu vực Cửa khẩu Xa Mát,
Kà Tum) Mặt hàng trọng điểm cả xuất và nhập lậu chủ yếu là ngoại tệ, tiền Việt Nam tại cả hai cửa khẩu quốc tế Xa Mát, Mộc Bài.29
Trong đó, tiêu biểu là vụ việc Lưu Tái Thải vận chuyển hàng hóa xuất khẩu không
28
Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/Pages/Tay-Ninh-Buon-lau-gian-lan-thuong-mai-van-dien-bien-phuc-tap.aspx
29
Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/Pages/Van-nong-buon-lau-qua-cua-khau-Tay-Ninh.aspx
Trang 31khai báo hải quan, bị Chi cục Hải quan cửa khẩu Mộc Bài bắt giữ ngày 15/3/2013, tang vật vi phạm 6,4 kg vàng trang sức các loại, trị giá 4,434 tỷ đồng
Từ vụ việc trên cho thấy pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ với hình thức nghiêm khắc nhất là xử lý hình sự vẫn chưa đủ mạnh để có tính răn
đe đối với các đối tượng vi phạm Số năm án tù và tiền phạt bổ sung 20 triệu đồng quá nhỏ so với lợi nhuận mà các đối tượng buôn lậu thu được và quá thấp để đền bù cho những tổn thất mà các đối tượng buôn lậu gây ra cho xã hội
Bên cạnh vụ Lưu Tái Thải, cơ quan Hải quan cũng đã chuyển sang cho Cảnh sát điều tra tỉnh Tây Ninh 05 vụ việc buôn lậu thuộc đối tượng xử lý hình sự và đã được Tòa án tuyên án, nhưng mức hình phạt nhìn chung đều còn thấp, thiếu tính răn đe Nổi bật là các vụ việc về Châu Văn Minh vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, bị Chi cục Hải quan cửa khẩu Mộc Bài bắt giữ ngày 01/7/2011, tang vật vi phạm gồm 11 điện thoại di động các loại, 06 máy tính bảng Ipad các loại, trị giá 158 triệu đồng và vụ việc Leng Muth và Ken Kuok (Campuchia) vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, bị Chi cục Hải quan cửa khẩu Mộc Bài bắt giữ ngày 13/02/2012, tang vật vi phạm gồm 31 máy tính xách tay các loại, xuất xứ Trung Quốc (hàng điện tử đã qua sử dụng).30
Bên cạnh một số vụ việc vi phạm được xử lý hình sự, vẫn còn những vi phạm chưa được đưa ra xử lý trước pháp luật bởi cơ quan điều tra không liên lạc được với đối tượng vi phạm Điều này cho thấy sự lơi lỏng của các cơ quan điều tra trong quá trình truy tố và xét xử với các đối tượng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Từ đó, phần nào khiến các đối tượng vi phạm không còn e sợ pháp luật mà ngày càng ngang nhiên lộng hành.31
Song song với biện pháp xử lý hình sự, biện pháp xử lý hành chính cũng đầy bất cập với việc phát hiện và xử lý được nhiều vụ việc vi phạm có giá trị lớn lên tới hàng tỷ đồng nhưng cơ quan Hải quan lại chỉ có thể xử phạt vài chục triệu đồng đến vài trăm triệu đồng, khiến đối tượng vi phạm sẵn sàng nộp phạt, sau đó lại tiếp tục hành vi vi phạm Điển hình là vụ việc Phạm Thị Thúy Vân (cư trú tại xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh) vận chuyển tiền Việt Nam và ngoại tệ không khai báo hải quan, bị Chi cục Hải quan cửa khẩu Xa Mát bắt giữ ngày 03/11/2011, tang vật vi phạm là 2,036 triệu
Trang 32đồng tiền Việt Nam và 408.370.000 Riel Campuchia, tổng trị giá 4,077 tỷ đồng Với số tang vật vi phạm có giá trị lớn, nhưng Chi cục Hải quan cửa khẩu Xa Mát cũng chỉ có thể lập biên bản vi phạm với đối tượng Phạm Thị Thúy Vân, tạm giữ số tiền vận chuyển trái phép trên và chuyển cho Cục Hải quan Tây Ninh tiếp tục xử lý Ngoài ra, một số vụ việc khác cũng được Chi cục hải quan cửa khẩu phát hiện và xử lý hành chính như: Vụ việc Nguyễn Huệ Kinh Luân vận chuyển hàng hóa nhập khẩu không khai báo hải quan, không có chứng từ liên quan, bị Chi cục Hải quan cửa khẩu Mộc Bài bắt giữ ngày 06/01/2012, tang vật vi phạm 42,5 lượng vàng miếng Thần tài Sacombank, trị giá 1.846.625.000 đồng; hoặc vụ việc Nguyễn Văn Tiên nhập cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt thuộc diện không được mang theo mà không khai báo, bị Chi cục Hải quan cửa khẩu Mộc Bài bắt giữ ngày 10/5/2015, tang vật vi phạm 5.380 USD.32
Ngoài ra, còn hàng loạt vụ việc khác đã được Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Tây Ninh kiểm tra, kiểm soát và xử lý những trường hợp sản xuất, buôn bán, vận chuyển
hàng giả, “hàng nhái”, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu
năm 2016, lực lượng Quản lý thị trường đã tiến hành kiểm tra 1.116 vụ, phát hiện 636
vụ vi phạm Trong đó có 72 vụ kinh doanh hàng hoá quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, không còn nguyên vẹn bao bì, không ghi tên thương nhân đầu mối; 440 vụ vi phạm mua bán, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập khẩu trái phép; 20 vụ vi phạm về kinh doanh hàng giả; 65 vụ vi phạm về quy chế ghi nhãn; 11 vụ vi phạm về an toàn thực phẩm Số tiền phạt hành chính là 2.193.675.000 đồng.33
Từ những số liệu trên có thể thấy tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu trên thị trường tỉnh Tây Ninh đang lan tràn Dù đã có sự vào cuộc của cơ
quan chức năng, nhưng vấn nạn hàng giả, “hàng nhái” vẫn tồn tại, gây thiệt hại về kinh
tế, không chỉ với nhà sản xuất chân chính mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu
dùng Công cuộc chống hàng giả, “hàng nhái” còn gặp nhiều khó khăn một phần do
chưa có thiết bị hỗ trợ để kiểm tra tại chỗ chất lượng hàng hoá, không có mẫu hàng thật
để đối chứng với hàng giả là một trở ngại không nhỏ Từ đó, việc xác định hàng thật hay giả cần phải có thời gian do phải gửi mẫu đi phân tích Ngoài ra, theo Chi cục Quản lý
+ Vụ việc Lê Trung Trực vận chuyển hàng hóa nhập khẩu không khai báo hải quan, không có chứng từ liên quan, bị Chi cục HQCK Mộc Bài bắt giữ ngày 06/01/2012, tang vật vi phạm 07 lượng vàng miếng Thần tài Sacombank, trị giá 304,150 triệu đồng
33 Nguồn: Chi cục quản lý thị trường tỉnh Tây Ninh, 2016 (Công văn ngày 27/06/2016 của đoàn kiểm tra 105 Ủy ban kiểm tra BCH trung ương, phòng chống buôn lậu và xử lý vi phạm báo cáo bổ sung số liệu tại mục 5)
Trang 33thị trường tỉnh, sự phối hợp chống hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ giữa các nhà sản xuất với lực lượng chức năng đôi lúc chưa kịp thời, đồng bộ, khiến cho kẻ gian có
cơ hội thu lợi nhuận bất chính, đồng thời, để từng bước dẹp nạn hàng giả, nhái lưu thông trên thị trường, ngoài nỗ lực của cơ quan chức năng thì rất cần sự chung tay của doanh nghiệp
Tuy nhiên, để triệt tiêu hàng giả trên thị trường là bài toán khó bởi hàng giả ngày càng tinh vi; trong khi các thông tin, đặc điểm nhận biết giữa hàng thật và hàng giả chưa đầy đủ Về phần người tiêu dùng cũng chưa nhận thức đầy đủ về chất lượng sản phẩm
mà mình tiêu thụ, vì vậy, việc tố giác những sản phẩm giả, kém chất lượng đến cơ quan chức năng còn hạn chế thì đối tượng buôn lậu vẫn với những phương thức, thủ đoạn tinh vi như: chia nhỏ hàng lậu vận chuyển theo các đường mòn qua lại biên giới hai bên cánh gà các cửa khẩu và ngoài địa bàn hoạt động hải quan, lợi dụng hành khách xuất nhập cảnh mang hộ hàng hóa trong định mức miễn thuế, cất giấu hàng lậu trên các phương tiện vận tải liên vận; đầu nậu thuê người mua hàng tại cửa hàng miễn thuế sau
đó đưa hàng ra cổng Campuchia hoặc một số doanh nghiệp xuất hàng sang Campuchia với số lượng lớn sau đó tìm cách thẩm lậu vào Việt Nam tiêu thụ cũng khiến các cơ quan chức năng không kịp phát hiện và giải quyết được triệt để
Bên cạnh đó, các đối tượng là cư dân biên giới thường xuyên qua lại cửa khẩu vận chuyển hàng hóa nhỏ lẻ Các mặt hàng chủ yếu là quần áo may sẵn, phụ tùng xe gắn máy, thuốc lá điếu, đường, bột ngọt và một số hàng hóa khác do Thái Lan sản xuất cũng khiến cơ quan chức năng khó xử lý do giá trị vi phạm mỗi lần bị phát hiện không lớn, các cơ quan chỉ có thể lập biên bản và tịch thu tang vật, nhưng hình thức xử phạt này gần như không có tác dụng với các đối tượng nói trên
2.2.2.Thực tiễn xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Căn cứ vào Báo cáo Hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ năm 2014 của
Sở khoa học và công nghệ tỉnh Tây Ninh số: 105/BC-KHCN ngày 02/7/2015, cho thấy trong năm 2014, tại tỉnh Tây Ninh, Chi cục quản lý thị trường đã xử lý 138 vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu, phạt tiền 138 vụ và tổng số tiền phạt là 329.625.000đ Cũng trong năm 2014, Công an tỉnh Tây Ninh xử lý 03 vụ, phạt tiền 03 vụ và tiền phạt
là 26.000.000đ và cơ quan Hải quan xử lý được 21 vụ việc vi phạm nhãn hiệu Như vậy, trong năm 2014, tỉnh Tây Ninh đã xử lý được 162 vụ, phạt tiền 141 vụ, tổng số tiền phạt thu được là 355.625.000đ Tổng số sản phẩm bị xử lý là 20 sản phẩm 34
Tới năm 2015, căn cứ vào báo cáo hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
35+36 Nguồn: Báo cáo năm 2014 và năm 2015 của Sở khoa học và công nghệ tỉnh Tây Ninh
Trang 34năm 2015 tại tỉnh Tây Ninh của Sở khoa học và công nghệ, có thể thấy được số vụ việc
bị xử lý giảm xuống còn 67 vụ do Chi cục quản lý thị trường xử lý Trong đó, phạt tiền
44 vụ và số tiền phạt là 110.300.000đ, số sản phẩm bị xử lý là 06 sản phẩm: bột ngọt, phụ tùng xe gắn máy, đồ điện tử, mỹ phẩm, mũ bảo hiểm… 35
Bên cạnh đó, Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ cũng đã tiếp nhận hai (02) đơn thư: một của Tổng Công ty cổ phần may Việt Tiến về việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; một của ông Nguyễn Văn Ngâu chủ doanh nghiệp tư nhân sản xuất can nhựa Hương Phát về việc chiếm dụng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
Từ các số liệu trong báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh năm
2015 và năm 2016 có thể thấy rằng hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại tỉnh Tây Ninh vẫn còn rất nhiều bất cập cần khắc phục, các cơ quan chức năng cần phối kết hợp hơn nữa để có thể nhanh chóng xử lý triệt để các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, giảm thiểu những tổn thất to lớn mà các hành vi này gây nên cho nền kinh tế của tỉnh cũng như sức khỏe của người tiêu dùng
Bên cạnh đó, vai trò của Tòa án trong việc xử lý các vụ việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự còn mờ nhạt, bản án tuyên chưa có tính răn đe và yêu cầu bồi thường xác đáng cho đối tượng bị vi phạm Cụ thể như bản án Số 01/KDTM-ST
về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ ngày 16/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử giữa nguyên đơn là Công ty Cổ phần tập đoàn Hoa Sen (địa chỉ trụ sở chính: Số 9 Đại lộ Thống Nhất, Khu Công Nghiệp Sóng Thần II, phường Dĩ An, Thị xã
Dĩ An, tỉnh Bình Dương) và bị đơn là ông Hồ Tất Minh - chủ cơ sở Hồ Tất Minh, nhà máy cán tôn Thành An II (địa chỉ: Tổ 3, ấp Thạnh Nam, xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh) Nội dung vụ việc được ghi nhận trong bản án như sau: Công ty cổ phần tập đoàn Hoa Sen đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ số 82129 ngày 16/05/2007 bảo hộ nhãn hiệu hàng hòa là sản phẩm TÔN HOA SEN và logo HOA SEN Ngày 21/10/2010, Cục sở hữu trí tuệ đã cấp văn bằng bảo hộ số 153299 cho sản phẩm TÔN HOA SEN và logo HOA SEN cho công ty Hoa Sen Ngày 14/3/2014, Cục
sở hữu trí tuệ đã cấp văn bằng bảo hộ số 221393 cho nhãn hiệu TÔN HOA SEN Ngày 14/3/2014, Cục sở hữu trí tuệ đã cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu HOA SEN GROUP Ngày 25/8/2009, Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu ỐNG THÉP HOA SEN Do đó, Công ty Hoa Sen là chủ sở hữu đối với các nhãn hiệu trên Tuy nhiên, ông Hồ Tất Minh, chủ cơ sở Hồ Tất Minh - nhà máy cán tôn Thành An
II đã treo bảng hiệu có in hình ảnh nhãn hiệu hàng hóa là TÔN HOA SEN, sử dụng logo HOA SEN GROUP để in trên bảng báo giá sử dụng vào mục đích kinh doanh của cơ sở,
Trang 35nội dung bảng báo giá sử dụng nhãn hiệu TÔN HOA SEN và ỐNG THÉP HOA SEN;
sử dụng trái phép nhãn hiệu TÔN HOA SEN để làm kệ trưng bày các sản phẩm tôn mà
Cơ sở Hồ Tất Minh - nhà máy Thành An II đang kinh doanh nhằm quảng cáo cho hoạt động sản xuất của cơ sở do ông Hồ Tất Minh làm chủ
Bản án số 01/KDTM-ST ngày 16/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã nhận định: hành vi sử dụng nhãn hiệu TÔN HOA SEN, ỐNG THÉP HOA SEN, HOA SEN GROUP của ông Hồ Tất Minh, chủ Cơ sở Hồ Tất Minh, trùng với nhãn hiệu TÔN HOA SEN, ỐNG THÉP HOA SEN, HOA SEN GROUP của Công ty Hoa Sen đã được bảo hộ mà không được sự cho phép của chủ sở hữu nhằm tạo thuận lợi trong kinh doanh cho Cơ sở Hồ Tất Minh, tức mục đích thương mại nên không thuộc trường hợp Khoản
2, khoản 3 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ nên ông Hồ Tất Minh - chủ cơ sở Hồ Tất Minh
đã có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu của chủ sở hữu là Công ty cổ phần tập đoàn Hoa Sen theo điểm a, Khoản 1 Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ
Từ nhận định trên, Bản án số 01/KDTM-ST ngày 16/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh ra quyết định buộc ông Hồ Tất Minh, chủ cơ sở Hồ Tất Minh - nhà máy cán tôn Thành An II chấm dứt hành vi sử dụng nhãn hiệu TÔN HOA SEN in trên bảng quảng cáo trước cửa nhà máy cán tôn Thành An II, dỡ bỏ các bảng quảng cáo, các bảng hiệu có sử dụng nhãn hiệu TÔN HOA SEN của Công ty cổ phần tập đoàn Hoa Sen, chấm dứt hành vi sử dụng nhãn hiệu TÔN HOA SEN, ỐNG THÉP HOA SEN để in trên các bảng chào giá của cơ sở Hồ Tất Minh - nhà máy cán tôn Thành An II, buộc ông Hồ Tất Minh có trách nhiệm tiêu hủy tất cả các bảng chào giá và các chứng từ khác có in những nhãn hiệu TÔN HOA SEN, ỐNG THÉP HOA SEN, HOA SEN GROUP thuộc chủ sở hữu là Công ty cổ phần tập đoàn Hoa Sen
Từ bản án trên có thể thấy Tòa án chỉ buộc người vi phạm quyền sở hữu công nghiệp tự chấm dứt hành vi vi phạm của mình mà không nhắc tới bồi thường thiệt hại cho đối tượng bị vi phạm, khiến đối tượng vi phạm sau khi thu được số lợi nhuận từ hành vi vi phạm của mình vẫn ung dung mà không bị thiệt hại, không nhận thấy được hậu quả từ hành vi vi phạm pháp luật của mình nên từ đó họ không có sự tôn trọng pháp luật sở hữu trí tuệ mà vẫn tiếp tục thực hiện việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Từ biện pháp hình sự tới biện pháp dân sự, vai trò của Tòa án còn mờ nhạt, chưa thể hiện được đúng vai trò mà pháp luật và người dân trông đợi vào cơ quan có quyền đưa ra phán quyết này Theo đánh giá của tác giả, các bản án hình sự thì mức xử phạt còn quá nhẹ, chưa có tính răn đe, chưa thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật; còn các bản
án dân sự lại chỉ dừng lại ở việc buộc chấm dứt hành vi vi phạm mà không yêu cầu bồi thường thiệt hại, khiến chủ sở hữu bị xâm phạm không được đảm bảo quyền và lợi ích
Trang 36hợp pháp của mình, đồng thời khiến các đối tượng vi phạm “nhờn” với pháp luật và tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn không ngừng gia tăng
2.3.NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
2.3.1 Hệ thống các quy định của pháp luật chưa hoàn chỉnh, còn bất cập
2.3.1.1 Nguyên nhân từ những quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ
Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của nước ta khá phức tạp với sự điều chỉnh của Hiến pháp và gần 20 văn bản luật chứa đựng quy định về sở hữu trí tuệ, cộng Luật
Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật trên nên người dân, người chủ
sở hữu quyền sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp…muốn hiểu các quy định của pháp luật
về quyền sở hữu trí tuệ là một điều khó khăn
Trong khi đó, các chế tài về xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ mạnh Những quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ lại chưa thật đầy
đủ, chưa đồng bộ, đặc biệt là những quy định về các biện pháp và chế tài xử lý chưa phù hợp với tình hình thực tế, chưa đủ sức mạnh răn đe đối tượng vi phạm Điều này khiến các đối tượng vi phạm không còn e sợ pháp luật Họ sẵn sàng nộp phạt và sau đó lại tiếp tục vi phạm bởi số tiền phạt được quy định trong các văn bản pháp luật quá nhỏ so với siêu lợi nhuận của việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mang lại cho họ Do đó, khi pháp luật chưa đủ chặt chẽ, chế tài chưa đủ sức mạnh răn đe thì các đối tượng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn đường để tồn tại một cách ngang nhiên, và các cơ quan chức năng vẫn không thể xử lý một cách triệt để Cụ thể:
1 tỷ đồng với cá nhân và 2 tỷ đồng với tổ chức Tuy nhiên, theo Nghị định
99/2013/NĐ-CP thì mức phạt hành chính đối với hành vi vi phạm SHCN tương ứng chỉ là 500 triệu đồng (với tổ chức) và 250 triệu đồng (với cá nhân) Ngoài ra, Nghị định 99 cũng quy định, thẩm quyền của chi cục trưởng chi cục quản lý thị trường chỉ được phạt mức tối đa
50 triệu đồng là quá thấp, nếu mức xử phạt cao hơn phải chuyển cho các cơ quan cấp trên với nhiều thủ tục rắc rối và mất thời gian Điều này gây lúng túng cho các cơ quan chức năng trong công tác xử lý
6 điều luật liên quan tới thực thi quyền SHTT, gồm các Điều luật 156 - 158 (về buôn bán hàng giả) và Điều 170 - Điều 171 (về SHCN và quyền tác giả) Tuy nhiên, các khái niệm được sử dụng trong luật như “hàng giả”, “quy mô thương mại”, “số lượng lớn”,
“hậu quả nghiêm trọng”… đều là những yếu tố định tính và chưa được giải thích trong
Trang 37luật hoặc thông tư hướng dẫn
SHCN là một khó khăn cho chủ thể quyền trước Toà án Theo quy định của tố tụng dân
sự, một nguyên tắc rất quan trọng là nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa án về mức độ thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm QSHCN do bên kia gây
ra Tuy nhiên, chủ sở hữu quyền bị xâm phạm thường rất khó khăn để đưa ra được chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm quyền của bị đơn hoặc không chứng minh được mức độ thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra; do vậy, yêu cầu đòi bồi thường thường ít được Tòa án chấp nhận toàn bộ Theo quy định hiện hành của Luật sở hữu trí tuệ thì chỉ có một trường hợp duy nhất bị đơn phải chứng minh; đó là trường hợp vụ kiện về xâm phạm quyền đối với sáng chế là quy trình sản xuất sản phẩm (điều 203) Còn lại, tất cả các trường hợp nghĩa vụ chứng minh luôn thuộc về nguyên đơn, tức là chủ thể quyền bị xâm phạm Thực ra, điều này là nguyên tắc chung của tố tụng dân sự
và cũng hoàn toàn hợp lý; song trong trường hợp vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì thường gặp khó khăn Ngoài ra, việc kiện ra cơ quan Tòa án thường phải chờ đợi lâu, thường từ 6 tháng đến 1 năm, song thậm chí không mang lại kết quả đã khiến nhiều chủ sở hữu đối tượng SHCN nản lòng
pháp này cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xác định thế nào là hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả mạo Thực tế, thường có sự khác biệt trong quan niệm và trong cách xử lý giữa cơ quan Hải quan và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ về cách hiểu và cách xử lý trên thực tế 36
- Về vấn đề kiểm soát biên giới hàng hóa quá cảnh có nghi ngờ xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả mạo là những nội dung thường gây ra tranh cãi giữa cơ quan Hải quan, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và người làm thủ tục hải quan về cách hiểu
và cách xử lý trên thực tế Trước đây Luật Hải quan năm 2005 cũng đã loại trừ, không
áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng quá cảnh, điều này có thể hiểu là đối với hàng quá cảnh nếu có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả, cơ quan hải quan cũng sẽ không bắt giữ và xử lý theo yêu cầu của chủ thể quyền Điều này là có cơ sở vì bản chất của hàng quá cảnh là không thâm nhập hoặc tiêu thụ vào Việt Nam, do vậy không gây thiệt hại cho chủ thể quyền hoặc người tiêu dùng Bên cạnh đó, hàng hóa quá cảnh còn thực hiện theo các hiệp định quốc tế về quá cảnh mà Việt Nam đã ký với các quốc gia láng giềng (trong các hiệp định này cũng không đề cập
36
Do trọng tâm của Luận văn là nghiên cứu khía cạnh thực thi, bảo vệ quyền SHTT, nên tác giả không phân tích sâu về những bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành; chỉ phân tích kỹ những bất cập trong cơ chế thực thi bảo vệ quyền