Trường chính trị tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức chuyến đi thực tế đến Thành phố Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng cho lớp Trung cấp lý luận chính trị hành chính khoá 21 từ ngày 13 tháng 6 đến ngày 15 tháng 6 năm 2017. Với mục tiêu giúp các học viên có điều kiện tiếp xúc với thực tế về tất cả các mặt công tác ở địa phương, mà cụ thể là nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lâm Đồng nói chung và của thành phố Đà Lạt nói riêng, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân mỗi học viên, kinh nghiệm để phục vụ công tác của bản thân tại địa phương, đơn vị của mình.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2 NỘI DUNG 2
I / NHỮNG KIẾN THỨC THU NHẬN ĐƯỢC QUA ĐỢT NGHIÊN CỨU THỰC TẾ 2
1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng 2
1.1 Điều kiện tự nhiên 2
1.2 Tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Lâm Đồng 4
2 Tìm hiểu mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 5
3 Thực trạng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh Lâm Đồng 7
II/ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO Ở TỈNH NINH THUẬN 10
1 Một số căn cứ pháp lý đề xuất giải pháp 10
2 Giải pháp phát triển mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh Ninh Thuận 10
PHẦN 3: KẾT LUẬN 12 PHỤ LỤC
Trang 2PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ chí Minh từng xác định học để hiểu biết, để làm việc, học
để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, học để làm người Muốn vậy phải có thói quen đem lý luận liên hệ với thực tiễn Với tinh thần đó, chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn chú trọng đến tính thực tế, bất cứ việc gì cũng phải xuất phát từ yêu
cầu thực tế, phải thiết thực Muốn đạt được kết quả đó thì việc học phải xuất phát từ yêu cầu của công việc và phải học cặn kẽ, thấu đáo Người mong muốn việc học - hành, tức là nhận thức - hành động phải đạt tới chỗ thấy cho hết, nhìn cho thấu Vì vậy, theo Người học tập ở trong nhà trường, trong sách vở chưa đủ,
phải học cả trong cuộc sống, học ở người khác…
Ở một phạm vi hẹp mà cụ thể là trong quá trình học tập tại trường chính trị mỗi học viên khi tham gia học tập sẽ được tiếp thu được những kiến thức lý luận khoa học, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, kiến thức lịch sử và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
kỹ năng lãnh đạo quản lý, các nghiệp vụ khác…, là hệ thống tri thức đã được tổng kết từ kinh nghiệm thực tế trong từng ngành, từng lĩnh vực và được thể hiện trong nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cấp cơ sở v.v , những kiến thức mà học viên tiếp thu được là những lý luận khoa học Có lý luận, nếu mỗi học viên trong quá trình học tập được tham gia nghiên cứu, được tiếp xúc trực tiếp với những vấn đề thực tế diễn ra ở cơ sở, sẽ giúp họ hoàn thiện tri thức của bản thân Vì vậy nghiên cứu thực tế là một nội dung rất quan trọng
và không thể thiếu trong quá trình giáo dục của nhà trường
Xuất phát từ nhu cầu đó, sau khi đã hoàn thành các học phần lý luận theo quy định Trường chính trị tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức chuyến đi thực tế đến Thành phố Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng cho lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính khoá 21 từ ngày 13 tháng 6 đến ngày 15 tháng 6 năm 2017 Với mục tiêu giúp các học viên có điều kiện tiếp xúc với thực tế về tất cả các mặt công tác ở địa phương, mà cụ thể là nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng nói chung và của thành phố Đà Lạt nói riêng, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân mỗi học viên, kinh nghiệm để phục vụ công tác của bản thân tại địa phương, đơn vị của mình
Để chuẩn bị cho chuyến thực tế này đoàn đi có 36 đồng chí, gồm 02 cán
bộ và 34 học viên, Trưởng đoàn là thầy Th.S Phan Văn Liên – Hiệu trưởng Trong 03 ngày nghiên cứu thực tế tại thành phố Đà Lạt (từ ngày 13/6/2017 đến ngày 15/6/2017) tuy không dài nhưng đã mang lại thật nhiều điều bổ ích về những ấn tượng khó phai, về những kết quả mà thành phố Đà Lạt nói riêng và
Trang 3tỉnh Lâm Đông nói chung đã và đang làm được: đó sự phát triển kinh tế - xã hội dựa trên những mô hình phát triển du lịch, thương mại-dịch vụ; mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao,… đến sự thân thiện từ môi trường sống lẫn con người ở miền đất Nam Tây Nguyên Tất cả đã tạo nên một thành phố Đà Lạt rất riêng và một tỉnh Lâm Đồng ngày càng phát triển
Là một giáo viên và là người con của tỉnh Ninh Thuận, trong chuyến đi nghiên cứu thục tế này tôi thực sự tâm đắc với Mô hình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của thành phố Đà Lạt - Lâm đồng Đây là mô hình cho hiệu quả kinh tế rất cao và nhất là nó có thể áp dụng hiệu quả ở nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có tỉnh Ninh Thuận Bằng vốn kiến thức về lý luận đã được học tập tại trường, cùng với kiến thức tiếp thu được trong đợt nghiên cứu lần này tôi hi vọng có thể đóng góp những ý kiến, đề xuất có chất lượng để phát triển Mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Ninh Thuận, nhằm góp phần cải hiện đời sống – kinh tế cho người dân và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Thuận
PHẦN 2: NỘI DUNG
I NHỮNG KIẾN THỨC THU NHẬN ĐƯỢC QUA ĐỢT NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng
1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Lâm Đồng là tỉnh miền núi thuộc Nam Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 9.783,34 km2;
Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai
Phía nam – đông nam giáp tỉnh Bình Thuận Phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc
Địa hình
Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam
Trang 4+ Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1.300m đến hơn 2.000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m)
+ Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m) + Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán bình nguyên
Thổ nhưỡng
Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm 8 nhóm đất và 45 đơn vị đất: Nhóm đất phù sa (fluvisols);Nhóm đất glây (gleysols); Nhóm đất mới biến đổi (cambisols); Nhóm đất đen (luvisols); Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols); Nhóm đất xám (acrisols); Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols); Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols)
Đất có độ dốc dưới 250 chiếm trên 50%, đất dốc trên 25o chiếm gần 50% Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất trồng đồi trọc (khoảng 40%)
Khí hậu
Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 250C, thời tiết ôn hòa
và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm
Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1.890 – 2.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới Đặc biệt Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân
Thủy văn
Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng
Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn
Trang 5- Các sông lớn của tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai Trong đó 3 sông chính ở Lâm Đồng là: Sông Đa Dâng (Đạ Đờng); sông La Ngà và sông Đa Nhim
Dân tộc, dân cư
Dân số toàn tỉnh là trên 1.289.326 người với 43 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 24,1% (riêng dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên chiếm khoảng 17%)
1.2 Tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Lâm Đồng
Về du lịch - dịch vụ:
Thu hút khách du lịch năm 2016 là 5,4 triệu lượt khách (trong đó, khách lưu trú đạt 3,6 triệu lượt; khách quốc tế đạt khoảng 275.000 lượt) bằng 100%
KH, tăng 5,9%; Có 1041 cơ sở lưu trú/16.613 phòng (348 KS có sao/9.360 phòng); 48 đơn vị lữ hành; Doanh thu xã hội từ du lịch khoảng 7380 tỷ ,có 33 khu điểm du lịch, 60 điểm tham quan miễn phí
Về nông nghiệp
Sản sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, tổng diện tích gieo trồng và sản lượng nông sản tăng so với cùng kỳ triển khai thực hiện tốt chương trình tái định cư cây cà phê: đến nay tổng diện tích đã thực hiện đạt trên 35 ngàn ha; năng suất cà phê trung bình toàn tỉnh đạt 29,6 tạ/ha tăng 4,7 % so với cùng kỳ Chương trình nông nghiệp công nghiệp cao tiếp tục phát triển, diện tích, năng suất, chất lượng được tăng lên đáng kể nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao được nhân rộng Tổng diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đạt 49,089 hécta, tăng 6.005 ha so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở diện tích rau, hoa; năng suất cây trồng ứng dụng công nghệ cao tăng từ 30% đến 50% so với bình quân chung, chất lượng nông sản được nâng lên, lợi nhuận đạt trên 40 % doanh thu
Về công nghiệp:
Ngành Công nghiệp Lâm Đồng phát triển bởi, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, phân bón và sản xuất phân phối điện, khí đốt Để phát triển công nghiệp hiện đại tỉnh Lâm đồng tập trung kêu gọi đầu tư vào 3 khu công nghiệp gồm: khu công nghiệp Lộc Sơn 183 ha, khu công nghiệp Phú hội 109ha, khu Công nghiệp Nông nghiệp Tân Phú 323 ha và 6 cụm công nghiệp với quy mô
238 ha
Văn hóa lễ hội:
Trang 6Đà lạt được Chính phủ công nhận thành phố Festival hoa và được tổ chức hai năm một lần, ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các lễ hội như lễ hội chè và lễ hội văn hóa các dân tộc
Giáo dục và đào tạo
Lâm Đồng có 2 trường đại học, 6 trường cao đẳng, 5 trường trung cấp chuyên nghiệp và trên 50 cơ sở đào tạo nghề, 3 viện nghiên cứu hóa học: viện nghiên cứu sinh học, viện Pasteur và viện nghiên cứu hạt nhân
Kết quả thu hút đầu tư năm 2016:
+ Đầu tư trong nước: : 101 dự án, vốn đăng ký: 478,6 triệu USD ( đang hđ
86 DA=312,3 tr USD) – Danh nghiệp tăng quy mô và tổng mức đầu tư
+ Đầu tư nước ngoài tại Lâm Đồng: 756 dự án, vốn đăng ký: 108.477 tỷ, diện tích đất SD 74.012 ha ( đang hđ 219 DA=36.176 tỷ…)
2 Tìm hiểu mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Khái niệm về mô hình nông nghiệp úng dụng công nghệ cao
Theo Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
“Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những
công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích
và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”
Như vậy, mục tiêu cuối cùng của phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất nông nghiệp thấp, sản phẩm chất lượng thấp, đầu tư công lao động nhiều, hiệu quả kinh tế thấp với việc áp dụng những thành tư khoa học công nghệ để đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng
ổn định với năng suất và sản lượng cao, hiệu quả vả chất lượng cao Thực hiện tốt nhất sự phối hợp giữa con người và tài nguyên, làm cho ưu thế của nguồn tài nguyên đạt hiệu quả lớn nhất, hài hòa và thống nhất lợi ích xã hội, kinh tế và sinh thái môi trường
Những thế mạnh của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
- Nông nghiệp công nghệ cao tạo ra một lượng sản phẩm lớn, năng suất cao, chất lượng tốt và đặc biệt là thân thiện với môi trường.
Các bài học kinh nghiệm của Israel cho thấy khi áp dụng công nghệ cao thì mỗi ha trồng cà chua cho ra 250 – 300 tấn/ năm , trong khi với cách sản xuất
Trang 7truyền thống của nước ta thì năng suất chỉ đạt khoảng 20 – 30 tấn/ha/năm Cũng như vậy, một ha trồng hoa hồng ở nước ta chỉ cho khoảng 1 triệu cành với doanh thu từ 50 – 70 triệu đồng/ha/năm thì ở Israel con số tương ứng là 15 triệu cành chất lượng đồng đều và hiển nhiên doanh thu cũng cao hơn Không những vậy việc ứng dụng khoa học công nghệ cao còn giúp nhà sản xuất tiết kiệm các chi phí như nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và do đó góp phần bảo vệ môi trường Chính những lợi ích như vậy mà sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đã
và đang trở thành mẫu hình cho nền nông nghiệp thế kỷ XXI
- Nông nghiệp công nghệ cao sẽ giúp nông dân chủ động trong sản xuất, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết và khí hậu do đó quy mô sản xuất được mở rộng.
Việc ứng dụng hiệu ứng nhà kính để tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiêp cũng như ứng dụng các thành tựu công nghệ khác để tạo
ra các cơ sở trồng trọt chăn nuôi hiện đại, không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu giúp nông dân chủ động được kế hoạch sản xuất của mình Do không phụ thuộc mùa vụ và thời tiết nên có thể cho ra đời các sản phẩm nông nghiệp trái vụ có giá bán cao hơn và do đó đạt lợi nhuận cao hơn các sản phẩm chính vụ Không những vậy, hiệu ứng nhà kính với các môi trường nhân tạo được tạo ra đã tránh được các rủi ro thời tiết, sâu bệnh và hiển nhiên là năng xuất cây trồng vật nuôi trên một đơn vị đất đai sẽ tăng lên, sản phẩm nhiều lên thì tất yếu thị trường được mở rộng hơn
- Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao giúp giảm giá thành sản phẩm, đa dạng hóa thương hiệu và cạnh tranh tốt hơn trên thị trường.
Khi áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp sẽ hạn chế được sự lãng phí về tài nguyên đất, nước do tính ưu việt của các công nghệ này như công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ sản xuất phân hữu cơ và tự động hóa sản xuất Với việc tiết kiệm chi phí và tăng năng xuất cây trồng vật nuôi, quá trình sản xuất rễ rằng đạt được hiệu quả theo quy mô và do đó tạo ra nền sản xuất lớn với lượng sản phẩm đủ để cung cấp cho quá trình chế biến công nghiệp
Ví dụ về trồng rau công nghệ cao trong nhà lưới đã cho thấy doanh thu đạt 120 –
150 triệu đồng/ha, gấp 2 – 3 lần canh tác theo lối truyền thống
công nghệ cao
- Khó khăn về nguồn vốn đầu tư: Vốn đầu tư là một yếu tố quan trọng, bởi lẽ, để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trước tiên phải có vốn đầu tư lớn cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng, xử lý môi trường, đầu tư giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo người lao động, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm… Ví dụ: ước
Trang 8tính, ngoài chi phí vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, giống, đào tạo người lao động,… để xây dựng được một trang trại chăn nuôi quy mô vừa theo
mô hình nông nghiệp công nghệ cao, cần khoảng 140 tỷ đồng - 150 tỷ đồng (gấp
4 lần - 5 lần so với trang trại chăn nuôi truyền thống); 1 ha nhà kính hoàn chỉnh với hệ thống tưới nước, bón phân có kiểm soát tự động theo công nghệ của I-xra-xen cần ít nhất từ 10 tỷ đồng - 15 tỷ đồng
- Khó khăn về nguồn nhân lực Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao Thực tế ở nước ta, nguồn nhân lực chất lượng cao am hiểu về khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp còn thiếu
và yếu Chất lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập
so với yêu cầu phát triển và hội nhập
- Khó khăn về tích tụ đất đai và kết cấu hạ tầng: Để sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cần phải có đất đai với quy mô lớn, ở vị trí thuận lợi cho sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao sẽ tạo ra một số lượng nông sản lớn, nếu không tính toán kỹ về thị trường sản phẩm làm ra sẽ không tiêu thụ hoặc khó tiêu thụ được Hiện nay ở nước ta, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn hạn hẹp, không ổn định, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế sản xuất một số sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng với mức độ đầu tư
3 Thực trạng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồng có lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, nhất là các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao Cách đây 13 năm, Tỉnh ủy Lâm Đồng xác định nông nghiệp công nghệ cao
là một khâu đột phá để phát triển kinh tế - xã hội, từ đó có nhiều giải pháp thúc đẩy công nghệ cao trong sản xuất Giờ đây, vùng đất nam Tây Nguyên này đã trở thành “hình mẫu” trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của cả nước…
Từ năm 2004 đến nay, Tỉnh ủy Lâm Đồng ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề, đưa ra các giải pháp để phát huy tiềm năng, thế mạnh về nền nông nghiệp địa phương Kết quả trong thời gian qua, khẳng định phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là chủ trương đúng đắn về lý luận và thực tiễn
Giai đoạn khởi đầu 2004-2010, tỉnh Lâm Đồng bắt đầu xây dựng quy hoạch vùng, các dự án NNCNC để kêu gọi đầu tư, xây dựng mô hình điểm về chăn nuôi, trồng trọt Việc triển khai chương trình NNCNC có tác động mạnh
mẽ đến các cấp, các ngành và được nhân dân hưởng ứng Tổng diện tích ứng
Trang 9dụng NNCNC năm 2010 là 6.407 ha, giá trị thu nhập bình quân trên 1 ha đạt 76 triệu đồng, tăng 3,8 lần so với năm 2004, cao gấp nhiều lần bình quân cả nước
Có 61 đơn vị, cá nhân sản xuất rau, hoa được chứng nhận GlobalGAP, VietGAP; tổng diện tích chè ứng dụng công nghệ cao là hơn 536 ha, 20 đơn vị,
cá nhân được cấp chứng nhận VietGAP; xuất hiện nhiều trang trại sản xuất nông, lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao… Tổng vốn đầu tư NNCNC đạt hơn 2.600 tỷ đồng
Trên cơ sở kết quả, kinh nghiệm của giai đoạn đầu, Tỉnh ủy Lâm Đồng
ban hành Nghị quyết 05 về “Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, giai đoạn 2011-2015”, theo đó, mở rộng một số cây trồng, vật nuôi
như chè, cà-phê, cá nước lạnh, cây lúa và cây đặc sản Tỉnh tập trung nhân rộng các mô hình hiệu quả, xây dựng các mô hình mới phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi Nhiều mô hình sản xuất rau cao cấp đạt đến 500 triệu đồng/ha/năm, cá biệt rau thủy canh đạt từ 8 đến 9 tỷ đồng; hoa đạt đến 1,2 tỷ đồng, chè chất lượng cao đạt 250 triệu đồng và cà-phê đạt 240 triệu đồng/ha/năm
Để có thành tựu như hiện nay, tỉnh Lâm Đồng đã đầu tư nghiên cứu, xây dựng mô hình, áp dụng các giải pháp kỹ thuật và công nghệ mới Những công nghệ phổ biến trong sản xuất rau, hoa hiện nay đã và đang được áp dụng gồm: công nghệ sinh học trong nhân giống (nuôi cấy mô thực vật in vitro, công nghệ ghép cây rau); công nghệ nhà lưới; công nghệ tưới nhỏ giọt có hệ thống điều áp
và cung cấp phân bón; công nghệ chiếu sáng bổ sung điều khiển quang chu kỳ thông qua sử dụng hệ thống đèn compact, đèn led tự động bật tắt trong canh tác cây trồng, Cùng với đó là các công nghệ sau thu hoạch với việc ứng dụng công nghệ sấy lạnh, sấy nhiệt, công nghệ tạo màng trong bảo quản nông sản, ứng dụng chế phẩm giữ cho hoa tươi lâu, sử dụng các loại máy tự động hoặc bán tự động trong thu hoạch sản phẩm Qua đó, giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất
Với việc áp dụng thành công các ứng dụng kỹ thuật cao đã đưa nền nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng phát triển vượt bậc, đồng thời đưa sản phẩm nông nghiệp của tỉnh trở thành “điểm sáng” về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Những kết quả trên ngày càng khẳng định tính đúng đắn trong định hướng về phát triển nông nghiệp công nghệ cao một cách bền vững của tỉnh Lâm Đồng./
Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Trang 10- Việc thực hiện Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy Lâm Đồng “Về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại, giai đoạn 2016-2020; định hướng đến năm 2025” ở một số địa phương chưa tốt, chưa bền vững
- Do mặt bằng kinh tế giữa các vùng chưa đồng đều và chưa cao nên đã ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm ứng dụng công nghệ cao
- Chưa có đội ngũ cán bộ là công nhân kỹ thuật lành nghề, có trình độ cao
để hướng dẫn cho nông dân
- Sự phát triển các nông sản như rau, hoa quả cao cấp theo hướng công nghệ cao chưa có quy hoạch vùng chiến lược phát triển lâu dài có tính chất vỹ
mô, hầu hết đều chay theo lợi nhuận ban đầu
- Chưa có thị trường rộng, giá bán chưa được ổn định và giá đầu vào còn cao Sản phẩm NNCNC sach và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được phân biệt
rõ với hàng có chất lượng chưa cao
- Một số đơn vị nhập nội hoàn toàn công nghệ của Israel về nhà kính không lường trước được ảnh hưởng của điều kiện khí hậu thời tiết đã ảnh hưởng không tốt đến năng suất, chất lượng cây trồng do tác động hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ
- Chưa kiểm soát được chất lượng sản phẩm làm ra từ công nghệ cao dẫn đến giá bán ra các loại sản phẩm trên chưa chênh lệch nhiều sản phẩm công nghệ cao có chi phí sản xuất cao hơn nên nguy cơ bị thua lỗ, khó cạnh tranh với sản phẩm cùng loại canh tác trong điều kiện thông thường
- Ở một số mô hình trang thiết bị vật liệu, chế phẩm dinh dưỡng và giống
có năng suất cao phù hợp, có giá trị kinh tế cao thích ứng với điều kiện sản xuất đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Cụ thể là các màng che phủ khổ lớn khoảng vài trăm mét chiều dài, chiều rộng, giống hoa , cà chua, dưa chuột,…dung dịch dinh dưỡng Growtek, hệ thống cảm ững nhiệt độ và ẩm độ trong nhà kính đều được nhập nội và phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, hiện nay Việt Nam chưa tạo ra được
Giải pháp khắc phục hạn chế
- Lãnh đạo chỉ đạo thực hiện tốt nghị quyết số 05 – NQ/TU của tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp toàn diện, bên vững và hiện đại giai đoạn 2016 – 2020 và định hướng đến 2025
- Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, xác định nông dân là chủ thể
và là lực lượng quan trọng có tính chất quyết định đến việc thực hiện chủ trương