Trong những năm gần đây, diện tích trồng rau, quả của nước ta đã tăng lên nhanh chóng. Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khu vực Đồng bằng Sông Hồng trở thành vùng sản xuất rau lớn nhất nước, còn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất quả chủ yếu của cả nước. Tuy nhiên, ngành sản xuất rau, quả mới chỉ nhắm đến phục vụ thị trường trong nước.
Trang 1TỔNG QUAN VỀ NGÀNH RAU QUẢ VIỆT NAM
Trong những năm gần đây, diện tích trồng rau, quả của nước ta đã tăng lên nhanh chóng Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khu vực Đồng bằng Sông Hồng trở thành vùng sản xuất rau lớn nhất nước, còn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất quả chủ yếu của cả nước Tuy nhiên, ngành sản xuất rau, quả mới chỉ nhắm đến phục vụ thị trường trong nước.
Phần I: NGÀNH RAU QUẢ
I Xu hướng phát triển sản xuất rau quả Việt Nam
Trong thời gian qua, nhất là kể từ đầu thập kỷ 90, diện tích rau, hoa, quả của Việt Nam phát triển nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao Tính đến năm 2004, tổng diện tích trồng rau, đậu trên cả nước đạt trên 600 nghìn ha, gấp hơn 3 lần so với năm 1991.Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng 29% sản lượng rau toàn quốc Điều này là do đất đai ở vùng ĐBSH tốt hơn, khí hậu mát hơn và gần thị trường Hà Nội ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ 2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng rau của cả nước Đà Lạt, thuộc Tây Nguyên, cũng là vùng chuyên canh sản xuất rau cho xuất khẩu và cho nhu cầu tiêu thụ thành thị, nhất là thị trường thành phố Hồ Chí Minh và cho cả thị trường xuất khẩu
Cũng trong giai đoạn từ đầu thập kỷ 90, tổng sản lượng rau đậu các loại đã tăng tương đối ổn định từ 3,2 triệu tấn năm 1991 lên đạt xấp xỉ 8,9 triệu tấn năm 2004
Bên cạnh rau, diện tích cây ăn quả cũng tăng nhanh trong thời gian gần đây Tính đến năm
2004, diện tích cây ăn quả đạt trên 550 ngàn ha Trong đó, Đồng Bằng sông Cửu long (ĐBSCL) là vùng cây ăn quả quan trọng nhất của Việt Nam chiếm trên 30% diện tích cây ăn quả của cả nước
Trang 2Nhờ có nhu cầu ngày càng tăng này nên diện tích cây ăn quả trong thời gian qua tăng mạnh Trong các loại cây ăn quả, một số cây nhiệt đới đặc trưng như vải, nhãn, và chôm chôm tăng diện tích lớn nhất vì ngoài thị trường trong nước còn xuất khẩu tươi và khô sang Trung Quốc Năm 1993, diện tích của các loại cây này chưa thể hiện trong số liệu thống kê Từ năm 1994, diện tích trồng 3 loại cây này tăng gấp 4 lần, với mức tăng trường bình quân 37%/năm, chiếm 26% diện tích cây ăn quả cả nước Diện tích cây có múi và xoài cũng tăng mạnh bình quân 18% và 11%/năm Chuối tuy
là cây trồng quan trọng chiếm 19% diện tích cây ăn quả cả nước nhưng chưa trở thành sản phẩm hàng hoá qui mô lớn Diện tích dứa giảm trong thập niên 1990, nhất là từ khi Việt Nam mất thị trường xuất khẩu Liên Xô và Đông Âu
Nhìn chung sản xuất cây ăn quả mới nhắm vào phục vụ thị trường trong nước, một thị trường dễ tính, đang tăng nhanh nhưng sẽ bị cạnh tranh mạnh trong tương lai Triển vọng của ngành sản xuất này là rất lớn với điều kiện đầu tư thích đáng và đồng bộ từ nghiên cứu, tổ chức sản xuất giống, chế biến, đóng gói, vận chuyển, tiêu chuẩn cất lượng, nhãn hiệu, tiếp thị, những lĩnh vực Việt Nam còn rất yếu kém Hiện nay, xu hướng phát triển sản xuất hàng hoá ngày càng tăng Tuy nhiên mức độ thương mại hoá khác nhau giữa các vùng ĐBSCL là vùng có tỷ suất hàng hoá quả cao nhất với gần 70% sản lượng được bán ra trên thị trường Tiếp theo là Đông nam Bộ và Nam Trung Bộ với tương ứng là 60% và 58% Các vùng còn lại tỷ suất hàng hoá đạt từ 30-40% Mức độ thương mại hoá cao ở Miền Nam cho thấy xu hướng tập trung chuyên canh với quy mô lớn hơn so với các vùng khác trong cả nước Sản xuất nhỏ lẻ, vườn tạp vẫn còn tồn tại nhiều, đây chính là hạn chế của quá trình thương mại hoá, phát triển vùng chuyên canh có chất lượng cao
Trang 3Sự khác nhau không chỉ thể hiện rõ giữa các vùng mà còn giữa các nhóm thu nhập Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân giàu bán nhiều sản phẩm hơn nông dân nghèo vì có quy mô sản xuất lớn hơn và khả năng tiếp cận thị trường dễ dàng hơn so với nông dân nghèo Những người sản xuất giàu nhất bán 83% trong năm 2002 so với 76% những hộ ở nhóm nghèo
II TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC:
Thành phần tiêu thụ rau quả cũng thay đổi theo vùng Đậu, su hào và cải bắp là những loại rau được tiêu thụ rộng rãi hơn ở miền Bắc; trong khi cam, chuối, xoài và quả khác lại được tiêu thụ phổ biến hơn ở miền Nam Sự tương phản theo vùng rõ nét nhất có thể thấy với trường hợp su hào với trên 90% số hộ nông thôn ở miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng tiêu thụ, nhưng dưới 15% số hộ ở miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long tiêu thụ ở các khu vực thành thị, tỷ
lệ hộ tiêu thụ đối với tất cả các sản phẩm đều cao
Hiện nay có một số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau quả của Việt Nam trong thời gian qua Các nghiên cứu cho thấy rau và quả là hai sản phẩm khá phổ biến trong các hộ gia đình Theo nghiên cứu của IFPRI (2002), ICARD (2004), hầu hết các hộ đều tiêu thụ rau trong năm trước
đó, và 93% hộ tiêu thụ quả Các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95% số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%) Hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau quả cho mỗi người mỗi năm Trong đó tiêu thụ rau chiếm tới 3/4
Theo tính toán của IFPRI, tiêu thụ ở các khu vực thành thị có xu hướng tăng mạnh hơn nhiều so với các vùng nông thôn
Trang 4Khi thu nhập cao hơn, thì các hộ cũng tiêu thụ nhiều rau quả hơn Tiêu thụ rau quả theo đầu người giữa của các hộ giàu nhất gấp 5 lần các hộ nghèo nhất, từ 26 kg đến 134 kg Sự chênh lệch này đối với quả là 14 lần, với rau là 4 lần Kết quả là, phần quả tăng từ 12% đến 32% trong tổng số tăng Nhu cầu về cam, chuối và xoài tăng mạnh khi thu nhập tăng, nhưng su hào thì tăng chậm hơn rất nhiều
III TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU VÀ GIÁ ĐỐI VỚI CẦU RAU QUẢ
Kết quả phân tích về cầu cho thấy rau và quả có những kiểu tiêu thụ khác nhau Độ co giãn theo thu nhập của rau là 0,54; trong khi của quả là 1,09 Điều này có nghĩa là khi thu nhập của hộ tăng, thì tỷ trọng chi cho rau giảm và cho quả tăng cao hơn so với mức tăng chi tiêu
Độ co giãn theo thu nhập đối với từng loại rau quả riêng Cam và xoài có tính co giãn theo nhu nhập cao nhất (cam 1,45 và xoài 1,38) Điều này cho thấy là khi thu nhập của các hộ gia đình Việt Nam tăng, thì phần chi dành cho các sản phẩm này cũng tăng Hay nói cách khác, nhu cầu đối với các mặt hàng này của người dân Việt Nam sẽ tăng nhanh hơn so với chi tiêu bình quân đầu người
Trang 5Nghiên cứu hệ số co giãn của cầu đối với giá một số loại rau quả chính như cam chuối, xoài, nước quả cho thấy, dù không co giãn nhiều nhưng biến động của cầu khá tương đương khi giá thay đổi Hơn nữa, cầu của cam, xoài và nước quả có xu hướng tăng nhanh hơn khi giá giảm
IV XUẤT KHẨU
Những năm vừa qua, thị trường rau quả có xu hướng phát triển nhanh Xu hướng hội nhập cũng tạo điều kiện mở rộng thị trường và là điều kiện tốt cho sản xuất phát triển
Trang 6Mục tiêu dài hạn là xuất khẩu sang các nước vùng Bắc Mỹ- Canađa và Hoa Kỳ cũng như khu vực Trung Âu Hoa tươi xuất khẩu của các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng khó có thể thâm nhập vào thị trường khu vực Bắc Mỹ hoặc Trung Âu vì các thị trường này đã có truyền thống nhập khẩu hoa tươi từ các khu vực khác như vùng Nam Mỹ và Trung Mỹ, các nước Nam Âu, Israel và Châu Phi Những thị trường này cũng khá xa về khoảng cách địa lý nên chi phí vận chuyển sẽ không phải là lợi thế Các yếu tố liên quan đến việc đạt được những mục tiêu trung hạn này chỉ có thể là giá cả và các dịch vụ khách hàng
Đối với xuất khẩu hoa, mục tiêu ngắn hạn là phát triển sang các nước châu Á - Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore Những thuận lợi khi bán hàng cho những nước này chính là vị trí địa lý gần, các yêu cầu vận chuyển và chi phí cho việc bảo quản sau khi thu hoạch thấp và sự liên hệ
để tìm khách hàng thường có thể dựa vào các mối quan hệ kinh doanh hiện tại
Trang 7Dự kiến đến năm 2015 vùng hoa TP Hồ Chí Minh có 1500 ha, diện tích tập trung chính ở các huyện Củ Chi, Thủ Đức; diện tích hoa được trồng theo quy trình công nghệ cao chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 60 –70% diện tích)
- Vùng ĐNB
Dự kiến đến năm 2015 vùng hoa Lâm Đồng 3000 ha, diện tích tập trung chính ở TP Đà Lạt (chiếm 1/3 diện tích toàn tỉnh); chủ yếu hoa ôn đới được trồng theo quy trình công nghệ cao
- Vùng TN
Dự kiến đến năm 2015 vùng hoa hàng hoá tập trung ở TDMNBB có khoảng 500ha, tập trung chính ở Lào Cai, Hà Giang, Sơn La
- Vùng TDMNBB
Dự kiến đến năm 2015 TP Hà Nội có 3000 ha, diện tích tập trung chính ở huyện Từ Liêm (Tây Tựu), Đông Anh, Quận Tây Hồ
- Vùng ĐBSH
Sản xuất hoa
Có thể bắt đầu từ các loại hoa mà người dân ở các khu vực này có kinh nghiệm trồng nhưng
là giống do các nhà cung ứng giống của nước ngoài cung cấp- đã có bản quyền về sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng
Xuất khẩu hoa tươi đòi hỏi phải có những điều kiện chặt chẽ từ giống, giao trồng, chăm sóc… đến thu hoạch, công nghệ bảo quản, đóng gói, vận chuyển, an toàn thực phẩm và thâm nhập vào các kênh phân phối của thị trường nhập khẩu Trong điều kiện hiện nay, ít có doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng được các yêu cầu này Vì vậy, trước mắt cần tập trung phát triển một số loại hoa Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu và tương đối dễ đáp ứng yêu cầu của đối tác nước ngoài
II/ Phương hướng phát triển sản xuất và xuất khẩu hoa tươi thời kỳ đến 2015
- Về ứng dụng công nghệ cao: đã được cải thiện đáng kể, như thay đổi cơ cấu giống, nuôi cấy mô,
kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật tiên tiến; áp dụng công nghệ nhà lưới có mái che sáng Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra không đồng đều giữa các vùng sản xuất vì nhiều lý do (khí hậu thời tiết, trình độ thâm canh, khả năng đầu tư, khả năng tiếp cận kỹ thuật tiến bộ và thị trường…) Đà Lạt
có thể coi là địa bàn có tiến bộ nhanh nhất trong cả nước về phát triển sản xuất hoa cắt cành
- Kỹ thuật trồng hoa ở nhiều nơi vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phương pháp nhân giống cổ truyền như gieo từ hạt, trồng từ củ, mầm, nhánh Các phương pháp này dễ trồng, giá thành cây giống thấp nhưng chất lượng giống không cao, dễ bị thoái hóa, làm giảm chất lượng hoa vì vậy tuy chủng loại hoa của Việt Nam khá phong phú nhưng thiếu giống hoa đẹp, chất lượng cao
- Về quy mô và tổ chức sản xuất: Hầu hết những cơ sở sản xuất hoa cắt cành ở nước ta còn ở quy
mô nông hộ nhỏ, tổ chức sản xuất đơn lẻ, với diện tích trung bình từ 2.000 đến 3.000 m2 /hộ Hộ sản xuất hoa lớn cũng chỉ từ 1 đến 2 ha Ở quy mô sản xuất này không thể áp dụng những kỹ thuật tiến
bộ như nhà kính, nhà lưới, sân bãi, mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo quản vận chuyển lạnh,…để đưa ngành sản xuất hoa trở thành sản xuất công nghiệp Từng hộ nông dân sản xuất cá lẻ, thiếu hợp tác là trở ngại lớn cho việc tạo nguồn hàng hóa lớn và đa dạng với chất lượng cao, đồng nhất Trên thực tế, đã có nhiều hợp đồng xuất khẩu không thể thực hiện được do không thể tổ chức cung cấp sản phẩm theo yêu cầu, trong khi tiềm năng sản xuất là rất lớn
Trang 8- Nhìn chung sản xuất hoa ở nước ta bị hạn chế rất lớn về thời vụ do điều kiện khí hậu không thích hợp: ở phía Bắc, hầu hết các loại hoa có chất lượng cao chỉ có thể sản xuất được với chất lượng khá trong vụ Đông Xuân; còn ở các tỉnh phía Nam khí hậu lại càng ít thuận lợi hơn (trừ một
số vùng đặc thù)
4 Một số hạn chế trong sản xuất hoa hiện nay
- Đà Lạt là vùng sản xuất hoa nổi tiếng và là vùng có tiềm năng lớn nhất về sản xuất hoa của cả nước Hiện nay công ty TNHH Đà Lạt - Hasfarm 100% vốn nước ngoài đang áp dụng công nghệ sản xuất hoa tiên tiến với qui mô diện tích 15 ha sản xuất trong nhà kính và 2 ha nhà thép; có hệ thống
tự động điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, hệ thống tưới nhỏ giọt bằng nguồn nước sạch hòa tan với phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Các chủng loại hoa Công ty Đà Lạt - Hasfarm đang sản xuất bao gồm hoa hồng, cúc, cẩm chướng, ly ly, đồng tiền và lá hoa trang trí Sản lượng hoa xuất khẩu sang các nước Hồng Kông, Nhật, Đài Loan, Singapore chiếm 55%, phần còn lại dành cho tiêu thụ nội địa
Quy trình sản xuất được thực hiện khép kín từ gieo trồng đến thu hoạch, kể cả công nghệ sau thu hoạch như xử lý dung dịch giữ hoa, đóng gói, bảo quản và vận chuyển trong ngày để gửi đến nơi tiêu thụ
Hiện nay, sản xuất hoa ở nước ta được thực hiện bởi 2 đối tượng chính: nông dân sản xuất tự phát theo xu hướng nhu cầu thị trường trong nước và bởi các doanh nghiệp tư nhân trong nước, liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài sản xuất hoa chủ yếu cho xuất khẩu Hoa tiêu thụ trong nước chủng loại đa dạng và cung cấp ra thị trường theo mùa vụ, chất lượng từ thấp đến cao, giá cả vừa phải, hiệu quả kinh tế không cao, sản xuất nhỏ lẻ và thiếu ổn định Các doanh nghiệp sản xuất hoa xuất khẩu lượng hoa nhiều hơn mang tính hàng hoá, chất lượng hoa cao hơn và được sản xuất trong điều kiện kỹ thuật cao, sản phẩm được tiêu thụ theo hợp đồng Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu được các sản phẩm hoa cắt cành như hồng, phong lan, cúc, đồng tiền, cẩm chướng, ly ly, sao tím sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật bản, Singapore Australia, Ảrập; vạn niên thanh, mai chiếu thủy, mai cảnh sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản Tuy nhiên, số lượng xuất khẩu không nhiều, với doanh thu hơn 10 triệu USD/năm Sở dĩ, sản phẩm hoa, cây cảnh của Việt Nam khó thâm nhập thị trường thế giới là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế Trong khi đó, tiêu thụ trong nước lại có xu hướng chạy theo mùa vụ (rằm, lễ, Tết, các ngày kỷ niệm) là chính
3 Thực trạng tiêu thụ sản phẩm hoa
Theo kết quả điều tra, diện tích trồng hoa toàn vùng có 135,7 ha, sản lượng đạt 44,08 triệu bông; hoa hồng có diện tích (75,0 ha, chiếm 55,27%) và sản lượng lớn nhất (26,53 triệu bông); tỉnh Lào Cai có diện tích hoa lớn nhất 95,7 ha, chiếm 70,5% tổng diện tích hoa toàn vùng
Vùng hoa Trung du và Miền núi Bắc Bộ
Ngoài ra Đà Lạt còn sản xuất một số chủng loại hoa khác như layơn (Gladious communis), huệ tây (Lilium longiphorum), gerbera, ngàn sao, chổi cúc, salem, huệ trắng Tiềm năng về hoa ở Đà Lạt đang được chú ý phát triển nhưng nhìn chung vẫn là phát triển tự phát, chưa có cơ quan nào đứng ra kiểm nghiệm, công bố giống mới để đưa ra cho dân Việc nhân giống bằng phương pháp cấy mô tế bào đang trở nên thịnh hành nhưng không ai kiểm soát, đánh giá được chất lượng của giống nên có thể nhân ra cả giống đang có mầm bệnh
+ Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus): Gồm 14 loại, có nhiều màu Hoa nhỏ, cành thấp 30
- 40 cm Hoa đơn, cành cao 70 - 80 cm
Trang 9+ Hoa hồng (Rosa sp): Có trên 15 loại có nguồn gốc từ Italia, Hà Lan Hoa hồng Đà Lạt to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng kháng bệnh trung bình đến cao Nhược điểm hay bị biến dạng khi nhiệt độ khá cao, hoặc kháng mốc sương kém
+ Hoa cúc (Chrysanthemum sp): có trên 40 loại, nguồn gốc Indonesia, gồm 3 nhóm: cúc đại hóa màu vàng anh, trắng, tím; các giống nhỏ và cúc nhóm tia có muỗng
Các loại hoa được trồng tại Đà Lạt hiện nay rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều chủng loại khác nhau:
Chủng loại hoa:
Đà Lạt cũng đã lập ra Hiệp hội hoa, lan cây cảnh nhưng hầu như về cơ bản vẫn chưa giúp tháo gỡ được các khó khăn về giống, ngăn chặn bệnh dịch, vẫn chưa liên kết được để xây dựng một thương hiệu đủ tầm Chỉ riêng với địa lan, từ 2 năm nay Đà Lạt đã bị mất đi hàng ngàn chậu do căn bệnh thối rễ hiện chưa có thuốc đặc trị
Với điều kiện khí hậu, đất đai thích hợp để phát triển các loại hoa có thu nhập cao, Ngành trồng hoa là ngành kinh tế có nhiều tiềm năng của thành phố Đà Lạt Lâm Đồng được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước, với khả năng sản xuất hầu như quanh năm Diện tích trồng hoa của Lâm Đồng năm 2005 đạt 2027 ha, chủ yếu tập trung tại TP Đà Lạt, các xã Hiệp Thành, Hiệp An Sản lượng hoa khoảng 640 triệu cành, nghề trồng hoa ở Đà Lạt đang có xu hướng phát triển mạnh cùng với việc áp dụng những công nghệ mới
Tại các tỉnh tỉnh phía Nam, tập trung nhiều tại TP HCM với diện tích hoa cây cảnh hiện có 700
ha, tập trung ở 8 quận huyện như quận 12 (110 ha), Thủ Đức (87 ha)…, nhiều nhất là Củ Chi (131 ha) với khoảng 1.400 hộ sản xuất, hoa, cây cảnh đang được đề nghị đưa vào chương trình 3 cây trồng chủ lực của thành phố (cây dứa cayen, cây rau an toàn, hoa - cây cảnh) Các giống hoa cao cấp như lili, hồng môn, layơn giống mới, hoa đồng tiền giống mới, thiên điểu, tulíp đang được ưa chuộng
Các tỉnh phía Nam
Hà Nội được đánh giá là vùng hoa lớn nhất tại huyện Từ Liêm với diện tích 500 ha thì xã Tây Tựu có 330 ha (chiếm 66% diện tích trồng hoa toàn huyện, chiếm 84,6% diện tích canh tác toàn xã), chủ yếu trồng hoa cúc, hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa ly, hoa loa kèn… Ngoài ra, một số huyện ngoại thành khác và một số tỉnh khác như Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Tây, Thái Bình…
Các tỉnh phía Bắc
2) Các vùng miền trồng tập trung một số loại hoa cây cảnh
Các tỉnh phía Nam, điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có các huyện Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức cùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp là nguồn cung cấp hoa và cây cảnh đáng kể Tuy nhiên, các địa bàn này chỉ sản xuất chủ yếu một số loại hoa nhiệt đới (cúc móng rồng, cúc đại đoá, huệ, mai…) Lượng hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cẩm chướng,layơn,đồng tiền)sản xuất còn rất hạn chế và chất lượng chưa thật cao
Hiện nay diện tích hoa cây cảnh cả nước có 15000 ha, tăng 7% so với 2004 Sản xuất hoa đang cho thu nhập cao bình quân đạt khoảng 70 - 130 triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong
cả nước đang mở rộng diện tích hoa trên những vùng đất có tiềm năng Một số tỉnh Duyên hải miền Trung cũng bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hướng hàng hoá, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, với chủng loại tương đối hạn chế
1) Diện tích, sản lượng:
I/ Thực trạng ngành hoa của Việt Nam
Trang 10Thị trường trong nước rộng lớn và phong phú, bên cạnh đó tiềm năng xuất khẩu cũng đầy hứa hẹn, hoa và cây cảnh Việt Nam nếu được tổ chức tốt từ khâu sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ sẽ tạo tiềm lực kinh tế lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Đời sống tinh thần ngày càng được coi trọng hơn, sản phẩm hoa và cây cảnh cũng có vai trò quan trọng trong cuộc sống khi thu nhập và nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngày càng cao
Với khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi để có thể trồng được nhiều loại hao và cây cảnh, hiện Việt Nam đang sở hữu một nguồn tài nguyên hoa rất đa dạng, từ các loại hoa xứ nhiệt đới được trồng ở các vùng đồng bằng đến hoa xứ lạnh trồng trên các cao nguyên như Lâm Đồng, Pleiku và vùng núi như Sapa, Hoàng Liên Sơn Sự phát triển của ngành hoa Việt Nam trong thời gian qua đã mang lại cho các sản phẩm hoa của Việt Nam sự đa dạng và chất lượng vượt bậc so với thời gian trước
Phần II: Ngành hoa Việt Nam
- Thứ hai, do tác động của Hiệp định buôn bán rau quả của Trung Quốc và Thái Lan Việc ký kết Hiệp định thương mại Rau quả với Thái Lan giúp Trung Quốc có nguồn hàng ổn định hơn, ưu dãi hơn và có chất lượng tốt hơn
- Thứ nhất, xuất khẩu rau quả giảm do kể từ khi Trung Quốc ra nhập WTO, Trung Quốc có những quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ngặt nghèo hơn Các sản phẩm Việt Nam chưa đáp ứng được tiêu chuẩn và yêu của các nhà nhập khẩu
Có ý kiến khác nhau giải thích việc xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giảm xuống Trong đó có hai quan điểm chính đáng chú ý:
Trong những năm qua, Trung Quốc luôn là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam Tuy nhiên gần đây, việc xuất khẩu sang Trung Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn, kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh nhất là từ năm 2000 Mặc dù những năm gần đây, xuất khẩu sang các nước khác được đẩy mạnh nhưng do xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh làm kim ngạch xuất khẩu chung giảm xuống Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc giảm từ 140 triệu USD năm 2001 xuống chỉ còn 25 triệu USD năm 2004
Hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm rau quả đi trên 50 nước Các mặt hàng xuất khẩu chính như xoài, dứa, chuối, nhãn vải, thanh long, măng cụt và các loại nước quả Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc Gần đây chúng ta mở rộng sang một số nước Châu âu như Đức, Nga, Hà Lan và nhất là Mỹ Xuất khẩu nông sản nói chung và rau quả nói riêng sang Mỹ đã tăng lên mạnh mẽ khi hiệp định thương mại Việt Mỹ được
ký kết Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang Mỹ chiếm gần 10% tổng kim ngạch
Trước năm 1991, rau quả của Việt Nam chủ yếu là ở Liên Xô cũ và thị trường các nước XHCN (chiếm 98% sản lượng xuất khẩu) thị trường này nhỏ bé và không phát triển Năm 1995 xuất khẩu rau quả Việt Nam mới chỉ đạt con số 56,1 triệu USD nhưng đến năm 2001 đã đạt mức kỷ lục với giá trị 330 triệu USD, tăng gấp gần 6 lần năm 1995 và 2,2 lần năm 2000, chiếm 2,2% trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam năm 2001 Tuy nhiên, từ năm 2002 đến nay kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam giảm đáng kể, năm 2002 giá trị xuất khẩu rau quả chỉ đạt 200 triệu USD, giảm 39,4%
so với năm 2001 và năm 2003 đạt 152 triệu USD, giảm 24,4% so với năm 2002
http://www.rauhoaquavietnam.vn