1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TAI BIẾN sạt lở TRÊN địa bàn TỈNH bình định

7 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 246,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đỗ Minh Đức CQCT: Trung tâm triển khai công nghệ khoáng chất, Trường ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội CBPH: Nguyễn Kim Long, Đỗ Văn Nhuận, Đỗ Đình Toát, Nguyễn Ngọc Trực TGTH: 3/2008-3/2010

Trang 1

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TAI BIẾN SẠT LỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH (TRỪ HUYỆN VÂN CANH) VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG, GIẢM THIỂU THIỆT HẠI VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI

CNĐT: PGS TS Đỗ Minh Đức CQCT: Trung tâm triển khai công nghệ khoáng

chất, Trường ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội

CBPH: Nguyễn Kim Long, Đỗ Văn Nhuận, Đỗ

Đình Toát, Nguyễn Ngọc Trực

TGTH: 3/2008-3/2010

MỞ ĐẦU

Tỉnh Bình Định có cấu trúc địa chất phức tạp, đặc biệt là các hoạt động tân kiến tạo gây ra sự phân cắt địa hình mạnh mẽ, tăng độ dốc sườn, dẫn đến phát triển hiện tượng sạt lở, đặc biệt là trong các đợt mưa lũ lớn Trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi, các hoạt động nhân sinh đã làm phát sinh và cường hoá hiện tượng sạt lở, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng, là cản trở đáng kể cho sự phát triển bền vững Mặt khác, trong thời gian gần đây, do sự xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn của các hình thế thời tiết bất lợi, hiện tượng sạt lở đã gây ra nhiều thảm hoạ tàn khốc ở nhiều khu vực trên lãnh thổ Việt Nam Là khu vực có nhiều đặc điểm tương tự về điều kiện

tự nhiên, nhất là địa hình dốc, khả năng diễn ra các đợt mưa với cường độ lớn, tỉnh Bình Định cũng có nhiều khu vực chứa đựng ẩn hoạ về tai biến sạt lở đất Thêm vào

đó hoạt động khai thác đá xây dựng, đá oplat ở các quy mô khác nhau trên sườn dốc tạo ra rất nhiều ẩn họa về sạt lở mái dốc đá (đá đổ) Từ thực tế trên cho thấy, địa bàn tỉnh Bình Định có nguy cơ cao về tai biến sạt lở Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về các tai biến này

I MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu

- Điều tra hiện trạng sạt lở và ảnh hưởng của chúng đến các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tại các khu vực đất dốc của tỉnh Bình Định, nhất là tại Lộ Diêu và Núi

Dung

- Xác định các nguyên nhân, dự báo quy mô phát triển hiện tượng sạt lở, từ đó khoanh định các khu vực nguy hiểm (tập trung dân cư, đường giao thông, khu vực khai thác mỏ) và đề xuất giải pháp pháp giảm thiểu tai biến địa chất

2 Nội dung

- Nghiên cứu và thu thập các tài liệu liên quan đến các tai biến sạt lở làm cơ sở

lựa chọn các phương pháp nghiên cứu có hiệu quả

- Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu hiện có, đặc biệt là các tài liệu nghiên cứu về

hình thế mưa ở tỉnh Bình Định

- Khảo sát và nghiên cứu thực địa

- Xác định các tính chất cơ lý của đất đá và sự biến đổi của chúng do ảnh hưởng của các yếu tố địa chất nội sinh, ngoại sinh và các hoạt động nhân sinh

- Trên cơ sở những tài liệu thu được tiến hành xử lý bằng các chương trình thích hợp để thành lập sơ đồ địa chất công trình và hiện trạng tai biến sạt lở tỉnh Bình Định, tỷ lệ 1: 50.000, các sơ đồ địa chất, địa chất công trình và dự báo sạt lở cho các khu vực trọng điểm tỉnh Bình Định tỷ lệ 1: 10.000

- Xây dựng các mô hình kiểm tra độ ổn định của mái dốc, dự báo các khu vực

có nguy cơ về sạt lở ở các mức độ khác nhau, đề xuất các giải pháp hạn chế tai biến sạt

Trang 2

lở

3 Phương pháp

- Phương pháp khảo sát địa chất: Nghiên cứu cụ thể các cấu trúc địa chất, địa mạo, các hoạt động tân kiến tạo và vỏ phong hoá

- Phương pháp thực nghiệm: Lấy mẫu xác định tính chất cơ lý của đất đá, tiến hành thí nghiệm cắt hiện trường, thi công các công trình hố để xác định bề dày vỏ phong hoá

- Phương pháp địa vật lý: Xác định bề dày vỏ phong hóa, các cấu trúc địa chất bất lợi cho ổn định mái dốc

- Phương pháp thí nghiệm hiện trường: Xác định các thông số sức chống cắt của khối đất phong hóa

- Phương pháp phân tích các loại mẫu xác định thành phần, cấu trúc của các loại đất đá và đặc biệt là các tính chất cơ lý

- Phương pháp thành lập các sơ đồ địa chất công trình

- Phương pháp mô hình toán học: Xây dựng mới và sử dụng các chương trình thích hợp để xác định các nguyên nhân gây ra sạt lở; dự báo các khu vực có tiềm năng phát sinh tai biến theo các mức độ khác nhau

- Phương pháp thành lập sơ đồ phân vùng dự báo nguy cơ sạt lở theo các mức

độ từ rất cao đến thấp, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu tai biến

II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Hiện trạng và nguyên nhân sạt lở mái dốc ở tỉnh Bình Định

Kết quả khảo sát ở các khu vực đất dốc trong tỉnh Bình Định ở tỷ lệ 1: 50.000

đã xác định được các khu vực trọng điểm về sạt lở mái dốc (không kể huyện Vân Canh) bao gồm:

- Khu vực thành phố Quy Nhơn, bao gồm cả tuyến đường Quy Nhơn - Sông Cầu và quốc lộ 1A qua đèo Cù Mông

- Tuyến tỉnh lộ đi An Toàn, An Nghĩa huyện An Lão

- Tuyến tỉnh lộ ven biển huyện Hoài Nhơn

- Tuyến tỉnh lộ đi Đăk Mang huyện Hoài Ân

- Tuyến tỉnh lộ 637 qua huyện Vĩnh Thạnh

- Tuyến tỉnh lộ ven biển huyện Phù Cát

- Tuyến quốc lộ 19, đặc biệt là đèo An Khê, huyện Tây Sơn

- Các mỏ khai thác đá xây dựng và đá ốp lát

- Trong các khu vực kể trên, khu vực đèo Lộ Diêu (huyện Hoài Nhơn) và Núi Dung (huyện An Nhơn) sẽ được tiến hành nghiên cứu chi tiết ở tỷ lệ 1: 10.000

1.1 Hiện trạng sạt lở khu vực thành phố Quy Nhơn và phụ cận

B336 đến B352 Đây là tuyến tránh quốc lộ 1A đi qua thành phố Quy Nhơn, chạy dọc theo ven biển các phường Nguyễn Văn Cừ và Ghềnh Ráng đến huyện Sông Cầu của tỉnh Phú Yên Tuyến đường có mật độ giao thông tương đối cao Dọc theo tuyến đường chủ yếu phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng ở ven biển Theo hướng từ Quy Nhơn đi Sông Cầu, tuyến đường này có thể được chia thành các đoạn như sau:

Từ điểm khảo sát B350-B352, tuyến đường cắt qua núi Sú Vân, qua đèo Quy Hòa Các thành tạo địa chất chủ yếu ở đây là đá gốc của phức hệ Đèo Cả Đoạn này địa hình tự nhiên tương đối thoải, tuy nhiên do khai đào, tạo ra mái dốc có độ dốc lớn nên phát sinh 3 khối trượt lớn được ghi nhận tại các điểm khảo sát B350, 351 và 352, trong đó B350 và 351 là các khối trượt ở tuyến đường gom Khối trượt có thể tích nhỏ, khoảng 100-200 m3 Chiều cao mái dốc lớn tuy nhiên lớp đất phong hóa mỏng nên bề

Trang 3

dày khối trượt không lớn Trên mái dốc có tảng lăn đá gốc còn sót lại, khi xảy ra trượt đất có thể lăn xa gây sát thương Khoảng 2,2 km tiếp theo tuyến đường đi qua trầm tích Đệ tứ và các đá gốc thuộc khối đá magma Đèo Cả (mGDi/K2đc) và phức hệ Vân Canh G/T2vc2 Tiếp theo tuyến đường cắt qua các đá của hệ tầng Mang Yang (T2my) Đoạn này dài khoảng 1,2 km, có hai khối trượt tại điểm khảo sát B348 và B349 Tương tự trên các khối trượt có quy mô nhỏ Hiện tượng trượt xảy ra do mái dốc có độ dốc lớn khoảng 600 và mưa lớn làm suy yếu sức chống cắt của đất Phần lớn chiều dài của tuyến đường chạy men theo sườn núi phía biển cắt qua các đá gốc của phức hệ Vân Canh (T2vc1 và T2vc2) Đã ghi nhận được 7 khối trượt xảy ra trong vỏ phong hóa của T2vc1 và 5 khối trượt xảy ra trong vỏ phong hóa của T2vc2

đang là nơi trọng điểm về hiện tượng sạt lở mái dốc Tuyến khảo sát bao gồm các điểm B332-335, nằm trên quốc lộ 1A qua đèo Cù Mông đi thành phố Hồ Chí Minh Chiều dài tuyến khảo sát khoảng 2.3km chia làm các đoạn như sau:

Từ điểm khảo sát B332-334 tuyến đường dài khoảng 1.3km cắt qua các thành tạo địa chất thuộc phức hệ Đèo Cả Trên đoạn này, ghi nhận hai khối trượt tại điểm khảo sát B332 và B334, đặc biệt khối trượt B334 tương đối lớn (có thể tích khoảng 1600m3), bề dày vỏ phong hóa mỏng (1.5m) thành phần chủ yếu là sét pha có lẫn sạn, tuy nhiên trong lớp đá granit phong mãnh liệt có lẫn các tảng lăn kích thước 0.5-2m khi xảy ra sạt lở sẽ rất nguy hiểm Đoạn tiếp theo từ điểm khảo sát B334 đến B335 tuyến cắt qua các thành tạo địa chất thuộc hệ tầng Mang Yang, đoạn này có địa hình tương đối dốc (trên 45o), ghi nhận một khối trượt nhỏ thể tích khoảng 120m3, bề dày

vỏ phong hóa 2m thành phần chủ yếu là sét pha có lẫn dăm sạn đá gốc Các khối trượt

có quy mô tương đối lớn, khi xảy ra có thể san lấp một phần đường, gây nguy hiểm cho người và phương tiện giao thông trên đường Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng sạt lở ở đây là góc mái dốc lớn, chủ yếu từ 55-600 Bên cạnh đó tầng đất phong hóa có độ rỗng và tính thấm lớn, sức chống cắt giảm mạnh khi bị tẩm ướt bởi nước mưa

1.2 Tuyến tỉnh lộ đi An Toàn, An Nghĩa huyện An Lão: Tuyến khảo sát

khoảng 7.5km bao gồm các điểm từ 26-34 Đây là tuyến ngắn, đi qua địa phận hai xã:

An Toàn và An Nghĩa có địa hình tương đối dốc Toàn bộ tuyến khảo sát cắt qua các thành tạo địa chất thuộc phức hệ Đèo Cả Trên tuyến khảo sát này nhìn chung hiện tượng sạt lở xảy ra khá phổ biến, đã ghi nhận được 8 điểm sạt lở xảy ra, chủ yếu là hiện tượng trượt trong vỏ phong hóa dày từ 2-5m, tại một số điểm khảo sát có hiện tượng các tảng lăn mài tròn tốt lẫn trong vỏ phong hóa, chính vì vậy khi xảy ra trượt đất các khối đá này có thể lăn xa gây nguy hiểm cao Điển hình tại điểm khảo sát 28 ghi nhận được một khối trượt cao 12m, dài 30m, góc dốc taluy 65o Đặc biệt trên tuyến khảo sát đã phát hiện một khối trượt lớn tại hai điểm khảo sát 30 và 31 Khối trượt trong vỏ phong hóa dày chừng 5m, cao khoảng 25m, dài trên 100m, góc dốc taluy 60o

1.3 Tuyến tỉnh lộ ven biển huyện Hoài Nhơn: Đây là tuyến khảo sát trên

đường tỉnh lộ ven biển có tổng chiều dài khoảng 16km gồm các điểm khảo sát từ B67-B62 và đi qua các khu du lịch nổi tiếng của tỉnh Bình Định như: khu du lịch Lộ Diêu, khu du lịch Tam Quan Trong tuyến khảo sát không xuất hiệt trường hợp sạt lở nào, chủ yếu tuyến cắt qua các thành tạo địa chất Đệ tứ, nguồn gốc biển và gió thành phần chủ yếu là cát thạch anh màu trắng, hạt trung Kết thúc tuyến khảo sát tại điểm B62 chân đèo Lộ Diêu phía Hoài Nhơn

1.4 Tuyến tỉnh lộ đi Đăk Mang huyện Hoài Ân: Tuyến khảo sát bao gồm các

điểm từ B78-B99 đi qua địa phận hai xã Vĩnh Hòa và Vĩnh Kim dài khoảng 9.7km

Trang 4

Đoạn thứ nhất từ điểm khảo sát B99-B87 dài khoảng 5km, cắt qua các đá Bazan tuổi Pliocen muộn, Granit thuộc hệ tầng Vân Canh, hệ tầng Hải Vân Tại điểm khảo sát B96 các bãi đá đổ thải bên trên có thể sạt xuống san lấp đương phía dưới khi trời mưa

to Đoạn thứ hai từ điểm khảo sát B87-B78 dài khoảng 4.6km, cắt qua các đá Granit thuộc phức hệ Hải Vân, từ điểm B87-B84 địa hình tương đối bằng phẳng, không xuất hiện trường hợp sạt lở nào xảy ra Tuy nhiên ghi nhận một trường hợp bãi đổ thải dưới taluy âm đường có thể tràn xuống suối là tiền đề của lũ bùn đá xảy ra Từ điểm khảo sát B84-B78 địa hình tương đối dốc (>45o), nguy cơ sạt lở xảy ra cao Trong đoạn này ghi nhận trường hợp khối trượt tại điểm khảo sát B79, góc dốc vách trượt 800, mái dốc cao 10m, thể tích khoảng 1000m3, bề dày phong hóa >2m, từ 2-6m đá gốc nứt nẻ thành dăm, từ 6m trở xuống đá gốc là các khối Granit nứt nẻ mạnh Ngoài ra, tại các điểm khảo sát 80, 81 cũng ghi nhận các trường hợp khối tượt quy mô nhỏ với chiều cao khoảng 12m, dài 3m, bề dày vỏ phong hóa 2m Tại điểm khảo sát 82, xuất hiện khối trượt rất lớn, cao khoảng 15m, dài 30m, góc dốc taluy trên 45o, bề dày vỏ phong hóa trên 5m

1.5 Tuyến tỉnh lộ 637 qua huyện Vĩnh Thạnh: Đây là tuyến khảo sát tương

đối dài bao gồm các điểm khảo sát từ B300-B323 đi qua địa phận xã Vĩnh Sơn, khoảng 30km Tuyến khảo sát được chí thành các đoạn nhỏ như sau:

Từ điểm khảo sát B300 đến B306 dài khoảng 8.6km nằm trên tỉnh lộ 637 hướng đường đi hồ Vĩnh Sơn, đoạn này có địa hình tương đối thoải (<35o) nằm hoàn toàn trong các đá Bazan tuổi Pliocen muộn Trong đoạn khảo sát không thấy xuất hiện điểm sạt lở nào xảy ra Tiếp theo, từ điểm khảo sát B306 đến B312 dài khoảng 7.3km, tuyến khảo sát cắt qua các thành tạo địa chất thuộc phức hệ Bến Giằng là các đá Granodiorit, Gabrodiorit Đoạn khảo sát còn lại bao gồm các điểm từ B312-B323, đây là tuyến đường dọc sông Côn dài khoảng 13.5km, có địa hình thoải và không ghi nhận trường hợp sạt lở nào xảy ra Đoạn này cắt qua các thành tạo trầm tích Đệ tứ có nguồn gốc sông suối

1.6 Tuyến tỉnh lộ ven biển huyện Phù Cát: Tuyến khảo sát kéo dài khoảng

13.5km gồm các điểm khảo sát từ B135-B144, là tuyến đường tỉnh lộ 639 ven biển thuộc huyện Phù Cát, tuyến khảo sát được chia làm các đoạn sau:

Đoạn thứ nhất từ điểm khảo sát B140-2 đến B138-2 có chiều dài khoảng 5.8km

đi qua địa phận xã Cát Hải có các điểm du lịch như: Tân Thanh, Vĩnh Hội, tuyến cắt qua khu vực địa hình tương đối dốc (>60o) có các thành tạo địa chất thuộc phức hệ Đèo Cả Trên đoạn khảo sát thường xuất hiện các hiện tượng đá đổ, đá lăn do các khối Granit nằm lẫn trong lớp vỏ phong hóa Điển hình như tại điểm khảo sát B139 đèo Tân Thanh, chiều cao mái dốc từ 12-15m, độ dốc 80o nguy cơ đá đổ từ trên xuống đường là rất cao Đoạn còn lại đi qua địa phận xã Cát Tiến có chiều dài khoảng 7.7km bao gồm các điểm khảo sát từ B135-B138, B141-B144, tuyến đi qua các thành tạo địa chất thuộc phức hệ Vân Canh chủ yếu là các đá Granit, Granosyenit hạt nhỏ Trên tuyến nghiên cứu, đi qua khu vực địa hình tương đối dốc, có nhiều hiện tượng khai thác đá Granit nhỏ lẻ của tư nhân, chưa có các biện pháp khai thác an toàn chính vì vậy hiện tượng đá lăn, đá đổ có nguy cơ rất cao

1.7 Tuyến quốc lộ 19, đặc biệt là đèo An Khê, huyện Tây Sơn: Đây là tuyến

khảo sát tương đối ngắn, khoảng 4km, tập trung khảo sát chủ yếu khu vực đèo An Khê, bao gồm các điểm khảo sát từ B72-B77 Đoạn khảo sát nằm hoàn toần trên các thành tạo địa chất thuộc phức hệ Bến Giằng Tuyến này nhìn chung có độ ổn định cao, một

số điểm xuất hiện các khối tượt quy mô nhỏ và một số điểm có nguy cơ đá đổ ở mức

độ trung bình Ghi nhận được tại điểm khảo sát B72, B74 có các khối trượt 2-3m3, mái

Trang 5

dốc cao 8-10m, góc dốc 50o Tại các điểm khảo sát B73, B75-B77 có thể xảy ra hiện hiện tượng đá đổ với nguy cơ thấp, mái dốc cao chùng 10-15m, kích thước khối đá nhỏ hơn 0.5m

2 Các giải pháp phòng chống sạt lở mái dốc ở tỉnh Bình Định

Trên cơ sở các kết quả đã trình bày ở trên, các giải pháp phòng chống sạt lở được đề tài đề xuất theo nguyên tắc đảm bảo sự an toàn cho các khu dân cư, phát triển bền vững, sử dụng có hiệu quả các cơ sở hạ tầng và tiếp theo là chi phí thực hiện giải pháp phải phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định nói chung, khu vực xảy

ra tai biến sạt lở nói riêng Như vậy, trình tự ưu của các nhóm giải pháp là quy hoạch xây dựng các tuyến giao thông, khu vực khai thác mỏ, khu dân cư ở nơi an toàn với sạt lở; nhóm các giải pháp phi công trình và cuối cùng là nhóm các giải pháp công trình Trong từng trường hợp cụ thể cần áp dụng hài hòa và đồng bộ nhóm các giải pháp này

2.1 Quy hoạch xây dựng khu dân cư ở vùng an toàn với sạt lở

Các khu vực đất dốc của tỉnh Bình Định có diện tích rộng, dân cư thưa nên nguyên tắc chung nhằm giảm thiểu ẩn hoạ sạt lở là chọn khu vực định cư an toàn, tránh các khu vực có nguy cơ sạt lở cao và hạn chế việc sử dụng các giải pháp công trình kiên cố rất tốn kém Tuy vậy các khu vực dân cư đều gắn liền với các tuyến đường giao thông Đây là các tuyến huyết mạch quan trọng phục vụ phát triển kinh tế

xã hội và thực tế xây dựng phát triển các đường giao thông qua khu vực đất dốc như hiện nay đã và đang tạo ra rất nhiều nguy cơ sạt lở ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của người dân, nhất là vào mùa mưa lũ Sơ bộ để xác định được các khu vực định

cư an toàn, có thể dựa trên các thông tin về địa hình như độ cao, độ dốc thu được từ phân tích bản đồ địa hình, kết hợp với bản đồ địa chất, địa chất công trình và hiện trạng sạt lở

2.2 Các giải pháp phi công trình

* Nâng cao nhận thức của cộng đồng: Sự hình thành các khối đất đá sạt lở dù

là tự nhiên hay nhân tạo thường trải qua một thời gian thành tạo nhất định Ban đầu phần đất phong hóa ở phía trên các khối trượt sẽ hình thành các khe nứt liên quan đến

sự kéo tách (tension crack) Các khe nứt này dần được mở rộng và hình thành nên các vách sạt với quy mô ngày càng được mở rộng Vì vậy, đối với đa phần các khối trượt vách sạt là dấu hiệu tiên quyết Đây là dấu hiệu dễ phát hiện nên việc tuyên truyền phổ biến để người dân khi chăn thả gia súc hay trồng rừng trên đất dốc chủ động phát hiện các khu vực nguy hiểm và chủ động phòng tránh

trọng dẫn đến nước mưa dễ dàng xâm nhập vào mái dốc, làm suy giảm độ bền của đất

đá chính là thảm thực vật tại nhiều khu vực bị phá hoại rất nặng nề, mức độ che phủ của thảm thực vật trong vùng chỉ đạt mức độ trung bình hoặc thấp Cỏ, cây thân bụi và thân gỗ có ảnh hưởng to lớn trong việc làm thay đổi sự cân bằng nước của những khu trượt Thực vật hỗ trợ cho quá trình điều tiết dòng mặt, làm trì hoãn hiện tượng ngấm nước mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tháo khô đất đá nhờ quá trình thoát hơi nước của cây Ngoài ra, lớp phủ thực vật còn gia cố cơ học bằng hệ thống rễ của nó và bảo

vệ đất đá khỏi bị rửa xói và rửa trôi do nước mưa gây ra

* Các giải pháp về quản lý:

- Không xây dựng nhà ở và các cơ sở hạ tầng khác quá gần mái dốc của các tuyến đường giao thông Hiện nay một hiện tượng khá phổ biến khi phát triển các đường giao thông liên xã là đất đá khai đào ở taluy phần địa hình cao được đổ trực tiếp

về phía taluy âm, tạo ra nguồn vật liệu dẫn đến sự hình thành lũ bùn đá khi xảy ra mưa lớn, gây mất an toàn cho người và tài sản ở phần địa hình thấp Vì vậy, mỗi tuyến

Trang 6

đường phải khoanh định được các vành đai không an toàn, trong phạm vi vành đai này nghiêm cấm việc xây dựng công trình và khai thác rừng Cảnh báo các hộ dân có trong danh sách nguy hiểm cần có biện pháp thích hợp để phòng ngừa

- Quản lý nghiêm và có hiệu quả việc khai thác đá xây dựng và đá ốp lát, đặc biệt là việc khai thác granit dạng tảng lăn trên các khu vực đất dốc ở quy mô nhỏ lẻ

- Thường xuyên kiểm tra và đôn đốc việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về

an toàn lao động trong các khu mỏ đá xây dựng và đá ốp lát

* Giải pháp về đầu tư thăm dò, khai thác và chế biến đá ốp lát

- Không cấp phép mới hoặc mở rộng các diện tích hoặc kéo dài thời hạn cho các dự án chỉ khai thác đá ốp lát tảng lăn và phong hoá sót trên mặt Chỉ cấp phép đầu

tư mới các xưởng chế biến đá ốp lát granit với điều kiện thăm dò và khai thác đá gốc Các dự án này có thể được khai thác đá lăn trên diện tích được cấp phép

- Do hầu hết các doanh nghiệp khai thác, chế biến đá ốp lát đều là các doanh nghiệp nhỏ, một số ít có quy mô vừa; nên không có điều kiện đầu tư tìm kiếm thăm dò một cách bài bản đá ốp lát gốc có màu đẹp, độ nguyên khối tốt Vì vậy, tỉnh có thể tạo

cơ chế huy động vốn để đầu tư tìm kiếm, thăm dò các mỏ đá ốp lát granít có chất lượng tốt, quy mô lớn để đấu thầu khai thác

- Các doanh nghiệp tham gia đấu thầu khai thác phải là những doanh nghiệp cam kết đầu tư lớn với công nghệ khai thác và chế biến hiện đại

- Phương án khai thác chế biến đá ốp lát phải đề cập đồng thời với phương án tận dụng đá vụn và bảo vệ môi trường, hoàn nguyên diện tích đã khai thác hết khoáng sản

2.3 Các giải pháp công trình

Với điều kiện kinh tế-xã hội còn gặp nhiều khó khăn của nhiều huyện trong tỉnh Bình Định việc đầu tư lớn xây dựng cơ sở hạ tầng đường và khu dân cư kiên cố chắc chắn còn gặp nhiều khó khăn Tuy vậy, trong tương lai với đà tăng trưởng chung của kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định việc định hướng xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững là rất cần thiết

chia sườn dốc quá cao thành nhiều bậc, từ các kết quả nghiên cứu thì đối với các bờ dốc cao hơn 6m nên chia ra thành nhiều bậc Khi giảm góc dốc, không nhất thiết phải san gạt toàn bộ bờ dốc mà chỉ cần tập trung làm giảm góc dốc của phần taluy ở độ cao nhỏ hơn 2-4m, nơi cấu tạo bởi các thành tạo đất sườn-tàn tích, như vậy sẽ hạn chế được khả năng phát sinh các khối trượt lớn và giảm khối lượng đào bốc

mặt khối trượt và lãnh thổ kề cận nó; 2) Xây dựng hệ thống dẫn nước mặt; 3) Công tác cải tạo đất bằng trồng cây

* Tháo khô đất đá bị sũng nước: Việc tháo khô bao gồm việc chặn đón và tháo

dần nước dưới đất ra khỏi khu trượt hoặc hạ thấp mực nước, mực áp lực của nó ở trong phạm vi khối trượt và khu vực kề cận khối trượt Sự thành tạo trượt thường không chịu ảnh hưởng của lưu lượng dòng nước dưới đất mà chính là sự có mặt của nó

đã làm cho đất đá bị tẩm ướt, bôi trơn, thấm bên trong đất đá,

* Gia cố đất đá bằng công trình chắn đỡ và neo giữ: Xây dựng công trình

chắn đỡ có tác dụng chống lại sự dịch chuyển các khối đất đá Về mặt kết cấu, công trình chắn đỡ là các tường chắn, bệ phin áp, trụ cọc, chốt chống trượt, gia cố bằng cọc neo,

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

- Sạt lở mái dốc ở tỉnh Bình Định chủ yếu xảy ra ở các mái dốc nhân tạo do

Trang 7

khai đào phát triển hạ tầng và khai thác vật liệu xây dựng Các hiện tượng mất ổn định mái dốc gồm hai loại chính là trượt đất và đá đổ Nguyên nhân là góc dốc lớn, đất, đá

có sức chống cắt giảm mạnh khi bị tẩm ướt bởi nước mưa, nước mặt

- Để giảm thiểu rủi ro sạt lở ở các khu vực đất dốc tỉnh Bình Định cần kết hợp hài hòa các giải pháp về quy hoạch khu dân cư, quản lý tốt việc khai thác khoáng sản

và các giải pháp công trình

- Khu vực Lộ Diêu nằm trong vùng có cấu trúc địa chất phức tạp, các loại đá gốc (chủ yếu là của hệ tầng Kim Sơn - A-PPks) bị uốn nếp, nứt nẻ rất mạnh Sạt lở ở đây liên quan đến phức hệ thạch học sườn-tàn tích và tầng đất đá thải của quá trình làm đường Sức chống cắt của đất sườn-tàn tích giảm tới 20-30% khi bão hòa nước

- Hiện tượng sạt lở xảy ra mạnh mẽ ở tuyến đường qua đèo Lộ Diêu ở cả hai phía taluy dương và âm, với 14 khối trượt lớn (có 2 khối ở phía taluy âm) Sạt lở xảy

ra do góc dốc mái quá lớn, đất đá có sức chống cắt suy giảm mạnh khi bị tẩm ướt bởi nước mưa, nước mặt

- Khu vực có nguy cơ sạt lở rất cao và cao ở Lộ Diêu chỉ tập trung ở đường giao thông qua đèo Tuy nhiên do chênh cao địa hình và khối lượng đất đá thải lớn nên phạm vi tác động của các khối trượt phía taluy âm rất rộng Để phòng chống sạt lở cần

áp dụng các giải pháp công trình gia cường mái dốc, đồng thời di chuyển các hộ dân

có nguy cơ rất cao chịu ảnh hưởng của sạt lở

- Khu vực Núi Dung phân bố chủ yếu các đá của hệ tầng Mang Yang với cấu trúc địa chất phức tạp, hình thành nhiều hệ thống khe nứt thuận lợi cho việc hình thành các khối trượt Các đá gốc ở đây bị phong hóa mạnh mẽ, tạo ra tầng đất sườn-tàn tích

và đá gốc phong hóa hoàn toàn có bề dày từ 2m đến hơn 10m, rất nhạy cảm với hiện tượng sạt lở

- Hiện tượng sạt lở xảy ra mạnh mẽ, chủ yếu liên quan đến các mỏ khai thác vật liệu xây dựng, phần ít hơn là ở các taluy đường, khu vực tập trung dân cư ở thôn Huỳnh Kim (xã Nhơn Hòa, An Nhơn) Sạt lở xảy ra do góc dốc mái quá lớn, độ bền của đất và ma sát bề mặt của các khối đá bị suy giảm đáng kể do tác dụng của nước mưa, nước mặt

- Khu vực có nguy cơ sạt lở rất cao và cao ở Núi Dung tập trung chủ yếu ở các

mỏ Để phòng chống sạt lở cần áp dụng các giải pháp khai mỏ hợp lý, không xây dựng công trình quá gần mái dốc, san gạt bớt các khối trượt tiềm năng và sử dụng giải pháp công trình gia cường mái dốc ở các hộ dân có nguy cơ rất cao chịu ảnh hưởng của sạt

lở

- Bên cạnh các khu vực có nguy cơ sạt lở rất cao đã được tiến hành nghiên cứu trong những năm qua như xã Canh Liên (huyện Vân Canh), xã Nhơn Hòa (An Nhơn),

Lộ Diêu (Hoài Nhơn), trong quá trình khảo sát cũng đã ghi nhận một số khu vực có nguy cơ rất cao khác như xã Cát Minh (Phù Cát), xã An Vinh (An Lão), các tuyến tỉnh

lộ đang xây dựng ở Hoài Ân, An Lão, các khu vực này nên được nghiên cứu ở tỷ lệ chi tiết hơn nhằm giảm thiểu có hiệu quả tác hại của sạt lở

- Tỉnh Bình Định có quỹ đất dốc rất lớn, mật độ dân cư không cao do vậy việc tăng cường công tác quản lý và quy hoạch xây dựng, tránh việc khai đào quá sâu vào chân các đồi, núi để phát triển cơ sở hạ tầng sẽ giảm được đáng kể rủi ro về sạt lở

- Quản lý tốt các khu vực khai thác đá có quy mô nhỏ do hộ dân tiến hành, đặc biệt là việc khai thác các khối đá dạng tảng lăn trên sườn dốc

Biên tập: Vũ Nguyên

Ngày đăng: 23/08/2017, 19:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w