-iii- TÓM TẮT - Đề tài: Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay - Thời gian thực hiện: Từ ngày 05/3/2016 đến 01/02/2017 - Địa điểm thực hiện: Trường Đại học Trà Vinh Bảo h
Trang 1-iii-
TÓM TẮT
- Đề tài: Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 05/3/2016 đến 01/02/2017
- Địa điểm thực hiện: Trường Đại học Trà Vinh
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ thu nhập và tạo điều kiện cho lao động thất nghiệp sớm có cơ hội quay trở lại thị trường lao động Chính sách BHTN là sự trợ giúp hữu hiệu mang tính chất chia sẻ rủi
ro về việc làm giữa những người tham gia BHTN nhằm ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm, tạo cơ hội để họ tiếp tục tham gia thị trường lao động Đối với người sử dụng lao động, đây là chính sách san sẻ gánh nặng tài chính khi những người lao động tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ một khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ cho người lao động, đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế ngày càng khó khăn, áp lực thu hẹp sản xuất ngày càng lớn ở Việt Nam
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 lần đầu tiên đưa vào những quy định chính thức về chế độ bảo hiểm thất nghiệp Đến năm 2013, chế định này được quy định đầy
đủ và rõ ràng tại Luật Việc làm Tuy thời gian thực hiện theo Luật Việc làm chưa nhiều nhưng chính sách BHTN đã là chỗ dựa tin cậy cho những người lao động tham gia BHTN bị mất việc làm được bù đắp một phần thu nhập, được chăm sóc y tế trong thời gian thất nghiệp và đặc biệt được tạo mọi điều kiện thuận lợi hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề học nghề, và chủ sử dụng lao động còn được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ
Nghiên cứu đề tài pháp luật về BHTN ở Viêt Nam hiện nay, Luận văn đã làm rõ thêm những vấn đề lý luận về thất nghiệp, nguyên nhân, hậu quả và vai trò của BHTN, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới Luận văn cũng điểm qua việc ban hành và thực hiện pháp luật về chính sách BHTN qua các thời kỳ
Luận văn đánh giá thực trạng thi hành các quy định pháp luật về BHTN trong những năm vừa qua và nêu lên những kết quả đạt được trong việc xác định số lượng người tham gia BHTN, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hưởng TCTN, số lượng người
Trang 2-iv-
được tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề Bên cạnh đó Luận văn cũng nêu lên những tồn tại, khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về BHTN Luận văn đi sâu phân tích những tồn tại, vướng mắc để tìm hiểu nguyên nhân, đây là
cơ sở quan trọng để đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về BHTN ở nước ta
Để chính sách BHTN thật sự phát huy được vai trò đảm bảo việc làm bền vững, hạn chế thất nghiệp cũng như giúp người thất nghiệp sớm tìm được việc làm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội Tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về BHTN như: đối tượng tham gia; điều kiện hưởng BHTN; bảo vệ quyền hưởng chế độ BHTN cho người lao động trong trường hợp người lao động không đảm bảo thời hạn nộp hồ sơ hưởng BHTN do lỗi của người sử dụng lao động, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và các chính sách hỗ trợ cho NLĐ, NSDLĐ ở các cụm công nghiệp, các doanh nghiệp ở địa phương, kể cả tuyên truyền cho các cơ quan, tổ chức các cấp
Như vậy, việc hoàn thiện pháp luật về BHTN trong tình hình hiện nay là rất cần thiết, việc hoàn thiện pháp luật về BHTN có vai trò rất lớn không chỉ đối với cá nhân NLĐ và doanh nghiệp, mà còn đóng vai trò thăng bằng nền kinh tế, là liều thuốc làm “hạ nhiệt” sự căng thẳng xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra, là một trong những công cụ để thực hiện chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia
Trang 3-v-
ABSTRACT
- Theme: The law on unemployment insurance in Vietnam today
- Execution time: From March 5th, 2016 to February 1st, 2017
- Place of execution: Tra Vinh University
Unemployment insurance is a social welfare policy to support income and facilitate the unemployed employees to have the opportunity to return to the labor market soon Unemployment insurance policy is effective assistance with the nature
of risk sharing employment between the insured unemployed people to settle their lives when they lost their jobs, creates opportunities for them to continue to participate in the labor market For employers, this is a policy of sharing financial burden when the employees at the business lose their jobs, they do not have to spend
a huge cost to solve the policy for the employees, especially during period of economic difficulty increasing, pressure to narrow production growing in Vietnam
Social Insurance Law in 2006 was first included in the official rules of the unemployment insurance policy To 2013, these statutory provisions were fully and clearly prescribed in Employment Law Although it hasn’t had much time of implementing as under Employment Law, unemployment insurance policy was reliable support for the employees who were insured by unemployment insurance and lost their jobs were partly paid income offset, cared health during unemployment and specially created favorable conditions to support counseling, job placement, vocational training assistance and employers were also supported training, retraining and raising the professional skills to maintain employment for employees
Research topic of law on unemployment insurance in Vietnam today, thesis has clarified the theoretical issues of unemployment, the causes, consequences and the role of unemployment insurance, the experience of some countries in the world Thesis also points through the enactment and implementation of law on unemployment insurance policy through the periods
Trang 4-vi-
Thesis assesses the situation of implementing the provisions of the law on unemployment insurance in recent years and raises the results achieved in determining the number of people who have been insured by unemployment insurance, receiving and settling record of payment for unemployment benefits, the number of people who got counseling, job placement and vocational training assistance Besides, thesis also highlights shortcomings, difficulties and problems in the process of implementing the law on unemployment insurance Thesis deeply analyzes the existence and problems to find out the cause, this is an important basis for the proposed recommendations in order
to improve the provisions of law and improve the efficiency of application of the law on unemployment insurance in our country
For unemployment insurance policy really promotes the role of ensuring decent work, limits unemployment and helps the unemployed find a job soon to meet the urgent needs of society The author has proposed a number of recommendations
in order to improve law on unemployment insurance such as: beneficiary; eligibility for unemployment insurance; protect the rights entitled to unemployment insurance for employees in case the employees do not meet the deadline of filing for unemployment insurance benefits due to the fault of the employers, to strengthen the propagation and dissemination of legal education and support policies for employees, employers in the industrial areas, local businesses, including propagation for agencies and organizations at all levels
Therefore, the improvement of law on unemployment insurance in the current situation is necessary, the improvement of law on unemployment insurance has a huge role not only for individual employees and businesses but also serves to balance the economy, as the dose makes "cool" social tensions due to unemployment caused,
as one of the tools to implement social welfare policy of each country
Trang 5-vii-
MỤC LỤC
Trang tựa
Quyết định giao đề tài
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu đề tài của luận văn 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 6
1.1 Khái quát về thất nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm và phân loại thất nghiệp 6
1.1.1.1 Khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp 6
1.1.1.2 Phân loại thất nghiệp 9
1.1.2 Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp 10
1.1.2.1 Các nguyên nhân gây thất nghiệp 10
1.1.2.2 Hậu quả của thất nghiệp đối với sự phát triển kinh tế-xã hội 12
1.2 Khái niệm, nguyên tắc và vai trò của Bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp 16
Trang 6-viii-
1.2.3 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với vấn đề giải quyết việc làm cho
lao động hiện nay 18
1.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ 20
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985 20
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994 21
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2006 22
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay 25
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 28
2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp 28
2.2 Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp 31
2.2.1 Trợ cấp thất nghiệp 31
2.2.2 Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm 41
2.2.3 Hỗ trợ học nghề 42
2.2.4 Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động 44
2.3 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 46
2.4 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hiểm thất nghiêp hiện nay 48
2.4.1 Số lượng người tham gia bảo hiểm thất nghiệp 48
2.4.2 Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp 49
2.4.3 Số lượng người được tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề 50
2.5 Những bất cập của quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp và kiến nghị hoàn thiện 51
2.5.1 Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp 51
2.5.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp 52
2.5.3 Phòng ngừa tình trạng NLĐ lợi dụng quy định về điều kiện hưởng chế độ BHTN để nhận TCTN 56
2.5.4 Bảo vệ quyền lợi cho NLĐ 57
Trang 7-ix-
2.5.5 Tăng cường công tác tuyên truyền và các chính sách hỗ trợ cho người lao động 58
KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 8-x-
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH: Bảo hiểm xã hội
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
ILO: Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization) TCTN: Trợ cấp thất nghiệp
Trang 9
-1-
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề việc làm là một vấn đề quan trọng nhưng hết sức phức tạp Việc làm không chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế mà còn liên quan đến cả vấn đề an ninh chính trị Ngoài ra, việc làm còn liên quan trực tiếp đến nguồn thu nhập không chỉ để nuôi sống bản thân người lao động mà còn đối với cả gia đình
họ Tuy nhiên không phải lúc nào người lao động cũng có đủ các điều kiện để có thể làm việc, đặc biệt việc thay đổi thường xuyên cơ cấu công nghệ hay các yếu tố kinh
tế làm cho người lao động bị mất việc làm ngày càng phổ biến
Việc làm là một trong những vấn đề quan trọng trong quan hệ pháp luật lao động, bởi lẽ có việc làm thì mới có sự làm việc Việc làm được hiểu một cách chung nhất là những công việc nào đó được một chủ thể thực hiện dựa trên công sức của chủ thể đó, hay nói cách khác đó là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm nhất định cho xã mang lại nguồn thu nhập cho các chủ thể đặc biệt là người lao động Đồng thời, làm rõ vấn đề việc làm sẽ giúp xác định được quyền
và nghĩa vụ của các bên chủ thể khi tham gia vào các quan hệ lao động
Song song và trái ngược với khái niệm “việc làm” là khái niệm “thất nghiệp” Theo từ điển Hán – Việt, “thất” có nghĩa là mất, “nghiệp” có nghĩa là nghề, là công việc làm Do đó, “thất nghiệp” có nghĩa là mất việc làm, không còn việc làm và
“người thất nghiệp” được hiểu là một cá nhân đang trong độ tuổi lao động, có sức lao động, đã từng có việc làm nhưng hiện tại không còn nữa, đã đăng ký tìm việc làm nhưng vẫn chưa tìm được việc làm Như vậy, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa có việc làm đều coi là người thất nghiệp
Như vậy, với khái niệm về thất nghiệp và khái niệm về việc làm như trên thì tác giả cho rằng, hiện nay hầu như ở Việt Nam rất khó xác định người thất nghiệp Bởi lẽ, người lao động có thể bỏ sức của mình ra đi làm việc cho người khác để nhận tiền công, tiền lương hoặc cũng có thể người lao động tự tạo ra công ăn việc làm cho bản thân như các hoạt động sản xuất nông nghiệp, các hoạt động kinh doanh, dịch vụ…Và như
Trang 10-2-
vậy, cũng khó xác định được đối tượng nào sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp ra sao nhằm mang lai
sự công bằng cho các chủ thể Do đó, để giải quyết việc làm và hạn chế thất nghiệp, pháp luật đã đặt ra các quy định về chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhằm chia sẽ rủi
ro, ổn định nguồn thu nhập cho người lao động trong thời hạn tạm thời bị mất việc làm, tạo điều kiện sớm đưa họ trở lại thị trường lao động và ổn định cuộc sống
Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại việc làm Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp là sự trợ giúp hữu hiệu mang tính chất chia sẻ rủi ro về việc làm giữa những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhằm ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm, tạo cơ hội để họ tiếp tục tham gia thị trường lao động Đối với người sử dụng lao động, đây là chính sách san sẻ gánh nặng tài chính khi những người lao động tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ một khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ cho người lao động, đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế ngày càng khó khăn, áp lực thu hẹp sản xuất ngày càng lớn ở Việt Nam
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 lần đầu tiên đưa vào những quy định chính thức
về chế độ bảo hiểm thất nghiệp và đến năm 2013 , chế định này được quy định đầy đủ
và rõ ràng hơn tại Luật Việc làm với những điểm mới nổi bật như phù hợp với nhu cầu của xã hội hơn như: Mở rộng đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bỏ quy định về đăng ký thất nghiệp, bổ sung chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, bổ sung điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, giới hạn mức hưởng trợ cấp hằng tháng, bỏ trợ cấp một lần và bảo lưu thời gian đó đóng bảo hiểm thất nghiệp…
Theo thống kê, tính đến 31/12/2015, số người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam là 10.287.594 người, tăng 1.067.841 người, tương ứng tăng 11.58% so với năm 2014 [28] Qua thực tế, chính sách Bảo hiểm thất đã chứng tỏ tính đúng đắn
và ưu việt của chính sách này, do đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể có liên quan, cần có một hệ thống pháp lý đầy đủ, hoàn thiện để đảm bảo hiệu quả trong việc thực hiện