Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN TẠI TỈNH LẠNG SƠN VÀ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN TẠI TỈNH LẠNG SƠN VÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết luận văn
đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Lạng Sơn, tháng năm 2016
TÁC GIẢ
Đinh Thị Thu Hiền
Trang 4tài và mang lại kết quả ngày hôm nay
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Lạng Sơn, tháng năm 2016
TÁC GIẢ
Đinh Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Tên bệnh 4
1.1.2 Virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn 5
1.1.3 Dịch tễ học 7
1.1.4 Triệu chứng của lợn mắc PRRS 14
1.1.5 Bệnh tích của lợn mắc PRRS 16
1.1.6 Các phương pháp chẩn đoán PRRS 17
1.1.7 Phòng bệnh 18
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 28
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 28
2.2 Vật liệu và các thiết bị dung trong nghiên cứu 28
2.3 Nội dung nghiên cứu 28
2.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn của tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 6/2016 28
Trang 62.3.2 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh PRRS ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn
2012 - 6/2016 29
2.3.3 Triệu chứng, bệnh tích chủ yếu ở lợn mắc và chết do PRRS 29
2.3.4 Sự lưu hành virus PRRS và nguy cơ mắc bệnh ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn 29
2.3.6 Biện pháp phòng chống 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.4.2 Phương pháp xác định sự lưu hành virus PRRS 31
2.4.3 Phương pháp xác định nguy cơ bệnh 32
2.4.4 Quy định xử lý khi có bệnh PRRS xảy ra 33
2.5 Phương pháp xứ lý số liệu 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Tình hình chăn nuôi lợn của tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 6/2016 36
3.2 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh PRRS ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 6/2016 41
3.2.1 Tình hình bệnh PRRS và bản đồ dịch tễ của bệnh tại Lạng Sơn năm 2012 42
3.2.2 Tình hình bệnh PRRS và bản đồ dịch tễ của bệnh tại Lạng Sơn năm 2013 45
3.2.3 Tình hình bệnh PRRS và bản đồ dịch tễ của bệnh tại tỉnh Lạng Sơn năm 2015 47
3.2.4 Tổng hợp tình hình bệnh PRRS tại Lạng Sơn từ 2012 - 6/2016 48
3.2.5 Phạm vi xảy ra và mức độ bệnh PRRS của từng năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2016 52
3.2.6 Tình hình bệnh PRRS theo mùa vụ trong các năm xảy ra bệnh tại Lạng Sơn từ 2012 - 6/2016 49
3.2.7 Tình hình bệnh PRRS theo từng loại lợn trong các năm xảy ra bệnh tại Lạng Sơn từ 2012 - 6/2016 53
3.3 Triệu chứng, bệnh tích chủ yếu ở lợn mắc và chết do PRRS 55
3.3.1 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu ở lợn mắc PRRS 55
3.3.2 Bệnh tích chủ yếu ở lợn chết do PRRS 57
Trang 73.4 Sự lưu hành virus PRRS và nguy cơ mắc bệnh ở lợn tại một số địa phương
thuộc tỉnh Lạng Sơn 58
3.4.1 Sự lưu hành virus PRRS và nguy cơ mắc bệnh ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2015 58
3.4.2 Sự lưu hành virus PRRS và nguy cơ mắc bệnh ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2016 62
3.5 Xác định các yếu tố nguy cơ và các yếu tố làm phát tán, lây lan dịch bệnh 69
3.5.1 Xác định tỷ lệ lưu hành PRRS ở lợn tại Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2016 69
3.5.2 Ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ đến quá trình phát sinh và lây lan dịch bệnh PRRS ở Lạng Sơn 70
3.6 Biện pháp phòng chống 75
3.6.1 Các biện pháp chống dịch 75
3.6.2 Các biện pháp phòng dịch 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Đề nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
A pleuropneumoniae Actinobacillus pleuropneumoniae
P multocida Pasteurella multocida
S suis Streptococcus suis
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Biến động tổng đàn lợn qua 5 năm tại tỉnh Lạng Sơn 36
Bảng 3.2 Chủng loại lợn nuôi tại Lạng Sơn 39
Bảng 3.3 Phương thức chăn nuôi lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn 40
Bảng 3.4 Quy mô đàn lợn nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn 41
Bảng 3.5 Tổng hợp tình hình bệnh PRRS tại Lạng Sơn năm 2012 42
Bảng 3.6 Tổng hợp tình hình bệnh PRRS tại Lạng Sơn năm 2013 45
Bảng 3.7 Tổng hợp tình hình bệnh PRRS tại Lạng Sơn năm 2015 47
Bảng 3.8 Tổng hợp tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết, tiêu hủy do PRRS tại Lạng Sơn từ 2012 - 6/2016 49
Bảng 3.9 Sự phân bố PRRS ở lợn tại các huyện, thành của tỉnh Lạng Sơn từ năm 2012 - 2016 50
Bảng 3.10 Tỷ lệ lợn nhiễm bệnh và chết, tiêu hủy do PRRS theo mùa vụ 52
Bảng 3.11 Biển đổi tỷ lệ mắc PRRS theo từng loại lợn 54
Bảng 3.12 Biển đổi tỷ lệ chết và tiêu hủy do PRRS theo từng loại lợn 55
Bảng 3.13 Tỷ lệ lợn có biểu hiện lâm sàng trong các nhóm lợn mắc bệnh PRRS 56
Bảng 3.14 Kết quả tổng hợp triệu chứng, bệnh tích chủ yếu ở lợn mắc và chết do PRRS 57
Bảng 3.15 Tỷ lệ mang virus PRRS ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2015 59
Bảng 3.16 Biến động tỷ lệ mang virus PRRS theo loại lợn năm 2015 60
Bảng 3.17 So sánh nguy cơ mắc bệnh PRRS ở một số loại lợn 62
Bảng 3.18 Tỷ lệ mang virus PRRS ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2016 63
Bảng 3.19 Biến động tỷ lệ mang virus PRRS theo loại lợn năm 2016 65
Bảng 3.20 So sánh nguy cơ mắc bệnh PRRS ở một số loại lợn 66
Trang 10Bảng 3.21 Tỷ lệ lưu hành bệnh PRRS trên 100.000 lợn tại Lạng Sơn giai
đoạn 2012 - 2016 69 Bảng 3.22 Thông kê số hộ khai báo dịch bệnh và ảnh hưởng của việc khai
báo dịch đối với tình hình bệnh dịch PRRS 71 Bảng 3.23 Một số yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng đến tình hình bệnh PRRS ở
lợn tại Lạng Sơn 74
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị về tình hình phát triển của ngành chăn nuôi lợn tỉnh Lạng
Sơn giai đoạn 2012 – 2016 37
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ các loại lợn nuôi tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2016 38
Hình 3.3 Bản đồ phân bố bệnh PRRS ở lợn tại Lạng Sơn năm 2012 44
Hình 3.4 Bản đồ phân bố bệnh PRRS ở lợn tại Lạng Sơn năm 2013 46
Hình 3.5 Bản đồ phân bố bệnh PRRS ở lợn tại Lạng Sơn năm 2015 48
Hình 3.6 Biểu đồ về tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết, tiêu hủy do PRRS tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2016 49
Hình 3.7 Bản đồ dịch tễ tổng hợp các năm có PRRS ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2016 51
Hình 3.8 Biểu đồ về tỷ lệ mang virus PRRS ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2015 59
Hình 3.9 Biểu đồ về tỷ lệ mang virus PRRS theo loại lợn năm 2015 60
Hình 3.10 Biểu đồ về tỷ lệ mang virus PRRS ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2016 63
Hình 3.11 Biểu đồ về tỷ lệ mang virus PRRS theo loại lợn năm 2016 65
Hình 3.12 Đồ thị về tỷ lệ lưu hành bệnh PRRS trên 100.000 lợn tại Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2016 70
Hình 3.13 Biểu đồ về tỷ lệ hộ khai báo bệnh PRRS tại Lạng Sơn trong các năm có dịch 72
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS - Porcine Reproductive and Respiratory Sydrome) còn gọi là “Bệnh tai xanh” là bệnh truyền nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến ngành chăn nuôi lợn trên toàn thế giới (Murthy A M và cs., 2015) [51] Bệnh do virus PRRS có cấu trúc ARN, thuộc họ Arteriviridae gây ra trên lợn Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh, làm chết nhiều lợn Bệnh có lịch sử dịch tễ học phức tạp và rất khó kiểm soát đối với những điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp thông thường Vì vậy, đây là một trong những bệnh gây ra sự tổn thất vô cùng lớn trong công nghiệp nuôi lợn không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam
Virus PRRS tấn công và diệt các đại thực bào ở phổi (40%) dẫn đến hiện tượng suy giảm sức đề kháng ở lợn, tạo điều kiện cho các virus, vi khuẩn khác gây bệnh nên thường gây thiệt hại nặng nề đối với ngành chăn nuôi lợn Đối với lợn nái, PRRS gây hậu quả nghiêm trọng như sảy thai, đẻ non, lợn con sinh ra yếu ớt, chết non; tình trạng bệnh âm ỉ gây rối loạn sinh sản như động dục kéo dài, chậm động dục trở lại Đối với lợn đực giống, PRRS làm giảm số lượng tinh dịch, chất lượng tinh dịch kém, ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và chất lượng đàn con (Nguyễn Bá Hiên
và cs., 2013) [10]
Hội chứng PRRS được ghi nhận đầu tiên ở Mỹ vào năm 1987 và được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như “bệnh thần bí ở lợn”, “bệnh tai xanh ở lợn”, “hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn” Ở châu Âu nhiều vùng cũng ghi nhận dịch bệnh này như Đức (năm 1990), Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh (1991), Pháp (1992) Năm 1998, bệnh được phát hiện ở các nước châu Á như: Hàn Quốc, Nhật Bản Từ năm 2006 đến năm 2010, khu vực các nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và Thái Lan, Lào, Campuchia liên tiếp bị các đợt dịch PRRS hoành hành với chủng PRRSV độc lực cao Cho đến nay PRRS đã trở thành dịch bệnh lưu hành ở nhiều châu lục trên thế giới, là một trong những bệnh gây tổn thất
Trang 13nặng nề về kinh tế cho ngành chăn nuôi ở nhiều quốc gia (dẫn theo Mai Thị Thu Hằng, 2013) [8] Theo Butler J E và cs (2014) [34], trong những năm gần đây bệnh PRRS đã trở thành đại dịch tại Mỹ và gây thiệt hại kinh tế ước tính hàng năm lên đến 600.000 USD
Từ năm 2007 - 2013, bệnh đã bùng phát mạnh ở nhiều tỉnh thành trong cả nước Lần đầu tiên dịch PRRS bùng phát tại nước ta ở Hải Dương vào ngày 12/3/2007, sau đó dịch lây lan nhanh và rộng khắp các tỉnh miền Bắc Trong năm
2007, toàn quốc có 324 xã, phường của 65 huyện, quận thuộc 18 tỉnh, thành phố có dịch Số lợn mắc bệnh là 70.577 con (chiếm 0,26% tổng đàn, toàn quốc có 26.560.651 con), số lợn chết và phải tiêu huỷ là 20.366 (chiếm gần 0,08%) Các năm tiếp theo dịch PRRS tiếp tục nổ ra ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước trong
đó có Lạng Sơn
Lạng Sơn là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc có ngành chăn nuôi khá phát triển Tính đến 10/2015, thống kê sơ bộ trên toàn tỉnh Lạng Sơn có 327.096 con lợn; trong đó có 301.911 lợn thịt, 24.998 lợn nái và 187 lợn đực giống Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 41.502,5 tấn Chăn nuôi lợn phát triển đã mang lại nguồn thu nhập khá ổn định cho nhiều hộ gia đình Những năm gần đây, dịch PRRS vẫn xảy
ra trên địa bàn tỉnh, gây những thiệt hại to lớn cho người chăn nuôi
Cho tới nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về Hội chứng PRRS ở Việt Nam tuy vậy, tình hình dịch bệnh ở Lạng Sơn đến nay chưa có nhiều tài liệu công bố Xuất
phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng chống”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2016
- Xác định được một số đặc điểm dịch tễ của bệnh PRRS trên lợn tại tỉnh Lạng Sơn
Trang 14- Xác định tỷ lệ huyết thanh lợn dương tính với virus gây bệnh PRRS trên lợn nuôi tại tỉnh Lạng Sơn
- Đề xuất một số biện pháp phòng bệnh phù hợp, có hiệu quả với địa phương và hướng dẫn cho người chăn nuôi thực hiện nhằm hạn chế dịch bệnh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Các kết quả điều tra, nghiên cứu sự lưu hành của virus PRRS ở đàn lợn tại Lạng Sơn sẽ cung cấp, bổ sung, hoàn thiện thêm các thông tin về bệnh PRRS, đồng thời có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, bổ sung vào công tác phòng chống dịch bệnh PRRS trên địa bàn một tỉnh
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Những tư liệu này có được sẽ là cơ sở khoa học giúp cho người chăn nuôi hiểu biết về bệnh cũng như biết phát hiện bệnh và khai báo với chính quyền địa phương, các nhà chuyên môn để có biện pháp khống chế và ngăn chặn dịch bệnh lây lan
- Định hướng và đưa ra những kế hoạch sát thực cho chương trình phòng chống bệnh PRRS trên địa bàn của một tỉnh
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Tên bệnh
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome (PRRS) còn gọi là “Bệnh tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở mọi lứa tuổi đối với lợn do virus PRRS có cấu trúc ARN, thuộc
họ Arteriviridae gây ra trên lợn Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh, làm chết nhiều lợn và gây ra những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: sốt, ho, thở khó Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu, lây sang lợn con theo mẹ làm lợn yếu ớt, tiêu chảy, rối loạn hô hấp tỷ lệ chết cao; lợn sau cai sữa, lợn thịt viêm phổi nặng, đực giống mất tính dục, chất lượng tinh kém Đây là bệnh mới, phức tạp, lợn mắc bệnh dễ mắc các loại bệnh khác như: dịch tả lợn, phó thương hàn, tụ huyết trùng, liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn, suyễn Bệnh có thể có những diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong cả nước Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987, rất nhanh chóng lan sang Canada, các nước vùng châu Âu Năm 1998 bệnh phát ra ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đã được
sử dụng để đặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau:
- Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS)
- Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) (châu Mỹ)
- Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS)
- Hội chứng hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS)
Trang 16Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tiếng Anh: Porcine respiratory and reproductive syndrome = PRRS) (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007) [9]
1.1.2 Virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn
1.1.2.1 Phân loại
Virus PRRS là một virus ARN chuỗi đơn, có màng bọc, thuộc giống
Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanagh D., 1997) [36] Hiện nay,
dựa vào phân tích cấu trúc gen, người ta đã xác định được 2 nhóm virus:
Nhóm I: gồm các virus thuộc chủng châu Âu (tên gọi phổ thông là virus Lelystad) gồm 4 phân nhóm (subtype) đã được xác định Nhóm I gồm các virus thuộc chủng châu Âu (gọi là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định Nhóm virus này được Viện Thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế nang của lợn và đặt tên là virus Lelystad - LV (Meulenberg J J và cs., 1993) [50]
Nhóm II: gồm các vi rút thuộc dòng Bắc Mỹ (với tên gọi là VR - 2332); nhóm này phân lập được ở lợn tại Mỹ vào năm 1992 Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng châu Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40%, do
đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này (Nelsen C J
Và GenBank, 1998) [52]
Khi so sánh về di truyền đã thấy sự khác nhau rõ rệt (khoảng 40%) giữa 2 kiểu gen này Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nucleotit khá cao (đến 20%), đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung
Trang 17Quốc (Lê Thanh Hòa và cs., 2009 [12]; Nguyễn Văn Cảm và cs., 2011 [3]; Cao Văn Thật và cs., 2012 [23])
1.1.2.2 Hình thái và cấu trúc của PRRSV
Dưới kính hiển vi điện tử PRRSV là loại có vỏ bọc, hình cầu, có kích thước
từ 45 - 55nm, chứa nhân nucleocapsid có kích thước từ 30 - 35nm
Virus gây PRRS là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương,
có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này có kích thước khoảng
15 kilobase, có 9 ORF (open reading frame) mã hoá cho 9 protein cấu trúc
Tuy nhiên, có 6 phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M) và một protein nucleocapsid (N) (Tô Long Thành, 2007) [21]
Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [10] cho biết, sợi đơn RNA của virus bao gồm một bộ gen có khoảng 15 kb, mã hóa 9 ORFs Bộ gen PRRSV bao gồm hai gen polymerase là ORF1a và ORF1b và bảy gen cấu trúc là ORF2a, 2b, 3, 4, 5, 6 và 7 ORF1a và ORF1b cấu thành khoảng 75% bộ gen của virus và được đặc trưng bởi một quá trình khung ribosome chuyển dịch thành một polyprotein lớn mà sự phân tách làm phát sinh các protein không cấu trúc (NSP) bao gồm cả RNA phụ thuộc polymerase Các khung đọc mở ORF2a, 3, 4 và 5 tất cả mã hóa cho các protein glycosyl hóa là GP2a, GP3, GP4, GP5 tương ứng Các ORF2b mới được định nghĩa
mã hóa các protein nhỏ nhất của các hạt virus được chỉ định GP2b ORF7 mã hóa các protein nuclocapsid không glycosyl hóa (N)
1.1.2.3 Sức đề kháng của virus
Mặc dù virus PRRS có vỏ bọc, nhưng sự sống sót của chúng bên ngoài vật chủ vẫn chịu tác động của nhiệt độ, pH và sự tiếp xúc với các chất tẩy uế Do đó, với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt; ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng
C; trong điều kiện 40C, virus có thể sống 1 tháng; với nhiệt độ cao, cũng như các virus khác, PRRSV đề kháng kém: ở 370C chịu được 48 giờ, 560C bị giết sau 1 giờ
Trang 181.1.2.4 Khả năng ngưng kết hồng cầu
PRRSV không có khả năng ngưng kết hồng cầu của lợn, dê, cừu, thỏ, chuột lang, vịt, gà và nhóm máu O của người
1.1.2.5 Đặc tính nuôi cấy virus trong môi trường tế bào
PRRSV phát triển ở mật độ 105 - 107 TCID50 ở các loại tế bào:
- Đại thực bào phế nang lợn (pulmonary alveolar marcrophage-PAM)
1.1.2.6 Khả năng gây bệnh
PRRSV chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng cũng mắc bệnh
Về mặt độc lực, người ta thấy PRRSV tồn tại dưới 2 dạng:
Dạng cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn
Dạng biến thể độc lực cao: gây nhiễm và chết nhiều lợn (Kegong T và Yu X., 2007 [46]; Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long, 2008) [22]
1.1.3 Dịch tễ học
PRRS có những đặc điểm dịch tễ không như những bệnh dịch khác ở gia súc Bệnh được ghi nhận là có tốc độ lây lan rất nhanh, mạnh (bão dịch) trên phạm vi
Trang 19rộng, nhiều địa phương trong cùng 1 thời điểm Thiệt hại do bệnh có thể tới từ 20% tổng đàn lợn của địa phương có bệnh
10-1.1.3.1 Loài vật mắc
Lợn ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus Các cơ sở chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng, tồn tại lâu dài trong đàn lợn nái, rất khó thanh toán
Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sẩy thai, thai chết lưu và lợn chết yểu với tỷ lệ cao
Lợn rừng ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng thường không có triệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh trong
tự nhiên
Cho đến nay kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy PRRSV không cảm nhiễm và gây bệnh cho các loại thú khác và người Các loài thủy cầm chân màng, vịt trời lại mẫn cảm với virus PRRSV có thể nhân lên ở các loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng khó khống chế
1.1.3.2 Động vật môi giới mang và truyền virus
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang virus, đây là nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng cũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho lợn nhà và ngược lại, lợn nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng
Trong thực nghiệm, người ta cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khoẻ (virus bệnh PRRS dòng châu Âu)
1.1.3.3 Chất chứa mầm bệnh
Khi đã nhiễm virus, lợn có thể thải virus trong dịch họng, nước bọt, nước tiểu, phân đến ít nhất 28 ngày sau khi nhiễm virus; virus có rất ít trong phân và chúng cũng bị bất hoạt nhanh chóng khi ở trong phân Tuy nhiên, việc bài thải virus qua phân là một vấn đề còn gây tranh cãi Một số nghiên cứu báo cáo rằng PRRSV
Trang 20có trong phân từ ngày 28 đến 35 sau khi gây nhiễm thực nghiệm, trong khi đó một
số các nghiên cứu khác lại không phát hiện được virus trong các mẫu phân (Wills R
và cs., 1997) [71]
Lợn đực có thể thải virus trong tinh dịch trong 43 ngày Bằng phương pháp Realtime polymerase chain reaction (RT-PCR), các nhà nghiên cứu đã phát hiện được ARN của virus PRRS trong tinh dịch 92 ngày sau khi lợn bị nhiễm virus (Swenson S và cs., 1994) [61] Nguồn gốc của virus trong tinh dịch lợn đực hiện nay chưa được xác định chính xác, nhưng người ta cũng đã phân lập được virus trong dịch hoàn 25 ngày sau khi nhiễm, trong tuyến củ hành ở 101 ngày sau khi nhiễm virus Tinh dịch lợn có chứa virus cũng có thể lây nhiễm sang bào thai và lợn nái khi phối giống
Lợn nái nhiễm virus có thể truyền sang cho bào thai từ giai đoạn giữa trở đi
và cũng thải qua nước bọt và sữa
Trong cơ thể lợn nhiễm virus:
- Từ 2 - 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được virus ở phổi, hạch lympho, hạch amidan, tuyến thymus, lách và máu Lượng virus nhiều nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3 ngày
- Ở hạch amydan, hạch lympho và tuyến thymus vẫn có thể phân lập được virus sau 21 ngày, ở phổi là sau 35 ngày
- PRRSV thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách Ở những con nái có chửa virus có thể qua được nhau thai, tuy nhiên khả năng qua nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tủy xương, nhau thai và đám rối màng treo ruột
Virus có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ở gan, thận, tim và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơn nhân trung tính, tế bào tủy xương Tế bào đích chủ yếu của virus là đại thực bào phế nang, tại đây virus nhân lên một cách mạnh mẽ nhất, tuy nhiên chỉ có 2% đại thực bào phế nang bị virus xâm nhập
Trang 211.1.3.4 Cơ chế sinh bệnh
Virus gây PRRS có thể xâm nhập vào cơ thể lợn theo đường hô hấp, tiêu hóa
và đường âm đạo Sau khi xâm nhập, đích tấn công chủ yếu của virus là các đại thực bào ở phế nang Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt của virus, vì thế chúng hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong loại tế bào này và phá hủy nó Ở lợn mắc bệnh, một tỷ lệ lớn các tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhập rất sớm và phá hủy làm giảm khả năng phòng vệ của phổi Lúc đầu, PRRSV có thể kính thích sự tăng sinh của đại thực bào nhưng sau 2 -
3 ngày, virus này sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác, tiếp tục quá trình nhân lên và phá hủy đại thực bào
Trong cơ thể lợn ốm do mắc PRRS có tới 40% tế bào đại thực bào bị virus giết chết Trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào đóng vai trò vô cùng quan trọng; kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp như
Mycoplasma hyopneumoniae, P multocida, S suis, A pleuropneumoniae Tiêu
Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1], khi xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 đã cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát bệnh do các nhóm vi khuẩn đường hô hấp
và đường ruột như A pleuropneumoniae, P multocida, S suis, Escherichia coli,
Salmonella sp., Clostridium perfringens Kết quả phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P multocida 10% Các
tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế phát trên đã làm cho dịch PRRS trầm trọng
và phức tạp hơn, lợn chết trong bệnh PRRS chủ yếu là do các vi khuẩn gây viêm phổi kế phát này Vì vậy, sử dụng các biện pháp phòng chống đối với vi khuẩn kế phát là biện pháp hạn chế hữu hiệu tỷ lệ lợn chết trong bệnh PRRS
1.1.3.5 Đường truyền lây
* Truyền lây trực tiếp:
Các đường lây truyền trực tiếp của PRRSV trong và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm virus PRRSV được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch
Trang 22họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra, sữa và sữa đầu (Swenson S và cs., 1994 [61]; Wills R và cs., 1997) [71]
Sự truyền lây theo chiều dọc xảy ra trong suốt giai đoạn giữa đến giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai (Christianson W T và cs., 1992) [37] Tuy nhiên, khả năng qua nhau thai của virus phụ thuộc vào giai đoạn mang thai của nái khi virus xâm nhập vào cơ thể chúng Nếu virus xâm nhập vào con nái đang chửa kỳ 1 hoặc
kỳ 2 thì khả năng qua nhau thai của virus là rất thấp, thể hiện ở đàn con sinh ra tỷ lệ chết thấp, tỷ lệ thai chết lưu cũng thấp, có con non còn hầu như không có triệu chứng bệnh Nếu virus xâm nhập vào những con nái đàn chửa kỳ 3 (92 ngày trở lên) thì khả năng qua được nhau thai là rất cao Chúng thường gây chết lợn mẹ, hoặc tăng tỷ lệ thai chết lưu, đẻ non, con non chết yểu nhiều, tỷ lệ cai sữa thấp… Hiện tượng này được giải thích là do tính thấm của nhai thai ở các giai đoạn khác nhau của thai kỳ là khác nhau
Truyền lây theo chiều ngang cũng đã được báo cáo qua tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn cảm nhiễm (Bierk M và cs., 2001) [33] cũng như sự lây truyền qua tinh dịch của những lợn đực nhiễm bệnh (Yaeger M và cs., 1993) [67]
Nhiễm trùng kéo dài: Nhiễm bệnh dai dẳng là một đặc trưng của nhóm
Arterivirus (Plagemann P and Moennig V., 1992) [56] Sự tồn tại dai dẳng của
PRRSV gây ra lây nhiễm “âm ỉ”, virus hiện diện ở mức độ thấp trong cơ thể và giảm dần theo thời gian (Wills R và cs., 1997) [71] Cơ chế mà virus sử dụng để tấn công vào hệ thống miễn dịch của cơ thể chưa được làm rõ Thời gian tồn tại của virus được công bố trong nhiều nghiên cứu, nhưng kết quả rất khácnhau Sử dụng phản ứng khuếch đại gen (PCR) ARN của virus đã được pháthiện ở lợn đực hậu bị (6-7 tháng tuổi) cho tới 120 ngày sau khi gây nhiễm (Batista L và cs., 2002) [30] và
sự bài thải virus sang động vật chỉ báo mẫn cảm được báo cáo là đến 86 ngày (Bierk
M và cs., 2001) [33]
Về sự tồn tại dai dẳng của PRRSV ở mức độ quần thể trong một khoảng thời gian nhất định, PRRSV đã được phát hiện trong 100% trong số 60 lợn 3 tuần tuổi
Trang 23được gây bệnh thực nghiệm cho đến 63 ngày sau khi gây nhiễm và 90% trên cùng đàn lợn nói trên lúc 105 ngày sau khi gây nhiễm (Horter D và cs., 2002) [43]
Nhiễm các bào thai trong tử cung trong khoảng 85 - 90 ngày của giai đoạn mang thai làm thú mắc bệnh bẩm sinh ngay khi mới sinh ra, với ARN của PRRSV được phát hiện trong huyết thanh vào ngày 120 sau khi đẻ (Benfield D và cs., 1997) [32] Lợn chỉ báo được nhốt lẫn với những lợn mắc bệnh này (98 ngày sau khi sinh) đã phát triển kháng thể PRRSV vào 14 ngày sau đó Cuối cùng, sự tồn tại dai dẳng của PRRSV trong từng cá thể dao động trong khoảng thời gian từ 154 đến
157 ngày sau khi nhiễm đã được báo cáo (Albina E và cs., 1994 [28]; Otake S và cs., 2002 [55])
* Truyền lây gián tiếp:
- Các dụng cụ, thiết bị: Một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ,
thiết bị đã được xác định trong những năm gần đây Ủng và quần áo bảo hộ đã được chứng minh là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm (Otake S và cs., 2002) [55] Nguy cơ lây truyền qua những đường này có thể được giảm thiểu qua áp dụng các bảng nội quy: thay quần áo, giày dép, rửa tay, tắm, tạo những khoảng thời gian nghỉ khoảng 12 giờ giữa những lần tiếp xúc với lợn
Kim tiêm cũng là phương tiện lan truyền PRRSV giữa các lợn với nhau, chứng minh cho nhu cầu phải quản lý kim tiêm hợp lý (Dee S và cs., 2002) [39]
- Các phương tiện vận chuyển: Các phương tiện vận chuyển là một đường
chính làm lây lan PRRSV Sử dụng một mô hình tỷ lệ 1:150, lợn mẫn cảm đã thu nhận PRRSV qua tiếp xúc ở bên trong mô hình vận chuyển vấy nhiễm virus; tuy nhiên, làm khô phương tiện vận chuyển đã làm giảm sự lây nhiễm
Biện pháp làm tăng thời gian sấy khô qua việc sử dụng không khí ấm với tốc
độ cao (hệ thống khử tạp nhiễm và sấy khô bằng nhiệt) đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để loại trừ PRRSV từ bên trong một phương tiện vận chuyển
đã bị nhiễm virus (Dee S và cs., 2002) [39]
Kết hợp với việc sấy khô, các chất sát trùng cũng đã được sử dụng rộng rãi
để làm vệ sinh các phương tiện vận chuyển sau khi được sử dụng
Trang 24- Côn trùng: Các loài côn trùng (muỗi - Aedes vexans và ruồi nhà - Musca
domestica) được theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn trong suốt các tháng mùa hè và đã cho thấy có lan truyền PRRSV bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm (Otake S và cs., 2002) [55]
Trong côn trùng, virus nằm ở đường tiêu hóa Các côn trùng không phải là vector sinh học của PRRSV (Otake S và cs., 2002) [55]; vì thế khoảng thời gian tồn lưu của PRRSV trong đường tiêu hóa côn trùng phụ thuộc vào lượng virus ăn vào
và nhiệt độ của môi trường Sự vận chuyển PRRSV bởi các loài côn trùng qua một vùng nông nghiệp đã được báo cáo là có thể tới 2,4km sau khi tiếp xúc với quần thể lợn nhiễm bệnh
- Các loài có vú khác và gia cầm: Điều tra vai trò của các loài có vú khác
nhau (loài gặm nhấm, gấu trúc Mỹ, chó, mèo, thú có túi, chồn hôi) và các loài chim (chim sẻ, sáo nuôi) cho thấy không có loài nào là vector sinh học và cơ học trong việc lây lan PRRSV (Wills R và cs., 1997) [71] Zimmerman và cộng sự đã gây bệnh qua đường miệng cho vịt trời, ngan, gà lôi với khoảng 104 TCID50 virus PRRS Họ có khả năng phân lập được virus trong phân gà (5 ngày sau khi tiêm truyền), gà lôi (5 và 12 ngày sau khi tiêm truyền), và tồn tại ở vịt trời (khoảng 5 ngày sau khi tiêm truyền) Triệu chứng lâm sàng không thấy ở bất cứ loài chim nào
và chúng không có sự thay đổi huyết thanh đối với PRRSV
- Lây lan qua không khí: Hiện nay, sự truyền lây PRRSV qua các tiểu phần
lơ lửng trong không khí giữa các trang trại với nhau vẫn còn gây nhiều tranh cãi Các dữ liệu trước đây thu thập từ các ổ dịch diễn ra ở Anh cho thấy virus có thể lan truyền theo các tiểu phần lơ lửng trong không khí xa tới 3 km Hay một vụ dịch nổ
ra tại Tây Âu gần như ngay lập tức sau khi ổ dịch đầu tiên xảy ra tại Đức Nguyên nhân của vụ dịch này được giải thích là do virus có khả năng truyền qua không khí, theo gió tới vùng Tây Âu và gây bệnh cho những lợn trong các trang trại ở khu vực này cũng chứng minh rằng virus có thể truyền qua không khí với khoảng cách lên tới 3 km
Trang 25Gần đây, từ một nghiên cứu dịch tễ học trên quy mô lớn cũng cho thấy các tiểu phần không khí là đường truyền lây gián tiếp giữa các vùng chăn nuôi lợn với nhau
1.1.3.6 Điều kiện lây lan
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanh năm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều lợn nái phối giống và bệnh phát sinh thành dịch, với tỷ lệ cao, lợn nái có hội chứng rối loạn sinh sản, trong khi lợn con bị viêm đường hô hấp phổ biến
Bệnh có thể lây từ nước này sang nước khác qua việc xuất lợn có mang mầm bệnh mà không được kiểm dịch chặt chẽ Một số nước đang phát triển nhập lợn giống
có phẩm chất và năng suất cao từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, do không thực hiện tốt công tác kiểm dịch nên đã mang bệnh vào nước mình Thực tế cho thấy, trong khoảng gần hai thập kỷ qua, bệnh PRRS đã thâm nhập và trở thành dịch địa phương
ở nhiều nơi trên thế giới Chỉ có Australia, New Zealand, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sỹ tuyên bố là sạch bệnh (Drew T và cs., 2008) [40]
Ngoài ra, một nghiên cứu ở Đức đối với 150 đàn bị nhiễm cho thấy có 95% hoặc
là đã mua giống dưới 4 tuần trước ổ dịch hoặc là trong vòng 5 km cách đàn bị bệnh
1.1.4 Triệu chứng của lợn mắc PRRS
Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của hội chứng PRRS, các nhà khoa học đã cho rằng: triệu chứng lâm sàng của lợn rất khác nhau và phụ thuộc vào các chủng virus, trạng thái miễn dịch của đàn cũng như điều kiện quản lý chăm sóc
Theo Đào Thị Nhàn (2010) [17], triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn nái mắc PRRS là các rối loạn sinh sản và hô hấp; đối vối lợn sau cai sữa, lợn choai, triệu chứng chủ yếu là rối loạn hô hấp
Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy: lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy tốc độ lây lan nhanh Đặc biệt, một số con lợn mắc bệnh ở chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn
Trang 26Ở lợn nái: các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai
gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường ít uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi
Lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dái thấy nóng đỏ, (chiếm 95%), dịch hoàn có biểu hiện sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưng phấn trong hoạt động giao phối (Lê Văn Năm, 2007) [16] Lượng tinh dịch thường
ít, chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng độ tinh trùng (C) thường dưới 8 x 106; hoạt lực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức kháng của tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệ sống của tinh trùng giảm xuống còn dưới
được khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [20]
Ở lợn choai, lợn thịt: lợn mắc bệnh sốt cao 400C đến 420C, bỏ ăn, ủ rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt Lợn con mới sinh hầu như sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất Lợn con có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Bùi Quang Anh và cs., 2008) [2]
tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy Thể trạng gầy yếu, triệu chứng phát ra đột ngột, đường huyết hạ thấp do không bú mẹ, mí mắt sưng, có dử màu nâu, trên
da xuất hiện những đám phồng rộp Lợn con thường tiêu chảy hàng loạt và rất nặng, phân dính bết xung quanh hậu môn Đây là triệu chứng đặc trưng của lợn con chưa cai sữa, biểu hiện này không phổ biến ở lợn lớn Phát ban đỏ là biểu hiện phổ biến thứ hai và xảy ra ngay sau khi bệnh bắt đầu xuất hiện Chảy nước mắt, mắt có dử và
mí mắt sưng húp là biểu hiện phổ biến thứ 3, kết hợp với các dấu hiệu lạc giọng, khản tiếng, thở khó, thở thể bụng, chảy nước mũi, khớp đau, sưng to nên chân thường choãi ra, đi lại khó khăn, tỷ lệ tử vong cao (Lê Văn Năm, 2007) [16]
Trang 27Lợn con đang bú hay mới cai sữa bị bệnh có thể có triệu chứng hô hấp Lợn mắc bệnh bỏ ăn, hắt hơi, tăng tần số hô hấp và có dấu hiệu bệnh hô hấp như thở há mồm Một số có thể chết và có thể tăng nhiễm vi khuẩn đường hô hấp kế phát Lợn lớn hơn có triệu chứng lâm sàng tương tự, mặc dù có nhẹ hơn và hiện tượng tím tái thỉnh thoảng xảy ra ở tai (nên gọi là bệnh tai xanh), ở âm hộ, đuôi, bụng hay mõm lợn Triệu chứng nhẹ hay không có triệu chứng lâm sàng là phổ biến
1.1.5.1 Lợn nái mang thai
Trường hợp đẻ non thì thấy có nhiều thai đã chết, trên cơ thể chúng có nhiều đám thối rữa (thai chết lưu) Trường hợp đẻ muộn thì số thai chết lưu ít hơn so với
đẻ non song số lợn con sinh ra rất yếu, nhiều con chết trong lúc đẻ do thời gian đẻ kéo dài
Mổ khám thấy bệnh tích tập trung ở phổi, phổi bị phù nề, viêm hoại tử và tích nước, cắt miếng phổi bỏ vào bát nước thấy phổi chìm
1.1.5.2 Lợn nái nuôi con, lợn choai và lợn vỗ béo
Bệnh tích tập trung ở phổi Các ổ viêm thường gặp ở thuỳ đỉnh, song cũng thấy ở các thuỳ khác nhưng hầu như không xuất hiện đối xứng Các ổ viêm, áp xe thường có màu xám đỏ, rắn chắc Mô phổi lồi ra và có màu đỏ xám loang lổ như tuyến ức hay như đá grannito Cắt miếng phổi nhỏ bỏ vào nước thấy miếng phổi chìm, chứng tỏ phổi đã bị phù nề tích nước nặng
Tim, gan, lách của lợn mắc PRRS có bệnh tích không đặc trưng tuỳ thuộc vào sự kế phát các bệnh khác
Trang 28Những lợn bị táo bón thì ruột chứa nhiều phân cục rắn chắc, niêm mạc ruột
bị viêm nhưng ở những lợn tiêu chảy thì thành ruột mỏng trên bề mặt có phủ một lớp nhầy màu nâu
1.1.6.2 Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh
Đối với lợn con, lợn vỗ béo, lợn chuẩn bị xuất chuồng: Khi mổ khám thấy phổi rắn, chắc và có vùng xám và hồng
Trên tiêu bản vi thể cho thấy viêm phổi kẽ tăng sinh đa điểm hoặc lan tràn làm vách phế nang dầy lên, giảm số lượng tế bào lympho trong các tổ chức lympho…
1.1.6.3 Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học
Để phát hiện sự có mặt của virus PRRS người ta có thể sử dụng phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA); phương pháp miễn dịch enzym trên thảm tế bào một lớp và phản ứng trung hòa virus trên môi trường tế bào một lớp (VNT); phương pháp miễn dịch bệnh lý khi sử dụng kháng thể chuẩn để phát hiện virus có trong mẫu bệnh phẩm lợn bệnh PRRS (Buwtner A và cs., 2000 [35]; Anette Botner, 1997 [29])
Trang 29Phương pháp ELISA có thể chẩn đoán một số lượng mẫu huyết thanh lớn và kết quả nhanh Khi dùng phương pháp này có thể phát hiện dược cả chủng virus có nguồn gốc Bắc Mỹ và chủng có nguồn gốc từ châu Âu
Phản ứng trung hòa virus trên môi trường tế bào một lớp (Virus neutralization test) là chỉ thị tốt nhất để đánh giá tình trạng bệnh trong quá khứ vì kháng thể trung hòa có thể tồn tại ít nhất một năm (Anette, 1997) [29] Tuy nhiên phản ứng trung hòa virus kém nhạy hơn các phản ứng huyết thanh khác vì kháng thể trung hòa xuất hiện chậm hơn
Có một thực tế là khi đánh giá kết quả của một phản ứng huyết thanh phải cân nhắc đến trạng thái miễn dịch của đàn sau khi được tiêm phòng vắcxin vì hiện tại chưa có phản ứng huyết thanh học nào phân biệt được kháng thể do lợn mắc bệnh tự nhiên hay do tiêm phòng vac-xin (Anette Botner, 1997) [29]
độ mẫn cảm với virus PRRS cũng khác nhau Trong phòng thí nghiệm PRRS thích ứng trên các loại tế bào như: CL2621, PAM, Marc-145… trong đó tế bào thận khỉ châu Phi Marc-145 thường được sử dụng nhiều nhất (Anette Botner, 1997) [29]
1.1.7 Phòng bệnh
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòng bệnh bằng vắcxin và vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng hiện đang là hai biện pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi lợn Để chủ động phòng chống dịch, cần thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp phòng, chống dịch như: phát hiện sớm,
Trang 30bao vây xử lý kịp thời các ổ dịch; công tác tuyên truyền thực hiện sâu rộng tới các ngành, các cấp và người dân tham gia chăn nuôi; đặc biệt có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp từ Trung ương tới các địa phương Thực hiện nghiêm việc tiêm vắcxin phòng các bệnh nguy hiểm ở lợn theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (Nguyễn Ngọc Tiến, 2011) [25]
1.1.7.1 Vệ sinh phòng bệnh
Để phòng PRRS cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, nhất là trong điều kiện thực tế của Việt Nam Để các biện pháp vệ sinh phòng bệnh đạt hiệu quả, việc thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi lớn tập trung, nhập con giống phải khoẻ mạnh rõ nguồn gốc đóng vai trò quan trọng đầu tiên Bên cạnh đó, cần phải áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh an toàn thú y Thường xuyên chăm sóc tốt cho lợn để nâng cao sức đề kháng cho lợn, đối với lợn mới mua về không rõ nguồn gốc cần cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi
1.1.7.2 Phòng bệnh bằng vắcxin
Các nghiên cứu đã thấy rằng dùng vắcxin chống lại virus gây PRRS có thể tạo
ra miễn dịch phòng hộ và vắcxin có tác dụng làm giảm các triệu chứng lâm sàng của bệnh Tuy nhiên, lợn được tiêm vắcxin vẫn có thể bị nhiễm mầm bệnh và phát bệnh
Về cơ bản, hiện nay có hai loại vắcxin đã và đang được sử dụng gồm vắcxin sống nhược độc và vắcxine chết, nhưng vắcxin nhược độc tạo miễn dịch tốt hơn Ngoài ra, cần tiêm đầy đủ các loại vắcxin phòng các bệnh sau: Dịch tả lợn, Phó thương hàn lợn, Đóng dấu lợn, Tụ huyết trùng,… vì virus PRRS làm suy giảm hệ thống miễn dịch của lợn bệnh dẫn đến lợn mắc các bệnh kế phát trên nếu không được tiêm đầy đủ các loại vắcxin trên
1.1.8 Điều trị
Đây là một bệnh do virus gây ra do đó, không có thuốc điều trị cho PRRS Chỉ điều trị các bệnh bội nhiễm do vi khuẩn gây ra như: dịch tả lợn, tụ huyết trùng,
Trang 31phó thương hàn, suyễn lợn, liên cầu khuẩn, do đó hiện nay chưa có thuốc đặc trị để điều trị bệnh này Chỉ có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng cho lợn như vitamin C nồng độ cao (có thể gấp hai lần so với liều điều trị thông thường), khoáng vi lượng, sử dụng các loại kháng sinh phổ rộng để điều trị cho lợn mắc bệnh
kế phát Điều trị phải đầy đủ, đúng liều, đủ thời gian Bên cạnh đó, cần phải nâng cao an toàn sinh học, thực hiện tốt quy tắc chăn nuôi “cùng vào, cùng ra” Thực hiện việc vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, phương tiện vận chuyển ra vào trại, vệ sinh tốt đối với người ra vào chuồng trại, công nhân làm việc trong trại; xử
lý tốt phân, rác thải bằng phương pháp hoá học hoặc sinh học
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện PRRS ở Việt Nam vào năm 1997, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh miền Nam Kết quả kiểm tra thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS (dẫn theo Nguyễn Hùng Cường, 2013) [5]
Như vậy có thể thấy virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong một thời gian dài Tuy nhiên, kể từ khi xác định được lợn có kháng thể kháng virus PRRS ở đàn lợn giống nhập từ Mỹ, tại Việt nam chưa từng có vụ dịch PRRS nào xảy ra
Dấu ấn quan trọng của dịch PRRS tại Việt Nam được bắt đầu từ ngày 12/3/2007 khi hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu hiện ốm khác thường sau đó lây lan ra các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn (Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long, 2008) [22]
Theo Nguyễn Thu Hiền (2008) [11], các triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn mắc PRRS bao gồm: sốt cao, giảm ăn, khó thở, ho, chảy nước mũi, đau mắt; ở lợn nái có sảy thai, đẻ non, thai chết lưu; ở lợn đực có giảm hưng phấn, dịch hoàn sưng Bệnh tích đại thể chủ yếu của lợn mắc PRRS là phổi sung huyết, xuất huyết, thận xuất huyết, lách nhồi huyết, gan sưng có điểm hoại tử, não xung huyết
Trang 32Nguyễn Thị Hồng Nhung (2009) [18] cho biết, từ tháng 3 đến tháng 7 năm
2008, trừ Hà Tây (cũ), PRRS xảy ra tại Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình khá nghiêm trọng, với tổng số 16.339 con lợn ốm, chết và tiêu huỷ, trong đó nặng nhất
là đàn lợn của Thái Bình, tổng số lợn ốm, chết và tiêu huỷ 9.447 con.Khi sử dụng vắcxin PRRS nhập từ Trung Quốc để tiêm phòng cho 13.011 con lợn của 4 tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và Hà Tây (cũ), trong vòng 7 ngày theo dõi liên tục có 70 con lợn có phản ứng nhẹ (chiếm 0,54%) Như vậy vắcxin hoàn toàn an toàn cho lợn
Theo Đào Thị Nhàn (2010) [17], bệnh tích đại thể của lợn mắc PRRS tập trung chủ yếu ở phổi: phổi viêm, hoại tử Một số các bệnh tích khác bao gồm: Hạch lâm ba sưng to, tụ máu, thận xuất huyết điểm, viêm tử cung ở lợn nái Bệnh tích vi thể chủ yếu của lợn mắc PRRS là phổi xuất huyết, phế quản phế viêm, viêm kẽ phổi, hạch lâm ba xuất huyết, tử cung thâm nhiễm tế bào viêm Ngoài ra các bệnh tích khác thay đổi tuỳ thuộc vào tình trạng của bệnh Virus PRRS phân bố nhiều nhất ở phổi và hạch lâm ba của lợn mắc PRRS
Bùi Văn Tú (2011) [27], khi nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của hội chứng rối loạn
hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên đã cho biết:
- Tỷ lệ mắc bệnh của lợn nái là 11,47%, lợn đực là 0,21%, lợn thịt 50,01% và lợn sữa là 38,29%
- Tỷ lệ lợn mắc bệnh theo đàn ở các quy mô khác nhau giảm dần từ quy mô đàn nhỏ (58,49%) xuống quy mô đàn lớn (13,39%)
- Tỷ lệ đàn lợn mắc bệnh ở các phương thức chăn nuôi khác nhau rõ rệt Chăn nuôi theo quy mô công nghiệp tỷ lệ mắc thấp là 15,84% còn chăn nuôi theo phương thức truyền thống thì tỷ lệ mắc là 84,15%
- Tỷ lệ lợn mắc bệnh theo phương thức chăn nuôi: Chăn nuôi theo quy mô công nghiệp tỷ lệ mắc thấp là 36,26% còn chăn nuôi theo phương thức truyền thống thì tỷ lệ mắc là 63,73%
Trang 33- Đàn có mật độ chuồng nuôi đúng tiêu chuẩn, tỷ lệ mắc bệnh là thấp nhất 25,65%, đàn có mật độ nuôi cao hơn tiêu chuẩn thì tỷ lệ mắc bệnh là cao nhất 40,01%
- Mật độ chuồng nuôi khác nhau thì tỷ lệ lợn bị bệnh PRRS khác nhau Nuôi với mật độ cao hơn tiêu chuẩn thì tỷ lệ mắc cao nhất 48,55% và thấp nhất là chăn nuôi ở mật độ đúng tiêu chuẩn 5,46%
Phan Thị Lan Chi (2011) [4] cho biết, tỷ lệ mắc bệnh PRRS ở các trại nghiên cứu cao nhất ở nhóm lợn con, thấp hơn ở nhóm lợn choai và thấp nhất ở nhóm lợn nái Các triệu chứng của bệnh gồm: sốt, mệt mỏi, kém ăn hoặc bỏ ăn, một số nái chửa có hiện tượng sảy thai
Nguyễn Hùng Cường (2013) [5] cho biết, trong 4 năm từ 2010 - 2013, tỉnh Bắc Ninh năm nào cũng xuất hiện bệnh PRRS Tỷ lệ lợn mắc PRRS cao nhất vào mùa Xuân, thấp hơn ở mùa hè và mùa Thu, mùa đông lợn không nhiễm bệnh Lợn mọi lưa tuổi đều cảm nhiễm với virus PRRS, tỷ lệ mắc cao nhất là lợn thịt 49,65%, lợn con 26,35%, thấp nhất là lợn nái 24% Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn nái mắc PRRS là các rối loạn sinh sản và hô hấp; đối với lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa, lợn thịt, triệu chứng chủ yếu là rối loạn hô hấp Bệnh tích đại thể của lợn mắc PRRS tập trung chủ yếu ở phổi Phổi viêm (77,78%), phù phổi (88,88%), phổi hoại tử (61,11%) Một số các bệnh tích khác bao gồm: Hạch lâm ba phổi sưng to, tụ máu, thận xuất huyết điểm, viêm tử cung ở lợn nái
Mai Thị Thu Hằng (2013) [8], đã phân lập và giải trình tự thành công gen M của 5 chủng virus PRRS trong nghiên cứu phân lập từ 5 địa phương khác nhau Quảng Ninh, Hưng Yên, Nghệ An, Bạc Liêu, Tiền Giang ký hiệu theo thứ tự là 10-QiNi, 10-HuY, 10-NgAn, 10-BaLi, 10-TiGi Kết quả nghiên cứu là cơ sở để phân tích các biến chủng của virus PRRS cũng như sản xuất vắcxin phòng chống dịch bệnh ở Việt Nam hiện nay
Theo Lê Văn Dương (2013) [7], lợn con có tỷ lệ mắc PRRS là cao nhất ở (13,46%), thấp nhất là lợn thịt (6,04%) Tỷ lệ tử vong do PRRS ở lợn con là 24,09%
và thấp nhất là lợn nái và hậu bị 3,45% Nguy cơ đàn lợn mắc PRRS ở Vụ Đông -
Trang 34Xuân cao gấp 2,07 lần so với vụ Hè - Thu và lợn con ≤ 2 tháng tuổi nguy cơ mắc PRRS cao gấp 1,35 - 2,23 lần so với lợn nái và lợn thịt (P < 0,001)
Nguyễn Thị Thu (2013) [24] đã kiểm tra 158 mẫu huyết thanh lợn ở thực địa bằng phương pháp RT - PCR: Tỷ lệ dương tính với PRRSV là 79,11 % (n = 125 mẫu) trong đó 123 mẫu thuộc chủng NA (77,85 %) và 2 mẫu thuộc chủng EU (1,27%), tỷ lệ
âm tính chiếm 20,89 % (n = 33 mẫu)
Lợn ở mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) Tỷ lệ mắc cao nhất ở lợn con 12,48%, thấp nhất là lợn thịt 6,52%; tỷ lệ chết do PRRS ở lợn con là 24,86% và thấp nhất là lợn nái và hậu bị 4,41% Có
17,78% vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được từ lợn dương tính với virus
PRRS và xác định là nguyên nhân phổ biến làm cho lợn mắc PRRS thêm trầm trọng (Nguyễn Quốc Huy, 2013) [13]
Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Hùng Cường (2014) [26] cho biết, lợn nái mắc bệnh xuất hiện các triệu chứng lâm sàng là rối loạn bộ máy hô hấp và sinh sản; đối với lợn sau cai sữa, lợn choai, triệu chứng chính là rối loạn hô hấp
Phạm Văn Lý (2014) [15], tiến hành giải trình tự gen của virus gây bệnh PRRS ở lợn tại một số địa phương có dịch của tỉnh Thái Bình và cho biết các chủng virus phân lập được thuộc chủng virus PRRS có nguồn gốc từ Trung Quốc
Nguyễn Minh Cường (2015) [6] cho biết, tỷ lệ mang virus PRRS ở lợn và tỷ
lệ lưu hành bệnh tại một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh năm 2015 khá cao, chiếm 65,3% Điều đó chứng tỏ dịch tai xanh có thể bùng phát trở lại tại Quảng Ninh bất cứ lúc nào nếu địa phương không có sự quan tâm đúng mức
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được ghi nhận lần đầu tiên trong các báo cáo về các thiệt hại của ngành công nghiệp chăn nuôi tại Mỹ Tại các ổ dịch biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của PRRS đã được báo cáo ở Mỹ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước (1987) người ta thấy số lượng lợn chết trong điều kiện bình thường tăng lên và lợn chậm lớn Các triệu chứng lâm sàng bao gồm rối
Trang 35loạn sinh sản nghiêm trọng, viêm phổi ở lợn con sau cai sữa, chậm lớn, giảm năng suất và tỷ lệ tử vong tăng (Neumann E J và cs., 2005) [53] Khi đó đã có nhiều giả thuyết được đặt ra, người ta cũng bắt đầu kiểm tra sự bất thường ở đường sinh sản của lợn giống nhưng vào thời điểm đó vẫn chưa thể biết được mối liên hệ của nguyên nhân gây ra tình trạng nêu trên, bệnh vẫn còn là một bí ẩn Hàng năm ước tính tiêu phí ngành công nghiệp chăn nuôi lợn ở Mỹ là 560 triệu USD cho bệnh PRRS (Neumann E J và cs., 2005) [53]
Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh PRRS đã lan sang nước láng giềng Canada
và tiếp tục hoành hành trong khi đó bí ẩn về căn bệnh vẫn chưa được giải mã
Hai năm sau các ổ dịch có các triệu chứng lâm sàng tương tự đã được báo cáo
ở CHLB Đức (1990) Năm năm sau (1991) kể từ khi có báo cáo đầu tiên về bệnh, virus đã được tìm thấy tại Hà Lan Các tác giả người Hà Lan đã xác định được đặc tính của virus sau khi thực nghiệm thành công các chỉ tiêu của định đề Koch và virus được đặt tên là virus Lelystad, là tên Viện Thú y đã phát hiện ra virus (Terpstra C và cs., 1991) [62] Sau đó không lâu, virus PRRS được Mỹ đặt tên là ATCC VR - 2332 (Collin J E và cs., 1992) [38] Đứng trước những thiệt hại cũng như diễn biến phức tạp của bệnh, năm 1992, tại hội nghị quốc tế về bệnh tổ chức ở St.Paul, Minnesota, tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã chính thức đặt tên cho bệnh này là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) (Gonnie Nodelijk, 1996 [41]; Weiland E., 1999 [69])
Tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục (trừ châu Úc và New Zealand) trên Thế giới đã báo cáo phát hiện có PRRS lưu hành Con số thực tế sẽ còn khác rất nhiều Trong số các nước nêu trên có cả các nước có ngành chăn nuôi phát triển mạnh như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức…
Tại Trung Quốc, dịch bệnh PRRS đã xuất hiện trong những năm gần đây và hiện đang còn tồn tại Theo Tian K và cs ( 2007) [63], virus PRRS gây ra đại dịch lây lan ở hơn 10 tỉnh thành của Trung Quốc làm chết 2.000.000 con lợn, trong đó có hơn 400.000 sảy thai, đẻ non Tính từ đầu năm đến tháng 7/2007, dịch bệnh đã xảy
ra ở trên 25 tỉnh, với trên 180.000 lợn mắc bệnh và 45.000 con chết Qua một số
Trang 36nghiên cứu với qui mô lớn, người ta đã xác định virus gây bệnh PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ thể cường độc gây ra
Tại Thái Lan, một nghiên cứu quy mô rộng lớn từ năm 2000 – 2003 cho thấy các virus PRRS được phân lập từ nhiều địa phương gồm cả chủng châu Âu và chủng Bắc Mỹ, trong đó virus thuộc chủng Bắc Mỹ chiếm 33,58% Dịch bệnh PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và tỷ lệ lưu hành huyết thanh của bệnh cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào năm 1991 và trên 76% vào năm 2002 Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc sử dụng tinh lợn nhập nội đã bị nhiễm virus PRRS hoặc là do các đàn nhập nội mang trùng
Wenvoort G và cs (1991) [70], áp dụng định đề Koch đã khẳng định nguyên nhân của PRRS là do virus, khẳng định có hai dòng virus nguyên mẫu là dòng châu
Âu và dòng Bắc Mỹ gây ra PRRS Tác giả đã đặt tên cho virus gây ra PRRS ở châu
Âu là Lelystad
Benfield D A và cs (1992) [31] đã mô tả, đặt tên cho virus gây bệnh ở Bắc
Mỹ là VR- 2332 và đưa ra đặc tính của PRRSV như sức đề kháng của PRRSV Tác giả khẳng định PRRSV thích hợp ở pH từ 6,5 - 7,5
Saito K và cs (1996) [58] đã khẳng định virus gây PRRS có quan hệ họ hàng gần với virus viêm động mạch ngựa, virus tăng enzyme lactate dehydrogenase
ở chuột, virus gây sốt xuất huyết ở khỉ Cũng như đưa ra những đặc tính quan trọng của họ Arteriviridae, bộ Nidovirales
Indik và cs (2005) [44], đã đưa ra bằng chứng về sự có mặt của chủng PRRSV dòng Bắc Mỹ ở Áo ở mức độ phân tử Không giống như nhiều nước khác, chủng vắcxin dòng Bắc Mỹ chưa được phép nhập vào Áo, vì thế lý do duy nhất để giải thích sự có mặt của chủng virus PRRS dòng Bắc Mỹ ở Áo là do việc nhập lợn
đã được tiêm vắcxin chủng virus Bắc Mỹ Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của các phân tích chi tiết trình tự gen của các biến thể di truyền virus PRRS đang lưu hành ở từng khu vùng, khu vực
Xie J và cs (2014) [66] cho biết, năm 2006, một chủng virus độc lực cao của bệnh PRRS xuất hiện ở Trung Quốc và gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn Từ
Trang 372010 - 2013, các tác giả đã thu thập 126 mẫu mô của lợn ở miền Nam Trung Quốc để phân tích sự biến đổi gen của virus PRRS Kết quả cho thấy 32,54% số mẫu dương tính với virus PRRS, trong đó subgenotypes HP - PRRS là dòng chủ đạo
Ladinig A và cs (2014) [48], đã gây nhiễm virus PRRS cho 114 lợn nái mang thai 85 ± 1 ngày để thử nghiệm ảnh hưởng của virus đến sức sống của bào thai (19 lợn đối chứng) 21 ngày sau gây nhiễm mổ khám các lợn thí nghiệm thấy tỷ
lệ tử vong của các bào thai là 41% và trọng lượng của các bào thai giảm khoảng 17% so với đối chứng
Kittawornrat A và cs (2014) [47], đã thu thập mẫu nước bọt của 600 lợn con trước cai sữa 1 ngày tại 4 trại lợn với tổng số cá thể là 12.500 con để đánh giá tình hình nhiễm virus PRRS Kết quả cho thấy, có 9/600 mẫu dương tính với virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn, tuy nhiên, 9 mẫu này phân bố ở cả 4 đàn nghiên cứu
Từ 9/2004 - 8/2007, Rosendal T và cs (2014) [57], đã phân lập được 438 chủng virus PRRS từ 392 cơ sở chăn nuôi lợn tại Ontario; trong đó có 57 chủng được coi là có mặt trong các loại vắcxin tiêm phòng bệnh
Ở Hàn Quốc, hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn chủ yếu do 2 chủng virus thuộc type EU - 1 và type 2 (Bắc mỹ) gây ra (Yeom M và cs., 2015) [68]
Olanratmanee E O và cs (2015) [54], đã thu thập 89 mẫu bệnh phẩm từ các lợn nái chửa, đẻ không bình thường (sảy thai, đẻ non, thai chết lưu) từ 10 đàn lợn nái ở Thái Lan để kiểm tra tỷ lệ nhiễm virus PRRS bằng phương pháp PCR Kết quả cho thấy 60/89 mẫu dương tính, chiếm tỷ lệ 67,4%
Grünberger B và cs (2015) [42] cho biết: Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn gây thiệt hại lớn về kinh tế trong chăn nuôi lợn trên toàn thế giới Virus PRRS là một tác nhân gây bệnh về đường hô hấp ở lợn thường gặp nhất tại Áo
Từ 4/2012 - 8/2013, Marinou K A và cs (2015) [49], đã thu thập 359 mẫu huyết thanh từ lợn rừng tại các địa phương khác nhau thuộc Hy Lạp để xác định tỷ
lệ lưu hành một số mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong đó có hội chứng rối
Trang 38loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Kết quả cho thấy 5,6% số mẫu dương tính với virus PRRS
Từ 2008 - 2013, Jantafong T và cs (2015) [45] cho biết: hàng năm có khoảng 13,86% số lợn ở Thái Lan nhiễm virus PRRS (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn) Năm 2008, virus HP-PRRS lần đầu tiên được phát hiện ở Thái Lan
và Campuchia, 2 năm sau đó, nó trở thành nguyên nhân gây bùng phát dịch tại 2 nước này
Vilcek S và cs (2015) [65] đã phát hiện 2/129 lợn rừng nghiên cứu dương tính với virus PRRS Tuy nhiên, nguồn gốc của virus này không rõ ràng và các tác giả cho rằng rất có khả năng virus này được truyền từ lợn nuôi sang lợn rừng
Tornimbene B và cs (2015) [64] cho biết, năm 2006, Trung Quốc và Việt Nam đã báo cáo về một biến thể mới xuất hiện gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (virus HP-PRRS) Các vụ dịch hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
ở lợn thường xuyên diễn ra ở Trung Quốc và Việt Nam gây nguy cơ lây nhiễm cao đến đàn lợn của Campuchia Từ tháng 7 - 9/2010, các tác giả đã nghiên cứu tình hình bệnh PRRS ở lợn tại tỉnh Takeo - một tỉnh giáp biên giới Việt Nam và cho biết: >85% số đàn lợn được điều tra có lợn nhiễm virus PRRS
Từ 2007 - 2010, Stephenson R J và cs (2015) [60] đã thu thập 292 mẫu huyết thanh lợn rừng tại đảo Oahu và 52 lợn tại đảo Hawaii thấy 5,8% số lợn nhiễm virus PRRS
Trong vòng 3 năm, tại 140 trang trại thuộc miền Bắc - Italia, Salogni C và
cs (2016) [59] đã phát hiện 323 lợn bị xảy thai do virus, có nhiều loại virus đã được
đề cập đến trong đó có 108 lợn bị xảy thai do nhiễm virus PRRS
Theo Zhang M và cs (2016) [72], một trở ngại lớn trong việc ngăn chặn dịch PRRS ở lợn là do khả năng đột biến của PRRSV rất cao Kiểm tra 550 mẫu bệnh phẩm thu thập từ lợn tại Trung Quốc thấy 192 mẫu (108 mẫu huyết thanh và
84 mẫu mô) dương tính với PRRSV Trong số đó, có 107 mẫu chỉ nhiễm 1 chủng PRRSV và 85 mẫu nhiễm 2 chủng HP - PRRSV
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lợn các lứa tuổi nuôi tại các nông hộ thuộc tỉnh Lạng Sơn
- Bệnh PRRS ở lợn
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7/2015 đến tháng 8/2016
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Các trang trại, các hộ gia đình chăn nuôi lợn tại tỉnh Lạng Sơn
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung Ương
2.2 Vật liệu và các thiết bị dùng trong nghiên cứu
- Số liệu thu thập từ Cục Thống kê, Chi cục Thú y và kết quả điều tra trực tiếp tại các địa phương của tỉnh Lạng Sơn, kết quả xét nghiệm của Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
- Trang thiết bị, hóa chất thí nghiệm dùng trong chẩn đoán, xét nghiệm virus của Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
- Huyết thanh của lợn lấy tại 5 huyện, thành phố thuộc tỉnh Lạng Sơn trong 2 năm 2015 và 2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn của tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 6/2016
- Biến động tổng đàn lợn của Tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 6/2016
- Tỷ lệ các giống lợn nuôi tại Lạng Sơn
Trang 40- Phương thức chăn nuôi và quy mô đàn lợn nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn
2.3.2 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh PRRS ở lợn tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012
- 6/2016
- Tình hình bệnh PRRS và bản đồ dịch tễ của bệnh tại Lạng Sơn năm 2012
- Tình hình bệnh PRRS và bản đồ dịch tễ của bệnh tại Lạng Sơn năm 2013
- Tình hình bệnh PRRS và bản đồ dịch tễ của bệnh tại tỉnh Lạng Sơn năm 2015
- Tổng hợp tình hình bệnh PRRS tại Lạng Sơn từ 2012 - 6/2016
- Phạm vi xảy ra và mức độ bệnh PRRS của từng năm (2012 - 6/2016)
- Tình hình bệnh PRRS theo mùa vụ trong các năm xảy ra bệnh tại Lạng Sơn
- Sự lưu hành virus PRRS và nguy cơ mắc bệnh ở lợn tại một số địa phương
thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2015
+ Tỷ lệ mang virus PRRS ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2015
+ Tỷ lệ mang virus PRRS theo loại lợn
+ Nguy cơ mắc bệnh PRRS ở một số loại lợn
- Sự lưu hành virus PRRS và nguy cơ mắc bệnh ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn năm 2016