1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

học văn bản tựa và văn bia trong sách giáo khoa ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại

109 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sách phân tích , bình giảng gồm các bài: Bài phân tích văn bản Tựa “ Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương và phân tích văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung tro

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÂM THỊ QUYÊN

DẠY - HỌC VĂN BẢN TỰA VÀVĂN BIA TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN – NĂM 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN – NĂM 2008

Trang 3

MỤC LỤC Phần mở đầu

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề: 1

3 Mục đích nghiên cứu: 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

6 Phương pháp nghiên cứu: 6

7 Cấu trúc luận văn: 6

Phần nội dung Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học văn bản thuộc thể Tựa và thể Văn bia 1 Cơ sở lí luận: 7

1.1 Những điểm mới trong chương trình và SGK lần này (Từ năm học 2002 - 2003 đến năm học 2008 - 2009) 7

1.1.1 Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 7

1.1.2 Đổi mới chương trình và SGK ở bậc THPT 9

1.1.3 Đổi mới dạy học môn Ngữ văn ở THPT 13

1.2 Đặc trưng thể loại của văn bản Tựa 16

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Đặc trưng thể loại của Tựa 18

1.3 Đặc trưng thể loại của văn bản Văn bia 19

1.3.1 Khái niệm: 20

1.3.2 Đặc trưng thể loại của Văn bia 21

2 Cơ sở thực tiễn 22

2.1 Giờ dạy học bài Tựa “ Trích diễm thi tập” 23

2.2 Giờ học Hiền tài là nguyên khí quốc gia 38

Trang 4

2.3 Nhận xét tổng quát về việc thực thi dạy học hai văn bản Tựa và Văn

bia 39

Chương II: Các phương án dạy học Tựa và Văn bia đã được đề xuất 1.1 Hai phương án dạy văn bản tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương trong sách giáo viên (SGV) Ngữ văn 10 ( bộ chuẩn và bộ nâng cao) 45

1.1.1 Về mục tiêu bài học 45

1.1.2 Về nội dung bài học 46

1.1.3 Về phương pháp dạy học 47

1.2 Thiết kế của nhà giáo Phạm Thu Hương trong cuốn “Thiết kế bài học Ngữ văn 10” do GS Phan Trọng Luận chủ biên NXB Giáo dục, 2006 48

1.2.1.Về kết quả cần đạt 48

1.2.2 Về hoạt động dạy học 48

1.2.3 Nhận xét tổng quát 53

1.3 Thiết kế trong cuốn “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10” do TS Nguyễn Văn Đường chủ biên, NXB Hà Nội, 2006 55

1.4 Thiết kế trong cuốn “Giới thiệu giáo án Ngữ văn 10” do TS Nguyễn Hải Châu chủ biên NXB Hà Nội, 2006 63

2.1 Phương án dạy học văn bản “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” trong SGV Ngữ văn 10 ( bộ chuẩn) 69

2.2 Bài thiết kế hướng dẫn đọc thêm văn bản “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” trong cuốn “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10” do TS Nguyễn Văn Đường chủ biên NXB Hà Nội, 2006 73

Chương III: Thực nghiệm sư phạm 1 Thiết kế bài học thể loại Tựa và thể loại Văn bia 80

1.1 Thiết kế bài học Tựa “ Trích diễm thi tập” 80

Trang 5

1.2 Thiết kế bài dạy học Hiền tài là nguyên khí quốc gia 87

2 Thực nghiệm sư phạm 92

2.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm 92

2.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 92

2.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 93

2.4 Nội dung thực nghiệm 94

2.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 95

2.6 Kết luận chung về thực nghiệm 98

Phần kết luận

Trang 6

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1.Về mặt lí luận: Tựa còn gọi là lời nói đầu, lời giới thiệu; phần nằm

ngoài văn bản của tác phẩm; được viết ra để thuyết minh cho nó về mục đích, tôn chỉ, cách viết, hoàn cảnh ra đời thường được trình bày ở đầu cuốn sách

Tựa có thể do chính tác giả viết hoặc do người khác viết

Văn bia gồm bi kí, bi văn, bi minh, mộ chí minh Là những bài văn

khắc trên bia đá đặt ở chùa chiền, đền miếu, lăng mộ, cầu, đình để ghi công tích các bậc danh nhân, anh hùng hoặc các sự kiện quan trọng đáng nhớ; thường được viết bằng văn xuôi, phần “minh” được viết bằng văn vần gồm phần ghi chép tiểu sử, lai lịch và phần ngợi ca, phẩm bình

Đây là hai thể loại thuộc văn nghị luận thời trung đại, lần đầu tiên hai thể loại này được đưa vào chương trình Ngữ Văn trung học phổ thông Vì vậy,về lí thuyết, khoa học về phương pháp giảng dạy văn học chưa có ai bàn đến việc dạy học hai loại văn bản này Bởi vậy, lần này chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu này với mong muốn có được chút đóng góp cho việc dạy học hai loại văn bản này ở trường trung học phổ thông

1.2 Về mặt thực tiễn: Lần đầu tiên, Tựa “Trích diễm thi tập” của

Hoàng Đức Lương và Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung

được đưa vào SGK Ngữ văn 10 Làm thế nào để việc dạy học hai loại văn bản này đạt hiệu quả cao? Đó là vấn đề đang đặt ra trước mắt những giáo viên thực thi chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới Chọn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng góp một ý kiến nhằm giải quyết những khó khăn, lúng túng mà thầy- trò ở trung học phổ thông đang gặp phải

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Vì đây là lần đầu tiên hai loại văn bản này được đưa vào chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn nhà trường nên việc nghiên cứu phương pháp dạy

Trang 7

học về nó chưa nhiều; ta chỉ có thể nói tới một số bài viết trong các cuốn sách tham khảo cho GV và HS được xuất bản gần đây:

2.1 Sách phân tích , bình giảng gồm các bài:

Bài phân tích văn bản Tựa “ Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương và phân tích văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung trong cuốn Phân tích tác phẩm Ngữ Văn 10 do Trần Nho Thìn làm

Đến phần phân tích, tác giả tập trung làm rõ: Tính chất nghị luận của

bài Tựa và giá trị văn học của nó

Với văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia, tác giả đã cung cấp cho

người đọc một số tri thức xung quanh các hình thức tuyển chọn và khích lệ nhân tài do nhà nước phong kiến triều Lê đặt ra, trong đó việc lập bia đá là một trong những biện pháp cần thiết để khích lệ, cổ vũ nhân tài Đồng thời, tác giả phân tích rõ đặc trưng, chức năng và nghệ thuật của văn bản

Đây là nhưng tri thức quan trọng, có vai trò hỗ trợ học sinh khi tiếp nhận hai loại văn bản trên

2.2 Sách thiết kế dạy học gồm có:

- Sách giáo viên Ngữ Văn 10 chương trình chuẩn: Hướng dẫn dạy học

văn bản Tựa “Trích diểm thi tập”của Hoàng Đức Lương Nội dung của bài

dạy văn bản này là tập trung làm rõ hai đơn vị kiến thức:

- Các nguyên nhân khiến cho thơ ca Việt Nam thời kì trung đại trước thế kỉ 15 không được truyền lại đầy đủ Qua đó, học sinh hiểu thêm những

Trang 8

khó khăn và cố gắng to lớn của ông cha ta trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa dân tộc

- Niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của Hoàng Đức Lương đối với nền thơ ca dân tộc

Tiến trình giờ dạy học được thực hiện như sau:

Bước 1: Trước hết cho học sinh đọc toàn văn bản tại lớp, làm rõ nội dung văn bản bằng các kiến thức bổ trợ

Bước 2: Tìm hiểu chi tiết văn bản bằng cách tổ chức cho học sinh thảo luận và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa

Bước 3: Kiểm tra, đánh giá và gợi ý giải bài tập

Hướng dẫn học sinh đọc thêm văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia

của Thân Nhân Trung Tìm hiểu văn bản này học sinh cần thấy được các ý cơ bản sau:

+ Trước hết bài kí khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia + Ý nghĩa, tác dụng của việc khắc bia tiến sĩ

+ Bài học lịch sử rút ra từ việc khắc bia tiến sĩ

- Sách tham khảo có:

Cuốn thiết kế bài học Ngữ Văn 10 do GS Phan Trọng Luận làm chủ biên có bài thiết kế dạy học văn bản Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng

Đức Lương, theo tác giả nội dung bài học là cần làm rõ các kiến thức cơ bản:

- Đặc điiểm của một bài Tựa

- Lí do biên soạn Trích diễm thi tập

- Quá trình biên soạn và cách tổ chức tác phẩm

- Thấy được tình cảm, thái độ của tác giả, trong quá trình gian khổ xây dựng và bảo vệ nền văn hiến dân tộc, bản lĩnh ý thức độc lập tự chủ về văn hóa của ông cha ta

Bài học được tiến hành theo các bước sau:

Trang 9

I- Tiếp cận văn bản qua các thông tin liên quan tới tác giả và tác phẩm

II - Học văn bản: Đọc, tìm hiểu bố cục, phân tích chi tiết văn bản

III - Khái quát lại; củng cố kiến thức

Cuốn Thiết kế dạy học Ngữ Văn 10 của TS Hoàng Hữu Bội, theo tác giả việc dạy học văn bản Tựa “ Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương

cần làm rõ các nội dung sau:

- Đặc điểm của thể Tựa nói chung và văn bản Tựa “Trích diễm thi

tập” của Hoàng Đức Lương nói riêng

- Những nét chính về tác giả Hoàng Đức Lương

- Cấu trúc của văn bản

- Hiểu ý kiến, tình cảm của tác giả ở từng vấn đề, và nghệ thuật lập luận

ở từng phần sau khi nhìn tổng quát toàn văn bản

Bài học được dẫn dắt theo các bước sau:

Bước 1- Tiếp xúc bước đầu với tác phẩm

Bước 2- Xem xét từng phần nội dung và hình thức của văn bản

Bước 3- Khơi gợi học sinh trao đổi về những vấn đề được tác giả đặt ra trong tác phẩm

Công việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận văn bản Hiền tài là nguyên

khí quốc gia của Thân Nhân Trung cũng được dẫn dắt cụ thể theo các bước:

Bước 1- Tiếp xúc bước đầu với văn bản Nội dung cụ thể là cho học sinh đọc văn bản và giải thích từ khó; giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm

Bước 2- Tìm hiểu chi tiết về văn bản:

- Cấu trúc văn bản

- Nội dung của văn bản bao gồm:

+ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

+ Chính sách trọng đãi người tài của triều đại Lê Thánh Tông

Trang 10

+ Lợi ích của việc dựng tấm bia đá

- Khơi gợi học sinh phát hiện ra những nét độc đáo trong nghệ thuật của tác phẩm

Bước 3- Liên hệ thực tế

Các thiết kế bài giảng, các bài phân tích của các nhà sư phạm đã giúp chúng tôi có được những cảm nhận đúng đắn về hai văn bản thuộc thể loại

Tựa và Văn bia trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 10 Đó là

nguồn kiến thức bổ ích giúp chúng tôi bổ sung, hoàn thiện đề tài nghiên cứu:

“Dạy học Tựa và Văn bia trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 theo đặc

trƣng thể loại”

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

3.1 Tìm hiểu tình hình dạy học hai văn bản thuộc thể Tựa và Văn bia

ở nhà trường trung học phổ thông trong những năm đầu thực thi chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn mới Cụ thể là tìm hiểu về những thuận lợi, khó

khăn, cách tổ chức giờ học và hiệu quả giờ học hai văn bản; Tựa “ Trích

diễm thi tập của Hoàng Đức Lương và Hiền tài là nguyên khí quốc gia của

Thân Nhân Trung

3.2 Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một phương án

dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy hai văn bản trên

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

4.1.Tìm hiểu đặc trưng của hai thể loại Tựa và Văn bia để vận dụng nó

vào việc xác định hướng tiếp cận tác phẩm

4.2 Khảo sát thực tiễn dạy học hai văn bản:

- Tựa Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương

- Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung

Trang 11

4.3 Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm phương án đề xuất nâng

cao hiệu quả giờ dạy của luận văn

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này là hoạt động dạy- học của thầy- trò về hai văn bản:

- Tựa “ Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương

- Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung

Cụ thể là về nội dung bài dạy, tiến trình giờ dạy, cơ chế hoạt động của thầy- trò trong giờ dạy học, hiệu quả giờ dạy học

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Dựa trên trình tự tiếp cận đối tượng, người nghiên cứu sử dụng hai nhóm phương pháp chính

6.1 Nhóm nghiên cứu lí thuyết:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên nghành, liên nghành

- Hệ thống hóa các kiến thức có liên quan tới đề tài

6.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn:

- Khảo sát thực tiễn dạy học Tựa và Văn bia ở lớp 10

- Xây dựng thiết kế và tiến hành thực nghiệm sư phạm hai văn bản:

Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương và Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn gồm

ba chương:

Trang 12

Chương I- Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy văn bản Tựa và văn

bản Văn bia

Chương II- Các phương án dạy Tựa và Văn bia đã được đề xuất Chương III - Thực nghiệm sư phạm

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC VĂN

BẢN THUỘC THỂ TỰA VÀ THỂ VĂN BIA

Tựa và Văn bia là hai thể loại xuất hiện khá sớm trong lịch sử nền văn

học dân tộc Nhưng chỉ đến năm học 2005-2006 thì hai thể loại văn học này mới được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Cho nên nó đã trở thành hai thể loại mới mẻ đối với thầy và trò trung học phổ thông Việc tiếp cận hai loại văn bản này theo hướng nào sao cho đạt hiệu quả cao là nhu cầu của các giáo viên đang thực thi bộ sách giáo khoa (SGK) mới Chúng tôi hy vọng rằng cách tiếp cận hai loại văn bản này theo đặc trưng thể loại mà chúng tôi đề cập trong luận văn là một giải pháp giúp cho thầy trò trung học phổ thông có được kết quả tốt trong các giờ dạy học hai loại văn bản này Hướng tiếp cận của chúng tôi được thực hiện dựa trên những tiền đề lí luận sau:

1.1 Những điểm mới trong chương trình và SGK lần này (Từ năm học 2002 - 2003 đến năm học 2008 - 2009)

1.1.1 Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên của Bộ Giáo dục - Đào tạo ghi rõ:

• Khác với những lần cải cách giáo dục trước đây (1950, 1956, 1980), lần này chỉ tập trung vào việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (từ tiểu

Trang 13

học qua THCS đến THPT) Tuy nhiên, cần hiểu chương trình theo nghĩa rộng như Luật định: “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” (Điều 29, mục II - Luật giáo dục - 2005) Như vậy đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là một quá trình đổi mới từ mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục , kể cả việc đổi mới cách xây dựng chương trình, từ quan niệm cho đến quy trình kĩ thuật và đổi mới những hoạt động quản lí cả quá trình này Chương trình giáo dục Trung học phổ thông (THPT) là một bộ phận của chương trình trên, vì vậy khi tiến hành đổi mới phải tuân theo các định hướng, đảm bảo các nguyên tắc,, thực hiện các yêu cầu như đối với các chương trình các bậc học trên cơ sở quán triệt những đặc điểm của cấp học, của trường THPT

• Một trong những nguyên tắc đổi mới chương trình giáo dục và SGK phổ thông lần này là:

- Chương trình không chỉ nêu nội dung và thời lượng dạy học mà thực sự

là một kế hoạch hành động sư phạm, kết nối mục tiêu giáo dục với các lĩnh vực nội dung và phương pháp giáo dục, phương tiện dạy học và cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh, đảm bảo sự phát triển liên tục giữa các bậc học, cấp học, đảm bảo tính liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp

- SGK không đơn giản là tài liệu thông báo các kiến thức có sẵn mà là tài liệu giúp học sinh tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức mới một cách linh hoạt, chủ động và sáng tạo

Chương trình và SGK được thể chế hóa theo luật giáo dục và được quản lí chỉ đạo theo yêu cầu cụ thể của giai đoạn phát triển mới của đất nước,

Trang 14

cố gắng giữ vững ổn định để góp phần không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, thực hiện tiết kiệm trong sản xuất và sử dụng sách ở các cấp học

1.1.2 Đổi mới chương trình và SGK ở bậc THPT

• Mục tiêu giáo dục THPT được quy định trong ở điều 27, mục 2,

chương II, luật giáo dục 2005 như sau: Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về giáo dục và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Với Mục tiêu giáo dục quy định như vậy, chương trình các môn học, SGK và phương pháp dạy học ở THPT cũng được đổi mới sao cho đáp ứng được mục tiêu đề ra:

* Đổi mới chương trình các môn học ở THPT:

Có chương trình chuẩn cho tất cả các bộ môn và có chương trình nâng cao cho 8 môn học (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Vật lí, Hóa học, Sinh vật, Lịch sử, Địa lí) Ngoài ra còn có chương trình tự chọn kèm theo

Chương trình chuẩn của tất cả các môn học thể hiện những yêu cầu mang tính tối thiểu mọi học sinh cần và có thể đạt

Chương trình nâng cao đối với 8 môn phân hóa: Toán, Lí, Hóa, Sinh, Ngữ văn, Sử, Địa và tiếng nước ngoài Trong chương trình của từng môn, mục tiêu môn học thiết kế nhằm đạt được mục tiêu giáo dục cả cấp học Chươnng trình giới thiệu quan điểm chính của việc xây dựng lại chương trình môn học, trình bày chuẩn kiến thức kĩ năng môn học theo từng lớp và những

Trang 15

gợi ý cần thiết về phương pháp , phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả môn học của học sinh

Chương trình tự chọn: Bao gồm hệ thống các chủ đề tự chọn, cung cấp cho học sinh những cơ hội để củng cố, luyện tập kiến thức, kĩ năng có trong chương trình các môn học hoặc mở rộng, nâng cao, đáp ứng nhu cầu của học sinh

* Đổi mới SGK các môn ở THPT:

Quá trình dạy học trong nhà trường thì SGK luôn giữ vai trò là : Tài liệu thể hiện một cách cụ thể nội dung, phương pháp giáo dục của từng môn học trong chương trình giáo dục Vì thế chương trình giáo dục phổ thông lần

đổi mới này đòi hỏi quá trình biên soạn SGK THPT cần phải đáp ứng được các yêu cầu đổi mới của chương trình Các yêu cầu được đặt ra là:

Bám sát chương trình môn học

Đảm bảo tính kế thừa trong quá trình biên soạn

Dựa trên cơ sở lí luận về SGK có có lưu ý tới xu thế tiên tiến trên thế giới trong lĩnh vực này

Đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản, tinh giản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam

Đảm bảo tính liên môn

Tạo điều kiện trực tiếp giúp học sinh tiếp tục nâng cao năng lực tự học

và đổi mới phương pháp dạy học

Đảm bảo yêu cầu phân hóa

Đảm bảo những yêu cầu về văn phong đặc trưng của SGK mỗi môn học Chú ý tới đặc điểm lứa tuổi học sinh và điều kiện dạy học cụ thể của cấp THPT

Trang 16

Cụ thể về nội dung và hình thức SGK THPT có những điểm mới cơ bản sau:

Về mặt hình thức

+ Có hai bộ SGK được biên soạn theo chương trình chuẩn và nâng cao + Riêng môn Ngữ văn và Toán do nội dung nhiều và thời lượng lớn nên

ở mỗi lớp đều có tập I và tập II

+ Thực hiện nguyên tắc tích hợp, môn Ngữ văn (Trước đây có tên là môn Văn) từ ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Làm Văn được kết hợp và trình bày trong một cuốn sách giáo khoa

+ Trong cấu trúc từng cuốn sách giáo khoa, các tác giả đã lưu ý cách trình bày thể hiện rõ sự hỗ trợ cho đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho học sinh được làm việc tích cực, chủ động; hạn chế việc cung cấp sẵn kiến thức, việc mô tả các quá trình

Về mặt nội dung: Các tác giả sách giáo khoa thực hiện đổi mới qua việc

cân nhắc, lựa chọn kiến thức, xác định mức độ các kiến thức ở từng bài, từng chương, của bộ môn ở từng lớp và cả cấp THPT

* Đổi mới về phương pháp dạy học:

Đổi mới về phương pháp dạy học là vấn đề cốt lõi của việc đổi mới chương giáo dục phổ thông lần này Vì, chỉ có đổi mới phương pháp dạy học mới đáp ứng được mục tiêu giáo dục con người trong thời đại mới đó là luôn năng động, sáng tạo, tích cực cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức

Luật Giáo dục điều 28.2 đã ghi : Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Trang 17

Như vậy, cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học là: Hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Nói cách khác,

đó là phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh (HS) gọi tắt là phương pháp dạy học tích cực

Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực là:

- Dạy học thông qua các tổ chức học tập của học sinh

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trang 18

1.1.3 Đổi mới dạy học môn Ngữ văn ở THPT

• Điểm mới của chương trình Ngữ văn THPT Chương trình Ngữ văn THPT lần này có sự thay đổi lớn về nội dung và phương pháp Cụ thể những điểm đổi mới đó là:

1) Ngữ văn được coi là bộ môn có tính chất công cụ: HS học môn Ngữ văn không những được trang bị những kiến thức văn học mà còn được rèn luyện kĩ năng sử dụng thành thạo phương tiện giao tiếp – ngôn ngữ

2) Có sự chuyển đổi nội hàm văn học trong nhà trường: Không chỉ dạy các văn bản nghệ thuật mà còn có các văn bản nghị luận

3) Chương trình quy định kĩ năng đọc- hiểu văn bản cho HS

4) Gọi những tác phẩm hay những đoạn trích văn học là văn bản

5) Chương trình được sắp xếp theo cụm thể loại trong tiến trình lịch sử văn học Để rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại Bài học tác gia thường đặt sau các văn bản của tác gia đó để HS quy nạp, nâng cao kiến thức về tác gia

6) Phần Tiếng Việt chủ yếu học về phong cách ngôn ngữ để hỗ trợ cho việc làm văn

7) Phần Làm văn không còn khái niệm kiểu bài mà dùng khái niệm kiểu văn bản; đề bài không chỉ yêu cầu làm bài văn nghị luận văn học mà đổi

mới cách ra đề nhằm tích cực hóa hoạt động của HS

8) Chương trình xây dựng theo nguyên tắc tích hợp ba phân môn

9) Chương trình có chuẩn kiến thức và kĩ năng

10) Đổi mới phương pháp dạy học văn và kiểm tra đánh giá theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS

• Điểm mới của SGK Ngữ văn THPT

Trang 19

Cấu trúc của chương trình thay đổi thể hiện rõ trong sự thay đổi cấu trúc của SGK:

Về cấu trúc bài đọc văn gồm các phần:

- Luyện tập.( bài tập nâng cao đối với bộ SGK Ngữ văn nâng cao)

- Tri thức đọc – hiểu ở cuối cụm bài ( Đối với bộ SGK Ngữ văn nâng cao) Cấu trúc bài khái quát, lí thuyết

- Phần nội dung khái quát, lí thuyết

- Luyện tập

Cấu trúc bài luyện tập: gồm chuỗi các bài tập

Cấu trúc bài làm văn Nêu các định hướng trả bài

• Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn THPT

Phát huy phương pháp đọc - hiểu

Việc dạy học văn ở THPT tiếp tục phát huy phương pháp đọc - hiểu ở THCS Nghĩa là mỗi HS chủ động trực tiếp làm việc với văn bản để khám phá

và tiếp nhận tri thức Tuy nhiên, quá trình đọc hiểu của HS ở THPT không chỉ là HS làm việc với văn bản để hình thành kiến thức rồi GV khái quát lại

thành mục Ghi nhớ như ở cấp THCS mà đòi hỏi ở mức độ cao hơn là HS tích

cực tích lũy kiến thức, quan niệm, ấn tượng và khái quát ban đầu về văn học nghệ thuật, cho nên yêu cầu vận dụng các khái niệm lí luận văn học và lịch sử

Trang 20

văn học nhiều hơn để HS có cách tiếp cận văn học một cách có lí luận, biết phân tích lí giải văn bản văn học một cách có ý thức và có phương pháp Nghĩa là phương pháp dạy học ở bậc THPT là tăng cường hoạt động đọc - hiểu có ý thức, có lí luận

• Điểm mới trong chương trình Văn học trung đại Việt Nam

Văn học trung đại Việt Nam chiếm đa phần thời lượng chương trình Ngữ văn lớp 10 Vì thế ở lần đổi mới này, bộ phận văn học trung đại có những điểm mới như sau:

Các văn bản học chính thức và đọc thêm gồm 7 loại thể chính: Thơ trữ tình, phú, ngâm khúc, nghị luận, truyện chữ Hán và truyện chữ Nôm So với chương trình cũ thì chương trình Ngữ văn lần này ở phần văn học trung đại có

thêm một số thể loại như: Tựa, Văn bia, Bình sử (trong loại nghị luận); Sử kí

(trong loại tự sự) Và có những văn bản mới được lựa chọn vào thay thế văn bản có trong SGK Văn học cũ

Cụ thể, Văn học trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn mới gồm những văn bản sau:

- Thơ trữ tình: “Thuật Hoài” (Phạm Ngũ Lão), “Cảm Hoài” (Đặng Dung), “Bảo kính cảnh giới” số 43 (Nguyễn Trãi), “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm), “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du), “Quốc Tộ” (Đỗ Pháp Thuận),

“Cáo tật thị chúng”

(Mãn Giác), “ Quy hứng” (Nguyễn Trung Ngạn)

- Phú : “Bạch Đằng giang phú” (Trương Hán Siêu), “Hàn Nho phong vị phú” ( Nguyễn Công Trứ)

- Ngâm khúc : “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn/ Đoàn Thị Điểm), trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”, “Cung oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia Thiều), trích đoạn “Nỗi sầu oán của người cung nữ”

Trang 21

- Nghị luận: “ Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi), “Quân trung từ mệnh tập”, “Thư lại dụ Vương Thông lần nữa” (Nguyễn Trãi), Tựa “Trích diễm thi tập” (Hoàng Đức Lương), “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” (Văn Bia của Thân Nhân Trung), Phẩm bình nhân vật lịch sử của Lê Văn Hưu

- Tự sự: “Thái sư Trần Thủ Độ” (Trích Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô

Sĩ Liên), “Thái phó Tô Hiến Thành” (Trích “Đại Việt sử lược”), “Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn” ( Trích “ Đại Việt sử kí toàn thư” của Ngô Sĩ Liên)

- Truyện chữ Hán: “Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên” (Trích

“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ)

- Truyện thơ Nôm: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) với các trích đoạn:

“Trao duyên”, “Nỗi thương mình”, “Chí khí anh hùng”, “Thề nguyền”

Như vậy, so với bộ sách “Văn học 10” năm 2000 thì bộ sách “Ngữ văn 10” năm 2006 có thêm các văn bản: “Hứng trở về” (Nguyễn Trung Ngạn),

“Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm), “Nhà Nho vui cảnh nghèo” (Nguyễn Công Trứ), “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” (Văn bia của Thân Nhân Trung), Tựa

“Trích diễm thi tập” (Hoàng Đức Lương) và ba văn bản sử kí: “Thái sư Trần Thủ Độ”, “Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn”, “Thái phó Tô Hiến Thành”

1.2 Đặc trƣng thể loại của văn bản Tựa

1.2.1 Khái niệm Mục Tri thức đọc - hiểu trong cuốn SGK Ngữ văn 10 nâng cao viết:

Tựa là bài văn thường đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội họa,

âm nhạc nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết

cấu tác phẩm ấy Bài Tựa có thể do tác giả tự viết, cũng có thể do một ai đó vì yêu quý, mến mộ tác phẩm mà viết Cuối bài Tựa thường ghi họ tên, chức

Trang 22

tước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài Tựa Người ta gọi phần này là Lạc khoản

Văn của thể Tựa thường có tính chất thuyết minh, thường kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi còn mang sắc thái trữ tình

Cuốn Ngữ văn Hán Nôm do GS Lê Trí Viễn chủ biên Có ghi: Trong tiếng việt Tự được gọi là Tựa Là những bài viết đặt ở đầu cuốn sách, có khi cũng là của tác giả nhưng thường là của người khác, một người có uy tín trong lĩnh vực nội dung cuốn sách có khi một cuốn sách có nhiều Tự, mỗi lần tái bản một bài Tự, sách in một lần mấy bài Tự, có bài tự trước, bài tự sau, tự thứ nhất, tự thứ nhì

Tự nhằm giới thiệu cuốn sách cho độc giả Nó nói lên cái độc đáo nhất của tác phẩm tức phần có ý nghĩa đóng góp nhất của tác giả: Về nguồn gốc của vấn đề nội dung tác phẩm đặt ra, về bản thân của tác giả, về vị trí của vấn đề đó trong lĩnh vực khoa học, văn học, về bản thân nội dung của tác phẩm, những giá trị của nó về tư tưởng nghệ thuật Nó cũng có thể nêu lên ý kiến, quan niệm của người đề tựa về vấn đề tác phẩm đề cập tới, những cảm nghĩ của người đó với tư cách là người thưởng thức, về cái hay cái đẹp của tác phẩm, cái tài của tác giả

Trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam , GS Trần Đình Sử có viết: Đây là thể văn viết đặt ở đầu các tác phẩm thơ văn nhằm thuyết minh cho việc trước thuật, ý đồ xuất bản, thể lệ biên soạn hoặc tình hình tác giả Tựa có thể bao gồm cả lời bình đối với tác phẩm hoặc bổ sung thêm các vấn đề, chi tiết hữu quan

Diêu Nại trong “ Cổ văn từ loại soạn” nói “Loại tự là loại văn xưa các bậc tiền thánh làm dịch Khổng Tử làm truyện cho Hệ Từ, thuyết quái, vạn ngôn, tứ quái, tạp quái dùng để suy luận ra gốc ngọn, mở rộng ý nghĩa thi,

Trang 23

thư đều có tự Còn nghi lễ cũng có tự, đều do nhà Nho làm Chủ tử thì tự làm

tự cho mình, hoặc cho đệ tử làm “Thời cổ xưa nói chung tự đều đặt ở cuối sách như “Sử kí”, thái sư công tự tự, thuyết văn giải tự tự Đến với thời Nam triều nhà Lương tác giả Văn tuyển là Triêu Thống đem tự đặt ở đầu sách

và gọi tự ở cuối sách là bạt

Như vậy thể loại tự cho biết rõ quan điểm, mục đích và việc làm sách

Đó là những văn bản có giá trị về quan niệm tư tưởng và học thuật của tiền nhân, là kho tàng vô giá để tìm hiểu lịch sử, trước thuật nước nhà.(16; tr 316,

317, 318)

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) giải thích: Tựa ( Tiếng pháp là: preface)

Còn được gọi là lời nói đầu hay lời giới thiệu

Phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ra để thuyết minh cho nó (Tựa nguyên chữ Hán là Tự, có nghĩa là “ trình bày”, “ thuyết minh”) về mục đích, tôn chỉ, cách viết, hoàn cảnh ra đời

Tựa (hay lời tựa) Phân biệt với bạt (hay lời bạt) bởi vị trí trình bày ở đầu sách Điều này có tính chất ước lệ Các bài tựa cổ đại đều đặt ở cuối sách, như “ Tự tự của Tư Mã Thiên cuối tập sử kí Sau đời Hán tựa mới được đặt ở đầu sách

Tự có thể do chính tác giả cuốn sách viết, có thể do người khác viết Có lời tựa cho một sáng tác văn học cũng có lời tựa cho một tác phẩm nghiên cứu hoặc phê bình

Một cuốn sách khi xuất hiện có thể mang một hoặc nhiều bài tựa khác nhau.(11; tr 390)

1.2.2 Đặc trƣng thể loại của Tựa

• Đặc trưng về chỗ đứng:

Trang 24

Tựa là bài văn thường được đặt ở đầu các cuốn sách (văn học, sử học,

địa lí, hội họa, âm nhạc ); có thể do tác giả cuốn sách viết hoặc có thể do ai

đó vì yêu quý, mến mộ tác phẩm

• Đặc trưng về nội dung:

Đây là bài viết giới thiệu về cuốn sách Người viết thường nói về:

Tựa là trình bày ý kiến trực tiếp của mình nên các tác giả thường dùng

lối văn nghị luận, đồng thời kết hợp với tự sự và trữ tình để bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình

Do vậy mà dạy và học văn bản tựa “ Trích diễm thi tập” trước hết phải

chú ý đến những điều được trình bày trong văn bản:

- ý kiến của người viết Tựa ( hệ thống luận điểm và cách lập luận)

+ Lí do khiến tác giả biên soạn cuốn sách + Quá trình sưu tầm, biên soạn cuốn sách

- Tư tưởng, tình cảm mà người viết Tựa bày tỏ (Tiếng lòng của tác giả)

Sau đó đi sâu vào hình tượng tác giả ẩn chìm sau văn bản: Tác giả là người đang xót xa, thương tiếc cho di sản văn thơ của ông cha bị thất lạc, lại

có cả niềm tự hào và ý thức, trách nhiệm đối với việc bảo tồn văn hóa của tiền nhân

1.3 Đặc trƣng thể loại của văn bản Văn Bia

Trang 25

1.3.1 Khái niệm

Mục Tri thức đọc – hiểu trong SGK Ngữ văn10 nâng cao cho biết: “ Văn bia

là loại văn khắc trên mặt đá nhằm ghi chép các sự kiện trọng đại hoặc tên tuổi, cuộc đời của những người có công đức lớn để lưu truyền cho đời sau Bia có ba loại chính: bia ghi công đức, bia ghi việc xây dựng các công trình kiến trúc và bia lăng mộ

Bia ghi công đức gồm có ba phần: Thứ nhất là tự ( kể), nêu lí do, quá

trình làm bia, sự tích nhân vật được khắc vào bia; Thứ hai, viết bằng văn vần tóm lược nội dung tự sự ở trên để người đọc ghi nhớ, phần này còn gọi là

minh ( ghi nhớ); thứ ba là phần ghi ngày tháng, họ tên người làm bia ( viết bằng văn xuôi) dần dần phần tự trở thành quan trọng nhất, thể hiện tư tưởng,

quan niệm của người làm bia

Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba giữ vai trò quan trọng như một lời tựa chung cho cả 28 tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu Hà

Nội”

Văn bia gồm bi kí, bi văn, bi minh, mộ chí minh Thể loại văn học lịch

sử trung đại, rất phổ biến ở các nước Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản Đó là những bài văn khắc trên bia đá đặt ở chùa chiền, đền miếu, lăng mộ, cầu đình để ghi công tích các bậc danh nhân, anh hùng hoặc các sự kiện quan trọng đáng nhớ, thường viết bằng văn xuôi, phần minh thường được viết bằng văn vần, gồm phần ghi chép tiểu sử, lai lịch và phần ngợi ca, phẩm bình ”(11; tr 399)

Bi tức là bia, là thể văn dùng để khắc vào đá, người ta gọi là bi bản, bi biểu, bi chí, bi kệ, bi minh, bi bảng, bi trung Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long ghi “Bi là sự đề cao hoàng đế thủa xưa khi ghi hiệu phomng thiền đều dựng bia đá trên núi cao để khắc ghi công lao cho nên được gọi là bia Thể

Trang 26

văn bia đòi hỏi cái tài của nhà làm sử, việc kể sự tích để lưu truyền, còn bài văn để khắc ghi đức lớn thì phải hiện lên vẻ rực rỡ của cốt cách cao khiết, mà ghi điều tốt đẹp thì phải cho thấy công lao phi thường, đó là quy định của bia” Từ sư Tăng đời Minh có nói: Văn bia từ đời Hán trở lại đây càng có nhiều người làm, có bia về cầu đường, có bia về đàn, giếng, có bia về đền thần, có bia về nhà thờ, có bia cổ tích, phông thổ, có bia công đức, có bia mộ, chùa, quán Thể văn bia chủ yếu là kể chuyện dần dần về sau pha tạp nghị luận, đó là không đúng Tự sự mới là thể chính của văn bia, có nghị luận là thể biến của văn bia, nếu có ngụ ý thì lại là thể khác

Văn bia là thể văn hình thành sớm nhất trong các thể văn xuôi ở Việt Nam vào thời Lí (16; tr 312, 313)

1.3.2 Đặc trƣng thể loại của Văn Bia

Đặc trưng về chỗ đứng: Văn bia là những bài văn được khắc trên

những tấm bia đá đặt ở đền, chùa, miếu, cầu đình, lăng mộ để ghi công tích của danh nhân hoặc các sự kiện quan trọng

• Đặc trưng về nội dung: Bia ghi công đức và bia đề danh thường gồm hai phần

- Ghi chép tiểu sử, lai lịch của danh nhân, anh hùng, sự việc

- Ngợi ca và phẩm bình về người hoặc sự việc ở trên

Đặc trưng về hình thức: Văn bia thường được viết bằng văn xuôi chữ

Hán theo lối thuyết minh

Văn bản trong SGK Ngữ văn 10 được trích từ Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba do TS Thân Nhân Trung viết năm

1484 Bài kí đó được coi như lời tựa chung cho cả 82 tấm bia tiến sĩ ở Văn

Miếu Hà Nội Nội dung chính của văn bản đoạn trích là:

Trang 27

- “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

- Những việc triều đình đã làm để khuyến khích hiền tài

- ý nghĩa, tác dụng của việc khắc bia tiến sĩ Dựa vào những tiền đề lí luận ở trên, chúng tôi khảo sát tình hình dạy

và học văn bản Tựa và Văn bia trong chương trình Ngữ văn 10, và xây dựng

định hướng dạy học hai loại văn bản đó theo đặc trưng thể loại

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Để xác định cơ sở thực tiễn của việc dạy học hai loại văn bản này,

chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình dạy học văn bản Tựa Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương và văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia của

Thân Nhân Trung ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Mục đích khảo sát Tìm hiểu thực tiễn dạy và học văn bản tựa “Trích diễm trhi tập” của

Hoàng Đức Lương và văn bản “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Thân Nhân Trung, về những mặt được và chưa được trong năm đầu thực thi chương trình và SGK mới

Nội dung khảo sát Thực tiễn dạy học hai văn bản tựa “ Trích diễm thi tập” và Hiền tài là nguyên khí quốc gia trong SGK Ngữ văn 10 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Cụ

Trang 28

Địa bàn và thời gian khảo sát

- Địa bàn khảo sát: Một số trường THPT thuộc tỉnh Bắc Kạn (trường THPT Nà Phặc, huyện Ngân Sơn; THPT Chợ Mới, huyện Chợ Mới; THPT Dân tộc nội trú Bắc Kạn)

- Thời gian khảo sát: Tháng 2, năm 2008

2.1 Giờ dạy học bài Tựa “ Trích diễm thi tập”

2.1.1 Bài dạy của cô giáo Chu Thị Hội trường trung học phổ thông

tin cơ bản về tác giả Hoàng Đức Lương như quê quán, học vị, chức danh và

một số thông tin về Trích diễm thi tập và thể Tựa

Nội dung phần Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản; GV dẫn dắt HS tìm hiểu về bố cục của bài tựa “Trích diễm thi tập”; phân tích nội dung bài tựa:

Những nguyên nhân khiến thơ văn người xưa bị thất truyền, quá trình sưu tầm biên soạn sách

Nội dung phần Tổng kết là hướng dẫn HS khái quát, củng cố tri thức:

GV gợi dẫn cho HS khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

2.1.1.2 Hoạt động của thầy trò trong quá trình dạy học:

I- Tìm hiểu chung

1 Tácgiả

GV: Hướng dẫn HS đọc tiểu dẫn

Trang 29

GV hỏi: Dựa vào phần tiểu dẫn hãy nêu những nét chính về tác giả, tác

phẩm?

HS: Trả lời Định hướng: - Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh, năm mất), nhà

sưu tầm, tuyển chọ, biên soạn; quê ở Văn Giang- Hưng Yên, sinh sống ở Hà Nội; đỗ tiến sĩ năm 1478

- Tựa ( tự) là những bài viết đặt ở đầu cuốn sách, do tác giả hoặc người

khác viết nhằm giới thiệu về cuốn sách

- Trích diễm thi tập: Tuyển tập những bài thơ hay từ thời Trần đến thời Lê

II - Đọc – Hiểu văn bản

HS :đọc văn bản GV: nhận xét cách đọc của HS HS: đọc chú thích

1 Bố cục của văn bản

GV hỏi: Bài tựa có thể được chia làm mấy phần? Nội dung chính của

từng phần?

HS: thảo luận nhóm Đại diện nhóm trình bày, nhận xét

Định hướng: Bài tựa có thể chia làm 3 phần, với nội dung như sau:

- Phần 1: Những nguyên nhân khiến thơ văn người xưa không được lưu truyền đầy đủ

- Phần 2: Quá trình sưu tầm, biên soạn Trích diễm thi tập

- Phần 3: Lạc khoản (Niên hiệu, thông tin về tác giả)

2 Phân tích nội dung văn bản

GV: Hướng dẫn HS phân tích theo phần Hướng dẫn học bài trong SGK

a) Những nguyên nhân khiến thơ văn người xưa không được lưu truyền

đầy đủ

Trang 30

GV hỏi: Theo tác giả có những nguyên nhân nào khiến thơ văn người

xưa không được lưu truyền lại đầy đủ cho đời sau? Cho biết nghệ thuật lập luận của tác giả?

HS: Trả lời

Định hướng: - bốn nguyên nhân chủ quan:

+ Thơ văn hay nhưng kén người thưởng thức

+ Người có năng lực cảm thụ thì hoặc vì bân việc mà không có thời gian sưu tầm hoặc không để ý tới

+ Người thích sưu tầm thì không đủ năng lực, không đủ kiên trì + Chính sách in ấn của nhà vua quá ngặt nghèo

- Hai nguyên nhân khách quan:

+ Binh lửa, chiến tranh àn phá + Thời gian hủy hoại sách vở

- Nghệ thuật lập luận của tác giả:

+ Chặt chẽ, lô gíc: Trình bày nguyên nhân và thực trạng của hiện tượng thơ văn người xưa bị thất truyền trước, từ đó khẳng định việc ra đời

của Trích diễm thi tập là yêu cầu khách quan của thời đại

+ Kết hợp nghị luận với biểu cảm, tự sự tạo được sức thuyết phục cao

- Quá trình sưu tầm, biên soạn sách

GV hỏi: Hoàng Đức Lương đã làm gì để sưu tầm, biên soạn sách?

HS: Thảo luận nhóm, đại diện nhóm trình bày Định hướng: Quá trình biên soạn gặp nhiều khó khăn: Tác giả phải

“Nhặt nhạnh ở giấy tàn vách nát”, “tìm quanh hỏi khắp”, “ thu lượm thêm thơ của các vị hiện đang làm quan trong triều ” Chọn bài hay, sắp xếp theo thể loại, gồm 6 quyển chia làm hai phần

Trang 31

GV hỏi: Điều gì đã thôi thúc Hoàng Đức Lương vượt khó khăn để sưu

tầm, biên soạn tuyển tập thơ này? Em có cảm nghĩ gì về công việc sưu tầm, biên soạn của ông?

HS: thảo luận nhóm, đại diện nhóm trình bày, nhận xét Định hướng: - Chính tấm lòng yêu nước và niềm tự hào về văn hiến

của dân tộc đã thôi thúc tác giả vượt gian khó để sưu tầm, biên soạn lại thơ văn của người xưa

- Đó là một công việc kì công, khó khăn, vất vả nhưng cũng rất có ý nghĩa

GV hỏi: Em hãy cho biết, trước Trích diễm thi tập đã có ý kiến nào nói

về nền văn hiến của dân tộc?

Định hướng: Đó là Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi:

Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

III- Tổng kết

GV hỏi: Hãy nêu nhận xét chung về nội dung và nghệ thuật của tác

phẩm?

Định hướng: - Nội dung: Thể hiện được niềm tự hào, sự trân trọng và ý

thức bảo tồn di sản văn hóa dân tộc

- Nghệ thuật: Lập luận chặt chẽ, lời văn giàu cảm xúc

Trang 32

HS trả lời: Tưa được đặt ở đầu cuốn sách, do tác giả hoặc người khác viết nhằm giới thiệu về cuốn sách

Câu hỏi 2) Theo Hoàng Đức Lương, có những nguyên nhân nào khiến thơ văn người xưa không được lưu truyền lại đầy đủ?

HS trả lời: Có 4 nguyên nhân

- Thơ ca là sản phẩm tinh thần đặc biệt, chỉ có thi nhân mới cảm nhận được sắc đẹp và vị ngon của thi ca

- Các vị danh Nho làm quan to thì vì bận rộn công việc triều đình mà

“không có thì giờ để biên tập”, còn các viên quan cấp thấp thì vì lận đận

lo thi cử hoặc lo công việc hàng ngày nên không để ý

- Có người sưu tầm thơ ca nhưng thấy trách nhiệm nặng nề, lượng sức yếu kém nên bỏ dở

- Nhà vua cấm không cho khắc ván Ngoài ra còn do chiến tranh phá hủy và thời gian làm tàn phai Câu hỏi 3) Nhận xét về cách lập luận của tác giả?

HS trả lời: Lập luận chặt chẽ, lời lẽ thiết tha, lí lẽ hào hùng, có tính thuyết phục cao

Câu hỏi 4) Hoàng Đức Lương đã làm gì để sưu tập thơ văn của tiền nhân?

HS trả lời: Tác giả tìm tòi, nhặt nhạnh, sưu tập, chọn lọc, sửa chữa, sắp xếp lại để làm nên “Trích diễm thi tập”

Câu hỏi 5) Theo cảm nhận của em, tác giả là người như thế nào?

HS trả lời: Theo cảm nhận của em, tác giả là một người có ý thức cao trong việc bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc; có lòng tự hào, trân trọng thơ văn dân tộc

2.1.1.4 Ý kiến của giáo viên

Cô Chu Thị Hội nói: việc lựa chọn văn bản tựa “ Trích diễm thi tập”

vào chương trình Ngữ văn THPT có nhiều ý nghĩa:

Trang 33

- Giúp cho HS có cơ hội học tập và nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận

- HS hiểu được nhưng khó khăn mà cha ông ta phải vượt qua để chúng

ta có được nhưng di sản văn hóa như hôm nay

- Qua bài học, HS nhận thức đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc

- Bài học giáo dục ý thức độc lập tự chủ dân tộc cho HS

Việc dạy học văn bản được SGV và các sách tham khảo hướng dẫn kĩ, nhưng tôi tự nhận thấy việc dạy học văn bản này thiếu chất văn chương, không sinh động nên thật sự khó tạo được hứng thú cho cả thầy và trò trong quá trình tìm hiểu

Nhận xét: Bài dạy học đã thể hiện được sự đổi mới trong quá trình

dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường: Phương pháp tổ chức dạy học linh hoạt thể hiện rõ vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương, đồng thời người thầy luôn giữ đúng vai trò là người hướng dẫn, điều khiển quá trình tiếp nhận giá trị thẩm mĩ tác phẩm văn chương của HS; bố cục bài dạy học rõ ràng, quá trình phân tích theo trình tự bố cục tác phẩm đã làm rõ được những kiến thức cơ bản của bài học

Tuy nhiên, bài dạy học cũng bộc lộ một số điểm cần khắc phục:- Việc

mở bài bằng những kiến thức có sẵn trong SGK chưa tạo được không khí cần thiết cho giờ học

- Học sinh chưa được trang bị những kiến thức cần thiết về thể Tựa – Một thể loại văn học hoàn toàn mới mẻ với các em

-Yếu tố trữ tình thể hiện rõ cảm xúc của tác giả ( Một điểm quan trọng làm nên giá trị tác phẩm) chưa được khai thác rõ

Trang 34

2.1.2 Bài dạy học của cô giáo Hoàng thị Hồng trường trung học phổ thông Chợ Mới – Bắc Kạn

2.1.2.1 Tiến trình bài dạy được triển khai theo các phần:

+ Hệ thống lập luận chặt chẽ về hiện tượng thơ văn bị thất truyền

+ Nỗi lòng của tác giả về hiện tuợng thơ văn bị thất truyền

+ Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

III –Tổng kết

Phương pháp dạy học: Dùng hệ thống câu hỏi tái hiện, gợi mở, nêu vấn

đề cùng với cách tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm

2.1.2.2.Hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học

1 Hệ thống lập luận chặt chẽ về hiện tượng thơ văn bị thất truyền

GV hỏi: Nội dung của văn bản được chia làm mấy phần? Xác định luận

điểm một của văn bản? Những nguyên nhân nào khiến thơ văn người xưa không được lưu truyền đầy đủ cho thế hệ sau?

HS: Trả lời

Yêu cầu: - Nội dung của văn bản được chia làm ba phần:

Trang 35

+ Phần một :Nhưng nguyên nhân khiến thơ văn người xưa không được lưu truyền đầy đủ

+ Phần hai: Quá trình sưu tầm, biên soạn sách; kết cấu của tác phẩm + Phần ba: Lạc khoản

- Luận điểm một: Những nguyên nhân khiến thơ văn người xưa không được lưu truyền lại đầy đủ:

+ Nguyên nhân thứ nhất: Thơ văn tuy hay nhưng không phải ai cũng có thể thưởng thức, chỉ người có tài mới có thể thưởng thức cái hay, cái đẹp của thơ văn

+ Nguyên nhân thứ hai: Người có khả năng thưởng thức thơ văn thì hoặc vì bận việc hoặc không để ý đến

+ Nguyên nhân thứ ba: Người thích sưu tầm thơ văn thì không đủ tài hoặc không kiên trì

+ Nguyên nhân thứ tư: Kiểm duyệt của nhà vua quá khắt khe + Binh lửa, chiến tranh tàn phá sách vở

+ Thời gian hủy hoại, mai một sách vở

GV hỏi: Khi chỉ ra những nguyên nhân đó, tác giả đã sử dụng cách lập

luận nào?

HS: Trả lời

Yêu cầu: Phương pháp lập luận: Phân tích bằng những luận cứ cụ thể

về các mặt khác nhau để lí giải hiện tượng, vấn đề

2 Nỗi lòng của tác giả trước hiện tượng thơ văn người xưa bị thất truyền

GV hỏi: Bên cạnh những nguyên nhân, đoạn văn trên còn ẩn chứa điều gì?

HS: Trả lời

Yêu cầu: Tình cảm yêu quý, trân trọng văn thơ của ông cha, tâm trạng

xót xa, thương tiếc trước di sản quý báu của dân tộc bị mất mát của tác giả

GV hỏi: Hoàng Đức Lương đã làm gì để sưu tầm , biên soạn thơ văn?

Trang 36

HS: Thảo luận nhóm, trả lời câu hỏi

Yêu cầu: Tác giả đã nhặt nhạnh, thu lượm , tìm hỏi, bổ sung thêm

GV hỏi: Điều gì đã khiến cho tác giả vượt mọi khó khăn để sưu tầm thơ văn? HS: Trả lời

Yêu cầu: Đó là lòng yêu nước, niềm tự hào về nền văn hiến dân tộc, là

lòng khát khao giữ gìn di sản văn hóa dân tộc, ý thức độc lập tự chủ dân tộc

Câu hỏi 1) Em hãy cho biết đặc điểm cơ bản của thể Tựa?

HS trả lời: Tựa nguyên văn là Tự, bài viết đặt ở đầu cuốn sách do tác giả hoặc người khác được mời viết Bài Tựa thường nêu những quan điểm của người viết về những vấn đề có liên quan dến cuốn sách

Câu hỏi 2) Theo Hoàng Đức Lương có những nguyên nhân nào khiến thơ văn không được lưu truyền lại đầy đủ cho đời sau?

Hs trả lời: Theo tác giả, những nguyên nhân khiến thơ ca không được lưu truyền đầy đủ là: Thơ văn hay nhưng khó, không phải ai cũng cảm nhận được; Người có khả năng thì bận việc hoặc không dể ý đến; Người thích sưu tầm thì không đủ năng lực; Chính sách của nhà vua qúa khắt khe; Thời gian; binh lửa hủy hoại sách vở

Câu hỏi 3) Nghệ thuật lập luận của tác giả?

Trang 37

HS trả lời: Lập luận chặt chẽ, lời văn giàu cảm xúc

Câu hỏi 4) Hoàng Đức Lương đã làm gì để sưu tầm thơ văn của tiền nhân?

HS trả lời: Tác giả đã thu lượm những bài thơ còn xót lại, thu lượm thêm thơ của các vị làm quan trong triều

Câu hỏi 5) Theo cảm nhận của em, tác giả là người như thế nào?

HS trả lời: Là một người cá trách nhiệm với di sản văn hóa dân tộc

2.1.2.4 Ý kiến của giáo viên

Cô Hoàng Thị Hồng bày tỏ: Văn bản tựa “ Trích diễm thi tập” là một

văn bản rất hay, việc lựa chọn văn bản này vào chương trình Ngữ văn trong nhà trường là rất đúng đắn Vì qua văn bản này HS có dịp tìm hiểu một văn bản nghị luận mẫu mực, đồng thời có được những kiến thức về một thể loại văn học của cha ông ta Giá trị mà văn bản này đem lại là rất lớn: Giáo dục ý thức, trách nhiệm với di sản văn hóa dân tộc, rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận cho HS

Tuy nhiên, để dạy học văn bản này thật sự thành công là điều không dễ vì: Đây là văn bản nghị luận khó tiếp nhận nên phần lớn HS không có hứng thú học; Tài liệu tham khảo rất hiếm

Tôi mong muốn tiếp tục có những bài nghiên cứu, bài viết tâm đắc về loại văn bản này để thầy trò chúng tôi có thể tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận

Nhận xét: Bài dạy đã thể hiện được tư tưởng dạy học văn hiện đại đó

là GV giữ vai trò dẫn dắt ,điều khiển HS trong suốt quá trình chiếm lĩnh tri thức Với hệ thống câu hỏi gợi dẫn của GV, HS luôn tích cực, chủ động trong quá trình khám phá tri thức Nội dung bài dạy đáp ứng được những yêu cầu

cơ bản

Bài dạy học sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu giáo viên cố gắng:

Trang 38

- Tạo được cách dẫn dắt vào bài mới, cuốn hút HS bằng những kiến thức liên quan hoặc những nhận định về tác phẩm

- Làm rõ đặc điểm của thể Tựa trước khi phân tích tác phẩm

- Dẫn dắt HS phân tích theo bố cục của tác phẩm

- Phân tích rõ hơn về nghệ thật lập luận và tính biểu cảm của tác phẩm

2.1.3 Bài dạy học của cô Nguyễn Thị Thiên Sinh trường THPT Dân tộc nội trú Bắc Kạn.

2.1.3.1 Tiến trình bài học được triển khai như sau:

I – Tiểu dẫn

Phần này thầy trò cùng làm rõ nhưng nét chính về tác giả Hoàng Đức

Lương và tiêu đề Trích diễm thi tập

Trang 39

II - Đọc- hiểu văn bản

Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản tựa “ Trích diễm thi tập”

III – Củng cố tri thức

Khái quát lại giá trị của văn bản

Phương pháp dạy học: Bằng hệ thống câu hỏi gợi dẫn ,GV dẫn dắt HS

Định hướng:- Hoàng Đức Lương là một trong những tri thức thế kỉ

XV; Quê ở Hưng Yên; Đậu tiến sĩ năm 1478

- Trích diễm thi tập: Tuyển tập những bài tho hay ( Trích: tuyển chọn; Diễm: đep, hay; Thi: thơ)

II - Đọc – Hiểu văn bản

GV cho HS đọc văn bản một lượt

HS tìm hiểu từ khó

GV hỏi: Văn bản có thể chia làm mấy phần?

Định hướng: Văn bản được chia làm ba phần

+ Từ đầu đến “làm sao mà không rách nát tan tành”

+ Từ “ Đức Lương này Chê trách người xưa vậy”

+ Còn lại 1) Phần một

GV hỏi: ở phần này tác giả đã đưa ra những lí do chủ quan nào khiến

thơ văn người xưa không được lưu truyền đầy đủ?

Trang 40

Định hướng: 4 nguyên nhân chủ quan đó là:

+ Thơ văn có “sắc đẹp” Và “ vị ngon” nhưng không phải ai cũng thưởng thức được

+ Các vị làm quan trong triều thì bận việc, những người lận đận trong thi cử thì không để ý đến

+ Những người thích thơ văn thì không đủ năng lực và không kiên trì + Nhà vua kiểm duyệt khắt khe

GV hỏi: Ngoài những nguyên nhân trên còn có tác động nào từ bên

ngoài khiến thơ văn cha ông ta không được lưu truyền đầy đủ cho thế hệ sau?

Định hướng: 2 nguyên nhân khách quan:

+ Chiến tranh, hỏa hoạn tàn phá sách vở

+ Thời gian làm mai một sách vở

GV hỏi: Qua phần này ta hiểu được tâm sự gì của Hoàng Đức Lương? Định hướng: Xót xa trước nhưng di sản thơ văn của cha ông bị tàn phá,

mai một

GV hỏi: Hãy nhận xét về cách viết văn nghị luận của của tác giả?

Định hướng: Lập luận chặt chẽ, luận điểm, luận cứ vững chắc Phương

Ngày đăng: 24/08/2017, 07:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w