1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhìn lại chặng đường đấu tranh chống pháp của nhân dân quảng bình cuối thế kỉ XIX

59 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và người dân Quảng Bình được cả nước biết đến với những đức tính chịu thương, chịu khó, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng kiên cường, bất khuất trong đấu tra

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Bùi Thị Hương

Trang 3

iii

Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập

và nghiên cứu của tôi, được hoàn thành nhờ nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ, động viên của quý thầy cô, gia đình bà bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn đến thầy giáo TS Nguyễn Thế Hoàn người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, định hướng nghiên cứu cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong khoa Khoa học Xã hội đã trực tiếp giảng dạy tôi trong thời gian qua Các thầy cô đã truyền dạy cho tôi nhiều kiến thức và phương pháp tư duy khoa học

Trong quá trình hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự tạo điều kiện, động viên, cổ vũ của quý thầy cô ở khoa đặc biệt là quý thầy cô giảng dạy chuyên môn lịch sử Tôi xin ghi nhận sự giúp đỡ quý báu đó với lòng biết ơn sâu sắc

Tôi xin trân trọng cảm ơn thư viện trường Đại học Quảng Bình, thư viện Tổng hợp Quảng Bình đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ở bên, động viên tôi trên bước đường học tập và nghiên cứu

Tác giả Bùi Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Bố cục của đề tài 6

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ - HỘI Error! Bookmark not defined 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 7

1.1.1 Vị trí địa lý 7

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 9

1.2.1 Điều kiện kinh tế 10

1.2.2 Đời sống xã hội……… 15

Chương 2: QUẢNG BÌNH TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ THẾ KỶ XIX 18

2.1 Bối cảnh của Việt Nam trước khi Pháp xâm lược và thái độ của nhà Nguyễn ……… 18

2.2 Địa bàn Quảng Bình trong buổi đầu phong trào Cần Vương bùng nổ 23

Chương 3: NHÂN DÂN QUẢNG BÌNH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC CUỐI THẾ KỈ XIX 26

3.1 Nhân dân Quảng Bình chống thực dân pháp xâm lược từ năm 1858 đến năm 1885 26 3.2 Diễn biến cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân Quảng Bình từ 1858 đến

Trang 5

3.2.2 Nhân dân Quảng Bình ra sức bảo vệ vua Hàm Nghi 33

3.2.3 Phong trào Cần Vương ở Quảng Bình sau khi Nguyễn Phạm Tuân bị bắt ………35

3.2.4 Phong trào Cần Vương ở Quảng Bình tạm thời lắng xuống sau khi vua Hàm Nghi bị bắt 38

3.3 Đặc điểm,kết quả,ý nghĩa 41

3.3.1 Đặc điểm 41

3.3.2 Kết quả ýnghĩa ……… ……….44

C KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vốn được định hình trên dãi đất miền Trung của tổ quốc, Quảng Bình được xem là khúc ruột miền Trung Cùng với của cả nước, nhân dân Quảng Bình từ trong quá khứ đã tích cực cùng nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh bảo vệ quê hương xóm làng, bảo vệ đất nước và từ đó đúc kết thành một truyền thống yêu nước hào hùng

Quảng Bình có lịch sử hình thành và phát triển với nhiều biến động, thăng trầm Quảng Bình thường là nơi xung đột của các thế lực Chính vì thế phong trào chống ngoại xâm ở đây phát triển rất mạnh mẽ Và thường là trung tâm của các phong trào đấu tranh Đặc biệt là trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược thế kỷ XIX

Có thể nói rằng, trong suốt chặng đường lịch sử chống ngoại xâm ấy, Quảng Bình luôn là mảnh đất phải gánh chịu nhiều đau thương mất mát Và người dân Quảng Bình được cả nước biết đến với những đức tính chịu thương, chịu khó, cần

cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống ngoại xâm

Vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề là việc làm có ý nghĩa khoa học và

có giá trị thực tiễn sâu sắc

Từ việc nghiên cứu vấn đề rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay

Vì những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Nhìn lại chặng đường đấu tranh chống Pháp của nhân dân Quảng Bình cuối thế kỉ XIX” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, vấn đề kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Quảng Bình

đã được các nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể thống kê một số tài liệu sau:

Công trình, “Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình”, xuất bản năm 1995, đã trình bày về

lịch sử đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời cho đến về sau

Trang 7

Tác giả Nguyễn Thế Hoàn và Lê Thúy Mùi trong công trình “Lịch sử Quảng Bình” (Nhà xuất bản Đại học sư phạm năm 2007), đã trình bày một cách khái quát

về lịch sử Quảng Bình từ buổi đầu dựng nước cho đến những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước

Bên cạnh đó, “Lịch sử Đảng bộ” của các huyện như : Bố Trạch; Quảng Trạch;

Tuyên Hóa; Minh Hóa; Quảng Ninh; Lệ Thủy cũng đã nghiên cứu rất kĩ về lịch sử Đảng bộ của từng huyện trong thời kì cận hiện đại

Tác giả Nguyễn Thị Ánh Minh, trường Đại học Đà Lạt với đề tài luận văn

“Phong trào Cần Vương ở Quảng Bình” (2007), luận văn đã trình bày khá đầy đủ

về quá trình đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Quảng Bình dưới ngọn cờ Cần Vương

Bài viết “Về cuộc kháng chiến kiên cường và anh dũng của nhân dân Quảng Bình ở cuối thế kỉ XIX” đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 106 - 1968, của tác

giả Đặng Huy Vận đã trình bày về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Quảng Bình từ khi vua Hàm Nghi xuất bôn ra Quảng Bình ban chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân đứng lên đánh Pháp đến khi vua Hàm Nghi bị bắt Bài viết làm nổi bật lên tinh thần đấu tranh quật cường của nhân dân Quảng Bình dưới ngọn

cờ Cần Vương của vua Hàm Nghi

Khóa luận “ Phong trào Cần Vương ở Quảng Bình” của tác giả Lê Trọng Đại,

đã trình bày quá trình đấu tranh của nhân dân Quảng Bình cuối thế kỷ XIX

Qua các công trình nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy rằng các công trình chỉ trình bày một cách khái quát vấn đề chống ngoại xâm của nhân dân Quảng Bình trong dòng chảy của lich sử dân tộc Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên

là nguồn tài liệu vô cùng quý giá nhằm giúp cho tác giả hoàn thiện từng vấn đề đặt

ra cho đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Nhìn lại chặng đường đấu tranh chống Pháp của nhân dân Quảng Bình cuối thế kỉ XIX”

+ Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Quảng Bình cuối thế kỷ XIX

Trang 8

- Về thời gian: những năm cuối của thế kỉ XIX

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm trình bày một cách cụ thể vấn đề “Nhìn lại chặng đường đấu tranh chống Pháp của nhân dân Quảng Bình cuối thế kỉ

XIX”

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thứ nhất, trình bày khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Quảng Bình

- Thứ hai, trình bày nhân dân Quảng Bình kháng chiến chống Pháp cuối thể kỉ XIX.Từ đó rút ra đặc điểm,ý nghĩa

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh về sử học là cơ sở phương pháp luận của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp lịch

sử, phương pháp logic, kết hợp với các phương pháp cụ thể của bộ môn như: sưu tầm,

so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp… Trên cở sở những tư liệu đã được sưu tầm và

xử lí, sắp xếp theo từng vấn đề đặt ra cho đề tài, từ đó tái tạo lại một cách chân thật bức tranh cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Quảng Bình cuối của thế kỉ XIX

6 Đóng góp của luận văn

- Về thực tiễn:

+ Xây dựng nguồn tài liệu tham khảo cho các sinh viên chuyên nghành lịch sử

Trang 9

+ Khóa luận còn cung cấp nguồn tài liệu cho việc giảng dạy môn lịch sử địa phương ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông

+ Giúp cho tác giả có hiểu biết về lịch sử và truyền thống của nhân dân Quảng Bình

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận,tài liệu tham khảo,nội dung luận văn được trình bày gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Chương 2: Quảng Bình trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XIX

Chương 3: Nhân dân Quảng Bình chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỉ XIX

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ - HỘI

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên

1075 nhà Lí đã đổi tên thành Bố Chính và Lâm Bình Kể từ thời Trần cho đến đầu thế kỉ XVII, khi châu Lâm Bình trở thành đơn vị hành chính cấp phủ hoặc lộ hay trấn và lần lượt đổi tên thành Tân Bình, Tây Bình, Tiên Bình, Quảng Bình thì lãnh thổ Quảng Bình phía Bắc giáp dãy Hoành Sơn, phía Nam giáp huyện Vĩnh Linh thuộc Quảng Trị ngày nay Cho đến hiện nay, vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất

về vấn đề Quảng Bình bắt đầu khai sinh, xác lập vị trí của mình tự bao giờ? Chưa

có tài liệu chính thức nào xác định thời điểm hình thành vùng đất Quảng Bình Nếu lấy từ cột mốc 1069, năm Lý Thường Kiệt chính thức thu hồi lại ba châu: Bố Chính, Địa Lí, Ma Linh do vua Chế Củ giao nộp, thì đến nay đã là 930 Kể từ khi thu hồi lại cho đến sau này, địa danh của vùng 3 châu tuy nhiều lần thay đổi, đến đời Nguyễn Hoàng năm 1604 mới mang tên Quảng Bình nhưng đều có bộ máy hành chính cai trị qua các triều đại Cho nên, theo phần đông các nhà nghiên cứu và ý kiến của nhà sử học Dương Trung Quốc, năm 1604 là năm danh xưng Quảng Bình

ra đời Vì vậy, có thể lấy đây là thời điểm định hình ranh giới Quảng Bình Từ đây những biến chuyển ở vùng đất Quảng Bình được gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước, tuy dưới các triều đại phong kiến địa danh, đơn vị hành chính, các vùng định cư luôn thay đổi Trong 930 năm vùng đất Quảng Bình phát triển với nhiều diễn biến phức tạp và liên quan đến nhiều cuộc chiến tranh

Trang 11

Ngày nay lãnh thổ tỉnh Quảng Bình được xác định vào khoảng 17°05' đến 18°05' vĩ độ Bắc và 105°37' đến 107°10' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, ngăn cách bởi dãy Hoành Sơn chạy theo hướng từ Tây sang Đông, đâm ngang từ Trường Sơn ra tận biển (đi qua Đèo Ngang gần bờ biển) là biên giới tự nhiên của hai tỉnh có chiều dài 129 km Phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, có chung địa giới dài 75km Phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, với đường biên giới dài 201,87 km Phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 116,04 km

Địa hình Quảng Bình dài và hẹp theo trục Bắc - Nam, cùng với sự phân hóa từ Tây sang Đông, địa hình theo hướng Tây Nam cũng bị phân hóa rõ rệt Các dạng địa hình thấp dần đi từ Bắc xuống Nam Với 85% diện tích tự nhiên là đồi núi Phía Tây Quảng Bình là sườn Đông của dãy Trường Sơn Phía Đông là dãy đồng bằng nhỏ hẹp, có nơi chỉ khoảng 5 - 10 km, chủ yếu tập trung theo hai bờ sông chính; diện tích chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên

Do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, nên trong lịch sử mảnh đất Quảng Bình

đã trải qua bao sóng gió của chiến tranh, từ đó đã hun đúc nên truyền thống anh dũng kiên cường trong đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ quê hương giống nòi, từng bước xây dựng và phát triển

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Sau khi Quảng Bình trở về với lãnh thổ quốc gia Đại Việt năm 1069, là vùng đất phên dậu phía Nam của Đại Việt nên dân cư đang còn thưa thớt, đất đai còn hoang sơ Nhà nước đã thực hiện chính sách chiêu mộ dân từ miền ngoài vào khai khẩn làm ăn, sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất này Từ đó cho đến đầu thế kỉ XVII, khi Quảng Bình đã được định hình về vị trí và tên gọi như ngày nay, thì đời sống kinh

tế - xã hội của cư dân nơi đây ngày càng phát triển

Nằm trên dãi đất miền Trung với thiên nhiên và cảnh quan rất đa dạng Có diện tích tự nhiên phần đất liền là 8.037,6 km² Riêng phần đất liền, nếu tính từ Tây sang Đông, nơi rộng nhất của tỉnh Quảng Bình là 89 km (từ điểm cao 1090 thuộc xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa đến thôn Hải Đông, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch); nơi hẹp nhất là 40,3 km (từ điểm cao 1002, giữa ranh giới của các huyện Bố Trạch - Quảng Ninh với tỉnh Khăm Muộn - Lào đến cửa biển Nhật Lệ - thành phố

Trang 12

Đồng Hới) Tuy nhỏ, nhưng Quảng Bình gần như hội tụ đủ các dạng địa hình với vùng núi đá vôi, vùng đồi trung du, vùng đồng bằng chiêm trũng và vùng cồn cát ven biển Địa hình ở đây phân bố thấp dần từ Tây sang Đông, trung bình 7° Do chiều ngang Đông - Tây hẹp nên nhìn toàn cục địa hình Quảng Bình bị cắt xẻ mạnh, mấp mô, lồi lõm, nhiều nơi đồi núi chạy ra sát biển như đèo Ngang, đèo Lí Hòa; đồng bằng nhỏ hẹp, thường là những thung lũng trong núi, thung lũng trước núi, giao thông đi lại giữa các vùng khó khăn

Nói đến Quảng Bình, trước hết phải nói đến vùng núi đá vôi với hệ thống hang động tự nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng có quá trình Karst phát triển mạnh tạo ra địa hình đá vôi hiểm trở Trong khối đá vôi Kẻ Bàng có hệ thống hang động khá nổi tiếng như Động Phong Nha dài 7.729m, hang Tối dài 5.200m, hang Vòm dài 13.969m… (ở huyện Bố Trạch)

Chuyển tiếp từ vùng núi đá vôi ở phía Tây xuống đồng bằng phía Đông nằm ven hạ lưu các con sông, chiếm diện tích rất nhỏ, chỉ khoảng 9,3% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Tuy nhỏ hẹp, nhưng đồng bằng Quảng Bình có vị trí quan trọng đối với việc trồng lúa của cư dân nông nghiệp Không chỉ hôm nay, mà xưa kia bắt đầu từ thời đại kim khí, cư dân cổ đã vươn ra khai thác đồng bằng ven biển này Có thể phân biệt ba cánh đồng chính ở Quảng Bình là cánh đồng Quảng Trạch, cánh đồng Bố Trạch và cánh đồng Quảng Ninh - Lệ Thủy (cánh đồng hai huyện)

Chuyển tiếp qua đồng bằng nằm ven hạ lưu các con sông đó chính là những cồn cát, đụn cát ven biển chiếm 3,3% diện tích tự nhiên của tỉnh Đây là một đặc điểm riêng của Quảng Bình mà ít gặp ở các tỉnh ven biển trên đất nước ta Nhờ xuất hiện hệ thống đụn cát mà tạo ra các vũng vịnh, bàu, đầm ven biển như Bàu Tró, Bàu Khê, Bàu Sen

Nằm trên dãi đất miền Trung với thiên nhiên và cảnh quan rất đa dạng Có diện tích tự nhiên phần đất liền là 8.037,6 km² Riêng phần đất liền, nếu tính từ Tây sang Đông, nơi rộng nhất của tỉnh Quảng Bình là 89 km (từ điểm cao 1090 thuộc xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa đến thôn Hải Đông, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch); nơi hẹp nhất là 40,3 km (từ điểm cao 1002, giữa ranh giới của các huyện Bố Trạch - Quảng Ninh với tỉnh Khăm Muộn - Lào đến cửa biển Nhật Lệ - thành phố

Trang 13

vùng núi đá vôi, vùng đồi trung du, vùng đồng bằng chiêm trũng và vùng đồng cồn cát ven biển Địa hình ở đây phân bố thấp dần từ Tây sang Đông, trung bình 7° Do chiều ngang Đông - Tây hẹp nên nhìn toàn cục địa hình Quảng Bình bị cắt xẻ mạnh, mấp mô, lồi lõm, nhiều nơi đồi núi chạy ra sát biển như đèo Ngang, đèo Lí Hòa; đồng bằng nhỏ hẹp, thường là những thung lũng trong núi, thung lũng trước núi, giao thông đi lại giữa các vùng khó khăn

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1.2.1 Điều kiện kinh tế

Quảng Bình có nhiều tiềm năng và thế mạnh có thể xây dựng một nền kinh tế phát triển toàn diện Dưới chế độ phong kiến tiềm năng và thế mạnh của quê hương không được phát huy đầy đủ để phục vụ cho đời sống nhân dân Là vùng đất phía Nam xung yếu của quốc gia Đại Việt, nằm trên đường thiên lí Bắc - Nam có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế cũng như quốc phòng Nên ngay từ đầu, nhà nước phong kiến đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển vùng đất này, như chiêu mộ dân miền ngoài vào đây khai khẩn phát triển kinh tế, xây dựng hệ thống đồn lũy để bảo vệ an ninh quốc phòng cho vùng đất này Là địa bàn nằm xa chính quyền trung ương, đất đai chưa được khai phá nhiều, dân cư thưa thớt; lại nằm ở vị trí quan trọng được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên thuận lợi cho việc phát triển kinh

tế, xây dựng quốc phòng Vì vậy, dưới thời kì phong kiến vùng đất Quảng Bình đã

bị các thế lực ngoại xâm nhòm ngó và xâm chiếm đặt ách thống trị

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của Quảng Bình, nặng tính chất phân tán, tự cấp, tự túc Ngoài hai cánh đồng Lệ Thủy và Quảng Ninh trù phú, sản xuất nông nghiệp khá thuận lợi thì hầu hết các vùng đồng bằng đều nhỏ hẹp, đất không màu mỡ lại thường xuyên bị thiên tai nên hoạt động sản xuất khó khăn Do chỉ độc canh cây lúa, nên năng suất thấp (chỉ đạt 12 tạ trên 1 công mẫu) Ngoài ra, người nông dân còn tận dụng các vùng đất gò đồi, đất bồi ven sông để trồng rau, đậu, ngô, khoai sắn…

Ngư nghiệp cũng khá phát triển ở Quảng Bình Tận dụng thế mạnh về biển, người dân các làng Cảnh Dương, Quảng Phú, Lí Hòa, Quang Phú, Hải Thành, Bảo Ninh… lấy nghề khai thác, chế biến hải sản làm nghề chính Nghề biển là một nghề

lệ thuộc vào thiên nhiên, thời tiết nên trước đây cuộc sống của ngư dân rất bấp bênh

Trang 14

“ngư nhọc nông nhàn” Ngày nay việc khai thác, chế biến nuôi trồng, bảo vệ nguồn

lợi thủy sản đang ngày càng được quan tâm, đầu tư đúng mức và dần trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh

Thủ công nghiệp Quảng Bình đa dạng và phong phú “Thế kỉ XVII, XVIII ở nước ta công thương nghiệp, kinh tế hàng hóa đã khá phát triển Trên đất Quảng Bình nhiều thủ công nghiệp đã có và thành nghề chuyên môn của cả làng Làng Đại Phong, làng Tuy Lộc (Lệ Thủy)… dệt chiếu hoa, làng Phan Xá, làng Hoàng Giang chuyên nghề rèn, nghề đúc Huyện Khang Lộc hầu như khắp nơi đều có nghề dệt, làng Bình Xá, Võ Xá nổi tiếng với nghề dệt lụa”… 70, tr 204  Những ngành nghề thủ công truyền thống của Quảng Bình đang từng bước được khôi phục để tạo công

ăn việc làm cho nhân dân, tăng thêm tiềm lực kinh tế cho tỉnh

Trong lâm nghiệp, người dân chủ yếu khai thác rừng nguyên sinh, trồng rừng

và bảo vệ rừng Người dân Quảng Bình đã biết khai thác nguồn lợi của tự nhiên, để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình Với cuộc sống phụ thuộc chặt chẽ vào thiên nhiên nên người Quảng Bình cũng gắn bó mật thiết với thiên nhiên Đó là lợi thế để khi chiến tranh diễn ra, họ có thể tận dụng tối đa sức mạnh của thiên nhiên, của địa hình (điển hình là phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX) để đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược

Trên mảnh đất eo thắt của miền Trung, thiên nhiên đã ban tặng cho Quảng Bình những thuận lợi nhất định để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng chính nơi

đây thời tiết, khí hậu cũng hết sức khắc nghiệt “nắng, gió Lào cát trắng” ảnh hưởng

rất lớn đến cuộc sống của nhân dân Trong gian khổ đó, con người Quảng Bình luôn phải tìm cách để vươn lên xây dựng kinh tế và phát triển xã hội

1.2.2 Đời sống xã hội

Quảng Bình là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời với nhiều thăng trầm và biến động Thời tiền sử, cư dân cổ sớm định cư ở Quảng Bình Những phát hiện khảo cổ học đã chứng minh được nguồn gốc bản địa và sự phát triển liên tục qua nhiều thời đại của cộng đồng dân cư, được phân bố rãi khắp địa bàn Quảng Bình với những di chỉ văn hóa điển hình của thời kì Hòa Bình muộn, của văn hóa đá mới (di chỉ Bàu Tró) và văn hóa Đông Sơn

Trang 15

Lịch sử cộng đồng Quảng Bình đã trải qua nhiều thời kì khác nhau Thời Hùng Vương là cư dân Việt cổ, đến thế kỉ XI tiếp nhận những cư dân đầu tiên ở miền ngoài vào khai phá làm ăn Trong thế kỉ XV - XVI, cùng với chính sách khai hoang,

mở đất của nhà nước phong kiến, dân số ở đây ngày càng đông Thế kỉ XVI, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa mang theo họ hàng và lực lượng nông dân

từ phía Bắc vào đã tăng cường thêm lực lượng cho vùng đất này Hàng trăm năm trôi qua, đời nọ đến đời kia, các cư dân có mặt trên mảnh đất ấy đã hình thành sắc thái riêng của cư dân Quảng Bình

Quảng Bình là một tỉnh có dân số xếp vào loại trung bình của cả nước với dân số 831.583 người (năm 2004) Ngoài trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có 6 huyện với tổng cộng 159 xã, phường và thị trấn và thị xã Ba Đồn

Phần lớn cư dân địa phương là người kinh Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru - Vân Kiều gồm có: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v v… sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hóa và Minh Hóa và một số

xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy Dân cư phân bố không đều, phần lớn tập trung ở nông thôn (84,85%), chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực mà Quảng Bình có rất nhiều tiềm năng đó là nông - lâm - ngư nghiệp

Nhân dân Quảng Bình không những có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm mà còn có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo Do sinh sống lâu đời ở vùng đất đầy nắng gió, luôn phải đối mặt với bão, lũ lụt, hạn hán nên cư dân Quảng Bình

là những người lao động cần cù và dũng cảm, không chịu khuất phục trước thiên tai Nhiều vùng đất hoang vu, đồi núi hiểm trở, bãi bồi ven sông, ven biển đã trở thành những xóm làng trù phú dưới bàn tay lao động của cư dân nơi đây Chính công sức lao động của người xưa đã biến vùng đất này thành địa bàn mở nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Mặt khác, những người con từ khắp nơi phiêu bạt tới đã phải chịu mọi sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cuộc sống gian nan, nghèo khó đã tạo cho họ bản lĩnh, sự kiên trì, bền bỉ, cần kiệm, yêu thương lẫn nhau

Quảng Bình là vùng đất văn vật, có truyền văn hóa lâu đời Trong quá trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hóa nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này

qua đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn Võ - Cổ -

Trang 16

Kim” Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao, cương trực, khẳng khái và nổi

tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hóa - xã hội như Dương Văn An,

Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp…

Trong cuộc sống, người Quảng Bình cũng luôn luôn lạc quan, yêu đời Dù quanh năm vật lộn với thiên nhiên, đấu tranh với địch họa nhưng họ vẫn luôn dành thời gian

để tổ chức vui chơi với những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo như múa bông, đua thuyền, bơi chải, chèo cạn, hò khoan Lệ Thủy và các làn điệu dân ca khác Trong kháng chiến, người dân Quảng Bình đã phát huy truyền thống quý báu của mình, cùng nhau đoàn kết trong những cộng đồng làng xóm với những mối quan hệ thân tộc, láng giềng bền chặt, chung lưng đấu cật để chống giặc ngoại xâm

Tóm lại, Quảng Bình là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, người dân Quảng Bình

vừa anh hùng bất khuất trong đấu tranh chống kẻ thù, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất Những truyền thống quý báu đó tiếp tục phát huy qua bao thế hệ, để bảo vệ và xây dựng Quảng Bình ngày một đi lên

Tiểu kết

Từ trong quá khứ, Quảng Bình đã định hình ở vị trí chiến lược khá quan trọng của đất nước Vì vậy, nhân dân Quảng Bình luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do chiến tranh gây ra Sống trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt cùng với sự tàn phá của chiến tranh đã hun đúc nên truyền thống kiên cường của con người Quảng Bình Nhân dân Quảng Bình luôn cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất xây dựng quê hương đất nước Nhưng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Quảng Bình đã thể hiện tinh thần đấu tranh quật khởi, gan dạ và anh dũng, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù Có thể nói, đây là một trong những đặc điểm nổi bật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử của quê hương Quảng Bình nói riêng cũng như lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung

Trang 17

Chương 2 QUẢNG BÌNH TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ THẾ KỈ XVIII

2.1 Bối cảnh Việt Nam trước khi Pháp xâm lược và thái độ của nhà Nguyễn

Từ nửa sau thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa) Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường và nguyên liệu Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông Trong khi Việt Nam vào giữa thế kỉ XIX, chế

độ phong kiến đang đi vào con đường khủng hoảng trầm trọng Nước Việt Nam lúc bấy giờ là một nước quân chủ chuyên chế với nền kinh tế kém phát triển Nông nghiệp bị tiêu điều xơ xác do nạn kiêm tính ruộng đất ngày một tăng Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm nghiêm trọng.Rượng đất phần nhiều tập trung vào bọn quan lại, địa chủ Công điền, công hữu chỗ nào màu mỡ, béo tốt đều bị bọn cường hào lũng đoạn, còn lại thì bọn hương lí chiếm, dân nghèo chỉ được những chỗ xương xẩu mà thôi Cho nên nói chung nông dân không có ruộng cày, đời sống

vô cùng cực khổ Hiện tượng nông dân không có rượng đất để cày cấy phải bỏ làng

đi tha phương cầu thực là nét phổ biến dưới triều Nguyễn chỉ từ năm 1802 đến

1806, nông dân trên 370 thôn thuộc mấy trấn lớn ngoài Bắc xiêu tán đi nơi khác Đến năm 1826, lại đến trên 108 xã thôn thuộc mười ba huyện của trấn Hải Dương xiêu tán, cộng thêm vào đó là tô thuế rất nặng nề Đó là chưa kể đến tình trạng vỡ

đê, lụt lội, mất mùa, đói kém thường xuyên xảy ra hầu như không năm nào không

có Vì vậy nạn đói thường xuyên xảy ra Ngay trước khi tư bản Pháp sắp nổ sung đánh vào Đà Nẵng (1858),một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho hàng vạn nhân dân tỉnh Trung kì bị chết Đồng thời cũng do sự bất lực của bọn thống trị hồi đó, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn người Trước tình hình bi thảm đó, để xoa dịu và ngăn ngừa dân chúng nổi dậy chống lại, phong kiến triều Nguyễn đã có một số biện pháp Minh mạng ra lệnh cho Nguyễn Công Trứ chiêu dân tiến hành khai khẩn miền ven biển lập ra hai huyện Tiền Hải(Thái Bình), Kim Sơn(Ninh Bình) trong hai năm 1828-1829; Tự Đức giao cho Nguyễn Tri Phương lo liệu việc lập ấp, mộ dân ở Nam Kì từ 1853 Nhưng tất cả các biện pháp trên đều

Trang 18

không mang lại kết quả đáng kể vì đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị Người nông dân sau một thời gian đổ mồ hôi, sôi nước mắt lại thấy ruộng đất mình làm ra bị bọn phong kiến cướp đoạt Vì vậy nạn nông dân lưu tán nhất là dưới thời

Tự Đức khi thực dân Pháp sắp nổ sung khởi hấn lại càng trở nên phổ biến khắp cả nước và ngày càng trầm trọng hơn lên Đó là một trong những nết tiêu biểu của thời

kì khủng hoảng suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn Trong khi nông nghiệp đang lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác như vậy thì công nghiệp nằm trong tay bọn phong kiến triều Nguyễn cũng ngày một bế tắc Chính sách của triều Nguyễn về mặt công nghiêp vô cùng phản động Phong kiến nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành kinh doanh lớn Các công xưởng lớn đúc súng, đóng tàu, đúc tiền, các xưởng nhỏ chuyên chế đồ dung riêng cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc, các công trường xây dựng cung điện, thành quất, lăng tẩm đều

do bộ Công của triều đình quản lí Chế độ làm việc ở trong các công xưởng này là chế độ “công tượng” mang nặng tính chất lao động cưỡng bức Những thợ giỏi ở các địa phương bị bắt về đây được phiên chế thành các đội ngũ, làm việc tập trung với một số lương rất thấp, lại chịu sự quản thúc ngặt nghèo của bọn quan lại nên rất bất mãn không có hứng khởi làm việc

Triều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai mỏ số mỏ được khai thác từ năm 1802 đến 1858 là 139 mỏ, bao gồm đủ các loại Nhưng phần lớn các

mỏ đều do bọn quan lại triều đình phong kiến đứng ra khai thác, chỉ một số ít là do chủ mỏ Hoa kiều hay Việt Nam chủ trì Phương thức sản xuất trong cả ba loại mỏ chủ yếu vẫn là lối sản xuất thủ công cá thể với hình thức bốc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch Năng suất trong các công trường mỏ thường rất thấp Đã thế triều Nguyễn còn đánh thuế rất nặng vào các mỏ do Hoa kiều hay người Việt đứng

ra khai thác Nhiều phép tắc vô lí làm hạn chế sự phát triển của ngành khai mỏ, như quy định những khu vực cấm khai mỏ,giữ đọc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định

Các nghề thủ công trong nhân dân không có điều kiện phát triển tại các công xưởng thủ công, mặc dù không có một chế độ phường hội chặt chẽ theo kiểu các nước phong kiến châu Âu, nhưng các mối quan hệ phức tạp giữa chủ và thợ, giữa

Trang 19

của triều đình đã làm cho sáng kiến và tài năng của người thợ ngày càng bị bóp nghẹt Các nghề thủ công nhỏ và nghề phụ gia đình ở nông thôn bị đình đốn vì nông dân bị đói khổ, li tán Thủ công nghiệp hầu như bị tê liệt

Thương nghiệp dưới triều Nguyễn sa sút một cách rõ rệt Chính sách “trọng nông ức thương” của triều đình đã kìm hãm sự phát triển của thương nghiệp Nội

thương và ngoại thương đều do triều đình nắm độc quyền Với chính sách hạn chế giao lưu buôn bán đối với tàu Tây phương nên cuối đời Gia Long thì ngoại thương với Pháp đã bị bóp lại Đến thời Minh Mạng, chính sách này lại càng chặt chẽ hơn nữa thuế cửa quan, trước có 60 sở, đến năm 1851 chỉ còn 21 sở, một số cảng trước kia buôn bán rất phồn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điều vắng vẻ

Nói tóm lại,nền kinh tế, tài chính nước ta trong nửa đầu thế kỉ XIX đã suy đốn trầm trọng về mọi mặt nông,công nghiệp.Do chính sách phản động của triều Nguyễn, các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế, đang trên đà phát triển tự nhiên và tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội đều

Những sự tàn bạo của triều đình đối với giáo sĩ và người công giáo, nhiều khi cũng bị gây ra bởi lòng mê tín mù quáng của chính những người công giáo Những mục đích đẹp đẽ nhất, thiêng liêng nhất đều có thể bị làm hư hỏng bởi lòng sốt sắng của những tín đồ; ở Nam Kì lắm khi các giáo sĩ… không ngần ngại gì mà vi phạm đạo lí con người để phục vụ cho sự tín ngưỡng của họ

Sự xâm lược của Pháp vào giữa thế kỉ XIX đối với nước ta chính là sự suy tàn

của chế độ phong kiến nhà Nguyễn dưới thời Tự Đức “Dưới thời Tự Đức những yếu tố tiền tư bản trong kinh tế đã có hồi Lê mạt và Tây Sơn đã giảm sút đi nhiều; thị trấn bớt hoạt động, bớt dân số, công thương tàn tạ, nông nghiệp sút kém, dân tình khổ sở quá mức, loạn lạc luôn luôn, quân sự cổ hủ, kẻ cầm quyền không chịu

Trang 20

duy tân và ngày càng bị nhân dân phản kháng kịch liệt Đất nước suy yếu như vậy

chính là sự khuyến khích gián tiếp cho kẻ xâm lăng Với sự can thiệp ngày càng sâu của tư bản Pháp vào nước ta chứng tỏ rằng thực dân Pháp đã sẵn sàng cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta

Rõ ràng với những chính sách phản động nói trên, nước Việt Nam đã suy yếu

về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây Đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự hoạt động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt con buôn và giáo sĩ Lịch sử lúc này đã đi tới một bước ngoặt một là triều Nguyễn bị đánh đỏ và thay thế vào đó là một triều đại mới tiến theo hướng mới của tư bản chủ nghĩa có khả năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc.Hai là nước Việt Nam bị mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng khi tiếng súng xâm lược của tư bản Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam đã phân hóa

ra hai phái chủ chiến và chủ hòa, phái chủ hòa gồm phần đông bọn đại phong kiến

và bọn quan lại lớn với Tự Đức đứng đầu sẽ nhanh chống cấu kết với bọn cướp nước và làm tay sai cho chúng đàn áp và bốc lột dân chúng Đó là tội lớn của phong kiến nhà Nguyễn trước dân tộc,trước lịch sử

Vì vậy, ngày 1 - 9 - 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha đã tấn công Đà Nẵng, chính thức nổ súng xâm lược nước ta Trong thời gian đầu, vì quyền lợi giai cấp bị trực tiếp đụng chạm nên triều đình đã có phản ứng lại Thể hiện là khi được tin mất bán đảo Sơn Trà, triều đình Huế vội phái nhiều quân tướng tới tăng cường lực lượng phòng thủ Nguyễn Tri Phương được cử làm tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam để lo việc chống giặc Thất bại ở Đà Nẵng, Pháp liền chuyển hướng đánh vào mặt trận Gia Định

Khi tiếng súng của giặc đã nổ ầm bên tai mà triều đình còn bận bàn cải, kẻ hòa người đánh, trên dưới không nhất trí, đánh hòa không ngã ngũ Nhóm Trương Đăng

Quế, Phan Thanh Giản, Lưu Lượng thì chủ trương rằng: “Chiến không bằng hòa, nhưng phải cố thủ rồi sau mới bàn Kẻ địch vốn cậy thuyền bền súng mạnh làm sở trường; họ ở ngoài sóng gió mặt bể, thế ta khó thắng họ Thượng kế bây giờ nên lấy giữ (thủ) làm chính; giữ vững rồi sau mới có thể nói đánh, cũng có thể nói đến hòa

Trang 21

Đó là ý kiến cố thủ để hòa của Viện cơ mật Một số đông đình thần cũng chủ trương giống như vậy, đó là Trần Văn Trung, Chu Phúc Minh, Lâm Duy Hiệp, Phan Huy Vinh… Họ cho rằng:

Chống giặc duy thủ là hơn, lại nên nuôi sức chọn thời châm chước đối phó; thói quen nước họ thường hay đem quân đi khiêu khích nước ngoài; chống lại mà thắng

họ thì họ dùng quân liên miên, kết nhiều tai vạ; thua họ thì họ trịch thượng đòi trái khoản bồi thường vô biên cho no cái sở dục của họ mới thôi Họ và ta vốn không gần nhau không thể thôn tính nhau… Nay muốn quyết chiến với họ, chưa thấy cái

cơ tất thắng mà vạn nhất sai đi lại thêm hoang mang Lấy chủ đợi khách, nên dùng

kế trì cửu để đợi cho họ mỏi; vì có tin sứ đi lại, sẽ tùy cơ châm chước đối phó, họ cũng không có thể có sự hơn ta được

Vua Tự Đức cho là phải Chính tư tưởng không thống nhất này đã làm cho quan quân triều đình bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh thắng quân thù Tướng giặc Giơnuiy

phải thú nhận rằng: “Nếu họ (triều đình Huế) đánh mạnh thì họ đã đánh bại chúng tôi lâu rồi”

Cho nên, từ 1 - 9 - 1858 đến 5 - 6 - 1862, triều đình Huế đã nhanh chóng từ

“thủ để hòa”, nghĩa là tự chọn thế thủ để nhường thế công cho giặc, sau đó phải cắt

đất cho giặc rồi thừa nhận chính quyền của giặc ở Sài Gòn và ra lệnh giải tán phong trào chống giặc của nhân dân Lục tỉnh Với điều ước 5 - 6 - 1862, tập đoàn phong kiến thống trị họ Nguyễn đã không dám đương đầu quyết liệt với giặc và đã đầu hàng chúng quá sớm Sở dĩ thế là vì chính mình đã tự tạo ra cái thế bị cô lập, đã phá hoại thống nhất và đoàn kết dân tộc Từ đầu, nhà Nguyễn đã phá hoại sức mạnh ấy với hàng loạt chính sách không hợp lòng dân về mọi mặt, tự nó làm mất chỗ dựa trong điều kiện lịch sử chống ngoại xâm của nước ta lúc bấy giờ là nông dân Chính

trong tình thế lịch sử đó, “từ ngày 5 - 6 - 1862 ngọn cờ kháng chiến giữ nước và giải phóng dân tộc đã chính thức chuyển hẳn và chuyển thẳng sang tay nhân dân từ Nam ra Bắc”

Ngay từ khi Pháp xâm lược đến khi Pháp đặt được ách thống trị lên đất nước

ta, triều đình Huế đã thể hiện đường lối không nhất quán, nhượng bộ, để rồi cuối cùng với hai điều ước Harmand (25 - 8 - 1883) và Patenôtre (6 - 6 - 1884) đã xác

Trang 22

định dứt khoát quyền thống trị của tư bản Pháp trên đất nước ta, đồng thời cũng xác định vị trí tay sai của phong kiến nhà Nguyễn đối với quyền thống trị ấy

Trong điều kiện phức tạp và khó khăn của lịch sử nước ta ở nửa sau thế kỉ XIX, chính ngọn cờ kháng chiến giữ nước và giải phóng dân tộc nắm chắc trong tay nhân dân ấy đã mở đầu cho lịch sử gần một thế kỉ đấu tranh giải phóng của toàn thể dân tộc ta Nhà nước phong kiến đầu hàng hoàn toàn và sụp đổ toàn bộ nhưng sức quật khởi của nhân dân ta trong phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược vẫn tiếp tục tồn tại Một phong trào vũ trang đấu tranh rộng lớn và quyết liệt chưa từng

có kể từ khi thực dân Pháp gây hấn cho đến lúc bấy giờ Đã nổ ra và kéo dài cho đến những năm cuối thế kỉ XIX dưới danh nghĩa Cần Vương

2.2 Địa bàn Quảng Bình trong buổi đầu phong trào Cần Vương bùng nổ

Trên địa bàn Quảng Bình có nhiều sĩ phu - trí thức phong kiến, quan lại địa phương đã có những động thái phản ứng lại trước hành động ngang ngược của thực dân Pháp và thái độ thỏa hiệp của triều đình Huế trước khi phong trào Cần Vương bùng nổ Vùng rừng núi Tây Bắc Quảng Bình với những yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội cho việc tập hợp nghĩa quân, xây dựng căn cứ kháng Pháp lâu dài Vì vậy, để chuẩn bị cho việc tiến hành khởi nghĩa, nhân dân Quảng Bình dưới

sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nước đã dựa hẳn vào các điều kiện địa lợi, nhân hòa đó để xây dựng hàng loạt căn cứ địa kháng chiến

Phía Tây của dãy Trường Sơn thuộc hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, một số căn cứ chống Pháp được hình thành, trong đó vùng rừng núi thuộc thượng lưu sông Gianh (Quảng Bình) và sông Ngàn Sâu (Hà Tĩnh) được chọn làm căn cứ của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết Đó là miền sơn cước của hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, một vùng hiểm yếu, chủ yếu là tỉnh Quảng Bình Giữa hai tỉnh có một dải núi cao bắt đầu trong dải Trường Sơn đi thẳng ra biển Với địa hình đồi núi chiếm diện tích khá lớn, lại có con sông Gianh chảy quanh, càng lên cao, đồi núi, sông suối càng quanh co, hiểm trở, tạo ra nhiều hang động, lèn đá, thung lũng Quảng Bình là địa bàn rất thuận lợi cho hoạt động quân sự Phía Bắc giáp với Lào và Hà Tĩnh; phía Nam giáp với các vùng đồng bằng duyên hải, nằm trên tuyến đường hai miền Nam - Bắc, phía Tây là núi rừng chạy dọc theo dải Trường Sơn Có thể nói, núi rừng

Trang 23

quân và dân Quảng Bình, quân đội triều đình đứng đầu là Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, đã gặp nhiều thuận lợi trong việc xây dựng căn cứ Trái lại, đối với thực dân Pháp, Quảng Bình là vùng đất hiểm trở, rất khó khăn cho việc chuyển quân và đảm bảo hậu cần, tiếp viện từ Huế ra, Đồng Hới lên và từ Vinh vào Quân Pháp lại không thông thạo địa hình ở đây và vấp phải sức kháng cự quyết liệt của nhân dân nên rất khó thực hiện ý đồ chiến lược của chúng

Quảng Bình với địa thế “núi vây ba mặt, biển giăng một bề” đã tạo điều kiện

thuận lợi cho phong trào Cần Vương phát triển đều khắp nơi, từ miền xuôi đến miền núi, từ đồng bằng đến ven biển; khiến cho quân Pháp và triều đình gặp nhiều khó khăn trong việc đưa quân đi đàn áp, buộc chúng phải phân tán lực lượng đóng giữ ở các đồn, nên phạm vi kiểm soát, quyền khống chế của địch vì thế không vượt ra ngoại vi các đồn là bao nhiêu, còn nghĩa quân làm chủ cả một vùng rộng lớn Địa bàn trên giúp cho cuộc kháng chiến của vua tôi Hàm Nghi có thể đứng vững và tồn tại lâu dài hơn so với các nơi khác Mặc dù vẫn còn những khó khăn nhất định như đất đai khô cằn, dân số ít, sống rải rác ở một địa bàn phức tạp Nhưng việc lựa chọn thượng lưu hai con sông Ngàn Sâu (chảy về Bến Thủy) và sông Gianh (chảy về Quảng Khê) của Quảng Bình làm căn cứ kháng chiến là một quyết định sáng suốt, chứng tỏ tầm nhìn chiến lược của Tôn Thất Thuyết Bởi nếu tiến thì có thể làm chủ

cả hai lưu vực trù phú và đông dân, nhờ đó mà liên lạc được với các tỉnh phía Bắc; thoái thì vào vùng rừng sâu núi cao sát biên giới Lào - Viêt để an toàn ra Thanh -

Nghệ hay Bắc kì Nói về căn cứ này, ngay cả thực dân Pháp cũng nhận định: “Địa thế này được chọn lấy một cách khôn khéo, nó liên lạc giữa hai tỉnh, từ hàng mấy thế kỉ nay được nổi danh là đất nhà quan, đất sĩ phu; còn hơn là tỉnh khác, hai tỉnh này sẵn sàng chống lại uy quyền của ta”

Có thể nói, việc lựa chọn miền núi phía Tây tỉnh Quảng Bình làm địa bàn đóng quân lâu dài cho nghĩa quân Cần Vương là một sự lựa chọn sáng suốt và khôn ngoan của những người lãnh đạo phong trào đặc biệt là Tôn Thất Thuyết Đây là một địa bàn mà tiến hay thoái đều thuận lợi, có thể bảo toàn lực lượng

Lưu vực sông Gianh là vùng kháng chiến quan trọng của vua Hàm Nghi Về phía biển, có nhiều cồn cát làm cho thuyền chiến của giặc khó có thể đi vào phía bờ

Từ phía vùng Thanh Thủy trở lên thì lưu vực sông bị chia cắt ra thành nhiều khúc

Trang 24

bởi những vùng đồi núi lô nhô thỉnh thoảng bó hẹp đồng bằng Trên những quả đồi này, ta bố trí những trạm gác có thể quan sát được quân Pháp từ rất xa Đây là một thuận lợi lớn để nghĩa quân chủ động trước sự vận động của giặc Địa hình ở đây có núi cao, rừng rậm và gò đồi lẫn lộn, làng mạc ruộng đồng phân tán nhỏ hẹp ven theo chân núi, bờ đồi Phía dưới các chân đồi là làng mạc có nhiều người Kinh sinh sống, ở vùng núi là làng bản của người Mường Trung tâm thương mại thịnh nhất của cả vùng thời bấy giờ là Chợ Đồn, mỗi tháng họp phiên 3 lần, mỗi lần có cả vạn người Nơi vua Hàm Nghi đóng đô là ở thượng lưu sông Gianh (thuộc huyện Tuyên Hóa, lúc bấy giờ gọi là châu Quy Hợp)

Với những điều kiện thuận lợi trên, Quảng Bình trở thành nơi vua Hàm Nghi xây dựng căn cứ và đứng chân lâu nhất Chính điều đó đã tác động trở lại phong trào kháng chiến nơi đây, đưa Quảng Bình trở thành tâm điểm của phong trào Cần Vương Các cuộc khởi nghĩa nổ ra mạnh mẽ, gắn liền với những tên tuổi như Nguyễn Phạm Tuân,

Lê Trực, Mai Lượng, Hoàng Văn Phúc, Lê Mộ Khởi, Đề Én, Đề Chít… đã làm nên những dấu mốc nổi bật trong phong trào Cần Vương ở Quảng Bình

Trang 25

Chương 3 NHÂN DÂN QUẢNG BÌNH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC CUỐI THẾ KỈ XIX

3.1 Nhân dân Quản Bình chống Pháp xâm lược

Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, trong nội bộ triều đình đã có sự phân hóa thành hai phe, phe chủ chiến và phe chủ hòa Phe chủ chiến đứng đầu là Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết ngày càng thắng thế tại triều đình Tôn Thất Thuyết thực sự nắm được triều đình đã mất gần hết quyền lực và ông cố hết sức để đưa nó thoát khỏi những ràng buộc mà người Pháp đang thiết lập Sự tồn tại của phe chủ chiến trong triều đình Huế là cái gai trong mắt của De Courcy, Tôn Thất Thuyết

trở thành đối tượng cần thanh toán hàng đầu của chúng “… Cái cách duy nhất để

giải quyết hiện tình là phải bắt cóc hai người quan phụ chính” Tôn Thất Thuyết và

Nguyễn Văn Tường nắm cả Bộ Binh và Bộ Lại, thực quyền lại trong tay triều đình

Huế, cái điều mà làm cho bọn thực dân hậm hực nhất “Trễ còn hơn không Ta sẽ bắt Tường và Thuyết chăng, hay ta sẽ làm sao cho họ không còn có cách gì phá hoại ta nữa” Hai ông một mặt tập trung ngày càng nhiều quân về Huế, mặt khác

đem nhiều lương thực, của cải, vàng bạc ngày càng nhiều lên các sơn phòng Pháp nhất quyết lần này phải nắm hẳn toàn bộ hội đồng phụ chính, tẩy trừ Thuyết, Tường

ra khỏi hội đồng này, và nhất là giải tán quân đội của Tôn Thất Thuyết, tức là siết chặt nền đô hộ, làm cho triều đình hoàn toàn phụ thuộc vào thực dân Pháp Chúng cũng nhận thức được rằng chính sự tồn tại của phe chủ chiến là chỗ dựa cho phái

chủ chiến ở các tỉnh và động lực thúc đẩy phong trào kháng chiến của nhân dân

Trước thái độ khinh thường triều đình của giặc Pháp, trước âm mưu ngày càng

lộ liễu của De Courcy là muốn ra tay trước để loại bỏ Tôn Thất Thuyết và phe chủ chiến trong triều đình Vì vậy, phe chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết đã quyết định hành động nhằm giành thế chủ động cho cuộc tấn công

Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 tháng 7 năm 1885, hai đạo quân của triều đình cùng lúc nổ súng vào các căn cứ Pháp tại Huế Đạo thứ nhất do Tôn Thất Lệ chỉ huy tấn công tòa Khâm sứ Pháp; đạo thứ hai do Trần Xuân Soạn chỉ huy đánh đồn Mang Cá góc Đông - Bắc thành Huế Bị đánh bất ngờ, lúc đầu quân địch hoảng

Trang 26

loạn, nhưng sau đó chúng đã chấn chỉnh lực lượng, đến gần sáng mở cuộc phản công chiếm kinh thành Huế Cuộc tấn công bị thất bại, Pháp đã chiếm được kinh thành

Kinh đô Huế thất thủ (5 - 7 - 1885), Tôn Thất Thuyết rước vua Hàm Nghi cùng tam cung, hoàng thân, quan lại trong triều rời khỏi kinh thành Huế, bắt đầu một cuộc kháng chiến gian khổ chống Pháp xâm lược Ngày 12 - 7 - 1885, xa giá của vua Hàm Nghi đã đến Tân Sở Ngày 13 - 7 - 1885, lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết ban chiếu Cần Vương lần thứ nhất, hô hào nhân dân cả nước ứng nghĩa chống xâm lăng

Dụ : Cần Vương

Từ xưa, kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh, giữ, hòa Đánh thì chưa có cơ hội; giữ thì khó định hẹn được sức; hòa thì họ đòi hỏi không biết chán Đang lúc sự thế thiên vạn nan như vậy, bất đắc dĩ phải dùng quyền Thái dương ra đời ở đất Kỳ, Huyền Tông sang chơi đất Thục, người xưa cũng đều đã có làm

Nước ta ta gần đây ngẫu nhiên gặp nhiều việc Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ đến tự cường tự trị Kẻ phái của Tây ngang bức, hiện tình mỗi ngày một quá thêm Hôm trước chúng tăng thêm binh thuyền đến, buộc theo những điều mình không thể nào làm được; ta chiếu

lệ thường khoản tiếp, chúng không chịu nhận một thứ gì Người kinh đô nào sợ nguy ngay trong chốc lát Kẻ đại thần mưu quốc, chỉ lo nghĩ đến

kế yên xã tắc; trong triều đình, đắn đo về hai điều: cúi đầu tuân mạng, ngồi để mất cơ hội, sao bằng nhìn thấy chỗ âm mưu biến động của địch

mà đối phó trước? Vì bằng việc xảy ra không thể tránh, thì cũng còn có cái việc ngày nay để mưu tốt cái lợi sau này, ấy là do thời thế xui nên vậy Phàm những người đã được cùng dự chia mối lo này, tưởng cũng đã

dư biết Biết thì phải tham gia công việc, nghiến răng dựng tóc, thề giết hết giặc, nào ai là không có cái lòng như thế? Cũng há không có người nào gối gươm đánh dầm, cướp giáo lăn chum ư? Vả lại nhân thần đứng ở triều, chỉ có theo nghĩa mà thôi; nghĩa đã ở đâu là sống chết ở đấy Hồ

Trang 27

Yển, Triệu Thôi nước Tấn; Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật nhà Đường là người thế nào đời xưa vậy?

Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này không thể hết sức giữ được, để đô thành

bị hãm, xe giá phải dời xa, tội ở mình trẫm cả, thật là xấu hổ vô cùng Nhưng chỉ có luân thường quan hệ với nhau, bách quan khanh sĩ không

kẻ lớn nhỏ, tất không bỏ trẫm; kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, giàu

có bỏ của ra giúp quân nhu, đồng bào đồng trạch chẳng từ gian hiểm, như thế là phải Cứu nguy chống đổ, mở chỗ truân chiên, giúp nơi kiển bách, đều không tiếc gì tâm lực, ngõ hầu lòng người giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại bờ cõi Ấy cái cơ hội này, phúc của tôn xã tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cùng nghĩ với nhau, há chẳng tốt lắm ư? Bằng cái tâm sợ chết nặng hơn lòng thương vua, nghĩ lo cho nhà hơn là lo cho nước, làm quan thì mượn cớ tránh xa, đi lính thì đào ngũ trốn lẩn, người dân không biết trọng nghĩa cứu cấp việc công, kẻ sĩ cam bỏ chỗ sáng đi vào nơi tối, ví không phải sống thừa ở trên đời, thì áo mũ mà làm ngựa trâu, ai nỡ làm thế? Thưởng cũng hậu mà phạt cũng nặng, triều đình sẽ có điển hình hẳn hoi, chớ để sau này phải hối! Phải nghiêm sợ mà tuân theo! Khâm thử

Hàm Nghi nguyên niên, tháng 6, ngày mồng 2 (tức là ngày 13 tháng 7 năm

1885)

Hịch Cần Vương ban ra đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong phong trào chống Pháp của nhân dân ta cuối thế kỉ XIX Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp từ đây bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn được tổ chức và lãnh đạo

thống nhất trong cả nước dưới danh nghĩa “Cần Vương” Sau khi chiếu Cần Vương

được ban bố trong cả nước, nhân dân ta nổi lên khắp nơi, phong trào kháng chiến diễn ra càng quyết liệt Với truyền thống yêu nước và tinh thần phản kháng trước hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp; khắp ba kì, đồn trại của Pháp bị đột kích, bọn Việt gian thân Pháp bị sát hại Trước tình thế sôi nổi của nhân dân ở khắp nơi, đặc biệt là ở Bắc kì và Trung kì, chúng hết sức bị động, lúng túng Giữa lúc Pháp đang bối rối, nhưng sau đó Tam cung đã trở về kinh thành Sự kiện này đã

gỡ cho bọn Pháp một nước cờ bí

Trang 28

Thành Tân Sở chỉ là nơi dừng chân chứ chưa thể là nơi đóng quân lâu dài Bởi

vì, mặc dù có địa hình hiểm trở, nhưng Tân Sở ở cái thế khó có thể mở rộng ra xung quanh, khi Pháp tấn công lại dễ bị cô lập và bị tiêu diệt Vì vậy, vua Hàm Nghi ở Tân

Sở khoảng 4 đến 5 ngày, sau đó Tôn Thất Thuyết hạ lệnh bỏ Tân Sở và đưa vua ra phía Bắc Chính Tôn Thất Thuyết khi ra Tân Sở (Quảng Trị) ông cũng thấy rằng, vùng Cam Lộ có nhiều điều bất lợi bởi không đông dân chúng và trù phú, việc tuyển

mộ lính tráng sẽ khó khăn; ngoài ra nếu địch chiếm đóng Cam Lộ, Tân Sở sẽ thành cái túi mà cửa đã đóng rồi, các lối ra biển, lên Lào vào Nam ra Bắc đều sẽ bất tiện Việc tiếp vận quân lương, vũ khí sẽ bế tắc nốt và càng thêm nguy hiểm

Đầu tháng 9 - 1885, sau nhiều ngày trèo đèo lội suối trên đất Lào, vua Hàm Nghi và đoàn tùy tùng đến được vùng Hàm Thao, gần sơn phòng Hà Tĩnh Tổng đốc Nghệ An kiêm chỉ huy Sơn phòng Hà Tĩnh là Nguyễn Chánh (Chính) đem 500 quân đến tiếp giá Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lại hành quân tiếp lên sơn phòng Ấu Sơn thuộc huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) Thời gian này nhân dân ứng nghĩa theo tiếng gọi Cần Vương ngày một đông Phong trào diễn ra sôi nổi ở hầu khắp các tỉnh

Ngày 20 - 9 - 1885 ở tại căn cứ Ấu Sơn, nhân danh vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết ban chiếu Cần Vương lần thứ hai để tiếp tục tập hợp lực lượng, động viên nhân dân ủng hộ và tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp

Vào khoảng tháng 11 năm 1885, biết tin Hàm Nghi ở lại Hà Tĩnh, quân Pháp

đã tổ chức lực lượng tiến đánh sơn phòng Hà Tĩnh để bắt nhà vua nhằm dập tắt phong trào kháng chiến Trước tình hình đó, vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết từ sơn phòng ở Hà Tĩnh đã lui vào Bãi Đức, Quy Đạt thuộc Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình và chọn nơi đây làm căn cứ mới của phong trào Cần Vương Từ đây, mảnh đất

Quảng Bình đã trở thành “Kinh đô kháng chiến” của phong trào Cần Vương thời

Hàm Nghi xuất bôn (1885-1885)

3.2Diễn biến cuộc đấu tranh chốngPháp của nhân dân Quảng Bình từ 1885 đến

1896

3.2.1 Những thắng lợi đầu tiên của nhân dân Quảng Bình

Trang 29

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhân dân Quảng Bình đã sôi nổi đứng lên kháng chiến giữ làng giữ nước Họ tập hợp dưới lá cờ của những người sĩ phu yêu

nước hoặc tự động vũ trang khởi nghĩa Họ xây dựng những làng chiến đấu “trong thì đắp lũy, đắp thành, ngoài thời đào hào thả chông” để bao vây tiêu diệt địch

Tháng 11 năm 1885, sau khi vua Hàm Nghi từ Bãi Đức vượt qua xóm Trành, làng Kiên Trinh, tổng Thanh Lạng đến Quy Đạt Hôm đầu tiên đến Quảng Bình, vua Hàm Nghi nghỉ lại nhà Đinh Hiền, Tôn Thất Thuyết ở nhà Đinh Đối, Trần Soạn

ở nhà Đinh Trọng Ba hôm sau, đoàn xa giá dời về Cổ Liêm nhưng nhận thấy chỗ này không đóng quân được nên rút đến xóm Lim thuộc làng Ba Nương và ở tại nhà Đinh Xớn Trương Quang Ngọc người ở Thanh Lạng bấy lâu chiêu mộ quân cố thủ

ở Ve, cũng đưa toàn đội theo vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết phong cho Ngọc chức Hiệp quản, dự vào đoàn quân hộ giá

Vua Hàm Nghi ở Ba Nương được tám ngày thì quân do thám ở Kiên Trinh về báo rằng Pháp từ Bãi Đức đến Trành (Kiều Trinh), vua phải lánh vào núi Marai thuộc tổng Kim Linh Cuối tháng 12 năm 1885, khi Pháp chiếm được thành Vinh, chúng cho một đạo quân do Đại úy Hugo cùng hai Trung úy Gayge và Bellamy chỉ huy đi theo lưu vực sông Ngàn Sâu lên Bãi Đức đánh vào trung tâm căn cứ của vua Hàm Nghi Quân Pháp tiến đến làng Ba Nương thì dân làng đã chạy cả vào rừng, đáp lại sự nhộn nhịp của chúng bằng sự im lặng Chúng sục sạo trong làng bắt được một ông cụ tên là Cố Tư vì già yếu chạy không kịp, bị chúng tra hỏi, ông phải chỉ đường vua đi Hugo cho quân đuổi theo đến eo Lập Cập, bị nghĩa quân do Trương Quang Ngọc cầm đầu chặn đánh kịch liệt Đạn và tên cứ xuyên qua cành lá và nã vào quân Pháp Chúng bị chết quá nữa, Hugo bị trúng tên vào cánh tay, y hô quân lui lại bị Ngọc bắn thêm phát nữa vào lưng Hugo bị thương nặng phải rút quân về Vinh (3 - 1 - 1886), do bị trúng tên độc quá nặng nên về đến Vinh, Hugo bị chết Cũng tháng giêng 1886, đoàn quân lưu động khác của địch do Trung úy Camus cầm đầu, lên đánh Thanh Thủy vùng hoạt động của Lê Trực rồi tiến đánh sâu hơn vào cứ điểm Khe Ve Trên đường tiến quân, giặc Pháp thực hiện chính sách đốt sạch, giết sạch cực kì tàn bạo hòng làm nhụt ý chí chiến đấu của nhân dân Quảng Bình Lợi dụng đêm tối và địa hình phức tạp quân ta tiến đánh giáp lá cà Địch bị thiệt hại rất nhiều Khi địch hoàn hồn thì quân ta đã rút lên núi Marai, rồi

Ngày đăng: 23/08/2017, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn An (2009), Ô châu cận lục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cận lục
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
2. Đào Duy Anh (2002), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến thế kỉ XIX, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến thế kỉ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Trạch (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Trạch, tập 1 (1930 - 1954), Quảng Trạch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Trạch
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Trạch
Năm: 1995
6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tuyên Hóa (1996), Lịch sử Đảng bộ huyện Tuyên Hóa, tập 1 (1930 - 1954), Tuyên Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Tuyên Hóa
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tuyên Hóa
Năm: 1996
7. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Bình (1995), Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình, tập 1 (1930 - 1954), Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Bình
Năm: 1995
8. Đỗ Bang (2008), “Nghiên cứu về chúa Nguyễn vương triều Nguyễn”, Tạp chí Đại học Huế, (68), tr. 32 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về chúa Nguyễn vương triều Nguyễn”, "Tạp chí Đại học Huế
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2008
9. Đặng Xuân Bảng (2000), Việt sử cương mục tiết yếu, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử cương mục tiết yếu
Tác giả: Đặng Xuân Bảng
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2000
10. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (2003), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ
Tác giả: Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng
Nhà XB: NXB Quân đội Nhân dân
Năm: 2003
11. C.Borri (1998) (Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch), Xứ Đàng Trong năm 1621, NXB Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Nhà XB: NXB Tp. Hồ Chí Minh
12. Phan Trần Chúc (1995), Vua Hàm Nghi, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Hàm Nghi
Tác giả: Phan Trần Chúc
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1995
13. Quỳnh Cư, Nguyễn Anh, Văn Lang (1998), Danh nhân đất Việt, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân đất Việt
Tác giả: Quỳnh Cư, Nguyễn Anh, Văn Lang
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1998
14. Lê Thái Dũng (2011), Việt sử những dấu ấn đầu tiên, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử những dấu ấn đầu tiên
Tác giả: Lê Thái Dũng
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2011
15. Phan Viết Dũng (2012), “Danh tướng Quảng Bình qua các thời kì lịch sử”, Văn hóa Quảng Bình, (7), tr. 22 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh tướng Quảng Bình qua các thời kì lịch sử”, "Văn hóa Quảng Bình
Tác giả: Phan Viết Dũng
Năm: 2012
16. Phan Viết Dũng (2012), “Danh tướng Quảng Bình qua các thời kì lịch sử”, Văn hóa Quảng Bình, (8), tr. 21 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh tướng Quảng Bình qua các thời kì lịch sử”, "Văn hóa Quảng Bình
Tác giả: Phan Viết Dũng
Năm: 2012
17. Đảng ủy quân sự tỉnh Quảng Bình, Lịch sử đảng bộ quân sự tỉnh Quảng Bình (1945 - 2010), NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ quân sự tỉnh Quảng Bình (1945 - 2010)
Nhà XB: NXB Quân đội Nhân dân
18. Trần Bá Đệ (2008), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
19. Lê Quý Đôn (2012) (Ngô Thế Long dịch), Đại Việt Thông Sử, tập 1, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Thông Sử
Nhà XB: NXB Trẻ
20. Lê Quý Đôn (2012) (Ngô Thế Long dịch), Đại Việt Thông Sử, tập 2, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Thông Sử
Nhà XB: NXB Trẻ
21. Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2007
22. Trần Văn Giàu (2001), Chống xâm lăng (lịch sử Việt nam từ 1858 đến 1898), NXB Tp. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống xâm lăng (lịch sử Việt nam từ 1858 đến 1898)
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w