1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quách xuân kỳ người cộng sản trung kiên và cuộc kháng chiến chống thực dân pháp của nhân dân bố trạch qua nhật ký của ông (1947 1949)

47 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Th.S Lê Trọng Đại - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em tr

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Th.S Lê Trọng Đại - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Khoa học xã hội - Trường Đại học Quảng Bình đã tận tình dạy dỗ, quan tâm giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Vì mới bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm và thời gian có hạn nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả khóa luận rất mong nhận được sự góp ý phê bình của thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ giảng viên hướng dẫn Khóa luận không sao chép công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng đúng quy định

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 2

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4.1 Mục đích nghiên cứu 2

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của đề tài 3

7 Bố cục khóa luận 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA QUÁCH XUÂN KỲ 4

1.1 Việt Nam những năm 1920 - 1949 4

1.1.1 Việt Nam những năm 1920 - 1929 4

1.1.2 Việt Nam những năm 1930 - 1945 7

1.1.3 Việt Nam những năm 1945 - 1949 8

1.2 Quê hương, gia đình và tuổi thơ Quách Xuân Kỳ 9

1.2.1 Quê hương của Quách Xuân Kỳ 9

1.2.2 Gia đình của Quách Xuân Kỳ 10

1.2.3 Tuổi thơ của Quách Xuân Kỳ 11

1.3 Qúa trình hoạt động cách mạng và những đóng góp của Quách Xuân Kỳ 14

1.3.1 Vị trí của Quách Xuân Kỳ trong lịch sử 14

1.3.2 Những đóng góp Quách Xuân Kỳ - người cộng sản trung kiên trong quá trình hoạt động cách mạng 15

1.3.2.1 Quách Xuân Kỳ tham gia xây dựng phong trào cách mạng thời kỳ Tiền khởi nghĩa ở Bố Trạch 15

1.3.2.2 Quách Xuân Kỳ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, mặt trận và tổ chức Đảng ở Bố Trạch (tháng 8/1945 – tháng 2/1947) 16

1.3.2.3 Quách Xuân Kỳ cùng Đảng bộ lãnh đạo nhân dân Bố Trạch kháng chiến chống Pháp (từ tháng 3-1947 – tháng 12/1948) 17

1.3.2.4 Quách Xuân Kỳ cùng Đảng bộ lãnh đạo nhân dân Đồng Hới kháng chiến chống Pháp và lãnh đạo chi bộ nhà lao Đồng Hới đấu tranh chống chế độ nhà tù của thực dân Pháp (từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1949) 21

Trang 4

CHƯƠNG 2 CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP CỦA NHÂN DÂN

BỐ TRẠCH QUA NHẬT KÝ CỦA QUÁCH XUÂN KỲ (1947 - 1949) 24

2.1 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Bố Trạch qua nhật ký của Quách Xuân Kỳ trong năm 1947 24

2.1.1 Trong trang đầu của nhật ký, Quách Xuân Kỳ đã tái hiện lại sự kiện thực dân Pháp bắt đầu cuộc tấn công đánh chiếm Bố Trạch từ ngày 27 đến 31/3/1947 như sau: 24

2.1.2 Quách Xuân Kỳ và Huyện ủy Bố Trạch tổ chức lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp và tay sai 24

2.1.3 Quách Xuân Kỳ tích cực vận động nhân dân tham gia kháng chiến 25

2.2 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Bố Trạch qua nhật ký của Quách Xuân Kỳ cuối năm 1948 đầu năm 1949 37

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 41

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã có rất nhiều tấm gương các cán bộ, chiến sỹ, đồng bào trên khắp cả nước không ngại hy sinh, chiến đấu dũng cảm và lập nên những chiến công hiển hách Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ

đại đó, Quảng Bình được cả nước biết đến với các cụm từ: “Quảng Bình quật khởi”,

“Làng chiến đấu Cự Nẫm”, “Làng chiến đấu Cảnh Dương” hay các anh hùng, liệt

sỹ: Lâm Úy, Trần Trực, Nguyễn Khính, Trần Quyền, Nguyễn Huy Thiêm, Quách Sỹ

Ca, Quách Xuân Kỳ…Trong hàng chục cái tên oanh liệt đó thì Liệt sỹ - anh hùng Quách Xuân Kỳ cố Tỉnh ủy viên - bí thư Thị ủy thị xã Đồng Hới là người có nhiều đóng góp quan trọng cho lịch sử quê hương, đất nước

Là người con quê hương Quảng Bình, được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Bố Trạch, cũng là hậu duệ của anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ nên đã từ lâu tôi hằng ấp

ủ việc tìm hiểu thật cặn kẽ về cuộc đời và những đóng góp của ông Việc tìm hiểu cuộc đời sự nghiệp cuả Quách Xuân Kỳ và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Quảng Bình không chỉ là một vinh dự mà còn giúp tác giả nâng cao thêm hiểu biết của mình về lịch sử quê hương, làm hành trang nghề nghiệp sau này Mặt khác việc thực hiện đề tài giúp cho chính tác giả lần đầu tiên tập dượt việc nghiên

cứu khoa học Xuất phát từ những lí do nói trên mà tôi chọn vấn đề: “Quách Xuân Kỳ

- người cộng sản trung kiên và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Bố Trạch qua nhật ký của ông (1947 - 1949)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Qua nghiên cứu tài liệu thành văn ở Quảng Bình chúng tôi thấy có nhiều tác phẩm đã đề cập đến anh hùng Liệt sỹ Quách Xuân Kỳ ở những mức độ khác nhau Sau khi tập hợp nghiên cứu, dựa vào nội dung chúng tôi chia thành 2 nhóm với 2 mức độ khác nhau

+ Ở mức độ sơ lược có các tác phẩm: Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch tập 1; Lịch sử Đảng bộ Thị xã Đồng Hới tập 1; Lịch sử Đảng bộ thị Trấn Hoàn Lão; Quảng Bình kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) của bộ chỉ huy quân sự Tỉnh

+ Ở mức độ một chuyên đề có các tác giả như:

- Nguyễn Tất Thắng, Dương Thanh Mừng với “Quách Xuân Kỳ - Người chiến sỹ cách mạng trung kiên trong kháng chiến chống Pháp xâm lược tại Quảng Bình (1945- 1954)”; Huỳnh Hữu Đại, (1988) Người con quê hương Hoàn Lão; Trần Hữu Phà, (1998), với Dẫu có muộn màng,…

Không chỉ đi vào sử sách mà vào năm 2001 tấm gương yêu nước khí tiết người

cộng sản anh hùng Quách Xuân Kỳ còn được nhà viết kịch Phan Xuân Hải xây dựng

Trang 6

thành kịch bản để giới thiệu và ca ngợi Đặc biệt năm 2006, Lê Ngọc Báu đã cho ra

mắt tác phẩm Anh hùng Quách Xuân Kỳ: “Niềm tin không chết”; Trần Công Tấn, (2010) với Dòng sông Son vẫn trong xanh, NXB thời đại

Tuy nhiên các công trình trên đều chưa khai thác để tái hiện lại bức tranh về cuộc kháng chiến của nhân dân Bố Trạch trong những năm 1947-1949 trong nhật ký của Quách Xuân Kỳ

Trên cơ sở kế thừa công trình của những người đi trước, tác giả khóa luận cố gắng tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về cuộc đời, sự nghiệp của Quách Xuân Kỳ và những ngày tháng hào hùng oanh liệt nhưng đầy hy sinh mất mát của nhân dân huyện Bố Trạch những năm 1945 - 1949 nói riêng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Quảng Bình nói chung

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Khóa luận tập trung nghiên cứu các đối tượng sau đây:

- Cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ

- Nhật ký của Quách Xuân Kỳ

- Các công trình nghiên cứu của những người đi trước về Quách Xuân Kỳ

- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Bố Trạch qua nhật ký của Quách Xuân Kỳ

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Căn cứ vào đề tài chúng tôi xác định không gian nghiên cứu chủ yếu ở địa bàn huyện Bố Trạch, thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh

- Về thời gian: Khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu thời gian Quách Xuân Kỳ sống và hoạt động cùng với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Bố Trạch trong những năm 1947 - 1949

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận xác định mục đích của đề tài là: Làm rõ những đóng góp của anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ cho cách mạng và tái hiện một phần bức tranh kháng chiến chống thực dân Pháp ở Bố Trạch những năm 1947 - 1949 qua nhật ký của ông

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nói trên chúng tôi vạch ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Sưu tầm các tài liệu thành văn ở các thư viện, trung tâm lưu trữ về viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân Quảng Bình những năm 1945-1954; các công trình nghiên cứu về Quách Xuân Kỳ đã được công bố

- Điền dã dân tộc học để tìm kiếm các tài liệu về Quách Xuân Kỳ ở địa phương

Trang 7

- Làm rõ những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp của Quách Xuân Kỳ đặc biệt là những đóng góp của ông cho cách mạng

- Nghiên cứu khai thác nhật ký của Quách Xuân Kỳ để tái hiện lại một phần bức tranh về cuộc kháng chiến chống pháp của quân và dân Bố Trạch trong những năm 1947-1949

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài tác giả đứng trên quan điểm phương pháp luận duy vật lịch sử và lập trường quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử, chúng tôi sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp điền dả đân tộc học để tập hợp tài liệu lịch sử và văn học ở địa phương

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết trong đó chủ yếu sử dụng hai phương pháp của chuyên ngành lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích đồng thời kết hợp một số phương pháp liên ngành bổ trợ như: các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, xác minh tài liệu để khai thác thông tin phục vụ cho đề tài

Khóa luận đã tập hợp được một thư mục tài liệu khá phong phú về anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Quảng Bình

7 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, nội dung và kết luận thì bố cục của khóa luận được trình bày trong 2 chương

Chương I: Thân thế và sự nghiệp của Quách Xuân Kỳ từ trang 4 đến trang 23 Chương II: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Bố Trạch qua nhật ký Quách Xuân Kỳ (1947-1949) từ trang 24 đến trang 38

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA QUÁCH XUÂN KỲ

1.1 Việt Nam những năm 1920 - 1949

1.1.1 Việt Nam những năm 1920 - 1929

Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, tuy là nước thắng trận nhưng Pháp cũng là một trong những nước chịu thiệt hại khá nặng nề, nền kinh tế kiệt quệ Tình hình đó đã thôi thúc chính quyền Pháp tăng cường sản xuất trong nước, đồng thời đẩy mạnh đầu tư, khai thác thuộc địa nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế và khôi phục vị thế chính trị của mình trên trường quốc tế Tại Việt Nam, thực dân Pháp đẩy mạnh việc bóc lột thông qua chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai với qui

mô lớn hơn lần thứ nhất (từ 1919 - 1929) nhiều lần Chỉ tính riêng 6 năm (1924 - 1929) tổng số vốn của tư bản Pháp đầu tư vào Đông Dương đã tăng gấp 6 lần so với

20 năm trước chiến tranh Tác động của công cuộc khai thác thuộc địa đã dẫn đến những biến đổi sâu sắc không chỉ về mặt kinh tế mà còn làm phân hóa trong lòng xã hội Việt Nam Bên cạnh các giai cấp cũ vẫn còn tồn tại như địa chủ phong kiến và nông dân thì lúc bấy giờ đã xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới đó là: giai cấp tư sản; giai cấp tiểu tư sản; giai cấp công nhân Mỗi tầng lớp, giai cấp đều có quyền lợi, địa vị khác nhau nên cũng có thái độ chính trị và khả năng cách mạng khác nhau Giai cấp địa chủ phong kiến phân hóa làm 2 bộ phận: Đại địa chủ là chổ dựa chủ yếu của Pháp, được Pháp dung dưỡng nên ngày càng câu kết chặt chẽ với Pháp trong việc cướp đoạt ruộng đất, tăng cường bóc lột về kinh tế và đàn áp về chính trị với nhân dân Vì thế họ không có khả năng cách mạng Địa chủ vừa và nhỏ hoặc một số đại địa chủ vẫn có tinh thần yêu nước và sẵn sàng tham gia cách mạng khi có điều kiện Giai cấp nông dân chiếm trên 90% dân số, họ bị đế quốc và phong kiến bóc lột nặng nề nên bị bần cùng hóa và phá sản trên quy mô lớn, họ căm thù thực dân và phong kiến

Vì vậy giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng nồng cốt và hăng hái nhất của cách mạng Giai cấp tư sản ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chủ yếu là tiểu chủ trung gian làm thầu khoán, cung cấp nguyên vật liệu hay làm đại lý hàng hóa cho Pháp Do quyền lợi kinh tế và quan hệ của họ với tư bản Pháp mà giai cấp tư sản Việt Nam chia làm hai bộ phận là tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản có quyền lợi kinh tế gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với đế quốc Còn tư sản dân tộc có khuynh hướng làm ăn riêng, kinh doanh độc lập, bị Pháp chèn ép nên ít nhiều có tinh thần dân tộc nhưng thế lực kinh tế nhỏ yếu nên dễ thỏa hiệp Giai cấp tư sản là tiểu tư sản, gồm nhiều thành phần như học sinh, sinh viên, viên chức, tri thức, những người làm nghề tự do, buôn bán nhỏ… thường xuyên bị bọn đế quốc bạc đãi, khinh rẻ, đời sống bấp bênh, gặp nhiều khó khăn, dễ bị xô đẩy vào con đường phá sản

Trang 9

và thất nghiệp nên họ có cũng là tầng lớp có tinh thần cách mạng Đặc biệt trong giai cấp tiểu tư sản bộ phận tri thức, học sinh, sinh viên có điều kiện tiếp xúc với những trào lưu tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài nên trong các phong trào họ là lực lượng quan trọng của cách mạng Cuối cùng là giai cấp công nhân, ra đời trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất, phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng trong công cuộc khai thác thuộc địa lần hai Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế như đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của xã hội, có hệ tư tưởng riêng, có ý thức tổ chức và kỷ luật cao, tinh thần cách mạng triệt để… thì giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng Đó là bị ba tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản người Việt; có quan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân; kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng, bất khuất của dân tộc; có điều kiện tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và trào lưu cách mạng thế giới Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi không chỉ đã cổ vũ mạnh mẽ ý chí đấu tranh mà còn chỉ ra con đường đúng đắn để giành thắng lợi trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX các phong trào đấu tranh ở Việt Nam trước khi diễn ra cách mạng tháng Mười Nga liên tiếp nổ ra Cách mạng Việt Nam đứng trước những thách thức mới đó là tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn Những con đường cách mạng, phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tư sản của các chí sĩ yêu nước như phong trào Cần vương, phong trào Duy tân, Đông Du… rất rầm rộ nhưng cuối cùng đều thất bại, bị dìm trong biển máu Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối và lãnh đạo Sau khi cách

mạng tháng Mười Nga thành công, năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp “luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin” Luận cương đã chỉ ra con đường

giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào mà Người đã nhận định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

Bên cạnh việc bắt gặp con đường cách mạng đúng đắn là cách mạng vô sản với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga thì phong trào cách mạng Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của các phong trào giải phóng dân tộc trên giới, đặc biệt là cách mạng Trung Quốc và Ấn Độ Ở Trung Quốc, ngày 4/5/1919 phong trào cách mạng rộng lớn chống chủ nghĩa đế quốc bùng nổ, mở đầu cho cuộc cách mạng dân chủ mới tiếp diễn trong suốt 30 năm đó Phong trào Ngũ tứ đã thúc đẩy phong trào công nhân nhanh chóng kết hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin dẫn đến việc thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc vào tháng 7 năm 1921 Còn ở Ấn Độ phong trào bãi công của công nhân tiếp diễn trong suốt những năm 1924 - 1927, phong trào công nhân chống thuế, chống địa chủ tăng tô diễn ra mạnh mẽ vào năm 1927 Chính sự biến đổi sâu sắc trong xã hội

Trang 10

và những nhân tố bên ngoài trong những năm 1920 - 1929 đã dẫn tới các phong trào

cách mạng ở nước ta: phong trào cải lương của Đảng Lập Hiến Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn (1923), phong trào chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, phong trào đấu tranh đòi thả Phan bội Châu (1925), truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh (1926), đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926)…

Năm 1925 - 1926 diễn ra phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản

thành thị và tư sản lớp dưới Họ lập ra nhiều tổ chức chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn, Phục Việt, Hưng Nam (1925), Thanh niên cao vọng (1926); thành lập nhiều nhà xuất bản như Nam Đồng thư xã (Hà Nội), Cường học thi xã (Sài Gòn), Quan hải tùng thư (Huế); ra nhiều báo chí tiến bộ như Chuông rạn (LA Cloche fêlée), Người nhà quê ( Le Nhaque), An Nam trẻ (La jeune Annam) Tuy nhiên về sau cùng với sự thay

đổi của điều kiện lịch sử, các phong trào ngày càng bị phân hóa mạnh, có bộ phận đi sâu hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư sản như Nam Đồng thư xã, có bộ phận chuyển dần sang quỹ đạo cách mạng vô sản tiêu biểu là Phục Việt, Hưng Nam Năm

1927 - 1930 phong trào cách mạng tư sản gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25/12/1927) Cội nguồn của Đảng này là Nam Đồng thư xã,

mô phỏng theo chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn, vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong trào ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái (1930)

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Trung Quốc, ông tìm tiếp xúc và tìm hiểu các tổ chức yêu nước Việt Nam hải ngoại ở đó Nguyễn Ái Quốc đã chọn Tâm Tân xã để

cải tạo nó thành lập ra Cộng sản Đoàn làm nòng cốt cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời vào tháng 6 năm 1925 Sau khi thành lập, Hội đã phái người về

nước để tuyển người sang Trung Quốc dự các lớp huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu hay để gửi sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông Mặt khác những người được huấn luyện trở về nước lại tiếp tục mở các lớp huấn luyện để phát triển hội viên và tổ chức của Hội Do tổ chức của Hội Thanh niên phát triển nhanh chóng và dân hình thành hệ thống tổ chức các cấp ở trong nước Một số hội viên của Tân Việt cũng đến dự các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Thanh Niên nên Tân Việt đã nhiều lần thay đổi tôn chỉ, điều lệ theo hướng đường lối tôn chỉ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho các học viên

về sau được tập hợp lại thành tập sách Đường Cách mệnh

Trong năm 1928, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát động phong trào vô sản hóa đưa hội viên đi về các nhà máy hầm mỏ để thâm nhập vào đời sống của giai cấp công nhân; để họ có điều kiện rèn luyện bản thân và tuyên truyền chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân Đến cuối tháng 3 năm 1929, tại số nhà 5D - Hàm Long - Hà Nội một số hội viên tiên tiến của hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ đã

Trang 11

lập ra chi bộ Đảng đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 đồng chí do Trần Văn Cung làm bí thư với mục đích chủ trương xây dựng cơ sở cho việc thành lập Đảng Cộng Sản ở Việt Nam Tháng 5 năm 1929, tại Hội nghị lần thứ nhất của hội Việt Nam cách mạng thanh niên đại biểu kỳ bộ Bắc kỳ đề nghị đổi tên thành lập Đảng Cộng sản nhưng do bất đồng giữa các đại biểu nên Hội nghị đã không đồng ý Do đó đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ do Ngô Gia Tự đứng đầu đã bỏ Hội nghị về nước Ngày 17 tháng 6 năm 1929, tại số nhà 312 Khâm Thiên, Hà Nội các đại biểu ưu tú của tổ chức cơ sở Đảng ở Miền

Bắc đã họp và quyết định thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng thông qua tuyên

ngôn, điều lệ, quyết định xuất bản báo Búa Liềm và cử ra ban chấp hành Trung ương Đảng

Trước tình hình của tổ chức Đông Dương Cộng sản đảng và phong trào cách mạng lúc bấy giờ thì một số hội viên tiên tiến ở Nam Kỳ cũng vạch ra kế hoạch thành

lập Đảng Đến tháng 8 năm 1929 An Nam Cộng sản đảng ra đời

Bên cạnh đó, một số hội viên tiến tiến của Tân Việt cách mạng đã họp vào tháng

12 năm 1929 và thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn họp họp hội Tuy nhiên

sau khi thành lập ba tổ chức cộng sản ra đời hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành quần chúng của nhau gây nên trở ngại lớn cho cách mạng nên yêu cầu bức thiết lúc này là phải có một chính đảng thống nhất trong cả nước Từ ngày 03 đến ngày

07 tháng 02 năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm về Hương Cảng (Trung Quốc) chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và điều lệ vắn tắt của Đảng Sự thành lập Đảng cộng sản Việt Nam tạo nên bước ngoặt lịch sử của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam

1.1.2 Việt Nam những năm 1930 - 1945

Năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ trong thế giới tư bản chủ nghĩa và kéo dài đến năm 1933 mới chấm dứt Đây là cuộc khủng hoảng “thừa” do sản xuất ồ ạt, chạy đua theo lợi nhuận dẫn đến tình trạng hàng hóa ế thừa trong khi người lao động không có tiền mua Khủng hoảng kinh tế đã đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nói chung và đế quốc Pháp nói riêng Vì vậy để giải quyết khó khăn nước Pháp đã rút vốn đầu tư ở Đông Dương về các ngân hàng Pháp và dùng ngân sách Đông Dương để hỗ trợ cho tư bản Pháp khiến cho sản xuất công nghiệp ở Việt Nam bị thiếu vốn dẫn đến đình trệ Từ 1929 đến 1933 thiên tai lại xảy ra luôn, hết hạn đến lụt Sự tăng cường bóc lột thuộc địa và chính sách khủng bố trắng sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái (02-1930) làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Pháp ngày càng sâu sắc

Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập đã nắm quyền lãnh đạo phong trào cách mạng Ngay khi vừa mới ra đời, với đường lối cách mạng cứu nước đúng đắn, Đảng ta

Trang 12

đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh, với ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931; 1936-1939; 1939-1945), khi thời cơ đến Đảng đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công Nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân và lật nhào chế độ phong kiến tay sai thối nát Ở địa phương Quảng Bình, ngày 23/08/1945 là ngày khởi nghĩa chung cho toàn Tỉnh, nhân dân toàn Tỉnh đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, miền xuôi cũng như miền ngược đã vùng lên đấu tranh lật đổ chính quyền phong kiến tay sai ở địa phương Chỉ trong vòng hai ngày đêm, quần chúng nhân dân khắp Tỉnh đã đạp đổ được ách thống trị của đế quốc phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân

1.1.3 Việt Nam những năm 1945 - 1949

Sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, nhân dân ta được đổi đời từ thân phận nô lệ trở thành công dân một nước độc lập Nhưng ngay lập tức chính quyền cách mạng non trẻ phải đương đầu với bao khó khăn từ giặc đối, giặc dốt và đặc biệt là “thù trong giặc ngoài” Đó là 20 vạn quân Tưởng núp dưới danh nghĩa Đồng minh tràn vào miền Bắc (từ vĩ tuyến 16 trở ra) làm nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật nhưng thực chất chúng ôm mộng lật đổ chính quyền cách mạng; thiết lập chính quyền tay sai biến nước ta thành thuộc địa của chúng Ở miền Nam quân Anh kéo vào cũng dưới danh nghĩa đồng minh đến giải giáp quân Nhật nhưng thực chất là dọn đường cho quân Pháp trở lại xâm lược nước ta Lợi dụng tình hình trên bọn phản động đủ loại từ tay sai Pháp, Nhật ở trong nước đến bọn Việt Quốc, Việt cách (lưu vong) theo chân quân Tưởng nổi dậy làm tay sai cho giặc ngoại xâm Bên cạnh đó, nền kinh tế tài chính lúc bấy giờ ở nước ta vô cùng khó khăn, nạn đói xảy ra khắp nơi, lũ lụt, hạn hán kéo dài, 90% dân số mù chữ; tài chính quốc gia trống rỗng

Cũng như cả nước, ở Quảng Bình sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng phải đương đầu với những khó khăn chồng chất Ngày 06/09/1945, một đại đội quân Tưởng lũ lượt kéo về thị xã Đồng Hới Vừa đặt chân tới, chúng đã đưa ra hàng loạt yêu sách ngang ngược, cướp bóc, vơ vét của nhân dân, phá rối thị trường, đòi cung cấp lương thực cho chúng Nhân cơ hội này, bọn địa chủ cường hào tay sai phản động đội lốt Thiên Chúa giáo cấu kết với quân Tưởng tìm cách phá hoại chính quyền Trong lúc đó, tình hình kinh tế tài chính của Tỉnh hầu như trống rỗng Nạn đói chưa được giải quyết thì nạn thất nghiệp lan tràn, chính quyền cách mạng lại vừa mới thành lập Cho nên vào ngày 7/10/1945 một Hội nghị cán bộ đại diện các cơ sở đảng trong Tỉnh được triệu tập ở thị xã Đồng Hới để thành lập

Trang 13

Đảng bộ Tỉnh Vừa mới ra đời, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời và Đảng bộ Quảng Bình đã thực hiện hàng loạt biện pháp tích cực để khắc phục khó khăn trên mọi mặt Đi đôi với công tác xây dựng chính quyền nhân dân, Đảng bộ còn chủ trương phát triển lực lượng vũ trang, ở các huyện, xã các lực lượng tự vệ chiến đấu được bổ sung, chấn chỉnh lại tổ chức Bên cạnh đó, công tác xây dựng chiến khu được chú trọng cho nên vào cuối năm 1946 ở Quảng Bình mọi công việc chuẩn bị kháng chiến đã được triển khai khẩn trương và có hiệu qủa

Ngày 27/03/1947, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn gồm thủy lực, không quân ồ ạt đổ bộ vào Quảng Bình Với chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” và thực hiện chính sách “đốt sạch, giết sạch”, chỉ trong một thời gian ngắn chúng đã chiếm hầu hết các huyện lị trong Tỉnh: Đồng Hới, Quảng Ninh, Lệ Thủy, Bố Trạch, Quảng Trạch Để chống lại âm mưu đánh chiếm mở rộng của kẻ thù thì ở thị xã Đồng Hới công tác tiêu thổ kháng chiến được triển khai khẩn trương, công binh trong khi rút lui đã phá hủy Cầu Dài, đánh sập nhà máy điện, hệ thống đường ray bị lật tung nhiều đoạn, các nhà ga bị phá, nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống”, tản cư lên chiến khu Tại các chiến khu, Ủy ban kháng chiến còn lập ra các trại kinh tế để tăng gia sản xuất Ở vùng bị tạm chiếm tiêu biểu là huyện Bố Trạch, các cuộc chiến đấu của các đơn vị bộ đội và dân quân du kích vẫn diễn ra liên tục; phong trào rào làng chiến đấu, gây dựng cơ sở kháng chiến lan rộng, tạo niềm tin cho nhân dân Tuy nhiên trước sự phát triển của phong trào thì thực dân Pháp đã dùng nhiều thủ đoạn để khủng bố, đàn áp nhằm đè bẹp ý chí và lòng kiên định của nhân dân ta Với tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất, nhân dân Bố Trạch cùng với cả tỉnh và cả nước đã anh dũng kháng chiến, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch bảo vệ các vùng tự do tạo nên những pháo đài thép những làng chiến đấu nổi tiếng như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Lệ Sơn Hương Đạo… Cuộc kháng chiến đầy anh dũng hy sinh nhưng rất kiên cường anh dũng của nhân dân Bố Trạch những năm 1947-1949 đã được Quách Xuân Kỳ mô tả khá sinh động qua những trang nhật ký của ông Tuy không thể bao quát toàn diện cuộc chiến nhưng Quách Xuân Kỳ đã giúp chúng ta thấy được sự khốc liệt của chiến tranh, những diễn biến tâm lý của các tầng lớp nhân dân và cán bộ đảng viên; những trận đánh hào hùng của du kích; sự dã man tàn bạo của kẻ thù Đặc biệt nhật ký đã giúp chúng ta thấy được những tấm gương trun dũng kiên cường của quân và dân Quảng Bình trong những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

1.2 Quê hương, gia đình và tuổi thơ Quách Xuân Kỳ

1.2.1 Quê hương của Quách Xuân Kỳ

Quách Xuân Kỳ sinh ra và lớn lên ở thôn Hoàn Lão (nay là Thị trấn Hoàn Lão),

xã Trung Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Hoàn Lão có tọa độ 170 34’37’’ vĩ Bắc, 106031’49’’ kinh đông Phía đông Hoàn Lão giáp xã Trung Trạch; phía nam giáp

Trang 14

các xã Trung Trạch và Đại Trạch; phía tây giáp các xã Đại Trạch, Tây Trạch và Hoàn Trạch; phía bắc giáp các xã Đồng Trạch và Trung Trạch Hoàn Lão có diện tích là 5,7

km2; dân số khoảng gần 7000 người Thị trấn Hoàn Lão nằm trên Quốc lộ số 1, cách thành phố Đồng Hới chỉ 13 km và cách khu Di sản thiên nhiên thế giới Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trên 30 km Mặt khác, với vị trí là huyện lị của Bố Trạch nên Hoàn Lão ngày nay là một trong những địa phương có vị trí đặc biệt về giao thông và nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế

Hoàn Lão xưa kia là nơi ruộng đất màu mỡ, phì nhiêu, thuộc vùng đồng bằng của Bố Trạch Đây là khu vực thích hợp với sản xuất nông nghiệp và trồng cây ăn quả Ai đã từng sống ở Hoàn Lão thì không thể quên những nhà vườn cây trái xum xuê: hồ tiêu, cau, chè, mít, xoài, nhãn lồng, mãng cầu, cau, bưởi Là một làng nông nghiệp lấy trồng lúa là ngành kinh tế chủ đạo nhưng năng suất lúa của Hoàn Lão trước đây cũng vào loại thấp lại thường gặp thiên tai mất mùa do đó lương thực chính của người dân nơi đây suốt một thời gian dài (từ thời phong kiến thực dân đến những năm 90 của thế kỷ XX) vẫn chủ yếu dựa vào khoai lang và củ sắn (củ mì) Ở vào vị trí lưng chừng không gần rừng cũng chẳng kề biển, nên Hoàn Lão không có thế mạnh rừng vàng hay biển bạc, người dân quanh năm bám lấy ruộng vườn nên cái nghèo nó đeo đẳng mãi với họ Hơn nữa trong những năm kháng chiến chống Pháp; giặc thường xuyên càn quét, làng bị đốt năm sáu lần Nhiều gia đình bị Tây bắt bớ tra tấn, tù đày, giết chóc, có nhà chết hết không còn người nào Tuy vậy, nơi đây lòng dân luôn trung kiên với đất nước, anh dũng trong đấu tranh chống lại sự áp bức kìm kẹp, phá hoại của kẻ thù

1.2.2 Gia đình của Quách Xuân Kỳ

Quách Xuân Kỳ sinh năm 1926, ông lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống nhân văn và cách mạng Cha của Quách Xuân Kỳ là cụ Quách Nguyên Hàm, một danh

y nổi tiếng trong vùng; mẹ là Trần Thị Điển hay thơ phú, tần tảo nuôi dạy con cái nên người Người anh cả là Quách Tố Am (1905 - 1974), tham gia vào Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 và là một trong những người có công xây dựng chi bộ Đảng ở Sêpôn (Lào), sau đó về Phê Phô (Hội An) tiếp tục hoạt động cách mạng Đến năm

1938, ông Am chuyển về Đồng Hới làm “Sở dây thép” (bưu điện), được cấp trên giao nhiệm vụ chuyên giao báo chí tiến bộ và sách báo của Đảng cho cơ sở Tại Đồng Hới, ông tuyên truyền vận động thanh niên, viên chức, học sinh đấu tranh chống áp bức bóc lột của tư sản, địa chủ, cường hào Năm 1942, ông tham gia mặt trận Việt Minh; năm

1945, ông tham gia giành chính quyền ở Đồng Hới, làm chủ sự dây thép (tức là giám đốc bưu điện hiện nay) hoạt động liên tục đến khi nghỉ hưu Năm 1965 ông Quách Tố

Am được Đảng và Nhà nước phong tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng nhì, huân chương độc lập hạng ba

Trang 15

Người anh thứ hai là Quách Tuân (1911 - 1984), tham gia hoạt động của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng năm 1929; được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 5 năm 1930 Ông là một trong những cán bộ lão thành của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình Với những đóng góp quan trọng trong quá trình hoạt động cách mạng; ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng nhì, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhì, Huân chương độc lập hạng ba Người chị dâu (vợ anh Quách Tuân) chịu thương, chịu khó không chỉ đảm đang công việc gia đình mà còn chăm sóc chồng và em (Quách Xuân Kỳ) tham gia cách mạng nên được Đảng và Nhà nước tặng Bằng “Có công với nước” và quyết định công nhận tham gia hoạt động cách mạng trước Tháng Tám năm 1945 (lão thành cách mạng) và được tặng Huân chương độc lập hạng ba

Người anh thứ ba - Quách Sĩ Kha (1920 - 1999) là cán bộ Tiền khởi, Phó Chính

ủy Quân khu VI, Quyền Chánh án Toà án Quân sự Trung ương Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công (hạng nhất, nhì, ba), Huân chương chiến công (hạng nhất, nhì, ba), Huân chương chiến thắng hạng hai, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang (hạng nhất, nhì, ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng Người anh thứ tư là Quách Sĩ Ca, được Đảng và Quân đội đào tạo ở nước ngoài, khi về nước giữ chức chính trị viên tiểu đoàn, Chủ nhiệm chính trị Quân khu IV, hy sinh vào năm 1954 (liệt sỹ)

Chị Quách Thị Mai (Rộ) lớn lên lấy chồng ở Đồng Hới, khi nghe tin Quách Xuân Kỳ bị địch bắt; bà đã bán hết của cải đề lo lót cho em trai ra tù nhưng không thành Thực dân Pháp còn bắt chị giam cạnh em trai dùng đòn tâm lý để dụ dỗ, khai thác nhưng thất bại

Chị Quách Thị Lý trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chị tản cư lên chiến khu ở Tuyên Hóa và qua đời tại Ba Tâm

Quách Xuân Kỳ là con trai thứ năm và là con thứ bảy trong gia đình Ông Quách Nguyên Hàm mất sớm nên anh em Quách Xuân Kỳ mồ côi cha từ nhỏ Nhà đông con, mẹ ông phải tần tảo nuôi dạy con cái một thân một mình nhưng bà đã dạy dỗ anh em Quách Xuân Kỳ trở thành những công dân ưu tú, kiên cường, đóp góp tích cực cho lịch sử dân tộc

1.2.3 Tuổi thơ của Quách Xuân Kỳ

Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường thì Quách Xuân Kỳ đã rất chăm chỉ học tập Anh nổi tiếng ở trường là một học sinh thông minh, cương trực, giàu lòng nhân ái, được thầy giáo và bạn bè quý mến Năm 1942, Quách Xuân Kỳ được giác ngộ cách mạng Trong những năm theo học trung học Collégium Nhật Lệ ở Đồng Hới với lòng yêu nước và chí căm thù giặc sâu sắc nên Quách Xuân Kỳ đã tham gia hội kín, từng

Trang 16

bước tiếp cận với lý tưởng cách mạng bằng việc tích cực tìm hiểu các loại sách báo tiến bộ, nhất là các tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Ái Quốc, đọc thơ của cụ Phan Bội Châu, thơ Tố Hữu Quách Xuân Kỳ từng tô đậm trong sổ tay của mình hai câu:

"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim "

Năm 1943, anh tham gia đấu tranh bãi khóa ở trường chống lại Đốc học Lương Duy Ủy thực hiện chính sách giáo dục ngu dân và ngược đãi học trò Quách Xuân Kỳ truyền bá sách báo tiến bộ và sách báo của Đảng cho thanh niên, học sinh, khơi dậy trong thế họ tinh thần yêu nước, yêu quê hương và lòng căm thù giặc Đây chính là bước khởi đầu quan trọng giúp cho quá trình hình thành nhân cách, phẩm chất và tài năng của một cán bộ lãnh đạo tương lai

Thời thơ ấu Quách Xuân Kỳ đã chứng kiến biết bao nỗi thống khổ bởi bọn thực dân - phong kiến gây ra đang đè nặng lên kiếp đời nô lệ để rồi thấm được cái nỗi nhục của người dân mất nước Bên cạnh đó, được 2 anh trai là Quách Tố Am, Quách Tuân trực tiếp dìu dắt Năm 1944, trước những biến đổi lớn lao nhanh chóng của cách mạng mặc dù đang học nửa năm thứ hai ở Thành Chung ở Vinh (Nghệ An), Quách Xuân Kỳ đã bỏ học về quê để tham gia hoạt động cách mạng

Trang 17

CHÂN DUNG ANH HÙNG LIỆT SỸ QUÁCH XUÂN KỲ

Nguồn: Ảnh tư liệu gia đình

Trang 18

1.3 Qúa trình hoạt động cách mạng và những đóng góp của Quách Xuân Kỳ 1.3.1 Vị trí của Quách Xuân Kỳ trong phong trào cách mạng ở Quảng Bình

Sau khi bỏ học về làng, Quách Xuân Kỳ cùng một số bạn bè vừa tham gia Mặt trận Việt Minh, anh hoạt động trong lực lượng thanh niên cách mạng dưới danh nghĩa là Đoàn Thanh niên Phan Anh Quách Xuân Kỳ đã tích cực, tận tụy với công việc chống đói, lăn lộn xây dựng cơ sở trong huyện Từ 1944 - 1945, với cương vị là người tổ chức xây dựng lực lượng thanh niên, tự vệ ở địa phương Quách Xuân Kỳ đã góp phần quan trọng trong công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện và xã thành công Tháng 1 năm 1945, Quách Xuân Kỳ được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam Anh đã cùng một số đồng chí kịp thời xây dựng tổ chức ở xã, đặc biệt là dân quân du kích và tự vệ chiến đấu Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, Quách Xuân Kỳ đã được bầu vào Ủy ban Khởi nghĩa Trên cương vị mới, anh cùng các đồng chí trong Ủy ban Việt Minh lâm thời huyện lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính

quyền ở huyện Bố Trạch

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Quách Xuân Kỳ đã sát cánh cùng các đồng chí cán bộ đảng viên hằng ngày trực tiếp tham gia chỉ đạo giải quyết nhiều công việc quan trọng và cấp bách của huyện nhà, tổ chức tốt đời sống cho nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng Quách Xuân Kỳ đã cùng với cấp ủy và chính quyền cách mạng vận động nhân dân thực hiện thắng lợi các biện pháp đấu tranh do Hồ Chủ Tịch phát động là “chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”; ủng hộ trong “tuần lễ vàng, tuần lễ đồng” ở trong xã và thu được kết quả tốt Chỉ mới hai mươi tuổi nhưng Quách Xuân Kỳ đã chứng tỏ được năng lực của một cán bộ lãnh đạo nhạy bén, sáng tạo và rất vững vàng

Trên cương vị là bí thư Đoàn thanh niên cứu quốc Bố Trạch, Quách Xuân Kỳ đã góp phần quan trọng trong công tác vận động thanh niên tham gia cách mạng, phát triển tổ chức Đoàn thanh niên và mặt trận Việt Minh

Năm 1946, Quách Xuân Kỳ cùng các đồng chí Phan Khắc Hy, Mai Trọng Nguyên nhận nhiệm vụ chỉ huy một đội tự vệ vừa tăng gia sản xuất vừa xây dựng khu căn cứ Ba Lùm, Ba Lòi

Ngày 27 tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp đổ bộ lên đất Quảng Bình Quách Xuân Kỳ đã cùng với cán bộ Đảng viên lãnh đạo nhân dân rào làng chiến đấu, đào giao thông hào bí mật, thực hiện vườn không nhà trống, sẵn sàng chiến đấu Tháng 10 năm 1947, Quách Xuân Kỳ được bầu làm Huyện ủy viên Bố Trạch, trực tiếp phụ trách bí thư Đoàn thanh niên cứu quốc huyện, lại vừa phụ trách Trưởng ban tình báo Trên cương vị mới, anh bất chấp nguy hiểm về tận các vùng địch hậu để gây dựng lại cơ sở đã bị địch phá vỡ; vực dậy phong trào ở nhiều địa phương thuộc huyện Bố Trạch Mặt khác với vai trò Trưởng ban tình báo anh đã nhiều lần cải trang vào vùng địch nắm

Trang 19

tình tình, tổ chức đánh địch, diệt ác phá tề, trừ gian Những hoạt động tích cực và hiệu quả của anh khiến cho kẻ thù khiếp sợ Trước tấm gương anh dũng của anh những đồng bào đồng chí hoang mang dao động như trấn tỉnh được tinh thần, nhiều cơ sở cách mạng tại vùng địch kiểm soát được củng cố và phát triển Tháng 7 năm 1948, Quách Xuân Kỳ được bầu làm Bí thư Huyện ủy Bố Trạch Trên cương vị là Bí thư huyện ủy huyện Bố Trạch với trách nhiệm là người lãnh đạo cao nhất của huyện nhà ông đã lăn lộn khắp huyện để tổ chức kháng chiến Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù thì người cán bộ đảng của huyện Bố Trạch đã nêu cao ý chí kiên cường không quản gian khổ, hy sinh, Quách Xuân Kỳ thề: “quyết một phen với chúng có chết thì ít nhất cũng đền được nợ nước và cũng làm tròn phận sự” [15] Thời gian này tình hình Quảng Bình nói chung cũng như Bố Trạch nói riêng rất căng thẳng, một số cán bộ, đảng viên hoang mang dao động, vài cơ sở của ta bị tan rã nên địch tha hồ làm mưa, làm gió Trước tình hình như thế, nhiệm vụ đảng giao phó lúc bấy giờ vô cùng nặng nề nên Quách Xuân Kỳ được Huyện ủy cử về xây dựng cơ sở ở ba xã: Trung Trạch, Tây Trạch, Hải Trạch nơi mà cơ sở yếu nhất, địch lại khủng bố nhiều nhất Quách Xuân Kỳ luôn bám sát, tuyên truyền giáo dục phát huy tính kiên cường của nhân dân: “Quốc dân đồng bào! Đồng bào hẳn không bao giờ quên được những nỗi khổ dưới sự đè nén của quân thù”[15] và anh tin rằng: “ Đồng bào Bố Trạch sẽ đứng dậy giải phóng cho mình”[15] Tháng 2 năm 1949, Quách Xuân Kỳ trúng cử Tỉnh ủy viên Quảng Bình (dự khuyết) và được Tỉnh ủy cử vào công tác tại thị xã Đồng Hới, trực tiếp làm bí thư Thị ủy Trong vòng vây tứ bề của địch, nơi mà chúng cho là an toàn khu thì Quách Xuân kỳ vẫn len lỏi ngày đêm đi về nằm vùng xây dựng cơ sở bí mật Trong một lần về hoạt động tại thôn Phú hội (xã Quang Phú hiện nay), vì bị mật vụ chỉ điểm nên Quách Xuân Kỳ bị địch bắt giam, tra tấn vô cùng dã man

Trong thời gian bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, Quách Xuân Kỳ không chỉ kiên cường đấu tranh bảo vệ Đảng giữ tròn khí tiết của người cộng sản mà còn năng động đứng ra tập hợp đảng viên; thành lập và lãnh đạo chi bộ nhà tù đấu tranh với kẻ thù

Qua quá trình hoạt động cách mạng với những trọng trách được tổ chức tín nhiệm giao phó, Quách Xuân Kỳ với tài năng và nhiệt tình của mình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên các cương vị mà anh gánh vác trong mỗi giai đoạn

1.3.2 Những đóng góp Quách Xuân Kỳ - người cộng sản trung kiên trong quá trình hoạt động cách mạng

1.3.2.1 Quách Xuân Kỳ tham gia xây dựng phong trào cách mạng thời kỳ Tiền khởi nghĩa ở Bố Trạch

Năm 1943, Quách Xuân Kỳ bỏ học về quê để tham gia cách mạng Được anh trai

dẫn dắt, Quách Xuân Kỳ gia nhập Việt Minh và hoạt động trong tổ chức Đoàn thanh

Trang 20

niên cứu quốc Năm 1944, Quách Xuân Kỳ cùng một số cán bộ đã xây dựng cơ sở của Việt Minh tại Hoàn Lão và huyện Bố Trạch Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), phong trào kháng Nhật cứu nước do Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh phát động ngày một lan rộng ở Quảng Bình “Với tư duy chủ động sáng tạo Quách Xuân Kỳ đã cùng với các đồng chí trong Việt Minh huyện Bố Trạch về các địa phương xây dựng cơ sở cách mạng; chọn lựa kết nạp nhiều quần chúng trung kiên vào Việt Minh và thành lập tổ chức Việt Minh ở nhiều nơi như Hoàn Lão, Hòa Duyệt, Chánh Hòa, Cự Nẫm, Khương Hà…” Những đóng góp quan trọng của Quách Xuân Kỳ trong thời kỳ tiền khởi nghĩa đã được Phan Đức Đoài - Bí thư huyện ủy Bố Trạch

khẳng định trong diễn bài phát biểu tại lễ đón nhận danh hiệu: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của liệt sỹ Quách Xuân Kỳ tháng 2/1999) Phong trào đấu tranh của

“Thanh niên cứu quốc” (núp dưới danh nghĩa Đoàn thanh niên Phan Anh) ở huyện Bố Trạch chống Nhật và chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim do Quách Xuân Kỳ lãnh đạo

đã phát triển mạnh mẽ, trở thành trung tâm của phong trào chống các hoạt động tuyên truyền phản động của địch trước Cách mạng tháng Tám” Ngay từ những ngày đầu

tham gia vào cách mạng, Quách Xuân Kỳ đã nhận thức được tính chất tàn bạo và ác liệt của đại chiến thế giới thứ II đã gieo rắc cho nhân dân Pháp nói chung và nhân loại nói riêng Với tấm lòng yêu quê hương, đất nước cùng với nhiệt tình của tuổi trẻ, Quách Xuân Kỳ đã sớm tham gia vào công tác phát triển cơ sở, xây dựng lực lượng trong thanh niên Những đóng góp của Quách Xuân Kỹ đối với sự nghiệp cách mạng trong những ngày đầu đã chứng tỏ anh là một thanh niên sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, sống có hoài bão, sẵn sàng xả thân vì dân, vì nước

1.3.2.2 Quách Xuân Kỳ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, mặt trận và tổ chức Đảng ở Bố Trạch (tháng 8/1945 – tháng 2/1947)

Tháng 8/1945, sau khi nhận được tin tổng khởi nghĩa của Việt Minh tỉnh, Ủy ban khởi nghĩa của Huyện được thành lập, Quách Xuân Kỳ được bầu vào Ủy ban khởi nghĩa Trên cương vị mới, Quách Xuân Kỳ đã về các địa phương xúc tiến thành lập các Ủy ban khởi nghĩa, vận động tập hợp quần chúng sẵn sàng chuẩn bị khởi nghĩa Đêm 22 rạng ngày 23/08/1945, Ủy ban khởi nghĩa huyện hạ lệnh Tổng khởi nghĩa Sau khi lật đổ chính quyền tay sai ở Bố Trạch giành chính quyền về tay nhân dân, Quách Xuân Kỳ đã sát cánh cùng các đồng chí cán bộ, đảng viên hàng ngày trực tiếp tham gia chỉ đạo giải quyết được nhiều công việc quan trọng, cấp bách của huyện nhà, tổ chức tốt cho đời sống nhân dân, tập trung xây dựng củng cố chính quyền cách mạng Đặc biệt Quách Xuân Kỳ đã cùng chính quyền, Mặt trận Việt Minh huyện vận động nhân dân thực hiện thắng lợi ba cuộc vận động cách mạng lớn do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động: “Chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”, “tuần lễ đồng,

Trang 21

tuần lễ vàng”, xây dựng quỹ độc lập; các cuộc ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến, vận động thanh niên Nam tiến và chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến

chống Pháp Tại Bố Trạch nhân dân tích cực thực hiện ngày đồng tâm, hũ gạo cứu đói,… phát huy truyền thống lá lành đùm lá rách, nhường cơm xẻ áo giúp nhau vượt

qua những ngày giáp hạt Năm 1946, Quách Xuân Kỳ vừa làm Bí thư thanh niên Cứu quốc huyện vừa phụ trách công tác tình báo của huyện Bố Trạch Tháng 2 năm 1947, Quách Xuân Kỳ đã có công tổ chức một đội thanh thiếu niên làm liên lạc, tình báo rất đắc lực góp phần vào công tác trừng trị bọn phản động, bảo vệ trật tự an ninh ở địa phương, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, tham gia xây dựng cơ sở chuẩn bị kháng chiến

ở nhiều xã trong huyện Bố Trạch

1.3.2.3 Quách Xuân Kỳ cùng Đảng bộ lãnh đạo nhân dân Bố Trạch kháng chiến chống Pháp (từ tháng 3-1947 – tháng 12/1948)

Ngày 27 tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn hải lục, không quân đánh chiếm Quảng Bình Trong một thời gian ngắn, quân Pháp đã thiết lập một hệ thống đồn bốt dày đặc, tiến hành các vụ tàn sát đẫm máu Quảng Bình trở thành chiến trường ác liệt, gian khổ và giữ một vị trí quan trọng trên địa bàn Liên khu

IV Dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Liên khu IV, Đảng bộ tỉnh, nhân dân Quảng Bình đã cùng cả nước kiên quyết đứng lên đấu tranh bảo vệ nền độc lập tự do cho đất nước

Với tinh thần hăng hái đi đầu và trách nhiệm là Bí thư Đoàn thanh niên huyện Bố Trạch, Trưởng ban tình báo, Quách Xuân Kỳ đã cấp ủy, chính quyền huyện lãnh đạo nhân dân Bố Trạch đấu tranh chống lại các cuộc hành quân càn quét và bình định của thực dân Pháp Nhận thức được tầm quan trọng từ vị thế của tỉnh Quảng Bình trong

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quách Xuân Kỳ đã tự nhủ rằng: “…Bắt đầu từ hôm nay nhất quyết phải ở với địch, gần địch thì phải về Hoàn Lão… Phải quyết một phen sống chết với tụi nó Có chết thì ít nhất cũng phải làm tròn phận sự…” Những dòng tâm sự trong cuốn nhật ký cho thấy tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”

của ông đã dành cho quê hương, đất nước ngay từ những ngày đầu Pháp quay trở lại xâm chiếm Việt Nam Tinh thần này thật đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ

trong Tuyên ngôn độc lập: “…Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [3; 557]

Từ cuối tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng tại Quảng Bình Hầu khắp các vùng đồng bằng thuộc huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, thị xã Đồng Hới, phần lớn huyện Bố Trạch, một phần ba huyện Quảng Trạch và vùng địa đầu huyện Tuyên Hoá đã bị thực dân Pháp chiếm đóng, kiểm soát Quách Xuân Kỳ đã miêu tả lại cuộc tấn công của Pháp lên Phú Định (một xã nằm phía Tây của huyện Bố

Trạch): “Ngày 31/3/1947, tại bảy cây thông Phú Định, cũng tại đây thì chúng tấn công

Trang 22

Phú Định Mình lúc đầu cũng khiếp xanh cả mật, nhưng một lát sau bình tĩnh ngay ” Quách Xuân Kỳ đã nhận định tình hình lúc này: “Bố Trạch có thể sẽ hoàn toàn bị chiếm, các xã sẽ bị mất hẳn liên lạc Các nhân viên có thể sẽ bị bắt hoặc bị giết ngay Nhưng như thế có nghĩa là không tin tưởng vào tương lai, vào ngày độc lập vinh quang nay mai không?” Những đợt tấn công quyết liệt của thực dân Pháp vào Quảng

Bình không nằm ngoài mục đích là cắt đứt liên lạc giữa hai miền Bắc Nam, giữa chiến trường Bình - Trị - Thiên với chiến trường Thanh - Nghệ - Tĩnh Tuy nhiên, với ý thức trách nhiệm là một cán bộ lãnh đạo, một đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quách Xuân Kỳ đã nêu rõ ý chí của mình:

“Một chiến sĩ đã giơ tay thề sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng cho độc lập, hơn nữa, cho nhân loại Không vì thế mà có những ý nghĩ đen tối Ác mộng! Không bao giờ Ta tin tưởng, chắc chắn ngày mai đây sẽ đẹp đẽ, ngày mai đây đồng bào Bố Trạch sẽ đứng dậy giải phóng cho mình Không thể nước Việt Nam bị nô lệ một lần nữa, cũng như dân tộc Việt Nam không thể bị áp bức và như thế lý gì Bố Trạch thân yêu lại bị trong vòng xiềng xích Ngay bây giờ ta đã nghĩ ngày mai đẹp đẽ ấy Ta tin tưởng ngày mai đẹp đẽ ấy Cũng như ta chắc chắn ngay bây giờ ta đang sống”[ 3; ]

Trong nhận thức của mình, Quách Xuân Kỳ luôn ý thức được những trọng trách

mà Đảng và đất nước giao phó cho mình Ông luôn quan niệm rằng: “Một người cộng sản phải có hai điều kiện trong sự làm việc để thực hiện chương trình: Một là tinh thần cách mạng Nga Hai là óc thực tế của Mĩ Hai phần này đều quan trọng như nhau, không thiếu cái này hoặc cái kia được” Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[4; 496] Để đưa

cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, cần phải có tinh thần đấu tranh kiên cường và bất khuất của quần chúng như tinh thần của nhân dân Xô Viết trong chiến tranh thế

giới thứ hai Tuy nhiên, để đối phó lại với một đế quốc sừng sỏ đã từng có “nhiều kinh nghiệm” về chiến trường Việt Nam thì cần phải có thêm sự khôn khéo, uyển chuyển

trong cách đối phó và xử lý Hay nói cách khác hơn là cần phải xây dựng một đường lối đấu tranh đúng đắn Chính những nhận thức đúng đắn này đã giúp cho Quách Xuân Kỳ trưởng thành dần lên trong chiến đấu, dạn dày thêm với đạn lửa

Bên cạnh việc xác định mục tiêu và lý tưởng đấu tranh của mình, Quách Xuân Kỳ luôn quan tâm đến xây dựng tâm lý đấu tranh cho quần chúng nhân dân, bám sát thực tế từ các hoạt động đấu tranh nhằm kịp thời đưa ra những đối sách phù hợp Sau 3 ngày thực dân Pháp tấn công vào Quảng Bình, trước những đòn tấn công mạnh bằng vũ khí quân sự cùng những âm mưu xảo quyệt đã khiến cho không ít quần chúng nhân

dân xao động trước những “cám dỗ” của kẻ thù Đứng trước tình thế đó, ngày 31 tháng

Trang 23

3 năm 1947, với cương vị là bí thư Huyện ủy Bố Trạch, Quách Xuân Kỳ đã triển khai cuộc họp khẩn cấp tại căn cứ Phú Định Tại cuộc họp này, Quách Xuân Kỳ đã nghiêm khắc phê phán những biểu hiện chạy dài, hoang mang, dao động của một số cán bộ, đảng viên và những thiếu sót trong công tác lãnh đạo tổ chức chiến đấu của một số cán

bộ chính quyền địa phương một số xã Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ: “Cán bộ, đảng viên phải bám dân, bám làng tổ chức kháng chiến; đồng thời phân công các đồng chí cấp

uỷ về củng cố cơ sở, gây dựng phong trào, tổ chức lực lượng chiến đấu, cùng sống chết với nhân dân” [2; 162] Những chỉ đạo kịp thời trên đây của ủy ban kháng chiến

huyện Bố Trạch đã góp phần cũng cố tinh thần đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm cho quần chúng nhân dân cũng như xây dựng và đề xuất những biện pháp đấu tranh trong bối cảnh mới Đầu tháng 4 năm 1947, trung đội du kích thường trực đã ra đời tại làng Hoà Duyệt (xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch) Huyện uỷ Bố Trạch đã quyết định chọn làng Hoà Duyệt làm thí điểm xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân Ngày

4 tháng 4 năm 1947, thực dân Pháp cho quân tấn công vào làng này Dân và quân làng

Hoà Duyệt “với lối đánh bí mật, bất ngờ, toàn dân đánh giặc nhất tề xung phong làm cho địch lúng túng hoang mang tháo chạy toán loạn để lại trên trận địa 5 xác chết” [2;

163] Từ những kinh nghiệm chiến đấu ở làng Hoà Duyệt, Huyện uỷ Bố Trạch đã đề ra chủ trương xây dựng các khu căn cứ kháng chiến ở Phú Định, Bồng Lai và quyết định xây dựng làng Cự Nẫm thành làng chiến đấu Trong kháng chiến chống Pháp, Cự Nẫm

đã thực sự là một “làng chiến đấu gương mẫu ở Quảng Bình, dân làng đã tổ chức được nhiều đội du kích thiện chiến, gan dạ, Ủy ban Kháng chiến làng đã biết huy động lực lượng dân chúng trong làng tham gia vào cuộc kháng chiến Do đó, làng đã đương đầu được với quân Pháp từ khi xảy ra tác chiến ở Quảng Bình” [11]

Là một người chiến sĩ kiên trung với cách mạng, luôn phải đối mặt với nhiều cam

go và thử thách, Quách Xuân Kỳ đã không ít lần đối mặt với “tử thần” Ngày 13 tháng

4 năm 1947, trong lúc đang tiến hành nhiệm vụ tại xã Võ Thuận (Bố Trạch), Quách Xuân Kỳ bị thực dân Pháp tấn công Ông đã miêu tả lại cuộc truy đuổi của Pháp đối

với ông trong cuốn nhật ký của mình như sau: “Mình với Tán, Tất vừa đặt xong Ban Tình báo xã thì quân Pháp tổng tấn công Mình định chạy sang Đông thì ba tiếng canon 75 rầm rầm nổ Chạy sang Tây thì nghe một loạt súng trường Chạy ra đồng nhằm hướng Cao Lao thẳng tiến Có lẽ buồn cười nhất là vừa chạy vừa tụt quần Hoảng quá, một tay cầm dép, một tay giữ quần vừa chạy vừa lo Cảnh này có lẽ giống cảnh Tào Tháo bị Mã Siêu đuổi…”[ 5; 8]

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập tự do cho quê hương đất nước, Quảng Bình nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung đã có không ít những hy sinh mất mát Sự ra đi của những người bạn, người thân, những người đồng chí, đồng đội, đó chính là những nỗi đau vô hạn Với Quách Xuân Kỳ, những cái tên Đống, Cúc, Thiêm,

Ngày đăng: 23/08/2017, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng (1979), Văn kiện Đảng (1945-1954), Tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1979
4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Bình (1995), “Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình”, Tập 1 (1930-1945) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Bình
Năm: 1995
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bố Trạch (1997), Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch, Tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bố Trạch
Năm: 1997
7. Nguyễn Thế Hoàn – Lê Thúy Mùi (2014), Lịch sử Đảng bộ Thị Trấn Hoàn Lão, Tập 1 (1930-2000), Ban Chấp hành Đảng bộ Thị Trấn Hoàn Lão Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Thị Trấn Hoàn Lão
Tác giả: Nguyễn Thế Hoàn – Lê Thúy Mùi
Năm: 2014
9. Nguyễn Thế Hoàn-Lê Thúy Mùi (2010), Lịch sử Quảng Bình, NXB Đại học sư phạm, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Thế Hoàn-Lê Thúy Mùi
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
10. Trần Công Tấn (9/2010 ), Dòng sông Son vẫn trong xanh, NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng sông Son vẫn trong xanh
Nhà XB: NXB Thời đại
12. Trần Chi ( 2011), Người Cộng sản kiên trung của huyện Bố Trạch, Quảng Bình,Nguồn:http://trianlietsi.vn/new-vn/Trang-vang-liet-si/2059/nguoi-cong-san-kien-trung-cua-huyen-bo-trach,-quang-binh.vhtm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Cộng sản kiên trung của huyện Bố Trạch, Quảng Bình
13. Trang Hiếu Đạo (14/11/2012), Ngoại khóa về anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam,Nguồn: http://violet.vn/thcs-quachxuanky/quangbinh/entry_id/8415743 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại khóa về anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam
14. Trích Báo cáo tình hình kháng chiến Liên khu IV tháng 1-3/1948, tài liệu lưu trữ tại Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kháng chiến Liên khu IV tháng 1-3/1948
15. Tài liệu Nhật ký của anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ (bản gốc và bản sao) 16. Lại Văn Ly, Đặng Ngọc Anh, Nguyễn Đức Tuân (1994), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị xã Đồng Hới 1930 – 1954 (Dự thảo) tập I, Thường vụ Thị ủy Đồng Hới xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật ký của anh hùng liệt sỹ Quách Xuân" Kỳ (bản gốc và bản sao) 16. Lại Văn Ly, Đặng Ngọc Anh, Nguyễn Đức Tuân (1994)
Tác giả: Tài liệu Nhật ký của anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ (bản gốc và bản sao) 16. Lại Văn Ly, Đặng Ngọc Anh, Nguyễn Đức Tuân
Năm: 1994
2. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 8, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
8. Lê Ngọc Báu (11/11/2006), bài báo đăng trên kênh an ninh Anh hùng Quách Xuân Kỳ: Niềm tin không chết Khác
11. Biên bản Hội nghị Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV (26/2/1949 đến 7/3/1949), Cục lưu trữ Phủ Thủ tướng, Hồ sơ số 119 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w