1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

4 CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯỜNG

43 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 582,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nguyên tắc đó, các giảng viên cùng tham gia quản trị trường với các nhà quản trị hành chính, cụ thể là các quyết định về các hoạt động khác nhau được đưa ra dựa trên đề nghị của các

Trang 1

Các khoa và các đơn vị khác nhau trong trường phải cạnh tranh nhau một cái bánh ngân sách Nghiên cứu

và giảng dạy là hai nhiệm vụ liên quan mật thiết đến nhau, nhưng muốn nghiên cứu tốt thì phải bỏ nhiều thời gian Do đó, thời gian còn lại dành cho công việc chuẩn bị bài giảng hoặc chăm sóc việc học của sinh viên ít hơn

Nguyên tắc quản trị chung, hay có thể gọi là “cùng nhau

quản trị” (shared

governance) xuyên

suốt các hoạt động

đa dạng trong các trường ĐH ở Mỹ

Theo nguyên tắc

đó, các giảng viên cùng tham gia quản trị trường với các nhà quản trị hành chính, cụ thể là các quyết định về các hoạt động khác nhau được đưa ra dựa trên đề nghị của các ban, bao gồm chủ yếu là các giảng viên chính thức của trường

Có rất nhiều ban thuộc mỗi khoa, thuộc mỗi trường con và toàn trường

ĐH Thành phần của ban hoặc do bổ nhiệm hoặc do bầu,

và mỗi nhiệm kỳ từ 3-5 năm Nói chung, giảng viên nào cũng phải tham gia một số ban trong khoa của mình

Các ban hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, bỏ phiếu kín để quyết định tất cả mọi việc Tùy tính chất công việc, một số ban có quyền quyết định cuối cùng luôn, các ban khác chỉ đưa

ra những quyết định có giá trị tư vấn cho người quản trị trực tiếp công việc liên quan Người quản trị có thể theo hoặc không theo các ý kiến do các ban đề xuất

Xin đưa hai ví dụ:

Ví dụ thứ nhất là về

“ban phát triển chuyên môn của giảng viên” Mỗi học kỳ, Trường Khoa học-Nghệ thuật của ĐH Ohio chi một khoản tiền

để cho các giảng viên tham gia các hình thức hoạt động mà các khoản ngân sách khác không phù hợp hoặc không có, và nhiệm vụ của ban này là đánh giá các

đề xuất để cấp hoặc không cấp tiền Các quyết định của ban là cuối cùng, sau đó trưởng ban có quyền viết thư thông báo với các giáo sư về kết quả bình chọn luôn

Ví dụ thứ hai là

“ban nâng bậc và

bổ nhiệm chính thức” ở cấp trường

Khi một giảng viên được xét nâng bậc hoặc bổ nhiệm chính thức, nếu khoa cơ sở đề nghị lên (sau khi đã bỏ phiếu tán thành), thì “ban nâng bậc

và bổ nhiệm chính thức” ở cấp trường họp lại và

bỏ phiếu có đồng ý hay không Thông thường, quy định là quá bán đồng ý là được, nhưng

“được” ở đây có nghĩa là được đề xuất lên để hiệu trưởng thông qua,

vì hiệu trưởng là người quyết định

có được bổ nhiệm chính thức hay không (sau đó còn phải qua chủ tịch trường và hội đồng quản trị nữa, nhưng đó thuần túy

là thủ tục)

Trên thực tế, hiệu trưởng luôn luôn thông qua các trường hợp quá rõ ràng, không phải bàn cãi Đối với những trường hợp không hoàn toàn thuyết phục, kèm theo kết quả bỏ phiếu từ khoa cơ

sở không nhất trí, thì hiệu trưởng có thể dùng quyền của mình để từ chối, nhất là đối với những trường hợp xét chính thức

Nhiều hiệu trưởng mạnh mẽ sử dụng quyền này thành công, tức là nâng được chất lượng của đội ngũ giảng viên của trường, nhưng cũng có người sử dụng không thành công, gây kiện cáo bất lợi cho trường hoặc làm các giảng viên bất bình Một số khác không bao giờ

sử dụng quyền này; đó là cách khá

an toàn để tránh mọi rắc rối, nhưng không phải bao giờ cũng tốt, vì như vậy

sẽ không duy trì được tiêu chuẩn cao cho đội ngũ giảng viên của trường

Một biểu hiện khác của quản trị chung

là vai trò của hội đồng giảng viên (faculty senate)

Hội đồng giảng viên của các trường ĐH ở Mỹ là diễn đàn quan trọng để các giảng viên tham gia quản trị công việc trong trường Vai trò của hội đồng giảng viên không như của hội đồng khoa học ở các trường đại học

ở Việt Nam Hội đồng giảng viên được bầu từ các giáo sư chính thức của trường, theo từng nhiệm kỳ, và thường là họp mỗi tháng một lần

Những vấn đề hội đồng giảng viên đưa ra xem xét rất

đa dạng, từ việc xét các chính sách cụ thể về bổ nhiệm chính thức và nâng bậc, về bảo hiểm sức khỏe, các quyền lợi vật chất khác, đến các vấn

đề về đường lối phát triển của trường, v.v

Tuy nhiên, hội đồng giảng viên chỉ có vai trò tư vấn cho chủ tịch trường và hội đồng quản trị của trường, chứ không có quyền quyết định Trong đại bộ phận các trường hợp, chủ tịch trường và hội đồng quản trị lắng nghe và làm theo các đề nghị của hội đồng giảng viên, nhưng trong nhiều trường hợp khác,

họ nghe nhưng không làm theo (hoặc không hoàn toàn theo) Đó là một trong những lý

do mà quan hệ giữa tầng lớp giảng viên và các nhà quản trị nhiều khi khá căng thẳng

Các ĐH ở Mỹ nói chung không có tổ chức nào có chức năng tương tự như hội đồng khoa học

ở các trường ĐH ở Việt Nam Các vấn đề về chuyên môn, từ việc dạy gì

và dạy như thế nào, đến việc bổ nhiệm chính thức

và nâng bậc lên giáo sư và phó giáo sư…, đều do các khoa cơ sở quyết định hoặc đề xuất

Tất nhiên, mỗi khoa đều có những nhiệm vụ cụ thể trong giảng dạy sinh viên, và trưởng khoa là người chịu trách nhiệm bảo đảm khoa phải hoàn thành nhiệm vụ tối thiểu đó

Ví dụ, khoa toán của ĐH Ohio có nhiệm vụ dạy các môn toán cho tất

cả sinh viên (SV) trong trường

Vì toán là môn bắt buộc đối với đại bộ phận các ngành học, với những yêu cầu khác nhau, nên

số SV đăng ký học toán rất nhiều Dựa trên nhu cầu đó, có thể tính được số lớp toán cần thiết phải dạy trong từng học kỳ Đó là việc khoa toán phải đảm nhiệm, nhưng phân công như thế nào

và sử dụng chương trình như thế nào hoàn toàn do khoa quyết định

Ngoài ra, khoa có thể mở các lớp khác để dạy những môn không bắt buộc đối với sinh viên khoa khác (nhưng có thể yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên toán)

Nói riêng, tất cả các môn cao học

về toán là do khoa

tự đề xuất, cũng như những yêu cầu

cụ thể đối với sinh viên cao học, miễn

là thỏa mãn các ràng buộc về thủ tục và quy định chung

Việc để các khoa được tự do tạo chương trình của mình nhằm làm cho các khoa chủ động sáng tạo để phát triển Trong bối cảnh phải cạnh tranh mạnh để thu hút sinh viên và đầu tư, các khoa đều phải cố gắng để làm công việc giảng dạy và nghiên cứu trong khoa mình ngày càng tốt hơn

Cứ 7 năm một lần, trường ĐH Ohio mời các chuyên gia

từ ngoài trường để cùng kết hợp với một số giáo sư khác trong trường (nhưng từ các khoa khác) để xem xét các mặt hoạt động

và chương trình từ

cử nhân đến cao học và tiến sỹ của khoa Trong thời gian 2-3 ngày làm việc, các chuyên gia đó phỏng vấn một số sinh viên, giảng viên, các nhân vật giữ trọng trách, xem xét các loại hồ sơ và các thống kê khác nhau

về giảng dạy và nghiên cứu khoa học và chi tiêu, để viết một báo cáo toàn diện về khoa gửi lên cho lãnh đạo trường Những nhận xét này sẽ giúp khoa nhìn thấy những mặt mạnh, mặt yếu của mình, cũng như giúp lãnh đạo trường trong việc ra các quyết định liên quan đến

khoa

Trường ĐH Columbia, Mỹ

Quản trị trường như công ty

Các chức vụ lãnh đạo cao cấp trong trường ĐH như chủ tịch, tổng hiệu trưởng và hiệu trưởng đều được bổ nhiệm, dựa trên kết quả của các quá trình tìm kiếm nhân sự rộng khắp toàn nước Mỹ Phương pháp chọn nhân sự này đề cao quyền hạn và trách nhiệm cá nhân

Việc quyền quyết định cuối cùng thuộc về hiệu trưởng của các trường con, tổng hiệu trưởng và chủ tịch là biểu hiện của phương pháp quản

lý theo kiểu công ty trong trường đại học

Những người quản trị trường thường đưa ra các quyết định dựa trên tính cạnh tranh và các yếu tố cung cầu của thị trường giáo dục Ví dụ,

để thu hút các tài năng, họ có thể trả lương cho những giảng viên trẻ mới vào trường nhiều bằng hoặc thậm chí hơn các giáo sư đã có nhiều năm thâm niên, trong cùng một khoa

Một hiện tượng khá phổ biến là những người phụ trách các đội bóng

đá (bóng đá Mỹ là bóng bầu dục) và bóng rổ thường có lương cao hơn hẳn lương của những giáo sư uy tín nhất trong trường, thậm chí cao hơn cả lương của chủ tịch trường Thể thao trong trường ĐH ở

Mỹ là một ngành công nghiệp lớn; nhiều SV chọn trường theo tiêu chuẩn ở đâu có đội bóng mà họ hâm mộ thì họ đến

Hàng năm, các giảng viên được tham gia đánh giá trưởng khoa và hiệu trưởng; những đánh giá này chủ yếu để trưởng khoa và hiệu trưởng biết và điều chỉnh, chứ không đóng vai trò quan trọng trong việc tăng lương Các trường thường không để các giảng viên đánh giá chủ tịch trường và tổng hiệu trưởng, vì họ e rằng sự đánh giá như thế không khách quan và làm suy yếu những vị trí cực kỳ quan trọng này

Năm ngoái, một nhóm giảng viên ở ĐH Ohio không hài lòng với chủ tịch mới của trường và họ đã đi vận động được hơn 400 giảng viên

bỏ phiếu yêu cầu chủ tịch và tổng hiệu trưởng của trường cũng phải được đánh giá, như những vị trí lãnh đạo khác Nhưng hội đồng quản trị đã không đồng ý; thay vào đó, họ đã cho phép hội đồng giảng viên được bầu một số đại diện để tham gia cùng hội đồng quản trị đánh giá chủ tịch, và ngoài ra, họ tăng cường đối thoại giữa hội đồng quản trị, chủ tịch và hội đồng giảng viên

GS Vũ Quốc Phóng (ĐH Ohio, Mỹ)

Trang 2

Giới thiệu

 Lý thuyết ngoại thương đã xem xét 2 loại cân

bằng

 Cân bằng trong nền kinh tế tự cung tự cấp

 Cân bằng tự do ngoại thương

 Lý thuyết cho rằng tự do ngọai thương là chính

sách tốt nhất

 Trong thực tế, hầu hết các quốc gia đều tạo dựng những rào cản ngoại thương khác nhau để hạn chế ngoại thương

Trang 3

Giới thiệu

 Trong bài giảng này chúng ta trả lời một số câu

hỏi sau đây:

 Tác động của những công cụ của chính sách ngoại

thương là gì?

 Ai sẽ được lợi và ai sẽ bị tổn thất từ những công cụ của chính sách này?

 Lợi ích và chi phí của bảo hộ là gì?

 Chính sách ngoại thương của một quốc gia nên như thế nào?

Trang 4

Giới thiệu

 Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay

thuế quan của những nước phát triển giảm đáng

Trang 5

Giới thiệu

 Tuy nhiên, thuế quan vẫn còn có ý nghĩa bảo hộ đối với các nước phát triển ở một số khu vực như nông nghiệp

(Nhật Bản), dệt may (EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản)

 Nhật Bản, Hoa Kỳ vẫn còn dựa vào VERs và rào cản phi thuế quan để bảo hộ vào thời kỳ 1970-1980

 Đối với hầu hết các nước đang phát triển thuế quan còn cao hơn và vẫn còn có ý nghĩa bảo hộ đối với các khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Trang 6

Phân loại công cụ

của chính sách ngoại thương

Trang 7

Phân tích thuế nhập khẩu

 Thuế nhập khẩu có thể đƣợc phân thành 2 loại:

 Thuế đơn vị: Thuế cố định trên mỗi đơn vị hàng hoá

Trang 8

THUẾ NHẬP KHẨU

Trang 9

Phân tích cân bằng từng phần

 Phân tích cung, cầu và giao dịch trong một ngành

 Giả sử có 2 quốc gia: H, F

 Cả hai quốc gia này tiêu dùng và sản xuất một loại

Trang 10

 Đường cung xuất khẩu:

 Lượng hàng hoá mà nước ngoài sẵn sàng cung cấp cho nước nhà ứng với mỗi mức giá

 Giá thế giới cân bằng là gía mà lương cung xuất khẩu nước ngoài bằng với lượng cầu nhập khẩu nước nhà

Trang 12

Đường cung xuất khẩu nước ngoài

Trang 13

Giá và lƣợng giao dịch thế giới

Trang 14

Phân tích cân bằng từng phần

 Khuôn khổ phân tích

 Hai nước lớn trao đổi cho nhau

 Nước lớn là nước có thể ảnh hưởng đến giá thế giới khi có thay đổi khối lượng giao dịch của họ với các nước khác

 Nước nhỏ trao đổi với các nước khác trên thế giới

 Nước nhỏ là nước không thể ảnh hưởng đến giá thế giới bất chất sự thay đổi khối lượng giao dịch của họ với các nước nhác

Trang 15

Phân tích cân bằng từng phần:

Trường hợp nước lớn

 Trước khi đánh thuế nhập khẩu

 Giá gạo trong nước bằng với giá thế giới

 Đối với nước nhà khi có thuế

 Giá gạo trong nước P T tăng

 Nhà sản xuất trong nước cung cấp hàng hoá nhiều hơn và người tiêu dùng trong nước mua hàng hoá ít hơn do gía tăng

 Sự gia tăng giá hàng hoá trong nước ít hơn mức thuế nhập khẩu

 Lượng hàng hoá nhập khẩu giảm

Trang 16

Tác động của thuế nhập khẩu:

Trường hợp nước lớn

Đối với nước ngoài

 Giá hàng hoá xuất khẩu nước ngoài giảm

 Nhà sản xuất cung cấp ít hơn và người tiêu dùng mua hàng hoá nhiều hơn do giá giảm

 Lượng hàng hoá xuất khẩu giảm

 Tóm lại, khối lượng giao dịch ngoại thương giảm

do thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu

Trang 18

Lợi ích và chi phí của thuế nhập khẩu:

Trang 19

Tác động thuế nhập khẩu:

Trường hợp nước nhỏ

 Trước khi đánh thuế nhập khẩu:

 Giá trong nước bằng với giá thế giới

 Khi có thuế

 Giá P T trong nước tăng

 Nhà sản xuất trong nước cung cấp hàng hoá nhiều hơn

và ngưới tiêu dùng mua hàng hoá ít hơn

 Lượng hàng hoá nhập khẩu giảm

Trang 20

Q S0 Q S1 Q D0 Q D1 Q QM 1

P W+t

DM n

Trang 21

 Lợi ích từ tỷ giá ngoại thương có được là do giá hàng hoá của

nước xuất khẩu giảm

Trang 22

Lợi ích và chi phí

của thuế nhập khẩu

 Nếu lợi ích từ tỷ giá ngoại thương lớn hơn tổn

thất hiệu quả, thuế nhập khẩu làm tăng phúc lợi của nước nhà

 Trường hợp nước nhỏ

 Không có lợi ích từ tỷ giá ngoại thương nên thuế nhập khẩu luôn luôn làm giảm phúc lợi của nước nhập khẩu

Trang 23

C

Trang 24

Tác động của thuế nhập khẩu:

Trường hợp nước nhỏ

 Nền kinh tế sản xuất hàng hoá xuất khẩu ít hơn và hàng hoá nhập khẩu nhiều hơn

 Lượng hàng nhập khẩu giảm

 Phúc lợi kinh tế giảm

 Không đạt hiệu quả đầu ra: sản xuất không phải tại

điểm tối đa thu nhập tính theo giá thế giới

 Không đạt hiệu quả trao đổi: tiêu dùng không phải tại điểm tối đa hoá sự thoả mãn

Trang 25

Tác động của thuế nhập khẩu:

Trường hợp nước lớn

 Khi đánh thuế vào hàng hoá nhập khẩu

 Tỷ giá ngoại thương được cải thiện

 Phúc lợi nền kinh tế có thể tăng hoặc giảm

 Phúc lợi tăng khi lợi ích từ sự cải thiện tỷ giá ngoại

thương dư để bù vào những tổn thất hiệu quả

 Phúc lợi giảm khi lợi ích từ sự cải thiện tỷ giá ngoại

thương không đủ để bù vào những tổn thất hiệu quả

Trang 26

Đo lường mức bảo hộ hiệu dụng

 Người ta phải xem xét tác động của thuế nhập

khẩu đối với hàng hoá cuối cùng và các nhập

lượng trung gian khi đo lường mức bảo hộ

 Mức bảo hộ thực sự do thuế nhập khẩu mang lại không bằng với thuế suất danh nghĩa trong trường hợp hàng hóa được bảo hộ sử dụng nhập lượng nhập khẩu

 Mức bảo hộ thực sự của thuế nhập khẩu được đo lường bởi tỷ lệ bảo hộ hiệu dụng (ERP)

 ERP (%) = (VA D –VA W )/VA W

Trang 27

Thí dụ

 Một xe hơi nhập khẩu với giá CIF tại biên giới là 10.000$ Linh kiện CKD nhập khẩu để lắp ráp xe hơi là 6.000$

 Thuế đánh vào xe hơi nhập khẩu là 100% và thuế đánh vào linh kiện nhập khẩu là 50% Tính ERP của ngành lắp ráp xe hơi?

 ERP sẽ thay đổi nhƣ thế nào nếu thuế đánh vào xe hơi nhập khẩu tăng 200%? Nếu thuế đánh vào linh kiện

nhập khẩu tăng 60%?

Trang 28

HẠN NGẠCH NHẬP KHẨU

Trang 30

 Trong một số trường hợp, giấy phép này có thể phát

hành trực tiếp bởi nước xuất khẩu

Trang 31

Tác động của

hạn ngạch nhập khẩu

 Khi có hạn ngạch nhập khẩu

 Giá thị trường trong nước (P T ) tăng

 Nhà sản xuất trong nước cung cấp hàng hoá nhiều hơn

và người tiêu dùng mua hàng hoá ít hơn

 Nhà sản xuất trong ngành được bảo hộ và những người nắm giữ hạn ngạch sẽ có lợi, người tiêu dùng bị tổn

thất

 Xét về mặt chi phí, nền kinh tế phải chịu một khoản chi phí từ hạn ngạch (tổn thất hiệu quả)

Trang 32

Sự không tương đương giữa thuế nhập

khẩu và hạn ngạch nhập khẩu

 Giữa thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu có

sự không tương đương

 Trong phân tích động

 Trong thị trường độc quyền

 Xem xét về đặc lợi kinh tế

Trang 33

Khi giá thế giới tăng

 Thuế nhập khẩu

 Giá trong nước tăng

 Lượng nhập khẩu giảm

 Hạn ngạch nhập khẩu

 Giá trong nước không đổi

 Lương nhập khẩu không đổi

Trang 35

Trục lợi kinh tế

 Thuế nhập khẩu

 Chính phủ nhận được thuế

 Thuế được phân phối lại

thông qua chương trình chi

tiêu công hoặc chuyển giao

 Hạn ngạch nhập khẩu

 Chính phủ không nhận được thuế

 Đặc lợi kinh té thuộc về những người giữ hạn ngạch

Ngày đăng: 24/08/2017, 09:03

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w