Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)Dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên Yên Bái (LV thạc sĩ)
Trang 11
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THU HOÀI
DẠY ĐỌC - HIỂU HAI TÁC PHẨM “ĐỒNG CHÍ” VÀ “LÀNG”
CHO HỌC SINH LỚP 9 HUYỆN VĂN YÊN - YÊN BÁI
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số : 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thế Phiệt
THÁI NGUYÊN, NĂM 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, khoa sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, các thầy cô giáo công tác ở bộ Giáo dục và Đào tạo
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thế Phiệt – Người thầy hướng dẫn khoa học đã động viên, chỉ bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, thầy cô giáo và các
em học sinh trong các trường THCS ở Huyện Văn Yên – Yên Bái đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả
Hà Thu Hoài
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined.
LỜI CẢM ƠN……………… …….ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT v
TÀI LIỆU THAM KHẢO vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn hiện nay 1
1.2 Xuất phát từ thực tiễn dạy học ở các trường Trung học cơ sở trong địa bàn huyện Văn Yên - Yên Bái 2
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Các công trình bàn về PPDH văn nói chung 4
2.2 Các công trình bàn về phương pháp dạy đọc - hiểu tác phẩm văn chương 5
2.3 Các công trình bàn về hai tác phẩm Đồng chí và Làng 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục đích 8
3.2 Nhiệm vụ 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY ĐỌC - HIỂU HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ (CHÍNH HỮU) VÀ LÀNG (KIM LÂN) 10 1.1 Một số tiền đề lí luận về đọc - hiểu 10
1.1.1 Khái niệm đọc - hiểu 10
Trang 41.1.2 Quan niệm về vấn đề đọc - hiểu văn 11
1.1.3 Những hiểu biết cần thiết về VHVNHĐ phục vụ cho việc dạy học hai tác phẩm “Đồng chí” và “Làng” 12
1.1.4.Hai tác phẩm Đồng chí và Làng trong tiến trình phát triển của VHVNHĐ 14 1.2.Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Vài nét khái quát về vị trí địa lý và tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của huyện Văn Yên – tỉnh Yên Bái 15
1.2.2 Tình hình dạy – học văn cho học sinh cấp II của huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái 17
1.2.3 Những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại của học sinh THCS ở miền núi 20
CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ LÀNG CHO HỌC SINH LỚP 9 HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI 22
2.1 Trước giờ lên lớp 22
2.1.1 Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài 22
2.1.2 Định hướng cho học sinh những tư liệu liên quan đến bài học 23
2.1.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài 25
2.2 Tổ chức dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng trong giờ học 26
2.2.1 Tạo hứng thú, kích thích nhu cầu học tập cho học sinh 26
2.2.2 Tổ chức cho học sinh cảm nhận tác phẩm bằng các hoạt động nghệ thuật 29
2.2.3 Xây dựng tình huống có vấn đề bằng hệ thống câu hỏi gợi mở 31
2.2.4 Sử dụng lời bình đúng thời điểm 34
2.2.5 Phát huy tinh thần đối thoại trong giờ dạy và học tác phẩm VHVNHĐ 36
2.2.6 Củng cố bài học 38
2.3 Sau giờ học 41
2.3.1 Rèn luyện thói quen học bài ở nhà 41
2.3.2 Đối với việc ôn lại bài mới học xong trên lớp 42
2.3.3 Đổi mới cách ra đề kiểm tra 43
2.3.4 Thường xuyên cung cấp những thông tin phản hồi hữu ích đến học sinh 45
Trang 5CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 47
3.1 Thiết kế thể nghiệm giáo án dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên - Yên Bái 47
3.1.1 Yêu cầu thể nghiệm 47
3.1.2 Mục đích thể nghiệm 47
3.1.3 Đối tượng thể nghiệm 47
3.1.4 Nội dung thể nghiệm 47
3.1.5 Thiết kế thể nghiệm 48
3.2 Tổ chức dạy thực nghiệm và đánh giá kết quả 74
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 74
3.2.2 Kết quả thực nghiệm 74
3.2.2.1 Đánh giá về mặt định lượng 74
3.2.2.2 Nhận xét và đánh giá của GV giảng dạy và tổ chuyên môn về mặt định tính 76
3.2.3 Một số vấn đề rút ra sau giờ dạy thể nghiệm 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
PHẦN KẾT LUẬN 81
PHỤ LỤC 83
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hoàng Hữu Bội (2008), Thiết kế dạy học Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục
2 Hoàng Hữu Bội (1997), Dạy và học tác phẩm Văn học ở trường phổ thông trung học miền núi, Nxb Giáo dục.[tr 3]
3 Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn dạy cái hay - cái đẹp, Nxb Giáo dục
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 9, Tập 1, Nxb Giáo dục
5 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 9, Tập 2, Nxb Giáo dục
6 Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục
7 Lê Linh Chi (2009), "Tiếp cận quan điểm đối thoại trong dạy học văn", Kỷ yếu HTKH 50 năm trường Đại học Vinh, tập 2, Nxb Nghệ An
8 Nguyễn Viết Chữ (2001), PPDH tác phẩm văn chương theo thể loại, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội
9 Nguyễn Viết Chữ (2007), "Về việc bồi dưỡng kĩ năng nghe - nói - đọc - viết
cho HS trong dạy học Ngữ văn", Tạp chí Giáo dục
10 Nguyễn Quang Cương (2007), "Đổi mới nhận thức của người GV văn
học", Tạp chí Giáo dục
11 Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Hà Nội
12 Nguyễn Lâm Điền (2009), "Mấy vấn đề về đổi mới phương pháp giảng
dạy VHVNHĐ ở trường Đại học", Kỷ yếu HTKH 50 năm trường Đại học Vinh, tập 2, Nxb Nghệ An
13 Bùi Minh Đức (2008), "Phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo của HS trong
hoạt động phân tích cắt nghĩa tác phẩm văn học", Tạp chí Giáo dục
14 Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, tập 3, Nxb
Trang 817 Đỗ Đức Hiểu (1999), Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn
18 Nguyễn Trọng Hoàn (2001), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb Giáo dục
19 Nguyễn Thanh Hùng (2000), "Sự thống nhất nội tại giữa đào tạo và giáo
dục trong giảng dạy văn học để phát triển nhân cách HS", Tạp chí nghiên cứu Giáo dục
20 Nguyễn Thanh Hùng (2005), Hiểu văn dạy văn, Nxb Giáo dục
21 Nguyễn Thanh Hùng (2007), Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT - những vấn đề cập nhật, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
22 Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Giáo dục, [tr 131, 134]
23 Huyện Văn Yên thực hiện bốn tốt (2000), Nxb lao động
24 Trần Xuân Hưng (2008), Tài liệu Ngữ văn địa phương THCS (dành cho
HS THCS tỉnh Yên Bái), Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Yên Bái
25 Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường THPT, Nxb Giáo dục
26 I F Kharlamôp (1978), Phát huy tính tích cực học tập của HS như thế nào?, Nxb Giáo dục
27 Nguyễn Xuân Lạc – Bùi Tất Tươm, Hướng dẫn tự học Ngữ văn 9, Nxb
Giáo dục
28 Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục
29 Phong Lê (2001), Văn học Việt Nam hiện đại: Những chân dung tiêu biểu,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
30 Lịch sử Đảng bộ huyện Văn yên (2008), Nxb lao động
31 Lê Nguyên Long (2000), Thử đi tìm những PPDH hiệu quả, Nxb Giáo
dục
32 Nguyễn Văn Long, Ôn tập Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục
33 Phan Trong Luận (1969), Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học, Nxb
Gíáo dục, Hà Nội [tr 26]
Trang 934 Phan Trọng Luận (1977), Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường,
38 Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, tập1, Nxb Giáo dục
39 Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, tập 2, Nxb Giáo dục
40 Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt,
1987, Phương pháp dạy học văn, NxbN ĐHQG Hà Nội
41 Phương Lựu (chủ biên, 2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục
42 Mai Xuân Miên (1999), "Mấy vấn đề có tính nguyên tắc định hướng tiếp
nhận của HS trong giờ giảng văn", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
43 Vũ Nho (1999), Nghệ thuật đọc diễn cảm, Nxb Thanh niên
44 Vũ Nho, Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Thành, Bài tập rèn kĩ năng tích hợp Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục
45 Cao Thanh Phước (2000), "Ứng dụng phương pháp học tích cực nâng cao
chất lượng giáo dục", Tạp chí Văn hoá nghệ thuật
46 Nguyễn Huy Quát, Hoàng Hữu Bội (2001), Một số vấn đề PPDH văn trong nhà trường, Nxb Giáo dục
47 Nguyễn Huy Quát (2011), Nghiên cứu văn học và đổi mới phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học Thái Nguyên
48 Nguyễn Huy Quát, (2002), "Những điều cần lưu ý tiến hành đọc diễn cảm
trong dạy thơ ở trường phổ thông", Tạp chí giáo dục
49 Vũ Dương Quý, Lê Bảo, (2007), Bình giảng văn 9, Nxb Giáo dục
50 Trần Đình Sử (1998), "Môn văn - thực trạng và giải pháp", báo Văn nghệ,
(7),[ tr.45]
Trang 1051 Trần Đình Sử (2007), "Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy đọc hiểu văn bản văn học", Kỷ yếu HTKH dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông theo chương trình và SGK mới, Nxb Nghệ An
52 Lê Trung Thành (2003), "Tạo dựng tình huống có vấn đề dạy học tác phẩm
văn chương", Tạp chí Giáo dục
53 Nguyễn Huy Thắng (2011), “Kim Lân - ẩn sĩ giữa làng văn”, Nxb Kim Đồng
54 Nguyễn Duy Thịnh (2006), "Đôi điều bàn luận về phương pháp giáo dục
tích cực", Tạp chí Ngôn ngữ
55 Đinh Văn Thiện, Trần Thị Tuyết (2010), Kiểm tra trắc nghiệm Ngữ văn 9,
Nxb Giáo dục
56 Đỗ Ngọc Thống, Bài tập trắc nghiệm Ngữ Văn 9, Nxb Giáo dục
57 Nguyễn Thị Thu Thủy (2010), Một số nội dung đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn ở THPT, dành cho sinh viên Ngữ văn k44
58 Nguyễn Văn Tứ (2007), "Sáng kiến kinh nghiệm của GV và việc đổi mới
dạy học Ngữ văn ở phổ thông", Tạp chí Giáo dục
59 Nguyễn Trí, Sổ tay kiến thức Ngữ Văn 9, Nxb Giáo dục
60 Hoài Việt, Kim Lân – Nhà văn trong nhà trường, Nxb Giáo dục, 1999, [tr
3]
61 V.ÔKôn (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề, tập 1, Nxb
Giáo dục
62 Z Ia Rez (1983), Phương pháp luận dạy văn học, Nxb Giáo dục.[tr11]
63 50 năm Văn Yên xây dựng và trưởng thành 1965 – 2015, Nxb lao động
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn hiện nay
Môn Ngữ văn là một trong những môn học chính trong chương trình học
của học sinh Trong đó hoạt động đọc - hiểu là hoạt động cơ bản nhất của môn học này Việc tổ chức dạy đọc - hiểu tốt hay không rất quan trọng vì nó quyết
định đến kết quả đạt được của HS
Trong dạy học nói chung và dạy đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện đại nói
riêng, ở mỗi thời đại, mỗi vùng miền khác nhau luôn phải có sự đổi mới điều chỉnh trong phương pháp để nâng cao chất lượng dạy và học Rèn luyện phương pháp học tập, phương pháp tìm tòi, vận dụng kiến thức vào định hướng đổi mới phương pháp dạy và học, hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, đào tạo ra những con người mới mang đầy đủ tiêu chuẩn của thời đại
Văn học hiện đại là một trong những giai đoạn văn học lớn của lịch sử văn học dân tộc, là giai đoạn gần gũi với chúng ta nhất trong ba giai đoạn văn học, đồng thời là một trong ba phạm trù lớn của văn học bên cạnh văn học dân gian
và văn học trung đại Do vậy, vấn đề dạy và học VHVNHĐ giúp GV và HS đi sâu vào việc chiếm lĩnh tư tưởng nghệ thuật của mỗi văn bản và làm sáng tỏ đặc điểm của VHVNHĐ trong sự đối sánh với các giai đoạn văn học khác, đồng thời giúp HS có vốn hiểu biết về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, nuôi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc Bởi lẽ mỗi tác giả với thiên tài của mình
và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm, tiếng nói Việt Nam
Hiện nay văn học hiện đại chiếm một phần không nhỏ trong chương trình
Ngữ văn lớp 9 (có 16/36 tác phẩm) Việc dạy đọc – hiểu các tác phẩm
VHVNHĐ sao cho có chất lượng đang là mối quan tâm của nhiều GV, bởi đây
sẽ là bước giúp các em có một nền tảng vững chắc để tiếp nhận và khám phá những tác phẩm văn học hiện đại ở những bậc học cao hơn
Trang 12Đồng chí và làng là hai tác phẩm thuộc giai đoạn văn học hiện đại (1945 – 1954) Tác phẩm Làng nói về tình yêu đất nước và nỗi nhớ quê hương, của
những người miền xuôi ở nơi tản cư khi quê hương họ đang bị giặc tàn phá Còn
Đồng chí là vẻ đẹp chân thực giản dị và tình đồng chí sâu sắc, cảm động của anh bộ
đội từ miền xuôi lên miền núi đánh giặc thời chống Pháp Cả hai tác phẩm đều vừa có cái mới lạ vừa có cái gần gũi với học sinh miền núi
Như vậy chúng ta đã thấy được tầm quan trọng của môn văn và những lý
do của việc đổi mới về phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn hiện nay Vì vậy, muốn học sinh miền núi đạt được kết quả cao trong môn văn, thực sự cần có một phương pháp riêng, phù hợp với đặc điểm và tư duy của các em HS miền núi
1.2 Xuất phát từ thực tiễn dạy học ở các trường Trung học cơ sở trong địa bàn huyện Văn Yên - Yên Bái
Huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái là địa bàn cư trú của 11 dân tộc anh em, với điều kiện kinh tế còn thấp và không đồng đều, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân cũng như chất lượng ngành giáo dục
Cơ sở vật chất ở các trường học cũng còn nhiều hạn chế, chưa được đầu tư thỏa đáng, đặc biệt còn nhiều trường chưa được trang bị những phương tiện hiện đại hỗ trợ việc dạy và học, chính vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy - học của thầy và trò
Ở các trường thuộc vùng 135 hoặc mới xóa 135, có nhiều đồng bào dân tộc
ít người sinh sống Với trình độ dân trí thấp, họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc cho con em đi học, họ không muốn con em đi học để ở nhà phụ giúp bố mẹ việc nhà, nương rẫy Ở lứa tuổi cuối cấp II, thậm chí có em còn nghỉ học để lấy chồng, đi làm xa Đời sống vật chất còn nghèo nên họ chỉ chú ý đến việc trang trải sinh hoạt trước mắt chứ chưa biết lo lắng cho tương lai con em bằng việc học Ở những trường như THCS Dụ Thượng, THCS Quế Thượng, THCS Quang Minh, phần lớn các em đi học là do GV đã đến nhà vận động nhiều lần chứ không phải do tự giác
Vì là vùng cao nên GV dạy thường là những nguời ở nơi khác đến nên về phương pháp của GV cũng cần có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với người
Trang 13học tạo hứng thú học tập cho các em, tránh tình trạng áp dụng chung giáo án thiết kế dạy HS những vùng miền có trình độ tiếp thu cao hơn
Việc vận động HS đến lớp đã gặp nhiều khó khăn như vậy thì khi đến lớp, các em cũng khó mà tập chung tiếp thu bài học trên lớp được Vì vậy để cho HS
có hứng thú học và đạt kết quả tốt trong môn văn cũng như các môn học khác, cần thiết phải có một phương pháp dạy thích hợp dựa trên trình độ hiểu biết và điều kiện học tập của các em
Việc dạy – học tác phẩm Đồng chí (Chính Hữu) hay Làng (Kim Lân) cũng
như dạy – học các tác phẩm khác trong mảng VHHĐ nói chung, là rất quan trọng Nhưng tùy theo đối tượng tiếp nhận, cần xem xét, điều chỉnh PPDH cho phù hợp để đạt hiệu quả đồng bộ
Trước đây, đã có một số công trình đề cập đến hoạt động đọc - hiểu văn bản, cũng như đọc - hiểu VHHĐ, thậm chí cũng có nhiều bài viết hướng dẫn dạy hai tác phẩm Đồng chí và Làng Các tác giả đã cố gắng đưa ra những mô hình của học văn nói chung để nhằm áp dụng vào dạy đọc - hiểu Tuy nhiên việc xác định
mô hình đọc - hiểu văn bản đúng đắn, phù hợp cho học sinh miền núi còn là một
2 Lịch sử vấn đề
Lịch sử giảng văn ở nước ta đã trải qua hơn một thế kỉ Như vậy so với các
môn học khác, môn văn có một lịch sử lâu đời Cùng với bước đi đó, chuyên ngành lí luận và phương pháp dạy học văn cũng chuyển mình qua từng thời kì lịch sử với mong muốn cung cấp những kiến thức về lý luận và thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của xã hội
Trang 142.1 Các công trình bàn về PPDH văn nói chung
Trước hết, phải kể đến cuốn Phương pháp luận dạy văn học của tập thể
tác giả do GS.TS Z.Ia.Rez chủ biên Cuốn sách này, ngoài lời nói đầu, nội dung gồm bốn phần, đã trình bày rất cụ thể những vấn đề liên quan đến phương pháp luận dạy học văn học Trong đó tác giả kết luận: "Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của phương pháp luận dạy học văn học là giúp người dạy thực hiện những nguyên tắc giảng dạy bộ môn nhằm kích thích tính tích cực của HS trong quá trình học tập, tạo điều kiện để hoạt động của các em mang tính chất
sáng tạo." [62, tr 11]
Bàn về PPDH trong nước, năm 1963, nhóm tác giả trường Đại học Sư phạm Hà Nội gồm Bùi Hoàng Phổ, Hoàng Lân, Quách Hi Dong đã biên soạn và
cho ra đời bộ giáo trình đầu tiên về Phương pháp giảng dạy văn học Ở cuốn
sách này, các tác giả trình bày khá đầy đủ, chi tiết quá trình giảng một bài văn Song, đến nay, một số tư tưởng trong cuốn sách đã trở nên lạc hậu, giáo trình không cung cấp cho giáo viên những chỉ dẫn cần thiết để GV có thể giúp HS đạt được mục tiêu trong khi học một TPVHVNHĐ, bởi phương pháp dạy học là cái luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội
Đến năm 1987, cuốn Phương pháp giảng dạy văn học trên được thay thế bằng cuốn giáo trình Phương pháp dạy học văn do nhóm tác giả Phan Trọng
Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt biên soạn Cuốn sách được Hội đồng thẩm định Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép dùng chung cho tất
cả các trường Đại học và Cao Đẳng Sư phạm trên cả nước
Mỗi giai đoạn lịch sử lại có những yêu cầu mới về mục tiêu của việc dạy
và học Muốn đạt được mục tiêu mới cũng cần có những phương pháp mới Vì vậy, công cuộc đổi mới PPDH trong nhà trường đang được toàn ngành giáo dục
ra sức thực hiện Từ những bộ giáo trình nền tảng đầu tiên đó, hầu hết các trường Đại học đã biên soạn lại, xây dựng thành những tập bài giảng riêng phù hợp với đặc điểm, yêu cầu riêng của mỗi trường Năm 1998, ĐHSP Huế đã cho
in giáo trình Phương pháp dạy học văn do Trương Dĩnh biên soạn Năm 2003, Đại học Quốc gia TPHCM xuất bản cuốn Phương pháp dạy học văn ở bậc trung
Trang 15học do tác giả Trịnh Xuân Vũ biên soạn Mới đây, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội cho in cuốn giáo trình Phương pháp dạy học văn (2 tập) do Phan Trọng
Luận và Trương Dĩnh viết trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng đổi mới PPDH của
Đảng và Nhà nước ta đề ra Nhìn chung, các bộ giáo trình nói trên đã trình bày
khá đầy đủ và kĩ lưỡng các PPDH văn, rất hữu ích giúp cho các giáo viên đạt
được hiệu quả trong mỗi giờ dạy văn
Giáo sư Phan Trọng Luận là một trong những chuyên gia đầu ngành của bộ
môn phương pháp Ông đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi và công bố hàng
loạt công trình, chuyên luận có giá trị lí luận và thực tiễn, những công trình này
đã trở thành cẩm nang cho rất nhiều giáo viên, học viên, sinh viên cùng tất cả
những ai quan tâm đến PPDH văn tham khảo và ứng dụng Trong tác phẩm Rèn
luyện tư duy qua giảng dạy văn học, ông kết luận "Song song với việc truyền thụ
kiến thức, phải rèn luyện phương pháp cho HS, phải làm cho họ suy nghĩ và biết
cách suy nghĩ để rồi hành động tự lập được" [33, tr.26] Trong tác phẩm Phân
tích tác phẩm văn học trong nhà trường: Giáo sư xác định: "Phương pháp không
quyết định tài năng mà chính là tài năng của người GV quyết định hiệu lực của
phương pháp " [34, tr.235] Ngoài ra, Phan Trọng Luận còn có những chuyên
luận, những bài báo đề cập đến vấn đề dạy học văn trong việc đổi mới phương
pháp như: Xã hội – Văn học – Nhà trường, Nxb ĐHQG Hà Nội, 1998; Văn
chương bạn đọc sáng tạo, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2003… đó là những bài học kinh
nghiệm hết sức chân thành và quý báu mà tác giả đã phải bỏ ra rất nhiều tâm
huyết để có được Từ đó giúp các GV vận dụng thành công lí thuyết vào việc
dạy đọc - hiểu các tác phẩm ở trường THCS và THPT
2.2 Các công trình bàn về phương pháp dạy đọc - hiểu tác phẩm văn chương
miền núi” tác giả Hoàng Hữu Bội đã phát hiện “các tác phẩm văn học có những
từ ngữ, hình ảnh, hình tượng và cách phô diễn… có thể tỏa sáng lung linh trong
thế giới tâm hồn của học sinh miền xuôi nhưng nhiều khi đối với các em học
sinh miền núi, chúng lại trở nên vô cảm, thậm chí gây nên trong các em sự phản
cảm, không mang lại kết quả thẩm mĩ như chúng ta mong muốn Sở dĩ có hiện
Trang 16tượng trên là do những chất liệu cuộc sống để nhà văn tạo dựng nên các hình ảnh, cách phô diễn… ấy rất xa lạ với các em, với cuộc sống thường ngày của người dân miền núi” [2, tr 3] Nội dung chính của cuốn sách, tác giả đề cập đến
ba vấn đề Thứ nhất là thực trạng dạy và học tác phẩm văn học ở trường Trung học miền núi phía Bắc, Phương án khả thi nhằm hướng dẫn HS phổ thông trung học miền núi chiếm lĩnh thế giới hình tượng trong tác phẩm văn học và cuối cùng là những thiết kế thể nghiệm
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử với bài viết Môn văn - trực trạng và giải pháp, đăng trên báo Văn nghệ, số 7, ra ngày 14 2.1998, đã nhấn mạnh một trong
ba mục tiêu của dạy học văn là rèn luyện khả năng đọc - hiểu các văn bản, đặc
biệt là văn bản văn học, một loại văn bản khó nhằm tạo cho HS "biết đọc văn một cách có văn hoá, có phương pháp, không suy diễn tuỳ tiện, dung tục Năng lực đọc được thể hiện ở việc HS tự mình biết đọc, hiểu, nắm bắt được nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm” [50, tr.45]
Trong cuốn Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nguyễn Thanh Hùng đã bàn đến tri thức đọc - hiểu truyện ngắn hiện đại: "Muốn đọc - hiểu truyện hiện đại phải có cách nhìn trong đó bao gồm sự định hướng và mức
độ am hiểu Điều đó buộc phải xét đến quy trình, đọc - hiểu bắt đầu từ sự tiếp
cận rồi tính đến cắt nghĩa và bình giá nhận định tác phẩm" [22, tr.131] Tiếp đến tác giả khẳng định: "Trong dạy học truyện ngắn hiện đại, không nghi ngờ gì nữa, cần dạy cho HS phương pháp đọc - hiểu và không nên lặp lại mãi một sai lầm là chỉ dạy họ đọc diễn cảm bên ngoài,…" [22, tr.134]
Trên các Tạp chí Ngôn ngữ, Tạp chí Văn học, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, báo Văn nghệ Quân đội, báo Văn hoá và Tuổi trẻ, báo Giáo dục và Thời đại,… cũng có khá nhiều bài viết đề cập đến PPDH văn nói chung và phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản văn học nói riêng Điều này chứng tỏ toàn xã hội
đang rất quan tâm đối với quá trình dạy học văn trong nhà trường
2.3 Các công trình bàn về hai tác phẩm Đồng chí và Làng
Về tác phẩm Đồng chí (Chính Hữu) đã có rất nhiều bài viết nhằm mục
đích phân tích, bình luận về cái hay cái đẹp của bài thơ như bài viết của Xuân
Trang 17Quỳnh trong chuyên mục: Văn hóa nghệ thuật được đăng ngày 12/ 10/ 2011 đã
có những phân tích sâu sa về tác phẩm Đồng chí
Trước hết, tác giả cho rằng: Bài thơ như là lời nói chuyện tâm tình thủ thỉ của hai người chiến sĩ trong một đêm rét chung chăn Cái đích mà tác giả hướng
giả bài viết nhận thấy nhà thơ Chính Hữu không đi sâu khám phá nét bề ngoài của người lính mà đi sâu vào vẻ đẹp rong tâm hồn người lính Đó là cái gần gũi
của anh với tôi trong cùng một câu thơ, từ đôi người xa lạ - sau đó thành đôi tri
kỉ Và cuối cùng, sau những gắn bó “Súng bên súng, đầu sát bên đầu” là tình cảm mới mẻ nhất, thiêng liêng nhất, gắn bó tất cả mọi người: Đồng chí - sự kết
tinh, sự hội tụ những gì tốt đẹp và tinh hoa trong tình cảm xã hội của con người
Trong những sách tham khảo, sách bài tập, sách văn mẫu, tác phẩm Đồng chí cũng như tác phẩm Làng cũng được khai thác ở những khía cạnh khác như
xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm, hay hướng dẫn tìm hiểu bài thơ, hướng dẫn soạn giáo án Tùy theo mục đích của các tác giả
Xung quanh tác phẩm Làng và nhà văn Kim Lân cũng có những tác phẩm phân tích, bình luận sâu sắc, tiêu biểu là tác phẩm Kim Lân – Nhà văn trong nhà trường của tác giả Hoài Việt, Nxb Giáo dục, 1999 Nội dung cuốn sách cung cấp
cho người đọc những tư liệu quan trọng về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Kim Lân, đồng thời giới thiệu và phân tích, đánh giá những tác phẩm xuất sắc
của ông trong đó có tác phẩm Làng: “Trong chương trình ở bậc THCS và THPT
có một số tác giả VHVN cùng tác phẩm của họ được giới thiệu, để những GV và
HS có thêm tư liệu tham khảo, chúng tôi giới thiệu cuốn sách Nhà văn trong nhà trường [60, tr 3]
Như vậy những công trình trên chủ yếu hướng vào phân tích, bình giá tác
phẩm hoặc bàn đến hướng tiếp nhận, cảm thụ hai tác phẩm trên chứ chưa có tài
liệu nào giải quyết một cách thấu đáo vấn đề dạy hai tác phẩm Đồng chí (Chính Hữu), và Làng (Kim Lân) cho học sinh ở các trường THCS miền núi
Trang 18Qua những ý kiến, nhận định trên, có thể nói, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã bàn đến PPDH văn khá nhiều Nhưng vì mục đích của người viết, tính chất của công trình, cho nên các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, khái quát hoặc nêu vấn đề một cách chung chung hoặc tập chung nghiên cứu các
tác phẩm chứ chưa giải quyết một cách trọn vẹn, thấu đáo vấn đề dạy đọc – hiểu
VHVNHĐ trong trường THCS ở miền núi Chính vì vậy, ở luận văn này, với dung lượng có hạn, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu trên cơ sở tham khảo,
chắt lọc và học hỏi những tác giả đi trước để làm rõ vấn đề dạy đọc - hiểu hai tác phẩm Đồng chí (Chính Hữu) và Làng (Kim Lân) cho HS lớp 9 huyện Văn Yên,
pháp dạy đọc - hiểu hai tác phẩm văn học hiện đại Làng và Đồng chí cho học
sinh lớp 9 trên địa bàn
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những lý thuyết về
phương pháp dạy đọc - hiểu và vận dụng vào giảng dạy hai tác phẩm:
1 Làng
2 Đồng chí
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đề tài nghiên cứu về dạy đọc - hiểu hai tác phẩm Làng và Đồng chí trong
chương trình Ngữ văn 9 cho học sinh miền núi huyện Văn Yên - Yên Bái
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về vấn đề dạy đọc - hiểu và một số định hướng để dạy
đọc - hiểu tác phẩm VHVNHĐ (SGK Ngữ văn lớp 9)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, sẽ sử dụng những phương pháp sau:
Trang 19+ Phương pháp hồi cố tư liệu
+ Phương pháp khảo sát điều tra
+ Phương pháp thống kê so sánh
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6 Đóng góp của luận văn
Về lý luận: Góp phần củng cố và trang bị cho giáo viên Ngữ văn ở các
trường THCS miền núi Văn Yên - Yên Bái cơ sở lí luận về phương pháp dạy đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam
Về thực tiễn: Nghiên cứu phương pháp dạy đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện
đại Việt Nam ở cấp THCS Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy
học hai tác phẩm Làng và Đồng chí cho học sinh các trường THCS ở miền núi
Văn Yên - Yên Bái
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung
luận văn có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy đọc – hiểu hai tác phẩm
“Đồng chí” và “Làng” cho HS lớp 9 huyện Văn Yên – Yên Bái
Chương 2: Những biện pháp tổ chức dạy học tác phẩm “Đồng chí” và” Làng” cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 20PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY ĐỌC - HIỂU HAI TÁC PHẨM
ĐỒNG CHÍ (CHÍNH HỮU) VÀ LÀNG (KIM LÂN)
1.1 Một số tiền đề lí luận về đọc - hiểu
1.1.1 Khái niệm đọc - hiểu
Trước đây, trong dạy học văn, người ta thường dùng những thuật ngữ:
“Giảng văn”, “Phân tích văn”…thực chất đó chính là hoạt động “Đọc- hiểu văn bản” Sự thay đổi về tên gọi đó cũng nói lên sự thay đổi quan niệm về bản chất
của môn Văn, về phương pháp dạy học Văn và các hoạt động khi tiếp nhận TPVH
nhiều định nghĩa về hoạt động này Cách hiểu của Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn
Thanh Hùng được đánh giá rất cao “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Còn Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đình Sử coi “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột
phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông
qua khả năng tiếp nhận của HS Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nội
dung, ý nghĩa, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm
Tuy nhiên, đọc văn như thế nào, làm sao để HS hiểu văn, yêu văn vẫn còn
là vấn đề nan giải Vì thế, xung quanh vấn đề đọc - hiểu, đã nhận được rất nhiều
ý kiến hết sức thiết thực, bổ ích từ các nhà nghiên cứu Từ đó góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy đọc - hiểu văn ở các trường THCS nói chung các
trường THCS ở miền núi nói riêng
Trang 211.1.2 Quan niệm về vấn đề đọc - hiểu văn
Đọc văn cũng có rất nhiều hình thức Trong cuốn Phương pháp luận dạy văn học do Z.Ia Rez chủ biên đã đặt "phương pháp tập đọc sáng tạo" ở vị trí
hàng đầu của học văn Quan niệm của Z.Ia Rez tập trung vào vấn đề đọc diễn cảm với mục đích là đọc để khởi động cho quá trình tiếp nhận của HS và đọc để
HS bộc lộ kết quả cảm thụ và hiểu biết về tác phẩm
Ở công trình “Đọc văn, học văn”, ngay trong lời nói đầu, giáo sư Trần Đình Sử cho rằng đọc - hiểu văn là năng lực đầu tiên cần có của quá trình học
văn Muốn đưa HS đến với tác phẩm văn học thì khi đọc phải "tôn trọng ngữ cảnh của văn bản, ngữ cảnh của tác giả và thời đại, ngữ cảnh của văn bản đời sống mà người đọc phụ thuộc vào" [61, 3]
Hoạt động đọc suy cho cùng là để hiểu được nghĩa của văn bản, cho nên
mọi sự đọc, suy cho cùng đều là đọc hiểu
Giáo sư Phan Trọng Luận cũng là một trong những nhà khoa học nghiên
cứu về vấn đề đọc - hiểu văn bản sớm nhất Trong chuyên luận Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của hoạt động đọc: "Đọc
từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc cho âm vang, đọc để tri giác, cảm giác được bằng mắt bằng tai từ ngữ, hình ảnh, chi tiết, " [42, 34] Quá trình đọc là quá trình tiếp xúc đầu tiên, từng bước thâm nhập, tiếp nhận tác phẩm Những tư tưởng này
tiếp tục được ông làm rõ trong giáo trình Phương pháp dạy học văn viết cùng
Trương Dĩnh: "Đọc để nắm bắt được giọng điệu cả tác giả, âm điệu chủ yếu trong tác phẩm Đọc để hoà nhập vào thế giới cảm xúc, để phát hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả Đọc để nhìn ra thế giới cuộc sống trong tác phẩm Đọc để tiếng nói nội tâm người đọc vào trong tiếng nói nội tâm của tác giả" [45, 267]
Trong chuyên luận Đọc và tiếp nhận văn chương, Nguyễn Thanh Hùng đã
khẳng định vị trí tối quan trọng của hoạt động đọc: "Đọc văn chương được xem như là năng lực văn hoá có ý nghĩa cơ bản đối với việc phát triển nhân cách, bởi
vì phần lớn những tri thức hiện đại chuyên ngành được truyền thụ qua hoạt động đọc" [26, tr.87] "đọc văn chương luôn đòi hỏi con người phải được sống chứ không phải là người bị cột chặt vào tác phẩm" [26, tr.90], còn "hiểu" thì không
Trang 22nên xem là hoạt động mà là kết quả mong muốn của hoạt động đọc "Hiểu trong đọc văn, về một phương diện nào đó là sự vượt qua khoảng cách mơ hồ, chưa nhận thức ra một cách đầy đủ, hoàn chỉnh giữa chủ thể đọc tác phẩm và văn bản nghệ thuật của tác phẩm để khám phá ra tình người sâu xa trong cuộc sống mà
sự đóng góp của ngôn ngữ nghệ thuật không có gì thay thế được" [26, tr.88] Do
đó, "Hiểu văn là đồng cảm và nắm được những gì nhà văn muốn nói, muốn gửi gắm tới người tiếp nhận bằng nhiệt tình và năng lực thuyết phục của phương thức trình bày nghệ thuật hấp dẫn, mới lạ, có giá trị nâng cao sự cảm thụ hình thức thẩm mĩ của ngôn ngữ tác phẩm" [26, tr.89]
Còn trong chuyên luận Hiểu văn - dạy văn, một lần nữa tác giả Nguyễn
Thanh Hùng khẳng định: "Đọc văn là một hoạt động phân tích, tổng hợp phức tạp Thông qua hoạt động đó, nội dung ý nghĩa chứa đựng trong từ và câu được thể hiện trong hình tượng ngôn ngữ" [27, tr.59]
Năm 2008, Nguyễn Thanh Hùng đã cho xuất bản công trình Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường Trong đó, chúng ta thấy rõ: "Bản chất của hoạt động đọc - hiểu văn là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ,
nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản" [29, tr.24]
Như vậy, vấn đề đọc - hiểu văn và dạy đọc - hiểu các tác phẩm văn chương
đã được bàn luận khá kĩ một yêu cầu đặt ra cho mỗi người GV dạy văn là phải bám sát vào mục tiêu bài học để dẫn dắt HS từng bước chiếm lĩnh tác phẩm
Đồng thời, phải nắm vững khái niệm đọc - hiểu và vận dụng thành thạo các phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản vào giờ dạy
1.1.3 Những hiểu biết cần thiết về VHVNHĐ phục vụ cho việc dạy học hai tác phẩm “Đồng chí” và “Làng”
VHVNHĐ được chia làm ba giai đoạn, giai đoạn từ năm 1900 - 1945;
1945 - 1975 và giai đoạn từ năm 1975 đến nay Ở mỗi giai đoạn, VHVNHĐ lại
có những thành tựu riêng, đặc điểm riêng
Giai đoạn 1900 – 1945: Sau hai cuộc khai thác thuộc địa của Thực dân
Pháp (lần thứ nhất từ năm 1897 - 1914, lần thứ hai từ năm 1919 - 1929) cơ cấu
Trang 23xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Một số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị, thị trấn mọc lên ở nhiều nơi Những giai cấp, tầng lớp xã hội mới: tư sản, tiểu tư sản (viên chức, HS, những người buôn bán, sản xuất nhỏ,…) công nhân, dân nghèo thành thị,… xuất hiện ngày càng đông đảo Một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới đã đòi hỏi hình thành một thứ văn chương mới để có thể hội nhập với nền văn học thế giới Đây là thời kì văn học
để lại nhiều tên tuổi lớn, nhiều tác phẩm xuất sắc, trong đó có những tác phẩm xứng đáng là kiệt tác
Giai đoạn từ Cách mạng tháng tám năm 1945 – 1975: Từ năm 1945 -
1975, trên đất nước ta diễn ra nhiều sự kiện lớn: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt 30 năm, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới ở miền Bắc khiến xã hội có những chuyển biến sâu sắc Trong đó, văn học nghệ thuật có những biến đổi mạnh mẽ Chủ đề bao trùm các tác phẩm văn học trong những ngày đầu đất nước giành được độc lập là ca ngợi Tổ quốc
và quần chúng cách mạng, kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nước quên mình Lịch sử thơ ca chặng đường này đặc biệt ghi nhận sự xuất hiện và những đóng góp của những người trực tiếp cầm súng, vừa đánh giặc vừa làm thơ Thơ của họ giàu những chi tiết chân thực của đời sống chiến trường, phản ánh được một phần sự ác liệt, những hy sinh, tổn thất trong chiến tranh, đặc biệt là đã dựng nên bức chân dung tinh thần của cả một thế hệ trẻ cầm súng
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc
chiến tranh ái quốc chống đế quốc Mĩ đã kết thúc thắng lợi Lịch sử dân tộc lại
mở ra một thời kì mới - thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước Tuy từ năm 1975 đến năm 2000, đất nước ta lại gặp những thử thách, khó khăn về kinh tế chủ yếu do hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt ba mươi năm nhưng văn học vẫn phát triển mạnh Đăc biệt từ sau đổi mới 1986, văn học Việt Nam từng bước chuyển sang giai đoạn mới Có thể xem từ năm
1975 đến năm 1985 là chặng đường văn học chuyển tiếp, trăn trở tìm kiếm con
Trang 24đường đổi mới Còn từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn học đổi mới mạnh
mẽ, sâu sắc và khá toàn diện
Qua phần tóm lược ở trên, chúng ta thấy, tiến trình VHVNHĐ đến nay đã trải qua 3 giai đoạn với nhiều thể loại, nhiều tác phẩm có nội dung và nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn Theo đó, các tác phẩm được chọn lựa vào giảng dạy ở bậc THCS cũng như THPT đã đòi hỏi người GV phải có những kiến thức sâu rộng
và phương pháp phù hợp để có thể dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh được văn bản tác phẩm VHVNHĐ
1.1.4.Hai tác phẩm Đồng chí và Làng trong tiến trình phát triển của VHVNHĐ
Hai tác phẩm Đồng chí và Làng đều nằm trong chặng đường thứ nhất (1945
– 1954) của giai đoạn từ cách mạng tháng Tám năm 1945 – 1975
Từ năm 1945 - 1954 Chủ đề chính trong các sáng tác văn học những ngày
đầu đất nước giành được độc lập là lòng yêu nước, tinh thần ca ngợi Tổ quốc và quần chúng cách mạng, kêu gọi toàn dân đoàn kết, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nước quên thân Được thể hiện qua nhiều tác
phẩm như: Đồng chí (Chính Hữu); Huế tháng Tám; Vui bất tuyệt (Tố Hữu); Ngọn quốc kì; Hội nghị non sông (Xuân Diệu)… Truyện ngắn và Kí là những thể loại mở đầu cho văn xuôi kháng chiến chống thực dân Pháp Kí sự Một lần tới thủ đô (Trần Đăng); truyện ngắn Đôi mắt và nhật kí Ở rừng (Nam Cao); truyện ngắn Làng (Kim Lân);… là những tác phẩm tiêu biểu
Tác phẩm Đồng chí của Chính Hữu sáng tác năm 1948 ca ngợi vẻ đẹp của
anh bộ đội thời chống Pháp và tình đồng chí sâu sắc, cảm động – Là tác phẩm thơ đầu tiên trong phần VHVNHĐ ở chương trình Ngữ văn lớp 9
Khi dạy văn bản: Đồng chí, trong quá trình tổ chức, GV hướng dẫn HS tìm
hiểu, khám phá những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, GV sẽ hướng dẫn cho các em cách thức khai thác, khám phá một bài thơ trữ tình hiện đại Từ
đó giúp các em nắm được phương pháp và áp dụng vào tìm hiểu, cảm nhận các
bài thơ khác như: Bài thơ về tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật), Ánh trăng của Nguyễn Duy Năng lực đọc –hiểu tác phẩm thơ trữ tình hiện đại được
Trang 25hình thành Các em có thể tự mình khám phá một bài thơ hiện đại bất kì ngoài chương trình
Tác phẩm Làng (1948) của nhà văn Kim Lân - Tác phẩm văn xuôi hiện đại
đầu tiên trong chương trình ngữ văn lớp 9 Là tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc và niềm hạnh phúc vô bờ khi biết cả làng mình yêu nước Truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc, lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân
Khi dạy văn bản này, bên cạnh kiến thức, GV cần hướng dẫn HS phương pháp khám phá một truyện ngắn hiện đại Từ đó, các em sẽ áp dụng vào khai
thác, khám phá các truyện ngắn tiếp theo như Lặng lẽ Sa Pa ( Nguyễn Thành Long), Chiếc lược Ngà (Nguyễn Quang Sáng) Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh
Khuê) Thậm chí các em có đủ năng lực tự mình tiếp nhận một truyện ngắn bất
Văn Yên nằm cách trung tâm thành phố Yên Bái 40 km, phía Bắc giáp huyện Văn Bàn, huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai; phía Nam giáp huyện Trấn Yên; phía Đông giáp huyện Lục Yên và Yên Bình; phía Tây giáp huyện Văn Chấn và huyện Mù Cang Chải
Diện tích đất tự nhiên là 139.043,8 ha; địa hình là những dãy núi đồi liên tiếp, cao dần từ nam lên bắc, nằm giữa hai dãy núi Con Voi và dãy Hoàng Liên Sơn – Pú Luông với đứt gãy sông Hồng chảy từ Lào Cai về Huyện có hệ thống
Trang 26giao thông thuận tiện về đường bộ, đường thủy và đường sắt; có đường cao tốc Lào Cai – Nội Bài chạy qua
Huyện có dân số 120.753 người gồm 11 dân tộc trong đó dân tộc kinh chiếm 53%, dân tộc Dao chiếm 25,1%, dân tộc tày chiếm 15,4%, dân tộc Mông chiếm 4,3%, còn lại là các dân tộc khác
Văn Yên là huyện miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn với 13 xã vùng cao trong đó có 10 xã đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, không đồng đều
Nhận thấy sự yếu kém của mình, các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Văn Yên đã đồng lòng phát huy những tiềm năng, thế mạnh có hiệu quả, tạo ra thế và lực mới vì mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, đảm bảo dân sinh, ổn định lâu dài Sau 50 năm xây dựng và phát triển, đến nay cơ cấu kinh tế đã được chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp xây dựng cơ bản và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông lâm nghiệp Huyện đã hình thành những vùng thâm canh, chuyên canh theo đặc điểm và điều kiện tự nhiên của từng địa phương như vùng lúa, vùng quế, vùng cây công nghiệp và cây nguyên liệu giấy
Đặc biệt, công tác giáo dục đào tạo được quan tâm đẩy mạnh Từ những phòng học tranh tre nứa lá của những ngày đầu thành lập, đến nay toàn huyện đã
có 83 cơ sở giáo dục với 799 phòng học, trong đó có 485 phòng xây kiên cố; 28 trường đạt chuẩn quốc gia Hoàn thành và duy trì phổ cập giáo dục – chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục THCS Toàn huyện có 10 trường bán trú, 85 phòng ở bán trú cho học sinh Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, nhiều phong trào, cuộc vận động lớn của ngành giáo dục, của các tổ chức chính trị - xã hội được triển khai mạnh mẽ đã tạo ra những bước chuyển biến mới trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao Huyện đã có 5 nhà giáo ưu tú Hàng năm có nhiều học sinh đạt giải trong các kì thi học sinh giỏi các cấp (cấp tỉnh và cấp quốc gia) Cùng với đó, tiềm năng du lịch của huyện từng bước được khai thác, đầu
tư, phát triển, thu hút nhiều du khách thập phương đến tham quan đặc biệt là các
Trang 27di tích lịch sử văn hóa như đền Đông Cuông, đền Nhược Sơn, đền Trạng, Đình
cả Mường A, di tích lịch sử cách mạng Đồn Dóm, đồn Đại Bục, Đại Phác hay các khu du lịch sinh thái như thác Nà Hẩu, thác Khe Cam – Ngòi A
Trong quá trình phát triển, Văn Yên luôn xác định con người là yếu tố quan trọng làm nên sự thành công của mọi lĩnh vực
1.2.2 Tình hình dạy – học văn cho học sinh cấp II của huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái
Đối với việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn cho học sinh THCS nói chung, những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với những thay đổi cải cách của chương trình, cùng với những Hội thảo chuyên đề, với sự xuất bản của các tài liệu về PPDH văn, tình hình dạy học văn trong nhà trường THCS nói chung THCS ở miền núi nói riêng đã có những tiến bộ đáng kể Chất văn chương, chất nhân văn của chương trình văn học đã được nâng lên khá rõ HS ngày càng thông minh, nhạy bén hơn và sớm được tiếp xúc với nhiều tác phẩm văn học có giá trị trong và ngoài chương trình SGK
Song, chất lượng dạy học văn trong nhà trường so với mặt bằng chung trong nước vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việc dạy học
bộ môn còn tồn tại một số nhược điểm do cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách
quan khiến cho việc dạy văn nói chung và dạy đọc - hiểu văn còn gặp nhiều
khó khăn
Về phía giáo viên dạy trường miền núi: Đội ngũ GV dạy văn đang được bổ
sung về số lượng cũng như chất lượng Trong đó có nhiều người không ngừng tìm tòi, học hỏi, nâng cao hiểu biết của mình Tuy nhiên, một số chưa thu hút được HS, hoặc có tâm lý dạy cho xong nghĩa vụ, không có phương pháp riêng khi dạy học sinh miền núi Những tiết giảng cho đồng nghiệp dự giờ chỉ mang tính chất hình thức, còn thực tế ở lớp là công đoạn đọc - chép - học thuộc Cách học này dần dần giết chết khả năng cảm thụ, sáng tạo của HS Kiến thức của người thầy không được đổi mới, nâng cao nên chưa đáp ứng được nhu cầu của thời đại, dẫn đến tình trạng đáng buồn là một bộ phận không nhỏ HS miền núi hiện nay không có hứng thú với môn Ngữ văn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
Trang 28tình trạng này, nhưng dễ nhận thấy nhất là do phương pháp dạy của người giáo viên Mỗi tác phẩm văn học trong chương trình SGK là một kiệt tác nghệ thuật độc đáo, phong phú và đa dạng, quá trình chiếm lĩnh nó phải là một quá trình vận động bên trong của chủ thể học sinh để các em tự mình cảm, tự mình hiểu,
tự mình chiếm lĩnh những vẻ đẹp riêng độc đáo kia Người GV dạy văn phải đánh thức được trí tưởng tượng của HS, khơi dậy những rung động thầm kín của các em Loại trừ đi những suy nghĩ lệch lạc ban đầu của học sinh về tác phẩm Với sự nhiệt tình của trí tuệ và tình cảm, GV dạy văn cần phải thổi vào tâm hồn các em tình yêu đời, sự đam mê với văn chương nghệ thuật dù cho các em là học sinh miền xuôi hay miền ngược
Nhưng từ xưa, trình tự một tiết giảng văn phổ biến ở các trường miền núi vẫn thường bị quy vào một số bước hình thức đầy gượng ép, không có sự mở rộng, nâng cao hay sự trao đổi, tìm tòi, khám phá thêm những cái mới Điều này khiến cho một tác phẩm giàu giá trị thẩm mĩ khi vào đến nhà trường bỗng thành một đối tượng khô khan, đơn giản làm mất đi sự hào hứng của HS
Nghĩa là ở đây, họ vẫn dừng lại ở việc thông tin – tiếp thu một chiều của phương pháp dạy học truyền thống đã được sử dụng trong nền văn minh công nghiệp Nhiều HS học cấp I chữ đẹp, nhưng đến cấp II thì xấu, vì trên lớp GV đọc nhanh quá nên HS phải viết tắt, viết ẩu Không chỉ có vậy, mà tai hại hơn cả
là sự thụ động, thờ ơ với văn chương ở một số HS, vì không hiểu, không thẩm thấu được, dẫn tới các em không thích, thậm chí sợ học văn - một môn học rất quan trọng trong việc định hình, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm và nhân cách cho con người Đặc biệt là ở lứa tuổi HS THCS của các em
Ngoài ra, một bộ phận thầy cô giáo trong quá trình đọc - hiểu chưa chú ý đúng mức đến đặc trưng thể loại của từng tác phẩm Chẳng hạn, với một bài thơ trữ tình, GV lại dạy giống phương pháp của bài thơ tự sự Hay dạy tác phẩm kí giống như dạy tác phẩm truyện ngắn, khiến nhiều HS không phân biệt được tác phẩm mình học thuộc thể loại tiểu thuyết hay truyện ngắn, tuỳ bút hay kí
Về mặt khách quan, nhiều GV đứng lớp chưa được trang bị kĩ càng, đồng
bộ về quan điểm và lí luận PPDH học văn mới Những quan điểm và lí luận
Trang 29PPDH văn mới đó cũng chưa thiết thực vì mới thiên về cung cấp lý thuyết hơn
là hướng dẫn thực hành Về mặt chủ quan, GV còn thiếu những thao tác, biện pháp, những phác hoạ riêng về quy trình tổ chức dạy học khả thi để có thể tổ chức hướng dẫn HS miền núi tích cực chủ động học tập
Mặt khác, sự thiếu thốn về phương tiện, thiết bị dạy học như: tranh, ảnh,
sơ đồ, dụng cụ nghe nhìn để minh hoạ cho bài giảng, tài liệu tham khảo các tác phẩm văn học… cho GV ở nhiều trường học, đặc biệt là các trường học ở vùng sâu, vùng xa (nơi đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, có điều kiện kinh tế -
xã hội chưa phát triển), đã khiến cho việc áp dụng PPDH mới gặp nhiều bất lợi Bên cạnh đó, đời sống GV trong thời buổi kinh tế thị trường vẫn chưa được cải thiện nhiều, khiến họ gặp nhiều khó khăn chưa thể chú tâm vào chuyên môn Trong thực tế, những thầy cô giáo dạy văn hay không phải là ít, nhưng để
có một thầy cô giáo dạy văn giỏi ở lại gắn bó lâu dài với các em học sinh nơi núi rừng xa xôi thì rất hiếm
Tác phẩm văn học hiện đại mang đến cho học sinh miền núi một thế giới mới, vì vậy các em rất mong đợi giờ học văn để cùng tìm hiểu, khám phá những chân trời mới lạ
rồi chép, về nhà học thuộc và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì
GV đã giảng Phần lớn các em không chủ động tìm hiểu, khám phá thêm những vấn đề quanh tác phẩm mình học và lúng túng trong khi giải quyết vấn đề gây ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả các bài viết trong phần làm văn Hơn thế nữa nó còn thủ tiêu tư duy sáng tạo và tính tích cực của HS, biến HS thành những người quen suy nghĩ, diễn đạt bằng những ý vay mượn từ thầy cô, bằng những lời ghi sẵn trong vở Để rồi đến khi chuẩn bị bài soạn, bài học hay làm bài kiểm tra thì các em lại lệ thuộc vào bài giảng của GV, hay có em chép nguyên những bài làm văn mẫu vào, không thoát ly nổi những gì có trong tài liệu Ngoài ra, HS thường bị động trong giờ giảng văn, các em ngồi nghe, không cùng thầy tham gia vào quá trình phân tích, chiếm lĩnh chiều sâu rung cảm của tác phẩm văn
Trang 30học, coi lời thầy giảng mới là chuẩn mực Vì vậy, GV nói đến đâu HS biết đến
đó, HS không có được cái nhìn bao quát về hướng đi của giờ học Việc phụ thuộc vào cách hiểu, cách nghĩ, cách cảm, cách diễn đạt của người khác, của tài liệu tham khảo đã hạn chế rất nhiều năng lực chủ động sáng tạo trong các hoạt động nghe nói, đọc, viết của HS Không khơi gợi được ở HS nhu cầu tự thân bộc
lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể, nếu phải nói và viết các
em cảm thấy rất khó khăn, ngại ngùng
Qua khảo sát HS trường THCS Quang Minh – một trường thuộc xã vùng 135 của huyện Văn Yên để tìm hiểu hứng thú học văn của HS khối lớp 9, chúng tôi nhận thấy, kết quả là chỉ có 25% đến 28% số em yêu thích học văn Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng theo kết quả khảo sát một số trường trong huyện như THCS Đông Cuông, THCS Trần Quốc Toản, THCS Lương Thế Vinh… thì trong những cuộc thi HS giỏi cấp trường, cấp huyện, những HS đạt giải và được điểm cao lại là những HS thi môn Ngữ văn Như vậy cần mau chóng tìm ra nguyên nhân và có phương hướng khắc phục kịp thời về việc học văn của các em HS miền núi hiện nay
1.2.3 Những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong việc tiếp nhận tác
phẩm văn học Việt Nam hiện đại của học sinh THCS ở miền núi
Trong cuốn “Dạy và học tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học miền núi”, tác giả Hoàng Hữu Bội xác định có bốn nguyên nhân dẫn đến sự yếu
kém trong quá trình học môn văn của học sinh ở các tỉnh miền núi phía bắc Đó
là do “vốn tiếng Việt của các em còn yếu, vốn hiểu biết về cuộc sống và con người miền xuôi còn hạn chế, thói quen tiếp nhận văn chương của người miền
núi và do thói quen thẩm mĩ của người miền núi”(lời nói đầu)
Ở những xã vùng sâu vùng xa, hầu như đến tuổi đi học mẫu giáo các em mới được tiếp xúc với tiếng Việt Mà người dân miền núi thường cho con em đi học rất muộn, thường là năm tuổi mới cho các em đi học Đến lớp chủ yếu là để học tiếng Việt nhưng khi về nhà các em lại giao tiếp bằng tiếng dân tộc Gia đình không có thói quen nói tiếng Việt với các em, trên lớp thì các em cùng dân tộc lại nói tiếng dân tộc với nhau khiến việc học tiếng Việt có thể kéo dài đến
Trang 31hết cấp I Vì để duy trì phổ cập Giáo dục nên nhiều em vẫn học hết cấp II trong khi tiếng Việt chưa nói sõi Thậm chí ở trường THCS Quang Minh có em học sinh lớp 9 rồi còn đánh vần từng chữ khi đọc Chính vì vậy mà khi học những
tác phẩm văn học viết về miền xuôi hay do người miền xuôi viết như “Đồng chí” hay “Làng”, các em sẽ gặp cả khó khăn trong việc tìm hiểu từ ngữ lẫn quá
trình thâm nhập tác phẩm, tìm hiểu tư tưởng tác giả
Qua khảo sát, tìm hiểu trên địa bàn tỉnh Yên Bái, chúng tôi ghi nhận thực trạng: Do thói quen phát âm địa phương và phát âm tiếng dân tộc nên các em học sinh THCS thường mắc một số lỗi về phát âm và chính tả như sau:
+ Đọc và phát âm sai các cặp phụ âm
hiệu quả trong giảng dạy VHVNHĐ, cụ thể dạy đọc – hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng
Trang 32CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ LÀNG CHO HỌC SINH
LỚP 9 HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI
2.1 Trước giờ lên lớp
2.1.1 Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài
Việc chuẩn bị bài ở nhà của HS rất quan trọng giúp cho sự cảm thụ trên lớp của các em được sâu sắc hơn Nghiên cứu SGK là hoạt động phải được tiến hành ngay trong quá trình chuẩn bị ở nhà Vì chỉ có chuẩn bị ở nhà thì HS mới
có đủ thời gian nghiên cứu mở rộng các vấn đề được trình bày ngắn gọn trong
SGK Bởi phần nghiên cứu SGK có thời lượng rất ngắn trên lớp
Tuy nhiên, muốn HS thực hiện tốt việc chuẩn bị bài ở nhà thì GV phải có phương pháp giúp HS, trước hết cần loại bỏ tâm lý thụ động của HS, vì tâm lý thụ động hạn chế năng lực nghiên cứu SGK của các em
Do điều kiện kinh tế ở miền núi còn thấp nên SGK là tài liệu học tập chính của HS, vì vậy GV trước hết phải hướng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa trước giờ lên lớp Các em sẽ có cái nhìn bao quát, và cảm nhận chung về bài học khi đọc trước ở nhà Điều quan trọng là HS làm thế nào để đọc sách giáo khoa một cách hiệu quả Trước hết là phải có tinh thần tự giác học tập, chủ động khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương Bước đầu tiên là đọc, nên đọc ít nhất
ba lần Vì càng đọc, quá trình thâm nhập tác phẩm càng nhanh, càng cụ thể Lần
1 đọc để định hình về văn bản - tác phẩm sau đó đọc từ phần yêu cầu cần đạt để xác định cái mình cần hướng tới, rồi đọc bài thơ lần 2, đọc phần chú giải Lần này thì đọc chậm lại để hiểu và xem có chi tiết nào khó hiểu thì ghi lại và đọc kĩ trong lần thứ 3 để suy nghĩ lí giải về chi tiết khó hiểu ấy
Thực tế giảng dạy ở các trường trung học cơ sở cho thấy khâu chuẩn bị bài
ở nhà của HS chưa được chú trọng một cách thích đáng Giáo viên lên lớp
thường không thực hiện tốt phần “dặn dò” Nghĩa là không hướng dẫn cụ thể
cho HS soạn bài mới như thế nào mà chỉ yêu cầu các em trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa Thậm chí có người chỉ dành ít phút cuối cùng của giờ học dặn
Trang 33dò HS một cách chung chung “các em về nhà học bài và chuẩn bị bài mới” Khi lên lớp chỉ giao cho cán bộ lớp kiểm tra bài tập qua loa trong giờ truy bài Chính
vì vậy, việc chuẩn bị bài của học sinh ở nhà thường không ăn khớp hoặc ít liên quan đến hoạt động của thầy trò ở trên lớp, chưa phát huy được tác dụng của việc chuẩn bị trước giờ lên lớp của HS
Chuẩn bị bài ở nhà được xem như bước tập dượt cho sự cảm thụ trên lớp được sâu sắc hơn Bằng kinh nghiệm sống và kinh nghiệm văn học của bản thân, học sinh trực tiếp đi vào thế giới tác phẩm GV sẽ khơi sâu phát triển những ấn tượng đúng đắn của học sinh về tác phẩm, về tác giả hay về một nhân vật, một chi tiết trong tác phẩm, trên cơ sở cảm thụ trực tiếp ban đầu của HS trong quá trình chuẩn bị bài ở nhà
2.1.2 Định hướng cho học sinh những tư liệu liên quan đến bài học
Trước giờ dạy, GV phải có đủ tư liệu tham khảo, tranh ảnh liên quan đến
bài, đồng thời giới thiệu và yêu cầu HS tìm những tài liệu đó
Việc chuẩn bị bài ở nhà của HS có nhiều mặt đa dạng Trước hết là khâu tìm những tài liệu tham khảo, những bài phân tích, bình luận về tác giả, tác
phẩm, Những tài liệu này do giáo viên giới thiệu Các em có thể tìm trong thư
viện trường, hoặc những hiệu sách gần nhất Khi có tài liệu tham khảo rồi sẽ tiến hành đọc văn bản trong SGK Sau phần “đọc” SGK, các em sẽ đọc thêm các tài liệu tham khảo mình có để có những tri thức và cảm nhận đúng đắn, đầy đủ nhất
về văn bản – tác phẩm Sau quá trình đọc và tự mình tìm hiểu như vậy các em có thể giải đáp hết các câu hỏi trong sgk, đến khi lên lớp sẽ dễ dàng chiếm lĩnh trọn vẹn tác phẩm Nghĩa là qua quá trình chuẩn bị bài ở nhà học sinh phải nắm được
về mục tiêu bài học, tiểu dẫn, chú giải, ghi nhớ Cụ thể là những thông tin cơ bản như: tên tác phẩm , tên tác giả và đôi nét về tác giả, văn bản tác phẩm
Song sự chuẩn bị này sẽ rất khó thực hiện đối với các em HS dân tộc thiểu
số (vùng 135) như THCS Dụ Thượng, THCS Quế Thượng, THCS Quang Minh vì đa số các em không có điều kiện, phương tiện để đi tìm thêm tài liệu tham khảo mà chỉ có SGK nhà nước cấp phát vào đầu mỗi năm học vì vậy GV
có thể cho các em mượn những tài liệu của mình Nếu không có tài liệu tham
Trang 34khảo, các em sẽ tìm hiểu, soạn bài bằng SGK Để chuẩn bị bài được tốt, các em chú ý sắp xếp công việc phải làm giúp gia đình một cách hợp lý để có thời gian học bài Trước hết là đọc thật nhiều sao cho lưu loát văn bản Tiếp theo là đọc phần chú giải và tài liệu liên quan nếu có Phần trả lời các câu hỏi cuối bài, nếu thấy khó, các em phải đọc lại phần văn bản – tác phẩm, suy ngẫm để tìm ra câu trả lời đúng nhất
Tác phẩm “Đồng chí”
“Đồng chí” là tác phẩm thơ trữ tình hiện đại viết về vẻ đẹp chân thực giản
dị và tình đồng chí sâu sắc, cảm động của các anh bộ đội miền xuôi lên miền núi đánh giặc thời chống Pháp Tác giả Chính Hữu cũng là một trong những anh bộ
đội miền xuôi đó Vì vậy trước khi đọc hiểu bài thơ này, HS phải tìm hiểu những
tư liệu về bài thơ và tác giả Chính Hữu, về tập thơ đầu súng trăng treo, những
bài phân tích, bình luận về tác phẩm Hơn nữa, đây là một tác phẩm thơ trữ tình nên sẽ có rất nhiều chi tiết trừu tượng, những hình tượng nghệ thuật mà HS miền núi rất khó cảm nhận được Chính vì vậy, khi dạy cũng như khi hướng dẫn HS chuẩn bị bài, người GV phải lưu ý cho HS tìm thêm tài liệu về thể loại thơ trữ tình hiện đại để phân biệt được các thể loại văn học trong chương trình, đồng thời biết khai thác tác phẩm theo đúng đặc trưng thể loại
Tác phẩm “Làng”
Truyện ngắn Làng là một tác phẩm viết về tình yêu làng quê sâu sắc, lòng
yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân miền xuôi Nhà văn Kim Lân có xuất thân từ quê hương Kinh Bắc cổ kính Về sự nghiệp sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào Kim Lân cũng có những tác phẩm hay Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đã viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng Vì vậy, trong tác phẩm in đậm dấu ấn người nông dân miền xuôi Mỗi suy nghĩ, tình cảm của nhân vật hay những phương ngữ được nhà văn sử dụng trong tác phẩm đều có một khoảng cách nhất định, khiến HS miền núi khó chiếm lĩnh được tác phẩm nếu như không có một phương pháp phù hợp trong quá trình dạy
cũng như trong khâu dặn dò các em chuẩn bị tư liệu tham khảo
Trang 35Về việc chuẩn bị tài liệu, cũng giống như đối với tác phẩm Đồng chí, các em phải tìm thêm những tư liệu tham khảo về nhà văn Kim Lân, truyện ngắn Làng và
các tác phẩm chính của ông cũng như các bài phân tích, bình luận về tác phẩm
2.1.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài
Quá trình chuẩn bị trước giờ học chính là khơi dậy ở các em những cảm thụ tự nhiên, chân thành mang cá tính sáng tạo riêng Đồng thời giờ lên lớp sẽ hiệu quả hơn khi HS đã tìm hiểu và xác định được mục đích bài học của mình thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở của GV và các câu hỏi trong SGK
Tuy nhiên, các câu hỏi trong SGK thường chung chung, rộng kiến thức khiến các em có thể không bao quát được, dẫn đến tư tưởng đi chép tài liệu Để giúp các em không bị mơ hồ, lan man trong việc chuẩn bị bài, GV phải đưa ra một hệ thống câu hỏi hướng đến các vấn đề trọng tâm của tác phẩm Từ đó HS
có thể tìm hiểu tác phẩm một cách chính xác, đúng mục tiêu và kế hoạch dạy học của GV
Đối với tác phẩm Đồng chí
Đồng chí là một tác phẩm thơ trữ tình, vì vậy ta khai thác theo hướng khám
phá hình tượng nghệ thuật Tương đương với nó sẽ là hệ thống câu hỏi làm khơi dậy được những liên tưởng, cảm xúc và ý kiến cá nhân của mỗi học sinh thông qua hoạt động trao đổi, thảo luận Hệ thống câu hỏi cần dẫn dắt HS khám phá từng tầng nghĩa của tác phẩm từ dễ đến khó, từ ngôn từ đến hình tượng, rồi đến nghĩa hàm ẩn, giúp các em hình dung được về một thời đại đầy khó khăn, gian khổ nhưng tình đồng đội, đồng chí luôn sôi sục
Đối với tác phẩm Làng
Truyện ngắn Làng chứa đựng một giá trị nội dung vô cùng sâu sắc Bao trùm
lên cả tình yêu làng quê đó chính là tình yêu đất nước vô bờ bến, tinh thần quyết chiến quyết thắng khi đất nước bị giặc xâm lăng Nhà văn Kim Lân thật tài tình khi xây dựng tình huống truyện để bộc lộ nội tâm nhân vật Với truyện ngắn
Làng ta sẽ tìm hiểu theo hướng phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật ông Hai
trong mỗi tình huống truyện Vì vậy hệ thống câu hỏi phải từ đơn giản mới đi đến phức tạp, khám phá sự thay đổi trong tâm trạng ông Hai theo từng tình
Trang 36huống truyện Hệ thống câu hỏi phải dễ hiểu, yêu cầu kiến thức cụ thể, kích thích trao đổi hoạt động nhóm GV cần giành cho những HS có học lực yếu kém những câu hỏi đơn giản hơn để các em có thể trả lời được và không ngại soạn bài vì thấy khó Đồng thời cũng giao cho những học sinh khá, giỏi những câu có yêu cầu cao hơn để kích thích các em khám phá, tìm hiểu
Nếu ngay từ bài dạy về đọc hiểu đầu tiên, GV đã hướng dẫn HS chuẩn bị
theo cách thức như trên thì ở những bài tiếp theo, các em sẽ tự áp dụng và tạo cho mình một “bí kíp” học văn hữu ích Theo đó, các em sẽ yêu môn văn, giờ học văn sẽ được mong đợi chứ không còn nhàm chán, thậm chí “đáng sợ” như một số em nghĩ nữa Hơn nữa, khi học sinh đã nắm được cách thức chung để
tiếp cận tác phẩm rồi thì GV cũng không bị mất nhiều thời gian cho phần dặn dò
mà các em vẫn thực hiện tốt khâu chuẩn bị bài ở nhà
2.2 Tổ chức dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng trong giờ học
2.2.1 Tạo hứng thú, kích thích nhu cầu học tập cho học sinh
Hứng thú học tập môn Văn là thái độ lựa chọn đặc biệt của người học đối với kết quả, quá trình của sự lĩnh hội và vận dụng những tri thức cũng như kỹ năng của môn học do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của môn học
đối với bản thân Hứng thú học tập môn văn biểu hiện ở mặt nhận thức, xúc
cảm, sự say mê thích thú, hành động và kết quả học tập môn Văn Với ba mức
độ hứng thú cao, hứng thú trung bình, chưa có hứng thú
Hứng thú học tập rất quan trọng, nó góp phần quyết định tới kết quả học tập của học sinh Khi có hứng thú học sinh sẽ cảm thấy quan tâm, tò mò, muốn khám phá và chiếm lĩnh những điều chưa rõ về bài học Hứng thú làm nảy sinh khát vọng sáng tạo và biến thành nhu cầu thúc đẩy cá nhân tự giác, tích cực hoạt động để thỏa mãn nhu cầu học tập của học sinh Từ đó các em sẽ có ý thức lắng nghe, phân tích và thâm nhập vào tác phẩm để tự mình làm rõ vấn đề quan tâm của mình, qua đó chiếm lĩnh được tư tưởng và nội dung của tác phẩm Tuy nhiên
để khơi gợi hứng thú học môn văn cho học sinh không phải là điều dễ dàng, đặc biệt là đối với các em học sinh miền núi Cần phải có những biện pháp thiết thực
để khơi gợi hứng thú cho học sinh
Trang 37Trước hết khi lên lớp GV phải kiểm tra việc chuẩn bị bài của HS Nên coi trọng việc kiểm tra bài chuẩn bị của các em hơn là kiểm tra bài cũ Đây không chỉ là một bước lên lớp mà còn là việc cần thiết để dẫn dắt HS đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Bài soạn của các em nếu được GV kiểm tra và đánh giá, có khen, có chê thì các em sẽ thấy thích thú và có động lực để soạn những
bài sau tốt hơn
Giới thiệu bài mới cũng là một bước quan trọng giúp tạo hứng thú cho HS,
kéo các em vào bài học Lời giới thiệu phải ngắn gọn, hấp dẫn, dễ hiểu và hé mở được nội dung bài học đồng thời hướng học sinh vào vấn đề cần được khám phá trong bài Khi học sinh hứng thú, các em sẽ tò mò, muốn biết, muốn phân tích để làm sáng tỏ vấn đề mình chưa rõ Một lời giới thiệu hay còn có tác dụng ổn định
tổ chức tạo cho HS một không khí hào hứng, sẵn sàng khám phá tri thức mới Tuy nhiên bước này thường bị lãng quên vì không được đánh giá cao
Tiếp theo, dưới sự gợi ý trực tiếp, cụ thể của GV, HS đọc sách giáo khoa bằng phương pháp đọc sáng tạo để chiếm lĩnh văn bản chi tiết hơn đồng thời tạo cho giáo viên và học sinh có sự tương tác cùng hòa nhịp với không khí chung của lớp học
Việc đọc các tác phẩm văn học hiện đại trong giờ học cần đạt được những yêu cầu như: Phát hiện được những logic kết cấu của bài học, phát hiện ra những vấn đề mà tác phẩm đề cập, phát hiện ra tiếng nói tình cảm của tác giả gửi gắm trong tác phẩm
Đối với tác phẩm Đồng chí
Để tạo hứng thú cho HS miền núi trong giờ đọc hiểu bài Đồng chí, chúng tôi sẽ đưa ra những giải pháp phù hợp với việc dạy đọc hiểu các tác phẩm thơ trữ tình hiện đại nói chung và tác phẩm Đồng chí nói riêng để có thể giúp các
em HS miền núi chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật văn chương sáng tạo hơn, sâu sắc hơn
Sau khi giới thiệu bài mới GV sẽ yêu cầu HS làm việc với SGK để đi vào bài mới bằng hoạt động đọc văn bản tác phẩm Do đó GV cần hướng dẫn HS
Trang 38cách tiếp cận một tác phẩm VHVNHĐ ở những yếu tố sau: Thể loại, kết cấu và cách khai thác, phân tích tác phẩm
Đọc văn bản là một trong những hoạt động rất quan trọng Trong đó, đọc diễn cảm được xem là một phương pháp đặc thù được các GV chú trọng Đặc biệt là đối với tác phẩm thơ trữ tình như Đồng chí thì đọc diễn cảm là một hình
thức trực quan quan trọng nhất bởi qua cách đọc có thể đánh giá tính chất cảm thụ ban đầu của HS Đọc phải vang lên nhạc, sáng lên hình, tạo ra được sự rung cảm cho cả người đọc và người nghe Muốn hướng dẫn, rèn luyện HS đọc diễn cảm, trước hết người GV cũng phải biết đọc diễn cảm Những người GV dạy văn giỏi thường là những người có giọng đọc truyền cảm, ấn tượng, bởi có hiểu tác phẩm mới đọc đúng, đọc hay được Đọc diễn cảm sẽ gây ấn tượng sâu sắc về tác phẩm văn học cho HS, kích thích hoạt động tưởng tượng của HS, giúp HS hiểu được nội dung biểu cảm của tác phẩm và làm tăng hứng thú học văn của
HS Mặt khác, việc GV đọc diễn cảm sẽ giúp HS chuẩn bị cho việc phân tích tác phẩm được tốt hơn Tuy nhiên, khi hướng dẫn HS đọc diễn cảm, GV cần chú ý giành lượng thời gian phù hợp cho phần đọc, tránh tình trạng lấn sang thời gian của những nội dung khác
Đối với tác phẩm Làng
Ngoài những hoạt động chung như kiểm tra, đánh giá bài soạn, GV cũng tạo hứng thú cho HS bằng lời vào bài, bằng những tác động về mặt cảm xúc, tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, lòng tự hào dân tộc GV có thể tạo dựng nhu cầu học tập cho HS bằng cách đặt học sinh vào những tình huống
có vấn đề cụ thể là diễn biến tâm trạng ông Hai mỗi khi nhận được tin về làng mình Cho HS thấy được cả cái quen và cái lạ trong câu chuyện tạo cho học sinh ham muốn khám phá, tìm ra câu trả lời
Tuy nhiên, biện pháp đọc diễn cảm ở mỗi thể loại lại được thực hiện khác nhau Chẳng hạn đối với khi đọc các bài thơ trữ tình, GV yêu cầu HS phải chú ý đến từ, câu, vần, nhịp điệu,… và phải thuộc lòng bài thơ để có thể ngừng nghỉ đúng chỗ và có những rung cảm về cái hay cái đẹp của bài thơ đó Còn khi đọc truyện ngắn, tiểu thuyết thì phải chú ý đến các đoạn hội thoại, độc thoại của
Trang 39nhân vật, lời của người kể chuyện Hay khi đọc các văn bản kịch, tuỳ vào lượng nhân vật có trong tác phẩm đó, GV cho HS vào vai mỗi nhân vật để thể hiện lời nói, giọng điệu đúng với các nhân vật ấy
Cuối tiết 1 nên cho các em hoạt động nhóm để các em thoải mái lúc cuối giờ và hào hứng, mong đợi tiết học tiếp theo để được trình bày sản phẩm của mình trước các nhóm khác
Như vậy, hứng thú học tập của HS có vai trò rất quan trọng trong dạy học
để đạt kết quả cao Do đó GV phải có những biện pháp tác động đến HS giúp các em cảm thấy hứng thú trong học tập
2.2.2 Tổ chức cho học sinh cảm nhận tác phẩm bằng các hoạt động nghệ thuật
Môn Ngữ văn là môn học dễ gây ấn tượng cho HS thông qua việc tổ chức cho các em cảm nhận tác phẩm bằng các hoạt động nghệ thuật
Việc chuẩn bị bài từ nhà tạo không khí hào hứng, sẵn sàng khám phá bài học cho HS Khi đó GV sẽ giúp HS cảm nhận tác phẩm thông qua các hình thức nghệ thuật như đọc diễn cảm, đọc sáng tạo, nghe đoạn băng, xem clip để làm cho giờ học trở nên sôi nổi, hào hứng, các em dễ tiếp thu bài học và khắc sâu nội dung bài học
Thông qua hình thức đọc diễn cảm, HS có thể đi vào thế giới nhân vật và cuộc sống qua mỗi trang văn Nhưng có một vấn đề cần lưu ý là các em HS người dân tộc thiểu số khi nói cũng như khi đọc tiếng Việt không được rõ ràng, trong sáng, dứt khoát như HS người kinh, nhất là khi phát âm đặc biệt là những
từ có dấu ngã Vì vậy các em chỉ cố gắng tập chung đọc đúng chứ chưa đọc diễn cảm được, trong khi đó biện pháp đọc diễn cảm đòi hỏi HS phải đọc đúng và đọc hay Đọc đúng nghĩa là đúng từ ngữ, vần điệu, ngữ điệu Đọc hay là biết phối hợp hoạt động đọc và phát huy ưu thế chất giọng, biết khắc phục những nhược điểm về phát âm; thể hiện đúng cao độ, trường độ và sức ngân vang của ngôn ngữ; biết làm chủ giọng đọc và kĩ thuật đọc, có sắc thái biểu cảm, cảm xúc phù hợp với giọng điệu của nhà văn, nhà thơ Do đó, nếu không đáp ứng được những yêu cầu này, HS khó mà nhập vào cảnh vào tình trong tác phẩm được Để khắc phục nhược điểm này, GV phải yêu cầu các em thực hiện thật tốt nhiệm vụ
Trang 40đọc cho lưu loát từ nhà để lên lớp có thể đọc diễn cảm được sau khi nghe GV đọc mẫu Đồng thời GV phải biết kết hợp giữa đọc diễn cảm với các phương pháp khác để giúp HS hiểu và cảm tác phẩm văn học một cách đúng đắn Trong một thời gian nhất định, GV có thể cho HS đọc dưới những hình thức và mức độ khác nhau, đọc cả bài, đọc từng đoạn, đọc để làm sáng tỏ lời bình, đọc để minh chứng cho lời giảng, đọc đầu giờ và đọc ở cuối giờ học, đọc để kích thích trí tưởng tượng, để tái hiện hình ảnh hay duy trì cảm xúc Việc đọc diễn cảm đòi hỏi HS phải vận dụng vốn sống, vốn tri thức, năng lực liên tưởng, tưởng tượng hết sức phong phú của mình để đón bắt thông điệp của nhà văn gửi gắm qua tác phẩm Đồng thời, đọc diễn cảm có khả năng khơi dậy những cảm xúc, những rung động thẩm mĩ, có khả năng chắp cánh cho trí tưởng tượng và năng lực cần
có cho tư duy nghệ thuật của HS và cho việc phân tích tác phẩm Do đó đọc diễn cảm chính là một hình thức đắc lực bồi dưỡng năng lực tiếp nhận văn chương cho HS miền núi
Trong quá trình dạy học, nguời giáo viên cũng phải cố gắng cung cấp cho
HS những tranh ảnh, những đoạn clip có dung lượng ngắn, những đoạn băng đĩa liên quan đến bài học cho các em tham khảo để các em có một cái nhìn toàn diện
về bài học và ghi nhớ kiến thức tốt hơn
Đối với tác phẩm Đồng chí
Khi dạy bài thơ Đồng chí GV nên cho HS nghe phần ghi âm phổ nhạc bài
thơ Hướng dẫn đọc diễn cảm dựa trên nền tảng những hiểu biết về bài thơ Chẳng hạn mở đầu bài thơ:
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ Họ như đang tâm sự cùng nhau Giọng điệu khi
đọc phải tự nhiên, mộc mạc, thân tình “Quê anh” và “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi “ nước mặn đồng chua” – vùng đồng bằng ven biển, là xứ sở của “đất cày lên sỏi đá” – vùng đồi núi trung du
Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt