Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được thành quả, quả lại do cái duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ cái duyên mà thành quả mới … Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhâ
Trang 21. Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo? ưu điểm và hạn chế của nó? (Bản thể luận
- chủ yếu về vấn đề nhân sinh quan).
~~~Câu 1 này rơi vào khoảng hơn 7 trang mặc dù đã cố gắng thu gom hết cỡ (chú ý là nếu vào câu này thì cần phải chép hết sức mới có cơ hoàn thành nhé =)) )~~~
Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo:
Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh rất lớn, được tổ chức
thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm:
- Tạng Luận: Gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau
- Tạng kinh: Chép lời Phật dạy
- Tạng luật: Gồm các giới của đạo Phật
Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không
ngừng, thành, trụ, hoại, diệt (sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong)
Tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ, theo triết học Phật giáo, từ cái vô cùng nhỏ đến các vô cùng lớn, đều không thoát khỏi sự chi phối của luật nhân duyên Trong thuyết
“nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được thành quả, quả lại do cái duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ cái duyên
mà thành quả mới …
Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” ( mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu
của sự liên kết nghiệp quả
+ Vô minh: ( là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng tỏ)
+ Hành: ( là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả,
tạo ra cái nghiệp, cái nếp Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho vô minh và là nhân cho Thức)
+ Thức: ( Là ý thức là biết Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm quả cho hành và làm nhân cho Danh sắc)
+ Danh sắc: ( Là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên của ta Do dan
h sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho Lục xứ)
+ Lục căn: ( Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và tri thức Đã
có hình hài có tên phải có Lục căn để tiếp xúc với vạn vật.)
Trang 3+ Xúc: ( Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên
mở rộng xúc, cảm giác Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục xứ và làm nhân cho Thụ.)
+ Thụ: (Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào mình Do thụ mà
có ái ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái.)
+ Ái: (Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích Do ái mà có Thủ Do ấy, ái làm quả
cho Thụ và làm nhân cho Thủ.)
+ Thủ: ( Là lấy, chiếm đoạt cho minh Do thủ mà có Hữu Do vậy mà Thủ làm quả
cho ái và làm nhân cho Hữu.)
+ Hữu: ( Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái
nghiệp Do Hữu mà có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh)
+ Sinh: ( Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người,
làm súc sinh Do sinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử)
+ Lão tử: ( Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải
chết Nhưng chết - sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau Thể xác
tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh Cho nên lại mang cái
nghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não)
Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn,
không bao giờ ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà Các nhân duyên tự tập
nhau lại mà sinh mãi mãi gọ là Duyên hà mãn Đoạn này do các duyên mà
làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân cho đoạn sau Bởi
12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vô thường
- Mối quan hệ Nhân - Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không
gian và thời gian giữa vạn vật Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới
không tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến sự giản đơn hay phức tạp
Thế giới của loài người cũng do nhân duyên kết hợp mà thành Đó là sự kết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý
- Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “ sắc” ( địa, thuỷ, hoá, phong ) tức làcái cảm giác được
- Cái tôi tâm lý (tinh thần) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà
không có hình chất gọi là “ Danh”
Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của con người là:
Trang 4+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc
chạm lĩnh hội thân hay tâm
+ Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng
+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động
+ Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta
Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân - Duyên tạo thành mỗi
sinh vật cụ thể có danh và có sắc Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta Duyên tan
ngũ uẩn thì là diệt Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân - Duyên là vô cùng tận
- Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hoá theo qui luật nhân
hoá không ngừng không nghỉ, nên mọi sinh vật cũng chỉ là vụt mất, vụt còn
Không có sự vật riêng biệt, cố định, không có cái tôi, cái tôi hôm qua không
còn là cái tôi hôm nay
Như vậy thế giới là biến ảo vô thường, vô định Chỉ có những cái đó
mới là chân thực, vĩnh viễn, thường hằng Nếu không nhận thức được nó thì
con người sẽ lầm tưởng ta tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thường định, cái gì
cũng của ta Do đó, mà con người cứ khát ái, tham dục cứ mong muốn và
hành động chiếm đoạt tạo ra kết quả mà kết quả đó có thể tốt, có thể xấu gây
nên nghiệp báo, rơi vào bể khổ triền miên không bao giờ dứt
Sở dĩ có nỗi khổ là do qui định của Luật nhân quả Vì thế mà ta không
thấy được cái luật nhân bản của mình ( bản thể chân thực ) Khi đã mắc vào
sự chi phối của Luật Nhân - Duyên, thì phải chịu nghiệp báo và kiếp luân
hồi, luân chuyển tuần hoàn không ngừng, không dứt
Luân hồi: Có nghĩa là bánh xe quay tròn Đạo phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây) Cứ thế mãi do kết quả, quảbáo hành động của những kiếp trước gây ra Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người
Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị
nhân duyên” làm cho con người rơi vào bể trầm luân Đạo Phật đã chủ
chương tìm con đường diệt khổ Con đường giải thoát đó không những đòi
hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế
Trang 5Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng
sinh phải thấu hiểu và thực hiện nó Tứ diệu đế gồm:
1 Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu
là khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia
lìa nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ Những nỗi khổ ấy từ đâu? chúng ta
tiếp tục tìm hiểu Tập đế
2 Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành Vậy do những gì tụ tập lại mà
tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh? Đó là do con người có lòng tham, giận dữ, si ( si mê, cuồng
mê, mê muội) và dục vọng Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là
do con người không nắm được nhân duyên
3 Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra
được căn nguyên của sự khổ - để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ Thực chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử
4 Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy
nghĩ trong thế giới nội tâm ( thực nghiệm tâm linh ) Tới chừng đó sẽ thấy được chân như
và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thường, tức là đạt tới cói “niết bàn” không sinh, không diệt
Thực hiện Đạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới luật tập trung
thiên định cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8 nguyên tắc
( Bát chính Đạo) - buộc ta phải tuân thủ bát chính đạo gồm:
- Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không để
cho những cái sai che lấp sự sáng suốt
- Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn
- Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn
- Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác
- Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà,
không được bỏ điều nhân nghĩa
- Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên để đạt tới chân lý
- Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩ
đến những điều bạo ngược gian ác
Trang 6- Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính,
không bị thoái chí, lay chuyển trước mọi cán dỗ
Muốn thực hiện được “ Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để
thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và
những người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người Nội dung của
các phương pháp đó là thực hiện “ Ngũ giới” ( năm điều răn ) và “Lục độ” (Sáu phép tu )
- “Ngũ giới” gồm:
+ Bất sát: Không sát sinh
+ Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa
+ Bất dâm: Không dâm dục
+ Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo hoạ cho kẻ khác, không nói dối
- “Lục độ” gồm:
+ Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn
+ Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện
+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình
+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên
+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để
cho cái xấu cho lấp
+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thếgian
Về lĩnh vực chính trị - xã hội, đạo phật là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội
Ưu điểm và hạn chế:
~~~~Phần ưu điểm này được lấy từ 2 nguồn Một là trong sách, còn lại là tìm trên mạng Ai muốn chép ở phần nào cũng được.~~~~
Giáo trình cô cho có nêu lên ưu điểm và hạn chế như sau:
Đạo Phật là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp và chế độ xã hội bất công, đòi tự dobình đẳng nêu lên ước mong giải thoát khỏi bi kích của cuộc đời với lời khuyên sống đạo đức,
từ bi bác ái
Trang 7Tuy nhiên trong luận thuyết về nhân sinh và con đường thoát khổ, tư tưởng vẫn còn đónhững hạn chế, mạng nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc sống, chủ trương xuất thế, siêu thoát
có tính chất duy tâm không tưởng về những vấn đề xã hội
Nguồn trên mạng có những nội dung trong giáo trình tuy nhiên có phân tích chút ít
Phật giáo chú ý đến mặt phát triển tự nhiên của con người, đó là sinh, lão, bệnh, tử Bốnchặng đó là của cuộc đời phản ánh sự phát triển tất yếu của cơ thể con người, mà nếu ai đó nhậnthức được thì sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời, thậm chí còn bình thản, lạc quantrước cái chết
Phật giáo đề cập đến vấn đề ngũ uẩn là những vấn đề có ý nghĩa nhận thức luận sâu sa.Tuy đối tượng của nhận thức đó là tâm và tính chất là duy tâm nhưng ở trong quá trình ngũ uẩnchứa đựng một quá trình nhận thức gồm các bước hợp lý: từ sự vật khách quan, con người cảmthụ được, suy nghĩ, rồi đem thực hiện và cuối cùng là hiểu biết
Phật Giáo nhìn sự vật trong sự vận động và biến đổi liên tục, không có gì là trụ mãi mãi,không có ai là tồn tại mãi mãi Tuy nhận thức đó chỉ thấy được các biến đổi mà không thấyđược cái ổn định tương đối, chỉ thấy được cái vận động mà không thấy được cái hình thức củavận động, tuy dẽ đi tới chiều hướng bi quan và thái độ buông xuôi, nhưng mặt khác phải thấynhận thức như vậy là có chiều sâu, là thấy được một phương diện cơ bản của phát triển sự vật
Phật giáo đề ra tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, chủ trương cứu khổ cứu nạn là những tưtưởng gây được xúc động lòng người và đã trở thành một trong những nguồn gốc của lòngthương người, của chủ nghĩa nhân đạo Tuy ở đó có nội dung báo ứng, có tư tưởng nhẫn nhụcchịu đựng và không phân biệt bạn thù, song việc làm do tác động của tư tưởng trên biểu hiệnmột sự quan tâm đến con người, cứu vớt con người
Về vấn đề chính trị xã hội đó là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp, chống áp bức bóclột, tố cáo chế độ xã hội bất công
Tuy vậy, Phật Giáo có những hạn chế, nhưng ảnh hưởng tiêu cực đến tư duy con người.Phật giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy xã hội con người, chỉ thấy conngười nói chung mà không thấy con người thuộc các giai cấp đối kháng nhau trong xã hội trướcđây, không thừa nhận sự đấu tranh giai cấp trong xã hội Do đó, không thấy được nguyên nhân
xã hội đưa đến sự khổ ải của con người, không thấy được sự cần thiết phải đấu tranh chống ápbức, bóc lột vì thế quan niệm từ bi, bác ái trong một số trường hợp bất lợi cho sự đấu tranh giảiphóng giai cấp, chống áp bức
Trang 8Phật giáo không bàn tới lĩnh vực chính trị, vì thế mỗi khi bước sang lĩnh vực đó phải sửdụng các tử tưởng từ bên Trung Hoa.
Hạn chế lớn nhất của Phật giáo đối với phương pháp tư duy của con người là quan điểmduy tâm thần bí Quan điểm này khiến người ta không hướng vào hiện thực, mà hướng vào
“nghiệp” hay vào quả báo và thần linh để mong được phù hộ Và một khi tư duy như vậy thìkhông cần gì đến sự tìm tòi và khám phá, sáng tạo và hành động
Tóm lại như đã thấy, Phật giáo là một tôn giáo Vì vậy nó có những thiếu sót, những tiêu cực
về mặt khoa học và nhân sinh quan Song với thái độ khách quan, chúng ta cần nhận thức rõnhững yếu tố tích cực trong tư tưởng Phật giáo Trong lịch sử và cho đến ngày nay, Phật giáo làtôn giáo duy nhất chống lại thần quyền Trong nhưng tư tưởng của nó có những tư tưởng duy vật
và biện chứng Đạo Phật là tiếng nói chống chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự
do bình tư tưởng và bình đẳng xã hội; nói lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịchcủa cuộc đời Đạo Phật nêu cao thiện tâm, bình đẳng, bác ái cho mọi người như là những tiêuchuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội Những giá trị đạo đức của Phật giáo đã đưa nó lênthành một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới
Trang 92. Nêu những nội dung chủ yếu trong Triết học của Khổng Tử? Ưu điểm và hạn chế? Nội dung chủ yếu trong Triết học của Khổng Tử
Học thuyết của Khổng Tử là luận thiết về Nhân- Lễ- Chính danh, trong đó quan điểm về “Nhân”
là rường cột của luận thuyết này
* Tư tưởng “nhân”
Chữ “nhân” được Khổng Tử được nhắc nhiều nhưng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà có ý nghĩakhác nhau Tuy nhiên, có thể hiểu tổng quát: nhân là tính hướng thiện của con người mà nhân tố
cơ bản là thương người
Nhân theo Khổng Tử, có thể yên nặng, vững chãi như núi, bao nhiêu đức tính khác đềubởi đó mà sinh ra Người muốn đạt nhân phải là người có trí, dũng Có thể có người có trí màkhông có nhân, nhưng không thể có người có nhân mà thiếu trí Nhờ có trí, con người mới có sựsáng suốt, minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét đoán được sự việc Ngoài ra, để đạt nhân mà
có trí thôi thì chưa đủ, phải có dũng khí nữa Có dũng khí ở đây là không phải kẻ ỷ vào sứcmạnh, vì lợi mà hình động bất chấp đạo lý Người nhân có dũng phải là người tỏ rõ ý kiến củamình một cách cao minh, có thể hành động một cách thanh cao khi vận nước loan lạc, khi ngườiđời gặp phải hoạn loạn Người nhân có dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì dân,
vì nhân nghĩa
Ông chủ trương “nhân trị” tức trị nước bằng nhân của người cầm quyền Ông đưa ra “đạolàm người” với việc thực hiện các chuẩn mực: cung, khoan, tín, mẫn, huệ Ông chia xã hội thànhhai giai cấp là quân tử và tiểu nhân Theo ông chỉ có quân tử mới có đức nhân còn tiểu nhânkhông có đức nhân trong khi đây là tầng lớp đông đảo, tầng lớp tạo ra của cải cho xã hội nhưngkhông được cọi trọng
* Tư tưởng “chính danh”
Xã hội là một tổng thể của những quan hệ giữa người với người Nhưng Khổng Tử đã coitrọng những quan hệ chính trị - đạo đực là những quan hệ cơ bản, đề cao vai trò những quan hệ
ấy, thâu tóm những quan hệ ấy vào vào ba mối quan hệ là rường cột chủ đạo (gọi là tam cương):vua –tôi, cha-con, vợ-chồng Từ ba mối quan hệ đó mở rộng ra việc giải quyết các mâu thuẫnquan hệ xã hội khác Để giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội, mà trước hết là quan hệ “tamcương”, Khổng Tử nêu ra thuyết “chính danh”
Tư tưởng “chính danh” của Khổng Tử là một tư tưởng lớn, sau này được các nhà nho đặcbiệt coi trọng Danh là địa vị, thứ bậc của mỗi người trong xã hội Theo ông, chính danh là làm
Trang 10đúng, làm tốt chức phận của mình Muốn cho xã hội thái bình thịnh trị cần phải có kỷ cươngđường lối Kỹ cương đó là: Vua phải ra vua, quân phải ra quân Nói năng hành động phải theochính danh Để thực hiện chính danh, Khổng Tử đã đề ra đường lối trị quốc là “nhân trị” Do đó,
hệ thống các phạm trù và bảng giá trị về chính trị - đạo đức được đặc biệt coi trọng là nhân, trí,dũng (Nhân là “không lo”, trí là “không lầm”, dũng là “không sợ”)
Nhân tuy xếp ngang hàng nhưng lại chi phối 2 cái kia, có tính nguyên tắc Trí, theo nhữnggiải thuyết trực tiếp là “bất hoặc” (không lầm) Trí là biết (biết nhân, biết lo đời, biết mệnh, biếtđức…) Theo Khổng Tử, có đựơc nhân thì chẳng việc gì lo buồn, có đức trí thì chẳng bao giờ sailầm, có đức dũng thì chẳng bao giờ kinh sợ Ở Khổng Tử, ý niệm về trí không ra ngoài phạm vi
lễ và đức Ông không chú ý đến tri thức tự nhiên nhưng lại nối đến các vấn đề xã hội Khổng Tửkhinh thị sản xuất và tri thức sản xuất Trí, theo ông không phải là biết nhiều tri thức tự nhiên.Khổng Tử ghét người nói năng giỏi Trí không phải là nhiều mưu trí và tài biện luận
Dũng, theo sự giải thuyết trực tiếp là “không sợ”, nhưng dũng không trỏ sức khoẻ thểchất Dũng là xét mình không sai lầm thì không lo sợ gì, là quả cảm; là sức mạnh tinh thần dámlàm điều nghĩa Loại người có sức mà làm nhiều việc bậy không được gọi là dũng Khổng Tửcòn đề ra sự phòng phạm về dũng; lấy “kính” nhường “thận trọng” và học để trị, đối phó vớidũng; ông cho rằng chỉ có dũng là khong có nghĩa vì sẽ gây loạn
Nhân, trí, dũng là những đức mục có liên quan đế sự vùng dậy của tầng lớp quốc dân Sovới “nhân” khá trìu tượng thì “trí” và “dũng” khá cụ thể, gắn với sự phát triển của tầng lớp quốcdân thời chiến quốc
Không coi trọng tri thức sản xuất “người quân tử chỉ cần tu dưỡng đạo đức rồi bọn tiểunhân mang đến cho mà ăn, cần gì phải cày ruộng, làm vườn” Sự phân công lao động giữa ngườilao tâm và người lao lực được hoạch định rất rõ ràng: do người lao tâm dạy người lao lực làmviệc để nuôi sống người lao tâm
Ông chủ trương dùng chính danh khôi phục kỹ cương xã hội
* Tư tưởng “Lễ”:
Khái niệm Lễ mà Khổng Tử nói tới ở đây bao hàm một nội dung rất rộng Đó là những quyphạm đạo đức trong ứng xử giữa con người với nhau trong cuộc sống thường nhật mà còn làtoàn bộ những nghi thức nói chung; những điển chế, thiết chế hoạt động trong tổ chức xã hội Ông cho rằng, Lễ là dường mối của một xã hội Do vua không giữ đúng đạo vua, tôi không giữđúng đạo tôi, cha không giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con cho nên xã hội đại loan
Trang 11Do vậy, cần phải lập lại kỹ cương cho vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con; tức là làm chothiên hạ từ chỗ vô đạo ra hữu đạo thì xã hội mới yên ổn thái bình
Theo ông Lễ nhà Chu được coi là điển mẫu cần phải noi theo Do vậy, ông chủ trương giữ lạihình thức thiết chế nhà Chu, mặt khác ông lại chủ trương cần phải đưa vào trong thiết chế ấynhững nội dung mới cho phù hợp Đây là một chủ trương cấp tiến theo nguyên tắc kế thừa vàphát triển
Ưu điểm và hạn chế
Ông chủ trương “nhân trị” tức trị nước bằng nhân của người cầm quyền Chủ trương nàykhông hợp thời lúc bấy giờ trong hoàn cảnh xã hội hỗn loạn, chiến tranh liên miên Tuy nhiêntrong nhiều đời sau nó vẫn có giá trị
“Đạo làm người” với việc thực hiện các chuẩn mực: cung, khoan, tín, mẫn, huệ Về cơ bản
đó là quan niệm triết học nhân bản, nhân văn và tiến bộ Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy ítnhiều hạn chế trong quan niệm của Khổng Tử về vấn đề này
“Chính danh” của Khổng Tử là một tư tưởng lớn, sau này được các nhà nho đặc biệt coitrọng
Học thuyết của Khổng Tử không giúp cho trí tuệ và khoa học phát triển, vì tuy trí là biếtnhiều nhưng ông quy sự biết ấy vào đạo đức Ông chống hiện tượng trí bi cực hoá mà ông gọi làđãng (biết hỗn tạp, ngoài lễ và nghĩa, ba hoa) Bằng cách này, Khổng Tử tỏ ra bảo thủ, muốnngăn chặn những đòi hỏi sự phát triển của xã hội
Không coi trọng tri thức sản xuất “người quân tử chỉ cần tu dưỡng đạo đức rồi bọn tiểunhân mang đến cho mà ăn, cần gì phải cày ruộng, làm vườn” Do vậy, mà dù đã trải qua mấychục thế kỷ, Nho giáo vẫn không được phát triển vì nó không có tri thức khoa học
Ông chủ trương dùng chính danh khôi phục kỹ cương xã hội Tuy nhiên ông chủ trươngkhôi phục danh cũ của nhà Chu vốn đã tỏ ra lạc hậu Đây là một chủ trương thiếu tính cáchmạng, có tư tưởng cải lương
Tư tưởng “Lễ” của ông có những điểm hạn chế như tính chất rườm ra, phiền tạp, danh nào
lễ ấy Tư tưởng ấy làm cho con người an bần, lạc đạo, không đấu tranh
Tóm lại: So với các học thuyết khác, trết học Khổng Tử có nội dung phong phú và mang tính
hệ thống hơn cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị TrungHoa suốt hơn hai ngàn năm của xã hội phong kiến
Trang 123 Nội dung tư tưởng cơ bản của Pháp gia? trang 157
Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại, một trong những trường phái triết học có ảnhhưởng đến sự nghiệp thống nhất về tư tưởng và chính trị của xã hội Trung Hoa là trường pháiPháp gia mà người đại diện là Hàn Phi
Thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, xã hội Trung Hoa đang chuyển từ hình thái xã hội nô lệ suytàn sang hình thái xã hội phong kiến, làm trật tự cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức suy đồi
Để cải biến xã hội ấy, nếu Nho gia chủ trương “nhân trị”, Mặc gia lấy “kiêm ái” Đạo gia chủtrương sống theo đạo tự nhiên, “vô vi” để trị nước, thì Pháp gia với những căn cứ lý luận và lịch
sử của mình, đã coi hình pháp là công cụ quan trọng cho sự ổn định, phát triển xã hội và củng
cố chế độ chuyên chế phong kiến ở Trung Quốc
Pháp gia là tổng hợp giữa “pháp”, “Thế” và “Thuật” Trong đó, “Pháp” là nội dung của chínhsách cai trị, “Thế” và “Thuật” như là phương pháp để thực hiện chính sách đó Cả ba pháp, thế,thuật đều là công cụ của đế vương
Pháp là một phạm trù triết học Trung Quốc cổ đại, có thể hiểu theo nghĩa hẹp là quy định, luật
lệ, hiến lệnh có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng,pháp có thể coi như thể chế, chế độ chính trị xã hội Trong thiên “Định pháp”, Hàn Phi nói:
“Luật pháp là hiến lệnh soạn ra dành riêng ở quan phủ” Ở thiên “Nạn tam” ông giải thích rõ vềpháp rằng: Những công cụ quan trọng của viị nhân chủ, ngoài pháp với thuật ra không có gìkhác Pháp là những điều luật biên chép trong đồ thư, bày ra nơi quan phủ, ban bố trong dân…Pháp không có gì bằng rõ ràng, minh bạch”
Vậy Pháp là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, phải trái, công tội, từ đó mọingười biết rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình Cho nên, bậc minh chủ sai khiến bề tôikhông đặt ý ngoài pháp, không ban ơn ở trong pháp, không có hành động nào trái pháp và quanlại được coi là những bậc thầy về pháp luật trong thiên hạ
Trong phương pháp trị nước cùng pháp còn có thế Thế theo quan niệm của Hàn Phi là địa vị,thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể Địa vị đó của kẻ trị vì phải được coi là độc tôn,được gọi là “tôn quân quyền” Muốn thi hành được pháp lệnh tất cả phải có thế Theo Hàn Phi,thế quan trọng đến mức có thể thay thế cho vai trò của bậc hiền nhân “Chỉ có bậc hiền tri không
đủ trị dân, mà địa vị quyền thế lại đủ đóng vai tròng của bậc hiền vậy” “Kiệt làn Thiên tử, chếngự được thiên hạ không phải vì hiền mà vì có quyền thế Nghiêu thất phu không trị nổi ba nhàkhông phải vì hiền mà vì địa vị thấp “Ngựa sở dĩ có thể mang nặng, kéo xe đi đường xa là vì
Trang 13sức gân Chúa vạn thặng, Chúa thiên thặng sở dĩ chế ngự được thiên hạ, chinh phục được chưhầu vì uy thế Uy thế là sức gân của bậc minh chủ” Do vậy, thế và pháp trong pháp trị không thểtách rời nhau.
Có thế vị, nhưng làm thế nào để vua có thể điều khiển được dân khắp nước thực hiện nghiêmminh pháp luật được ban? Pháp gia cho rằng, vua phải dùng thuật Thuật là phương pháp, thủthuật, cách thức mưu lược điều khiển việc, khiến người triệt để, tận tâm thực hiện hiến lệnh củavua mà không hiểu vua dùng họ như thế nào Cho nên, Hàn Phi mới nói: Vua dùng luật như Trời,dùng thuật như quỷ là vậy Nếu như pháp được công bố rộng rãi trong dân thì thuật là cơ tríngầm, là thủ đoạn của vua Theo thuật, để trị dân, vua phải có bộ máy quan lại và vua phải cócách sử dụng, điều khiển bộ máy đó trực tiếp làm nhiệm vụ trị dân theo pháp lệnh đã ban Vìvậy, vua trị dân thông qua trị quan lại, “Minh chủ trị lại, bất trị dân”
Thuật của pháp gia cũng là “chính danh” và “theo danh mà trách thực” Đây cũng là tư tưởng
mà Khổng Tử đặc biệt chú trọng trong triết học của mình Nhưng nếu ở Khổng Tử “chính danh”
là yêu cầu mọi người trong xã hội làm tròn bổn phận của mình, thì ở Hàn Phi “chính danh” làphương sách trong thuật lãnh đạo của vua, là mọi người phải làm vì vua Vua cứ theo thuật lấydanh và trách thực Danh và thực hợp nhau thì phải, thì “chính danh” Danh và thực không hợpnhau là trái, là không “chính danh” Khi phải, trái, đúng, sai đã phân biệt thì cứ theo đó mà trọngthưởng, nghiêm phạt một cách công minh Do vậy từ quan đến dân, mọi người trong xã hội đềunhất nhất tự động làm tròn bổn phận, chức vụ của mình, không ai dám làm sai hoặc làm quádanh phận đã định; vua khi đó “không cần làm gì mà không gì không làm” Điều này chẳng khác
gì tư tưởng “vô vi nhi trị” của Lão tử cả
Để chọn đúng người tài năng, trao đúng chức vụ quyền hạn, vua cũng nhờ thuật: “bề tôi tỏ lờimuốn làm việc gì, vua sẽ theo lời mà trao việc, cứ theo việc mà trách công Công xứng việc, việcxứng người thì thưởng Công không xứng việc, việc không xứng người thì phạt” Cứ như thế,người không đủ tài đức dẫu tham muốn danh vọng cũng không đảm nhận chức vụ Do đó, vua sẽloại được những kẻ bất tài, là lựa được nhưng người có đủ năng lực làm tròn công việc vua giao.Vua muốn biết bề tôi thực hiện công việc, danh và thực có hợp nhau không mà thưởng cho đúngcông, phạt cho đúng tội Hàn Phi nói: Vua có hai cách kiểm tra: một là, vua trực tiếp đi kiểm tra,thẩm định kết quả nhiệm vụ bề tôi đã làm; hai là, vua đã dùng người hoặc được vua giao, hoặc tựmình nhận nhiệm vụ thay mặt vua thẩm định kết quả công việc Người thay mặt vua đi kiểm tracông việc của người khác cũng phải tuân theo thuật như vua đã áp dụng với mọi người khác
Trang 14Trong “Thuật” trị nước, ngoài thực hiện chính danh, việc thưởng phạt nghiêm minh được HànPhi ví như hai tay của nhà vua, hay như hai cán cân của thuật cầm quyền; nó biểu hiện cái thế và
là phương cách hữu hiệu trong thuật của vua, vì nó đánh trúng tâm lý hám lợi tránh hại của conngười
Ngoài ra vua phải luôn luôn giữ kín sở thích, tâm ý của mình, không được tin ai, không chomọi người biết mình nghĩ gì, bề tôi sẽ không thể lợi dụng để dèm pha, xui nịnh, tô vẽ và tìm cách
để hại vua Tốt nhất là vua bỏ điều mình ham, bỏ khôn ngoan của mình thì bầy tôi sẽ tự đềphòng và bề tôi không biết được lòng vua thì không bị che lấp Đó chính là đạo lấy cái vô khiếncái hữu, dùng sự chống tĩnh khiến sự động, là tri thức sáng suốt của bậc thượng trí
Tóm lại, Pháp gia là một trường phái triết học lớn của Trung Quốc cổ đại, chủ trương dùngnhững luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi đạo đức của con người
và là công cụ quan trọng cho sự phát triển đời sống xã hội và củng cố chế độ chuyên chế ở TrungQuốc thời chiến quốc Pháp gia là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, tiến hành đấutranh quyết liệt chống lại tàn dư của chế độ truyền thống công xã gia trưởng và tư tưởng bảo thủ,
mê tín tôn giáo đương thời Học thuyết của Pháp gia mà Hàn Phi là đại biểu đã trở thành vũ khítinh thần để nhà Tần thực hiện công cuộc thống nhất Trung Quốc, thiết lập chế độ phong kiếntrung ương tập quyền của mình
4 Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan trong việc xem xét?
a) Tầm quan trọng và tính phức tạp của vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan
Việc nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật Mácxít là rất quan trọng để bồidưỡng thế giới quan khoa học, chống chủ nghĩa chủ quan - một sai lầm khá phổ biến từng xảy
ra ở nước ta và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây và đã gây ra những tác hại nghiêm trọngđối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới
Chủ nghĩa chủ quan là một hình thức biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm nên nguồn gốc nhậnthức luận của nó cũng không thoát khỏi nguồn gốc chung của chủ nghĩa duy tâm
Chúng ta biết rằng, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cáchsáng tạo Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức, chúng thống nhất biệnchứng với nhau Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo trên cơ sở phản ánh và trong khuôn khổ củaphản ánh Vì vậy, nếu tách rời sáng tạo khỏi phản ánh, cường điệu tính sáng tạo của ý thức sẽrơi vào chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa duy tâm
Trang 15Ý thức con người là một hiện tượng có kết cấu phức tạp, trong đố tri thức như là nhân tố cơbản của ý thức Theo Mác, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức Cùng với tri thức, conngười còn có ý chí Ý chí biểu hiện như là một nhân tố chủ quan tích cực để thể hiện một mụcđích nào đó, để khắc phục những trở ngại trên con đường đạt đến mục đích Ý chí có vai tròquan trọng trong hoạt động của con người, song sẽ sai lầm nếu cường điệu vai trò của ý chí Chủnghĩa chủ uan , chủ nghĩa duy ý chí chính là khuynh hướng duy tâm tuyệt đối hóa vai trò củanhân tố chủ quan, của ý chí; đối lập và tách rời ý chí với tri thức; coi ý chí có tính độc lầp tuyệtđối, xa rời hiện thực khách quan.
Trong đời sống xã hội, cái vật chất và cái tinh thần, cái khách quan và cái chủ quan, thườngxuyên quyện chặt vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, ranh giới giữa chúng chỉ có tính tương đối.Điều đó dễ gây lẫn lộn giữa cái vật chất và cái tinh thần, cái chủ quan và cái khách quan, dễ lấychủ quan thay cho khách quan, nghĩa là dễ rơi vào nguy cơ của chủ nghĩa chủ quan
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp mới mẻ, đầy khó khăn và phức tạp đòi hỏi phải
có thời gian nên chủ thể cách mạng phải biết phát huy cao độ nhân tố chủ quan, phải có nhiệttình cách mạng và tính tự giác cao Nhưng khi vai trò nhân tố chủ quan càng lớn thì nguy cơ mắcbệnh chủ quan cũng càng lớn, vì người ta dễ cường điệu vai trò nhân tố chủ quan mà chấp quyluật khách quan, dễ lấy nhiệt tình cách mạng thay cho sự yếu kém tri thức khoa học Sai lầm chủquan duy ý chí là một sai lầm có tính chất phổ biến trong nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây,
do đó đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng Vì vậy, việc đấu tranh để khắc phục và ngăn ngừabệnh chủ quan duy ý chí có ý nghĩa rất quan trọng và đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên
b) Nguyên tắc khách quan trọng việc xem xét
Theo Lênin, tính khách quan của sự xem xét là nguyên tắc hàng đầu của phương pháp nhậnthức biện chứng duy vật Nguyên tắc này là hệ quả tất yếu của quan điểm duy vật mácxít, khigiải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa khách quan và chủ quan
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sựvật, tự thực tế khách quan, phản ánh sự vật một cách trung thành như nó vốn có, không đượcxuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không lấy
ý chí áp đặt cho thực tế, phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan nóng vội, phiến diện, địnhkiến, không trung thực Yêu cầu của nguyên tắc khách quan còn đòi hỏi phải tôn trọng và hànhđộng theo quy luật khách quan
c) Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người