HCM --- KHOA QUẢN LÝ KINH TẾ ĐOÀN VŨ CƯỜNG PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐÓNG GÓP CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÀO CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-
ĐOÀN VŨ CƯỜNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐÓNG GÓP CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÀO CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI TẠI HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM -
KHOA QUẢN LÝ KINH TẾ
ĐOÀN VŨ CƯỜNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐÓNG GÓP CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÀO CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI TẠI HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số : 60 34 04 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Nguyễn Ngọc Vinh
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN iv
LỜI CAM ĐOAN v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ viii
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Một số khái niệm liên quan 5
2.1.1 Hộ gia đình 5
2.1.2 Nông thôn và nông thôn mới 6
2.1.2.1 Nông thôn 6
2.1.2.2 Nông thôn mới 8
2.1.3 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 9
2.1.4 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới 10
2.2 Các mô hình nghiên cứu 15
2.2.1 Mô hình thuyết hành vi dự định 15
2.2.2 Mô hình chấp nhận công nghệ 17
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 19
Trang 42.4 Các yếu tố tác động đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình
xây dựng nông thôn mới 21
2.4.1 Nhóm nhân tố về đặc điểm hộ gia đình 22
2.4.2 Nhóm nhân tố về kinh tế 22
2.4.3 Nhóm nhân tố về xã hội 22
2.4.4 Nhóm nhân tố về nhận thức 22
2.5 Khung phân tích đề xuất 23
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 25
3.1 Phương pháp nghiên cứu 25
3.1.1 Phương pháp phân tích định tính 25
3.1.2 Phương pháp phân tích định lượng 25
3.2 Mô hình nghiên cứu 25
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25
3.2.2 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình 26
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 29
3.3.1 Cách chọn mẫu 29
3.3.2 Thu thập số liệu thứ cấp 29
3.3.3 Thu thập số liệu sơ cấp 30
3.4 Quy trình nghiên cứu 30
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
4.1.2 Quá trình triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới tại Vân Canh 32
4.1.3 Kết quả huy động và sử dụng nguồn vốn 34
4.1.4 Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới 35
4.2 Sự tham gia đóng góp của hộ gia đình đối với chương trình xây dựng nông thôn mới 35
4.2.1 Khái quát đặc điểm cơ bản của hộ điều tra 35
4.2.2 Phân tích kết quả mô hình nghiên cứu 40
Trang 5Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Hàm ý chính sách 47
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 50
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Quý lãnh đạo trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh, Viện Đào tạo sau đại học, Quý thầy cô giáo, cùng toàn thể cán bộ nhân viên trong trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các Lãnh đạo Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định; các lãnh đạo Phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng kinh tế huyện Vân Canh, cùng toàn thể cán
bộ, hộ gia đình nông dân ở các xã mà chúng tôi đã tiếp xúc điều tra, phỏng vấn và thu thập số liệu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của người thân, gia đình và đồng nghiệp trong suốt thời gian qua
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đoàn Vũ Cường
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đoàn Vũ Cường
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CTXDNTM Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 4.1 Tình hình thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới 35
Bảng 4.2 Thông tin chung của các hộ điều tra 36
Bảng 4.3 Đặc điểm kinh tế của các hộ điều tra 37
Bảng 4.4 Đặc điểm xã hội của các hộ điều tra 38
Bảng 4.5 Nhận thức chung về chương trình XDNTM của các hộ điều tra 40
Bảng 4.6 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập 41
Bảng 4.7 Kết quả phân tích mô hình hồi quy Probit 42
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) 16
Sơ đồ 2 Thuyết hành vi dự định (TPB) 17
Sơ đồ 3 Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) 18
Sơ đồ 4 Khung phân tích đề xuất 23
Sơ đồ 5 Quy trình nghiên cứu 30
Trang 11Chương 1: GIỚI THIỆU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, với hơn 70% dân số phân bố ở nông thôn và 60% lực lượng lao động đang sống và làm việc trong ngành nông nghiệp,
nhưng chỉ được hưởng lợi trong khuôn khổ 20% GDP. Phát triển nông nghiệp nông thôn được xem là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quan trọng quyết định đối với
sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước (Đặng Kim Sơn, 2008) Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là một trong những nội dung, nhiệm vụ quan trọng để triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Trần Hồng Quảng, 2015) Vân Canh là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Định, tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 80.020 ha; trong đó diện tích đồi núi chiếm khoảng 85%, diện tích đất bằng và thung lũng hẹp 15% Địa bàn huyện được chia thành 48 thôn, làng thuộc
7 xã, thị trấn Toàn huyện có 8.458 hộ, quy mô nhân khẩu là 29.433 người, bao gồm
3 dân tộc chính là Kinh, Chăm và BaNa (UBND huyện Vân Canh, 2016)
Trong năm 2015 nền kinh tế của Huyện phát triển chậm, chiếm tỷ lệ thấp 5,1%/năm, thu ngân sách toàn huyện chỉ đạt 5,3 tỷ đồng/năm Đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp 7,62 triệu/năm, số hộ nghèo chiếm tỷ lệ khá cao, có đến 58,69% Kết cấu hạ tầng thiết yếu như: giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, ở một số xã vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn Trình độ dân trí của người dân tương đối thấp, chất lượng đào tạo và hiệu quả giáo dục chưa cao, việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa được quan tâm đúng mức; công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân còn nhiều vấn đề hạn chế và
bất cập (Đảng Bộ huyện Vân Canh, 2015)
Cùng với quá trình thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển nông thôn mới (NTM) theo Quyết định số 491/2009/QĐ – TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới; Quyết định
số 800/QĐ –TTg ngày 06/4/2010 của Thủ Tướng Chính phủ, nhằm thống nhất chỉ
Trang 12đạo việc xây dựng nông thôn mới (XDNTM) trên cả nước và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Chính quyền địa phương Huyện Vân Canh đã tiến hành xây dựng mô hình nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015, với mục tiêu xây dựng khu vực nông thôn
có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường trong sạch, nếp sống, đưa mức sống người dân nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần theo xu hướng toàn diện và bền vững XDNTM là việc phát huy mọi nguồn lực của từng xã, được xem là cuộc cách mạng sâu rộng của cả hệ thống chính trị và của từng người dân Do vậy, xây dựng xã nông thôn mới phải đi lên từ chính nội lực, tiềm năng và lợi thế của dân cư địa phương Huy động nguồn lực phục vụ XDNTM cần gắn liền với hiểu biết về đặc điểm dân cư tại địa phương để phát huy các thế mạnh hiện có, những thuận lợi để hình thành sức mạnh chung của cộng đồng
Qua 5 năm thực hiện, cơ sở hạ tầng vẫn còn yếu kém, tỷ lệ đường giao thông nông thôn được bê tông hóa ước đạt 41,17%, kinh tế nông thôn phát triển nhưng thiếu tính bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường Đời sống người dân vẫn còn nghèo, chiếm tỉ lệ cao 34,16% theo quyết định 09 của Thủ tướng Chính phủ, tỷ
lệ hộ nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều là 60,99%, thu nhập bình quân đầu người đạt 15,41 triệu đồng/năm, thiếu việc làm ổn định, nghèo đói giảm chậm và có
xu thế tái nghèo, một bộ phận dân cư còn sống dưới mức nghèo khổ Hiện có 01 xã đạt 12 tiêu chí, 01 xã đạt 07 tiêu chí, 02 xã đạt 05 tiêu chí, 02 xã đạt từ 2 đến 4 tiêu chí trong tổng số 19 tiêu chí (Văn kiện Đại hội Đảng Bộ huyện Vân Canh, 2015)
Vì vậy, việc chọn chủ thể là hộ gia đình để đánh giá sự đóng góp của họ trong XDNTM ở huyện Vân Canh là rất cần thiết, trên cơ sở đó giúp cho các cấp ban ngành liên quan có cái nhìn đúng đắn hơn về những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình thực hiện Chương trình XDNTM, đồng thời làm căn cứ có khoa học cho việc đề xuất gợi ý các chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay của địa phương
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn và thực hiện đề tài “Phân tích
các yếu tố tác động đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định” làm luận văn thạc
sĩ khoa học kinh tế
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng
nông thôn mới ở địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định hiện nay như thế nào ?
Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình
vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định ?
Câu hỏi 3: Cần có những gợi ý chính sách gì để thu hút các hộ gia đình tham
gia đóng góp vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định trong thời gian tới ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương xây dựng nông thôn mới (XDNTM)
Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình trên địa bàn 5 xã (Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Hiệp, Canh Thuận, Canh Hòa) thuộc huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá nhận định sự tham gia
đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Căn cứ vào kết quả nghiên xác định các yếu tố tác động đến sự tham gia đóng
Trang 14góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM tại địa phương và đề xuất gợi ý chính sách tác động nhằm thu hút sự tham gia của người dân vào chương trình XDNTM trong thời gian tới
- Về không gian: Địa bàn được chọn điều tra để thu thập thông tin và lấy dữ
liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được thực hiện tại 5 xã: Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Hiệp, Canh Thuận, Canh Hòa Đây là các xã có số liệu thống kê về tình hình XDNTM tương đối hoàn chỉnh, phù hợp cho việc phân tích số liệu thứ cấp nhằm đánh giá thực trạng CTXDNTM Đồng thời sự phân bố về dân cư và địa lý tương đối có tính đại diện chung cho huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định
- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu và phân tích bao gồm số liệu thứ cấp thu
thập từ năm 2010 đến năm 2014 và số liệu sơ cấp tiến hành điều tra từ các hộ gia đình tại địa phương trong năm 2015; Những gợi ý chính sách được đề xuất nhằm thu hút sự tham gia của hộ gia đình đóng góp vào chương trình XDNTM tại địa phương
áp dụng đến năm 2020
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương với các chủ đề sau: Chương 1 - Giới thiệu; Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu; Chương 3 - Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu; Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận; Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách
Tóm tắt chương
Chương 1 chủ yếu trình bày tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu; Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, những câu hỏi đặt ra và kết cấu của luận văn cần thực hiện
Trang 15Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1 Hộ gia đình
Hộ gia đình đã được nhắc đến trong các văn bản quy phạm pháp luật ít nhất là từ năm 1964 Tuy nhiên, đó chỉ là những khái niệm để giải quyết một số vấn đề chính sách xã hội như khoản 6, Điều 29, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1990), đã quy định về một trong những đối tượng được hoãn gọi
nhập ngũ trong thời bình, đó là “Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ” (Trương Thanh Đức, 2012)
Luật Đất đai năm 1993, quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể sử dụng đất, bên cạnh các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân Gắn liền với việc này là quy định về hộ gia đình là một trong những đối tượng nộp thuế theo Luật thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1994 Đặc biệt, từ khi Bộ luật Dân sự năm 1995 chính thức ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể pháp lý tham gia quan hệ dân sự, sau quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005, thuật ngữ hộ gia đình được sử dụng rộng rãi trong các văn bản dưới luật (Trương Thanh Đức, 2012)
Theo Điều 106 Bộ luật Dân sự quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”
Theo từ điển luật học, thì hộ gia đình là “Tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng” Trên khía cạnh pháp lý, hộ gia đình có các điều kiện sau sẽ có thể là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (vay vốn, mua, bán, thuê, mượn,…) với đặc điểm: các thành viên có tài sản chung; cùng đóng góp công sức
để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định (Mỹ Linh, 2016)
Trang 16Theo Luật Đất đai 2013, tại Khoản 29, Điều 3 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản
là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể
có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không
có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai
2.1.2 Nông thôn và nông thôn mới
2.1.2.1 Nông thôn
Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn - đô thị Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp cho việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định vì vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị Một quan
Trang 17điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hiệp Quốc đã đề cập đến một khái niệm CONTIUM nông thôn - đô thị Có thể hiểu nông thôn - đô thị là một khu vực kinh
tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẻ nhau Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn thành thị
là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới gốc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
Theo Hoàng Văn Định và Vũ Đình Thắng (2002), nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn
Người nông dân Việt Nam có trình độ dân trí chưa cao, trình độ tiếp cận với công nghệ còn thấp gắn với nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, sản xuất tự cấp tự túc và kỹ thuật canh tác còn nhiều lạc hậu
Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghệ và hạ tầng cơ sở (Đỗ Kim Chung, 2009)
Nông thôn chủ yếu với kinh tế nông nghiệp và đây là ngành sản xuất vật chất
cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và
Trang 18vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản Theo nghĩa rộng, nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản
Theo Đặng Kim Sơn (2008), nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở
là Uỷ ban nhân dân xã
Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiêp chiếm tỷ trọng lớn Sự khác biệt về công tác quản lý giữa nông thôn và thành thị trên thực tế, nông thôn với cấp quản lý xã, thôn, bản; còn thành thị với cấp quản lý phường, thị trấn
2.1.2.2 Nông thôn mới
Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt
Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam (Vũ Trọng Khải và cộng sự, 2003)
Theo Thông tư số 54/TT – NNPTNT ngày 21 – 8 – 2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn quy định: “Vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân (UBND) xã” (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010)
Như vậy, nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị
tứ, thị trấn Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; giá trị
Trang 19văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ (Hồ Xuân Hùng, 2010)
Nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần Theo đó, một số tiêu chí của mô hình nông thôn mới là: Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên (Hồ Văn Thông, 2005)
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
2.1.3 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Xét trên góc độ pháp lý, có nhiều văn bản đề cập đến vai trò người dân trong xây dựng NTM nhưng chủ yếu được thể hiện trong 4 văn bản: Thứ nhất, Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn quy định về những vấn đề người dân được biết, bàn bạc, ý kiến, thực hiện, kiểm tra là cơ sở để xác định những hoạt động người dân được tham gia trong xây dựng NTM Thứ hai, Nghị quyết 26-NQ/TW đưa ra những quan điểm chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng, phát triển NTM Thứ ba, Quyết định 800/QĐ -TTg, với những quy định về việc lấy ý kiến cộng đồng trong quy hoạch, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả, xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông, cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và mức đóng góp xây dựng NTM, đã cho thấy vai trò của người dân theo quyết định này chỉ
Trang 20ở mức độ là người được tham vấn (ý kiến) Cuối cùng, Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã năm 2010 là văn bản thể hiện đầy đủ và chi tiết nhất về vai trò của
người dân trong xây dựng NTM Ở mức độ thấp, người dân tham gia với vai trò là người đóng góp công sức, tiền của xây dựng các công trình công cộng, chỉnh trang nơi ở,… Ở các mức độ cao hơn, vai trò của người dân thay đổi thông qua hoạt động
mà họ tham gia, cụ thể:
Khi tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ quy hoạch NTM cấp
xã, người dân đóng vai trò là người được tham vấn;
Khi tham gia lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với kế hoạch khả năng, điều kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã, người dân đóng vai trò là người được quyết định; Khi cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã, người dân đóng vai trò là người giám sát;
Khi tham gia tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành, người đóng vai trò là người quản lý
Thông qua phân tích ở trên, ta nhận thấy vai trò của người dân được thể hiện trong các văn bản rất đa dạng, từ vai trò người tham gia thụ động trong tiếp nhận thông tin, đóng góp công sức, tiền của cho đến vai trò là người quản lý các công trình NTM Khi người dân tham gia xây dựng NTM với tất cả những vai trò đấy, họ thật sự là người giữ vai trò chính trong hoạt động này
2.1.4 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Sự tham gia
Trong chiến lược phát triển cộng đồng “sự tham gia của quần chúng” là yếu
tố chủ yếu, nó là một trong những thành tố chính của phát triển cộng đồng trong thời gian gần đây vì những lý do:
Một là, sự tham gia của quần chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức và tận dụng năng lực sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt động phát triển
Trang 21Hai là, nó giúp xác định nhu cầu tiên khởi của cộng đồng và giúp tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này
Quan trọng hơn cả là sự tham gia của quần chúng cho dự án hay hoạt động được công nhận, khuyến khích người dân tham gia thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững Kinh nghiệm gần đây trong những hoạt động phát triển cho thấy rằng có một mối liên hệ quan trọng giữa mức độ và cường độ tham gia của người dân với
sự thành công của những hoạt động phát triển
Sự tham gia tích cực của người dân mặc dù được xem là một thành tố chủ yếu trong phát triển, vẫn bị chi phối bởi những điều kiện của bối cảnh diễn ra hoạt động phát triển Hơn nữa, mức độ tham gia khác nhau tuỳ theo tính chất của dự án phát triển Ở hầu hết các nước, sự tham gia của người dân vào phát triển diễn ra từ mức
độ cao cho tới chỗ chỉ tham gia một cách hình thức Mức độ tham gia khác nhau tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình phát triển, phong cách quản lý, mức độ nâng cao quyền lực và bối cảnh văn hoá xã hội của đất nước hay cộng đồng Khả năng vận động người dân, các tổ chức xã hội tham gia và năng lực để tham gia của nhóm đối tượng cũng là những yếu tố quyết định (Đặng Thị Thu, 201)
Trang 22giám sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng
Sự quyết định và tự quản của người dân được đánh giá ở mức độ cao bởi lẽ nó thể hiện tăng năng lực, quyền lực của người dân Mang tính bền vững vì người dân thể hiện vai trò làm chủ với trách nhiệm cao của mình (Đỗ Hồng Nhung, 2014)
2.1.4.3 Mức độ tham gia
Người dân thường tham gia các chương trình, dự án phát triển nông thôn với mức độ:
- Không có sự tham gia:
+ Cán bộ điều khiển: Người dân làm và thực hiện theo ý của cán bộ, không được hiểu rõ Như người dân bị gọi đi làm công ích, đóng góp tiền cho một hoạt động nào đó mà không được biết, không được thảo luận
+ Tham gia mang tính hình thức: Cán bộ cũng có gọi dân đến, cho dân phát biểu ý kiến nhưng chỉ có lệ, mọi việc cán bộ quyết theo ý mình
- Tham gia ít:
+ Người dân được thông báo và giao nhiệm vụ: Người dân được thông báo, hiểu rõ những việc mà cán bộ muốn họ tham gia, sau đó người dân đóng góp công sức hay tiền của theo khả năng của mình
+ Người dân được hỏi ý kiến: Kế hoạch công tác do cán bộ thiết kế và quản
lý, người dân được mời tham gia thảo luận, hỏi lấy ý kiến, cán bộ lắng nghe nghiêm túc, sau đó cán bộ điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) cho phù hợp với dân rồi cùng thực hiện
- Tham gia thực sự:
+ Cán bộ khởi xướng, người dân cùng tham gia lấy quyết định: Cán bộ là người khởi xướng, có ý tưởng Người dân chủ động tham gia cùng cán bộ trong các khâu lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện
+ Người dân khởi xướng và cùng cán bộ ra quyết định: Người dân khởi xướng, lập kế hoạch, cán bộ cùng dân quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện
Trang 23+ Người dân khởi xướng, quyết định chọn các phương án và có sự hỗ trợ của cán bộ: Người dân khởi xướng, lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Cán bộ đóng vai trò khi người dân cần
+ Người dân tự lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, cán bộ hỗ trợ khi cần thiết
Các mức độ tham gia này có thể minh hoạ phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” với các bước dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra cộng thêm bước
xuất phát là dân nhận từ nhà nước và bước cuối cùng là dân tự quyết nên chọn nhận những gì (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)
2.1.4.4 Sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới
Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng mô hình nông thôn mới được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Các nội dung trong vai trò của người dân vào việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu là:
Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội tại địa phương vào việc xây dựng mô hình nông thôn mới được coi là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới Khi tham gia phát triển xóm, làng với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong các hoạt động trong phát triển xóm làng,
vai trò của người dân ở đây được thể hiện: “Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi (Viện quy hoạch và Thiết kế nông
nghiệp, 2007) Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các
trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc”
Các nội dung trong nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu:
Trang 24- Dân biết: Quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về những
kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp
từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi
- Dân bàn: Sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát
triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính, trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi
- Dân đóng góp: Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc, công
sức mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính
tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Dân làm: Là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động
phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân
- Dân kiểm tra: Thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát và
đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích
Trang 25cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
- Dân quản lý: Các thành quả của các hoạt động mà người dân đã tham gia;
các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi: Là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần chia ra
các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập (Viện quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2007)
2.2 Các mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là ý định đóng góp, đề tài trình bày 2 học thuyết rất quan trọng đối với ý định và hành vi của mỗi cá nhân và đã được kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu Đó là thuyết hành vi dự định và mô hình chấp nhận công nghệ
2.2.1 Mô hình thuyết hành vi dự định
Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển và cải tiến của Thuyết hành động hợp lý Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong
Trang 26lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Mark, C & Christopher J.A., 1998,
tr 1430) Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi
đó Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen & Fishben, 1980; Canary & Seibold, 1984)
Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Ajzen, 1991, tr 186) Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan Trong đó, thái độ của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Ajzen (1991, tr.188) định nghĩa chuẩn chủ quan (Subjective Norms)
là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi Mô hình TRA được trình bày dưới góc độ phục vụ cho chương trình XDNTM như sơ đồ 1
Sơ đồ 1 Thuyết hành động hợp lý (TRA)
Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989, trích trong Chutter M.Y (2009), trang 3
Theo Ajzen (1991), sự ra đời của thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior) xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát Nhân tố thứ ba mà Ajzen cho là có ảnh hưởng đến ý định của con người là yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control) Nhận thức kiểm soát hành vi
Niềm tin đối với những thuộc tính
của chương trình XDNTM
Nhận thức về niềm tin đối với
chương trình XDNTM
Áp lực xã hội thúc đẩy làm theo ý
muốn những người ảnh hưởng
Niềm tin về những ảnh hưởng và
nghĩ rằng mình nên thực hiện hay
không thực hiện hành vi
Thái độ
Chuẩn chủ quan
Xu hướng hành vi
Hành vi thực sự
Trang 27phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó
có bị kiểm soát hay hạn chế hay không (Ajzen, 1991, tr 183) Học thuyết TPB được
mô hình hóa ở sơ đồ 2
Sơ đồ 2 Thuyết hành vi dự định (TPB)
Nguồn: Ajzen, I., The theory of planned behaviour (1991), tr 182
Heath, Y và Gifford, R (2002) đã ứng dụng thuyết hành vi dự định để giải thích hành vi sử dụng phương tiện công cộng của sinh viên trường đại học Victoria, Anh Borith, L., Kasem, C & Takashi, N (2010) đã ứng dụng thuyết hành vi dự định để nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe điện trên cao ở thủ đô Phnom Phenh, Campuchia Chen, C.F và Chao, W.H (2010) đã sử dụng thuyết hành vi
dự định để nghiên cứu ý định sử dụng hệ thống KMRT (Kaohsiung Mass Rapid Transit – Hệ thống vận chuyển khối lượng lớn với tốc độ nhanh) ở thành phố Kaohsiung, Đài Loan Ngoài ra, thuyết hành vi dự định đã được áp dụng rất nhiều trong các nghiên cứu
về giao thông cũng như quyết định lựa chọn phương tiện di chuyển của mỗi cá nhân (Sebastian Bamberg & Icek Ajzen 1995, Forward, 1998a; Forward 1998b; Pilling et al, 1998; Pilling et al, 1999, trích trong Aoife A., 2001, tr.76)
2.2.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)
Chương trình XDNTM là mô ̣t chương trình tro ̣ng tâm của Nghị quyết số NQ/TW, Nghị quyết toàn diện nhất về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn
26-từ trước tới nay Có thể nói, quá trình XDNTM đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản bảo đảm, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuất; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ
Thái độ Chuẩn chủ quan
Nhận thức kiểm soát hành vi
Xu hướng hành vi
Quyết định hành vi
Trang 28trọng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề Đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với XDNTM, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân, hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao
Sự xuất hiện chương trình XDNTM có thể được xem là sự hữu ích để phát triển nông thôn hiện nay, góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ sở vững chắc tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Một trong những công cụ hữu ích trong việc giải thích ý định chấp nhận một sản phẩm mới – công trình mới là mô hình chấp nhận công nghệ TAM Theo Legris và cộng sự (2003, trích trong Teo, T., Su Luan, W., & Sing, C.C., 2008, tr 266) Lý thuyết TAM được mô hình hóa dành cho chương trình XDNTM và trình bày ở sơ đồ 3
Sơ đồ 3 Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM)
Nguồn: Davis, 1985, tr.24, trích trong Chutter M.Y., (2009), tr.2
Trong đó, nhận thức sự hữu ích (PU – Perceived Usefulness) là cấp độ mà cá nhân tin rằng đóng góp cho một chương trình đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ (Davis, 1985, trích trong Chuttur, M.Y., 2009, tr 5) Nhận thức tính dễ đóng góp (PEU – Perceived Ease of Use) là cấp độ mà một người tin rằng đóng góp cho một chương trình đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis, 1985, trích trong Chuttur, M.Y., 2009, tr.5)
Trên cơ sở nền tảng hai học thuyết có ý nghĩa trong việc giải thích ý định của mỗi cá nhân, phần này trình bày mô hình lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu, bao
Trang 29gồm biến phụ thuộc là ý định đóng góp xây dựng NTM và các biến độc lập ảnh hưởng đến ý định này
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Hiện chưa tìm thấy nghiên cứu trùng với tên đề tài đã chọn Tuy nhiên, để thực hiện nghiên cứu này tác giả đã tham khảo một số đề tài nghiên cứu có liên quan như sau: Nugussie,W.Z (2010) nghiên cứu lý do tại sao một số người dân nông thôn ở Tigray (Ethiopia) trở thành thành viên của hợp tác xã trong khi những người khác thì không Tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, phỏng vấn cung cấp thông tin, khảo sát hộ gia đình và mô hình probit Loại trừ sở trích cá nhân, kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố có tác động mạnh mẽ đến quyết định tham gia vào mô hình HTX của người dân như: chủ hộ nam trong gia đình, thành viên trong hiệp hội nông thôn, tần số tham gia các cuộc họp công cộng, làm việc trong các tổ chức Nhà nước, tiếp cận với các tổ chức tín dụng và đào tạo, số người bình quân của hộ, số lượng thành viên được học trung học và khả năng tiếp cận thông tin qua truyền hình, đài phát thanh
Phạm Bảo Dương (2013) “Sự tham gia của cộng đồng trong giao thông nông thôn: Những vấn đề đóng góp và tham gia ở Việt Nam” đã chỉ ra các lý do cho sự
tham gia yếu kém của người dân là cơ chế cho sự tham gia không thực tế; người dân thiếu hiểu biết về chuyên môn; các nhà tài trợ không coi trọng sự tham gia của người dân; không có quy chế cụ thể về sự tham gia của cộng đồng và cơ cấu thể chế; và năng lực cũng ảnh hưởng đến quá trình tham gia Báo cáo đưa ra nhiều kiến nghị để đẩy mạnh sự tham gia của người dân, trong đó có các giải pháp quan trọng như nâng cao hiểu biết về ý nghĩa của sự tham gia; đơn giản hóa các thủ tục pháp lý
về lập kế hoạch và quản lý dự án có sự tham gia; minh bạch thông tin và cơ chế giám sát rõ ràng
Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012) nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang” đã sử
dụng phương pháp thu thập số từ 135 hộ gia đình tại hai xã Mỹ Hòa Hưng, huyện Chợ Mới và xã Châu Giang, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang Kết quả chạy mô hình hồi quy cho thấy 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng
Trang 30của người dân là trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô gia đình, thu nhập gia đình, vốn
xã hội và nghề truyền thống Trong đó, nhân tố qui mô gia đình tác động mạnh nhất đến quyết định tham gia phát triển du lịch của người dân
Lê Văn Tuyển ( 2015) nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới” đã chọn phương pháp khảo
sát, phỏng vấn hộ gia đình và sử dụng mô hình hồi quy probit để nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia của họ như: trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, quy mô gia đình hay nhân khẩu, tham gia hội đoàn thể, đất sản xuất, nhu cầu vay
Vũ Văn Phúc và cộng sự (2012) về “Xây dựng nông thôn mới – những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã nêu lên những vấn đề lý luận chung về xây dựng nông thôn mới;
Kinh nghiệm quốc tế và xây dựng nông thôn mới; Những chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn mới; Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở các địa phương Việt Nam và những vấn đề đặt ra trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở đó đề xuất các nội dung và giải pháp về công tác tuyên truyền, về tổ chức sản xuất, về phát triển kinh tế nông thôn, về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và xây dựng người nông dân mới chủ thể của nông thôn là hạt nhân để xây dựng thành công
mô hình nông thôn mới
Trang 31Lê Hữu Nghĩa (2008) trong bài “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra và giải pháp” đã nêu thực trạng xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ
đổi mới vừa qua, để thấy được những thành tựu và những yếu kém bất cập Từ đó đề ra nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, đó là: Xây dựng nông thôn mới cần phù hợp với đặc điểm từng vùng; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với phát triển đô thị và đô thị hóa; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn , phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn
Phạm Minh Phương (2014) “Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình” cho rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng
Trong đó, các yếu tố từ phía người dân như: trình độ học vấn, nhận thức, lợi ích, điều kiện kinh tế, và các yếu tố từ phía nhà nước như: tổ chức cộng đồng, chính sách khuyến khích, thông tin tuyên truyền
Kết luân của các tác giả không hoàn toàn giống nhau bởi lĩnh vực và phương pháp nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, đây là nguồn tham khảo hữu hiệu, giúp củng cố nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu
Tóm lại, dựa trên các nghiên cứu có liên quan và tình hình thực tế tại địa phương
đang thực hiện chương trình XDNTM, tác giả lựa chọn phương pháp khảo sát, phỏng vấn hộ gia đình và sử dụng mô hình hồi quy probit để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM thông qua 11 biến: giới tính chủ hộ, độ tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, nhân khẩu, diện tích đất, thu nhập của hộ, người thân tham gia đóng góp, tham gia hội đoàn thể, lợi ích khi tham gia, lòng tin của hộ với lãnh đạo, thông tin minh bạch
2.4 Các yếu tố tác động đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới
2.4.1 Nhóm nhân tố về đặc điểm hộ gia đình
- Giới tính chủ hộ: Là tính tổng số nam và số nữ trong một hộ gia đình được
biết thông qua quá trình đi khảo sát
- Tuổi của chủ hộ: Tính trên năm sinh do chủ hộ cung cấp trong quá trình khảo sát
Trang 32- Trình độ học vấn: Được tính bằng số năm đến trường của chủ hộ
- Nhân khẩu hộ: Được xác định bằng số thành viên cùng sinh sống chung trong
2.4.3 Nhóm nhân tố về xã hội
- Người thân tham gia đóng góp: Đây cũng là biến phụ thuộc, biến chính Là bao gồm những người thân trong hộ gia đình có tham gia đóng góp tiền, công sức cho chương trình xây dựng nông thôn mới và nhân tố có khả năng quyết định đóng góp hay không đóng góp của hộ gia đình
- Tham gia hội, đoàn thể: Là hộ gia đình có người trong hộ là thành viên của Hội phụ nữ, Đoàn TNCS HCM, Hội cựu chiến binh, thành viên Mặt trận Tổ quốc Việc tham gia các tổ chức hội, đoàn để giúp các hộ gia đình tiếp cận và cập nhật thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,có cơ hội giao lưu, chia sẻ, học tập kinh nghiệm lẫn nhau
2.4.4 Nhóm nhân tố về nhận thức
Nhóm nhân tố nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới bao gồm nhân tố lợi ích khi tham gia; lòng tin của hộ với lãnh đạo; thông tin minh bạch là nhóm mà chính quyền địa phương phải có những hành động, việc làm thiết thực minh bạch có mang lại lợi ích cho người dân mà họ cảm nhận được bằng trí giác, cảm giác, biểu tượng để tạo niềm tin cho người dân cũng như hộ gia đình ở nông thôn
Trang 332.5 Khung phân tích đề xuất
Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn đã phân tích, với các phương pháp tiếp cận đã lựa chọn, tác giả xây dựng khung nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Khung phân tích được mô tả ở sơ đồ 4
Sơ đồ 4 Khung phân tích đề xuất
Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu
Tóm tắt chương
Trong chương 2 trình bày về các khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu như: nông thôn mới, hộ gia đình, đóng góp, vai trò của nông thôn mới và các hình thức đóng góp vào chương trình nông thôn mới Lý thuyết về hành vi hợp lý, hành vi dự định kết hợp với việc tổng hợp các nghiên cứu có liên quan nhằm làm cơ
Sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM
Diện tích đất
Thu nhập
Người thân TGĐG
tg
Tham gia hội, đoàn thể
Lợi ích khi tham gia
Lòng tin đối với với LĐ Thông tin minh bạch
Trang 34sở cho việc xây dựng khung phân tích dành cho nghiên cứu Những vấn đề trình bày trong chương 2 là cơ sở cho việc tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và phân tích
số liệu để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Trang 35Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp phân tích định tính
Phương pháp phân tích định tính bao gồm phương pháp chuyên gia và phương pháp phỏng vấn chuyên sâu
- Phương pháp chuyên gia: Được thực hiện thông qua lấy ý kiến rộng rãi
của các nhà quản lý, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà chuyên môn làm căn cứ để đưa ra những kết luận có căn cứ khoa học phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Phỏng vấn trực tiếp 150 hộ, đại diện cho các hộ gia đình ở 5 xã có thực hiện chương trình XDNTM Các đối tượng được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi, phương pháp phỏng vấn thuận tiện
3.1.2 Phương pháp phân tích định lượng
- Phương pháp thống kê mô tả: Sau khi điều tra thực tế và tham vấn ý kiến
của các chuyên gia, số liệu và các thông tin thu thập được mã hóa, xử lý kết hợp với phân tích nhằm đưa ra những đánh giá định tính về mức độ, xu hướng, tính chất và mối quan hệ tương quan giữa các vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp phân tích hồi quy: Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy xác
suất Probit để phân tích tác động của các yếu tố đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định
3.2 Mô hình nghiên cứu
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp vào XDNTM của hộ gia đình Tác giả sử dụng mô hình hồi quy probit tổng quát có dạng như sau:
Yi* = ß0 +
1
k j
ßjXij + ui (1) Trong đó: Yi* chưa biết (biến ẩn), chúng ta xem xét biến giả Yi được khai báo như sau:
Trang 361 nếu Y1* > 0
0 trường hợp khác
Yi: biến phụ thuộc đây là một biến giả, nhận giá trị là 1 nếu hộ tham gia đóng góp vào chương trình XDNTM và nhận giá trị 0 nếu hộ không tham gia đóng góp vào chương trình XDNTM
Xij : các biến độc lập có trong mô hình (1), các biến này biểu hiện các yếu
tố ảnh hưởng đến việc hộ dân có tham gia đóng góp vào chương trình XDNTM hay không
3.2.2 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình
Qua khảo sát nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định tham gia đóng góp hay không tham gia đóng góp của chủ hộ vào chương trình XDNTM đưa vào mô hình bao gồm 11 nhân tố, đây chính là 11 biển độc lập
Trang 375 Diện tích đất sản xuất
Tổng diện tích đất sản xuất của chủ hộ (m2) +
6 Thu nhập của hộ THUNHAP Tổng thu nhập bình quân
của hộ (Triệu đồng/năm) +
7 Người thân tham gia
8 Tham gia hội, đoàn thể DOANHOI
Nhân giá trị 1 nếu là thành viên của các tổ chức hội;
nhận giá trị 0 nếu không là thành viên
+
Diễn giải ý nghĩa các biến:
- Yi Quyết định đóng góp vào CTXDTNM Nhận giá trị 1 nếu hộ đóng góp, nhận giá trị 0 nếu hộ không đóng góp
- Giới tính của chủ hộ (GIOITINH): chủ hộ là nam nhận giá trị 1, chủ hộ là nữ nhận giá trị 0 Giới tính của chủ hộ có ảnh hưởng đến việc quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào CTXDNTM Thông thường chủ hộ là nữ giới thì việc tạo thu nhập, góp công sức vào CTXDNTM sẽ hạn chế hơn so với nam giới
Trang 38- Tuổi của chủ hộ (TUOI): được tính từ năm chủ hộ sinh ra đến thời điểm hiện tại Được kỳ vọng đến ý thức, quyết định tham gia đóng góp trong hộ gia đình Tuổi chủ hộ càng cao thì họ sẽ có nhiều kinh nghiệm, hiểu rõ được cái gì có lợi và thông thường sự thuyết phục của người càng cao tuổi khi ra quyết định đóng góp càng cao
- Trình độ học vấn (TDHOCVAN): được tính bằng số năm đến trường của chủ
hộ Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan với quyết định tham gia vào CTXDNTM Trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì việc nắm bắt các chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với CTXDNTM càng cao
- Nhân khẩu (NHANKHAU): số thành viên hay số lao động trong gia đình hộ Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan với quyết định tham gia vào CTXDNTM Họ sẽ đóng góp ngày công vào các công trình xây dựng làm đường, tham gia vào hợp tác xã,
- Diện tích đất sản xuất (DATSX): Tính trên đơn vị diện tích đất sản xuất, biến này kỳ vọng có mối tương quan với quyết định tham gia đóng góp đất làm đường, sản xuất,
- Thu nhập của hộ (THUNHAP): thu nhập bình quân của hộ gia đình (triệu đồng/năm) Biến này có kỳ vọng thuận với quyết định đóng góp của hộ gia đình để đảm bảo có 5 nguồn vốn cho CTXDNTM từ doanh nghiệp, Nhà nước, tín dụng, cộng đồng và vốn tài trợ khác Đây cũng là vốn đóng vai trò chính trong CTXDNTM
- Người thân tham gia đóng góp (NTGOP): Nhận giá trị 1 nếu tham gia đóng góp, nhận giá trị 0 nếu không đóng góp Biến này có kỳ vọng nếu được người thân trong hộ gia đình ủng hộ thì sự tham gia đóng góp của hộ sẽ tăng cao và hiệu quả về
góp tiền mặt, công sức cũng như góp tài sản vào CTXDNTM và ngược lại
- Tham gia Hội, đoàn thể (ĐOANHOI): Nhận giá trị 1 nếu là thành viên của đoàn hội và nhận giá trị 0 nếu không là thành viên của đoàn hội Thành viên các tổ chức Hội, đoàn dễ tiếp cận các thông tin liên quan đến CTXDNTM và được tổ chức vận động tham gia, biến này kỳ vọng có mối tương quan với quyết định tham gia
đóng góp
Trang 39- Lợi ích khi tham gia CTXDNTM (LOIICH): Nhận giá trị 1 nếu có lợi ích, nhận giá trị 0 nếu không có lợi ích Biến này quyết định đến việc hộ gia đình tham gia đóng góp và chương trình, một khi xây dựng cái gì có lợi ích, quyền lợi thì hộ gia đình sẽ sẵn lòng tham gia nhiệt tình
- Lòng tin của hộ với lãnh đạo, chính quyền trong CTXDNTM (LONGTIN): Nhận giá trị 1 nếu người dân có lòng tin, nhận giá trị 0 nếu người dân không có lòng tin Lòng tin đã trở thành một thứ vốn quan trọng để phát triển như bất kỳ loại vốn nào khác, và được các nhà khoa học gọi đó là vốn xã hội Người lãnh đạo, chính quyền địa phương phải nỗ lực, chứng tỏ sự uy tín, năng lực và trách nhiệm của mình đối với người dân thì họ sẽ tin tường và trao lòng tin
- Thông tin minh bạch trong CTXDTNM (TTINMB): Nhận giá trị 1 nếu có minh bạch, nhận giá trị 0 nếu không minh bạch Minh bạch thông tin trong CTXDNTM có thể hiểu là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, nó cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá về tình hình và hiệu quả các
hoạt động diễn ra trong CTXDNTM
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
3.3.1 Cách chọn mẫu
Theo Vũ Thị Thanh Lộc và cộng sự (2015) trong điều tra chọn mẫu có nhiều phương pháp khác nhau, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp điều tra phi ngẫu nhiên Cỡ mẫu được xác định theo công thức (n 50 + 8m; m là số biến độc lập có trong mô hình nghiên cứu) Theo cách tính này, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được là 138 quan sát Để đảm bảo số mẫu thu thập được mang tính đại diện cao và phù hợp với mục tiêu cần nghiên cứu, tác giả chọn mẫu thuận tiện với quy mô mẫu
150, mỗi xã chọn 30 mẫu đại diện cho toàn vùng nghiên cứu
3.3.2 Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác
nhau như: Các báo cáo tổng kết của UBND huyện Vân Canh, Phòng NN&PTNT huyện, UBND các xã có thực hiện chương trình XDNTM, và các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đã được công bố
Trang 403.3.3 Thu thập số liệu sơ cấp
- Số liệu sơ cấp có được thông qua điều tra 150 hộ gia đình ở 5 xã: Canh Vinh,
Canh Hiển, Canh Thuận, Canh Hiệp, Canh Hòa trên địa bàn huyện Vân Canh
- Hình thức thu thập dữ liệu bằng cách trả lời trực tiếp vào bảng câu hỏi ở phiếu điều tra
- Nội dung phiếu điều tra được thiết kế dựa trên cơ sở tổng hợp ý kiến các nhà khoa học, các chuyên gia thuộc lĩnh vực nghiên cứu, bao gồm những thông tin chung về hộ, đặc điểm kinh tế - xã hội, nhận thức về chương trình XDNTM của các
hộ gia đình
3.4 Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ 5 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất
Xác định vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ