Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hoa Cát Tường tại thành phố Thái Nguyên .... Ảnh hưởng của phân bón lá và chấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG VĂN CƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐỐI VỚI HOA CÁT TƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG VĂN CƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐỐI VỚI HOA CÁT TƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng đào tạo và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2016
Học viên
Lương Văn Cương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của
cô giáo hướng dẫn, cơ quan chủ quản Tôi xin chân thành cảm ơn:
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt tôi
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đặng Thị Tố Nga và TS Đặng Văn Đông,
những người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Cảm ơn các thầy cô của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, phòng
Đào tạo, khoa Nông học, những người đã truyền thụ cho tôi những kiến
thức và phương pháp nghiên cứu quý báu trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp, các bạn sinh viên…Những người luôn quan tâm, chia sẻ và tạo
mọi điều kiện giúp đỡ trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Học viên
Lương Văn Cương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể 3
1.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu về phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng 3
1.2 Giới thiệu chung về cây Cát Tường 4
1.2.1 Nguồn gốc và phân loại của cây hoa Cát Tường 4
1.2.2 Đặc điểm thực vật học 6
1.2.3 Yêu cầu ngoại cảnh 7
1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây hoa Cát Tường 9
1.2.5 Giá trị kinh tế và sử dụng 9
1.3 Tình hình sản xuất hoa Cát Tường trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình sản xuất hoa Cát Tường trên thế giới 10
1.3.2 Tình hình sản xuất hoa Cát Tường ở Việt Nam 12
1.4 Tình hình nghiên cứu hoa Cát Tường trên thế giới và Việt Nam 13
1.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa Cát Tường trên thế giới 13
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cát Tường ở Việt Nam 21
Trang 6Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Nội dung 27
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 28
2.3.1 Chỉ tiêu theo dõi 28
2.4 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng 31
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng phát triển của giống hoa Cát Tường vụ Đông Xuân 2015 - 2016 tại Thái Nguyên 32
3.1.1 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của hoa Cát Tường 32
3.1.2 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây Cát Tường trồng tại thành phố Thái Nguyên 33
3.1.3 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái ra lá của hoa Cát Tường trồng tại thành phố Thái Nguyên 35
3.1.4 Ảnh hưởng của giá thể đến đặc điểm sinh trưởng, phát triển của hoa Cát Tường trồng tại thành phố Thái nguyên 37
3.1.5 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến năng suất, chất lượng hoa Cát Tường 38
3.1.6 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến tình hình sâu hại hoa Cát Tường vụ Đông Xuân trồng tại thành phố Thái Nguyên 42
3.1.7 Sơ bộ hoạch toán thu chi 42
Trang 73.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hoa Cát Tường tại thành phố
Thái Nguyên 44
3.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến tỷ lệ sống giống hoa Cát Tường 44
3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao hoa Cát Tường trồng tại thành phố Thái Nguyên 45
3.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến động thái ra lá của hoa Cát Tường trồng tại thành phố Thái Nguyên 46
3.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của hoa Cát Tường 47
3.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến đặc điểm sinh trưởng, phát triển cây hoa Cát Tường 49
3.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất, chất lượng của hoa Cát Tường 50
3.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến tình hình sâu bệnh hại của hoa Cát Tường 54
3.2.8 Sơ bộ hoạch toán thu chi 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Đề nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Số lượng cành và tổng thu nhập từ bán buôn các loại hoa cắt
ở Mỹ 2006-2007 11
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của giá thể trồng đến các giai đoạn sinh trưởng
phát triển của hoa Cát Tường 32 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao
cây Cát Tường trồng tại thành phố Thái Nguyên 34 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của giá thể đến động thái ra lá của hoa Cát
Tường trồng tại thành phố Thái Nguyên 36 Bảng 3.4: Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của Cát Tường ở các giá
thể trồng khác nhau 37 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến năng suất hoa Cát Tường 39 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến chất lượng hoa Cát Tường 40 Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế của các công thức giá thể trồng Cát Tường 43 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến đến tỷ lệ sống của giống hoa Cát Tường 44
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến động thái tăng trưởng chiều cao hoa Cát Tường trồng tại
thành phố Thái Nguyên 45 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến động thái ra lá của hoa Cát Tường trồng tại thành phố
Thái Nguyên 46 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến giai đoạn sinh trưởng phát triển của hoa Cát Tường 48
Bảng 3.12: Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây Cát Tường ở các
công thức sử dụng phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng khác nhau 49 Bảng 3.13: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến năng suất hoa Cát Tường 51
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến chất lượng hoa Cát Tường 52
Bảng 3.15: Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 54
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ hoạch toán kinh kế của 4 công thức thí nghiệm 43 Hình 3.2: Biểu đồ hạch toán kinh kế của các công thức thí nghiệm 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoa Cát Tường có tên khoa học Eustoma grandiflorum (RAF) Shinn
Có nguồn gốc từ Nam Mỹ, Mexico, Caribbean, với nhiều chủng loại và màu sắc đa dạng như: xanh, kem, tím, vàng, hồng, hồng phai, tím đậm, trắng viền tím…
Ở Việt Nam, hoa Cát Tường được coi là giống hoa mới lạ, hấp dẫn,
màu sắc phong phú Với quan niệm Cát Tường là loài hoa mang lại nhiều may mắn, thịnh vượng nên nhu cầu sử dụng hoa Cát Tường của thị trường ngày một lớn và là chủng loại hoa xuất khẩu có giá trị
Nhu cầu chơi hoa Cát Tường ngày càng tăng nhưng diện tích trồng vẫn còn hạn chế, bên cạnh đó các giống hoa còn ít đa dạng về màu sắc và kiểu dáng Hoa Cát Tường được trồng chủ yếu ở Lâm Đồng bởi một số công ty nổi tiếng trong đó có Lang Biang Farm, Hasfarm, Floralseed Vietnam để xuất khẩu sang Nhật Bản và cung cấp cho thị trường thành phố Hồ Chí Minh, một
số ít cung cấp cho thị trường phía Bắc
Mặc dù hoa Cát Tường đã được trồng một số nơi ở phía Bắc tuy nhiên chỉ với số lượng ít, nhỏ lẻ không tập trung Trong khi kỹ thuật trồng, chăm sóc chỉ mang tính tự phát dựa vào kinh nghiệm của bản thân là chính, thiếu
đầu tư thâm canh, chưa lựa chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương, thiếu hiểu biết khoa học kỹ thuật, nên chưa đáp ứng được yêu
cầu kỹ thuật trồng, chăm sóc của hoa Cát Tường Vì vậy đã làm ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng hoa thương phẩm
Vì vậy để lựa chọn được những giống hoa Cát Tường sinh trưởng, phát triển tốt và biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng hoa Cát Tường
tại Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp
kỹ thuật đối với hoa Cát Tường tại Thành phố Thái Nguyên”
Trang 122 Mục đích, yêu cầu đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của giống hoa Cát Tường
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu hoa nói chung và hoa Cát Tường nói riêng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình trồng, chăm sóc cho giống hoa Cát Tường
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể
Như ta đã biết, cây cần oxi và dinh dưỡng tiếp xúc với rễ cây Do đó, giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,…Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc Giá thể được để trong những khay chậu Khay chậu
có thể là nhựa, gỗ, đất nung, sành sứ,…tùy vào điều kiện mà người trồng có thể chọn lựa và sử dụng theo sở thích của mình
1.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu về phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng
Phân bón là những chất hay hợp chất có chứa một hay nhiều chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu với cây trồng, nó có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng
Đặc biệt phân bón lá chiếm vị trí thiết yếu trong nền nông nghiệp sạch
nhất là rau, hoa, quả Cách thích hợp nhất hiện nay là dùng phân bón qua lá (phân lỏng) Phân bón khô khó sử dụng đồng đều, nếu nó hoà tan có thể gây hại cho rễ non Phân bón lỏng dễ sử dụng và phân được phân tán trong chậu, mau thấm xuống rễ và lá Phân bón bọc nhựa, giải phóng chậm, cũng có thể dùng được cho cây hoa, cây cảnh
Trang 14Hiện nay trên thị trường Việt Nam có khoảng 40 loại phân bón lá khác nhau, trong đó có rất nhiều loại phân bón lá vô cơ dùng cho lan, phần lớn là các sản phẩm nhập ngoại, hoặc được sản xuất theo quy trình của nước ngoài
Do chủng loại phân phong phú và đa dạng nên việc tính toán bón phân cho cây hoa phải tuỳ thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây mà bón cho
phù hợp, đem lại hiệu quả kinh tế nhất
1.2 Giới thiệu chung về cây Cát Tường
1.2.1 Nguồn gốc và phân loại của cây hoa Cát Tường
Hoa Cát Tường có nguồn gốc ở khu vực có khí hậu ấm áp vùng Nam
Mỹ, Mexico, Caribbean [33]
Hoa Cát Tường có tên khoa học: Eustoma grandiflorum (Raf) Shinn
Trong hệ thống phân loại thực vật, hoa Cát Tường được xếp vào: Lớp
Magnoliopsida, Bộ Gentianales, Họ Gentianaceae Chi Eustoma Tên thương
mại là Lisianthus [33]
Dựa vào cấu tạo của hoa và đặc điểm phản ứng của cây đối với ánh sáng, nhiệt độ, hoa Cát Tường được chia làm hai loại: Giống hoa kép và giống hoa đơn với các nhóm giống khác nhau [31]
+ Giống hoa kép:
Trang 15- Nhóm Avilia: nhóm này thích hợp ở điều kiện ánh sáng yếu và nhiệt
độ mát Do vậy nhóm giống này thường trồng vào vụ đông Các màu thường
có là trắng ngà, viền xanh, hồng cánh sen, đỏ tía
- Nhóm Balboa: nhóm này thích hợp nhiệt độ và cường độ ánh sáng cao
hơn Thích hợp trồng vụ xuân đến hè Phát triển tốt ở điều kiện quang chu kỳ ngày dài Các màu thường là xanh, viền xanh, xanh tía
- Nhóm Catalina: thích hợp với điều kiện ngày dài và thời tiết ấm áp
Các màu thường là xanh tía và màu vàng
- Nhóm Candy: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu
kỳ ngày ngắn Nhóm này cho hoa nở đồng loạt và có nhiều màu để chọn lựa
- Nhóm Echo: nhóm này là nhóm phổ biến trong giống hoa Cát Tường
Không thích hợp với cường độ ánh sáng quá cao hay thấp, thích hợp cho vụ
đông xuân Các màu phổ biến trong giống này là xanh bóng, xanh tía, hồng,
hồng tía, trắng tuyền
- Nhóm Mariachi: nhóm này thích hợp trồng trong chậu Đặc điểm giống
này là có số cánh hoa nhiều, cánh hoa mỏng hơn các giống khác nên nhìn rất
đẹp Các màu phổ biến trong giống này là trắng, hồng, hồng nhạt, xanh…
+ Giống hoa đơn:
Trang 16- Nhóm Flamenco: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và
quang chu kỳ ngày dài Thân hoa dài và mạnh Các màu là xanh bóng, hồng, vàng, trắng
- Nhóm Heidi: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang
chu kỳ ngày ngắn Có nhiều màu để chọn lựa
- Nhóm Laguna: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và
quang chu kỳ ngày dài Thân hoa dài khoảng 48 cm, một cây trung bình có ba thân và 25 nụ hoa Có hai màu là xanh đậm và xanh tía
- Nhóm Malibu: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và trong mùa
xuân và mùa thu Có nhiều màu là hoa cà, xanh đậm, trắng, hồng, trắng viền xanh
- Nhóm Yodel: thân hoa dài khoảng 45 - 50cm Có nhiều màu là xanh
Rễ cây Cát Tường rất nhạy cảm với tác động bên ngoài Ở giai đoạn cây có 4- 6 lá thật thì rễ có khả năng tái sinh mạnh, nhưng kể từ lá thứ 8 trở đi thì khả năng tái sinh của rễ giảm dần Do vậy từ giai đoạn cây có lá thứ 8 cho
đến khi cây ra hoa không nên tác động đến bộ rễ làm ảnh hưởng tới quá trình
sinh trưởng của cây
- Thân: thân thảo, chia thành nhiều đốt, có khả năng phân nhánh mạnh, giòn, dễ gãy Cây càng lớn, thân càng cứng, bên ngoài thân được phủ một lớp sáp trắng mỏng Các đốt sát gốc thường to và ngắn hơn các đốt trên ngọn, độ dài các đốt thay đổi theo từng giống Thân chính có khả năng phân nhánh mạnh sau khi cây hình thành nụ hay ưu thế ngọn bị phá vỡ do bị gãy ngọn hay
bị sâu cắn ngọn Cây có thể cao từ 15 đến 120cm, tùy giống
Trang 17- Lá: lá cây Cát Tường hơi mọng nước, mọc đối, hầu như không có cuống và có màu xanh xám Lá dưới cùng ở trên thân là lá to nhất, thường dài khoảng 12,7cm và rộng 7,6cm Càng ở phía trên cao của thân thì lá càng nhỏ hơn, thường dài dưới 5cm và rộng khoảng 1,3cm
Đặc điểm của lá thay đổi rất lớn giữa các giống khác nhau Hình dạng
lá cơ bản thường là hình trứng hoặc hình thuôn, nhưng một vài giống qua quá trình chọn lọc lại có dạng mác hoặc dạng hình mác ngược
Màu sắc của lá cũng thay đổi rất lớn từ màu xanh xám (như lá màu hoa cẩm chướng) tới màu xanh sáng, màu xanh tối, và xanh lục
- Hoa: hoa Cát Tường đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thước Hoa
có màu tím, xanh, trắng, hồng, vàng… và đặc biệt có 2 màu Hoa có nhiều dạng khác nhau như hình chuông, hình ống, hay cánh bên ngoài phẳng, cánh bên trong hình ống Hoa Cát Tường thường được mô tả giống hoa hồng ở giai đoạn nụ, giống hoa tuylip khi bắt đầu nở và như hoa anh túc khi chúng đã
nở hoàn toàn Hoa có 2 dạng hoa đơn và hoa kép
- Quả: cây Cát Tường có khả năng đậu quả cao, dạng quả nang tự nở Khi quả còn non có màu xanh đậm, khi chín vỏ quả chuyển sang màu xanh xám và vỏ quả nứt ra Thuộc dạng quả nẻ, hình tròn, mỗi quả có vài trăm hạt
- Hạt: hạt có kích thước rất nhỏ, khoảng 19.000 hạt/gam với nội nhũ dầu nhiều, phôi mầm lớn Khi còn non, hạt có màu kem, khi chín hạt có màu
đen nhánh Đôi khi phôi mầm lớn và nội nhũ nhiều dầu, nên trong điều kiện
bảo quản kém, hạt có thể mất sức nảy mầm
1.2.3 Yêu cầu ngoại cảnh
- Nhiệt độ: nhiệt độ tối thích cho hoa Cát Tường sinh trưởng và phát triển là từ 18- 20oC ban ngày và 15- 18oC ban đêm Nhiệt độ vào ban đêm thấp hơn 15oC sẽ làm trì trệ quá trình sinh trưởng của cây Vào ban ngày, khi nhiệt độ cao hơn 28oC sẽ làm cho hoa nở sớm, rút ngắn quá trình sinh trưởng của hoa và cho hoa kém chất lượng
Trang 18- Ánh sáng: cường độ ánh sáng thích hợp cho cây hoa Cát Tường là từ 70.000 - 80.000 lux Do vậy vào mùa xuân hay mùa hè có cường độ ánh sáng cao thường phải che lưới đen cho hoa Hoa Cát Tường thích hợp với thời vụ dài ngày, có số giờ chiếu sáng trong ngày tối ưu là 14-16 giờ trong ngày thì sẽ cho chất lượng hoa cao nhất
- Ẩm độ: độ ẩm đầy đủ là cần thiết cho sự sinh trưởng của hoa Cát Tường, tuy nhiên nếu duy trì độ ẩm quá cao và thường xuyên sẽ làm cây bị
nhiễm một số bệnh nguy hiểm có trong đất như bệnh lỡ cổ rễ (Rhizoctonia solani), bệnh đốm lá, bệnh héo vàng (Fusarium solani), bệnh thối đen rễ (Pythium spp.)… Sau khi gieo hạt từ 1 đến 14 ngày, duy trì độ ẩm đất ở mức
100%, sau đó giảm xuống từ 40-70%
- Đất: cây Cát Tường sinh trưởng phát triển tốt trên đất có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều mùn, dễ thoát nước, đặc biệt là thích hợp với các loại đất
có chứa nhiều canxi Nhưng hoa Cát tường rất mẫn cảm với các loại muối kim loại nặng, đặc biệt trên đất có hàm lượng chì cao, rễ cây hoa Cát Tường phát triển kém, ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây Trong quá trình trồng và chăm sóc thường bón nhiều phân chứa muối, nhất là trồng trong nhà có mái che, không
bị nước mưa rửa trôi, nhiệt độ lại cao, lượng nước bốc hơi lớn nên rất dễ dẫn
đến nồng độ muối trong đất cao, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của
cây Vì vậy trước khi trồng hoa Cát Tường cần phải đo nồng độ muối trong đất (nhất là trong nhà mái che), nếu nồng độ muối cao thì phải bơm nước rửa đất Tốt nhất là trồng trên đất giàu mùn, pH: 6,8-7; EC: 0,5- 0,75mS/cm
- Dinh dưỡng: Cát Tường yêu cầu dinh dưỡng cao ở giai đoạn vườn
ươm và các giai đoạn sau đó Các nguyên tố nitơ, phot pho, kali và các
nguyên tố vi lượng có ý nghĩa quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa Cát Tường Bón đầy đủ và cân đối phân đạm, lân, kali
có thể đạt năng suất cao, chất lượng hoa tốt Tỷ lệ N:K là 1: 1,5 cho chất lượng hoa cao và thời gian thu hoạch dài Nên bổ sung bón canxi cho cây Cát Tường trên chân đất nghèo canxi [34]
Trang 191.2.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây hoa Cát Tường
So với các loại cây trồng khác thì cây hoa Cát Tường được xem là khó trồng hơn, bởi hoa Cát Tường có thời kỳ cây con kéo dài (10-12 tuần) nên dễ
bị sâu bệnh hại trong thời kỳ vườn ươm Cây hoa Cát Tường được biết đến là cây hàng năm hoặc cây 2 năm tùy thuộc chủ yếu vào nhiệt độ trồng Thời gian
từ khi gieo hạt tới khi cho hoa kéo dài từ 20 - 23 tuần Quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây hoa Cát Tường gồm 5 giai đoạn [35]:
- Giai đoạn 1 (1- 14 ngày): Hạt giống được ngâm ủ trong 48 tiếng rồi
gieo vào các khay có độ ẩm thích hợp Trong suốt quá trình nảy mầm của hạt cần tưới nước để duy trì độ ẩm, nhiệt độ 210 C, ánh sáng 1.000 - 3.000 lux
- Giai đoạn 2 (15- 21 ngày): Khi cây con xuất hiện, cần hạ nhiệt độ
xuống 15 - 200C và cung cấp dinh dưỡng cho cây, khoảng 100 - 150 ppm N thông qua bón phân Canxi nitrat Chú ý không để nhiệt độ ban đêm quá 220C
sẽ kìm hãm sự phát triển của cây
- Giai đoạn 3 (22- 56 ngày): Giai đoạn này cây con tăng trưởng chậm
Nếu nhiệt độ, ẩm độ quá cao vào ban đêm và cường độ ánh sáng yếu thì ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cây hoa và phát sinh một số bệnh hại Bón thêm canxi và 150ppm N sẽ giúp cây con trở nên cứng cáp và phát triển khỏe
- Giai đoạn 4 (57- 80 ngày): Khi cây con có 2 cặp lá (4 lá thật) thì
chuyển ra ngoài ruộng sản xuất Nếu để cây giống trong khay quá lâu thì rễ cây sẽ bị xoắn, việc chuyển ra ruộng sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn, cây ra hoa sớm khi thân cây còn ngắn, năng suất và chất lượng hoa đều giảm
- Giai đoạn 5 (81- 150 ngày): Đây là giai đoạn sản xuất hoa cắt, giai
đoạn này cần tạo điều kiện thích hợp để cây sinh trưởng phát triển tốt nhất thì
cây mới cho năng suất và chất lượng hoa cao
1.2.5 Giá trị kinh tế và sử dụng
Không chỉ hấp dẫn người tiêu dùng bởi màu sắc rực rỡ, phong phú, hình dáng hoa đa dạng, hoa Cát Tường còn có thân cứng, độ bền hoa lâu, hoa có thể trồng ở trong và ngoài nhà lưới nên hoa Cát Tường được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau như dùng để cắm lọ, trồng chậu, trồng bồn,
bó làm hoa cưới
Trang 20Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu giải trí thưởng thức… hoa Cát Tường còn mang lại nguồn lợi kinh tế khá cao Thực tế ở Đà Lạt, hộ gia đình ông Lạc trồng gần 800m2 hoa Cát Tường, trừ chi phí còn thu về hơn 300 triệu
đồng; Ông Trần Huy Đường là chủ trang trại 7 ha hoa với 40 nhân công, hàng
năm sản xuất cho thị trường hơn 5 triệu cành hoa các loại với doanh thu hơn
15 tỷ đồng/năm, trong đó diện tích trồng hoa Cát Tường chỉ chiếm một nửa diện tích trồng hoa tại trang trại, nhưng thu nhập từ hoa Cát Tường đạt 2/3 doanh thu hoa hàng năm của trang trại, mỗi bó hoa Cát Tường (5 cành hoa) giá từ 10 - 12 ngàn đồng, vào dịp lễ tết lên tới 25 - 30 ngàn đồng [30]
1.3 Tình hình sản xuất hoa Cát Tường trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất hoa Cát Tường trên thế giới
Hoa Cát Tường là một loại hoa mới nhưng nhanh chóng được xếp vào những loại hoa cắt hàng đầu cùng với các loại hoa đã được thị trường ưa chuộng như hoa hồng, hoa cúc, hoa cẩm chướng vì hoa Cát Tường đẹp, đa dạng về màu sắc và hình dáng, tuổi thọ hoa cắt cao Bên cạnh đó hoa Cát Tường còn được sử dụng rộng rãi như cây trồng chậu hay trồng thảm Vì vậy hoa Cát Tường đã tạo ra những tác động rất lớn tới thị trường hoa cắt
Hoa Cát Tường bắt đầu được sử dụng ở Nhật Bản từ năm 1933 và đến nay nó trở thành một loại hoa cắt số một với trên 129 triệu cành được bán năm 2001
Ở Châu Âu, hoa Cát Tường được xếp vào 1 trong 10 loại hoa cắt quan
trọng với trên 122 triệu cành được bán vào năm 2001
Ở Mỹ, hoa Cát Tường ngày càng phổ biến không chỉ như một loại hoa
cắt (trên 14 triệu cành được bán vào năm 2002) mà còn là một loại hoa trồng thảm và trồng chậu rất được ưa chuộng Riêng ở California năm 2001 doanh thu từ hoa Cát Tường là 9,4 triệu USD, tăng gần 50% so với năm so năm
2000 Rất hiếm để có thể có một loại cây trồng mới nào từ một loại hoa hầu như không được biết đến trở thành một trong những loại hoa cắt hàng đầu trong một khoảng thời gian từ 20 - 30 năm như hoa Cát Tường (Neil O Anderson, 2007) [25]
Trang 21Bảng 2.1: Số lượng cành và tổng thu nhập từ bán buôn
Trang 221.3.2 Tình hình sản xuất hoa Cát Tường ở Việt Nam
Từ năm 1998, hoa Cát Tường được du nhập vào Đà Lạt để trồng và sản xuất hoa thương phẩm nhưng phần lớn nông dân tự mày mò cách canh tác nên chất lượng hoa không cao, diện tích gieo trồng chưa nhiều (chỉ khoảng 10ha)
Đến năm 2005, diện tích gieo trồng hoa Cát Tường đã tăng trên 20ha, gồm
các giống như Saphire pink, Alivia purple, Balboa white, Saphire blue, Saphire white… [31]
Theo số liệu của UBND thành phố Đà Lạt, diện tích trồng hoa của thành phố năm 2010 là trên 3.500ha, trong đó diện tích trồng hoa Cát Tường
là khoảng 100ha chiếm 2,86% Nghề trồng hoa nói chung và hoa Cát Tường nói riêng tại đây đã mang lại những thành công đáng kể cho các hộ, tuy nhiên qua khảo sát thực tế vào tháng 2 năm 2011 thì nghề trồng hoa Cát Tường
đang đối mặt với các vấn đề sau:
- Đất bị nhiễm bệnh gây cho cây bị một số bệnh như bệnh vàng héo lá gây chết hàng loạt
- Cây hoa bị bệnh nấm mốc và bọ trĩ tấn công nhưng chưa được xử lý một cách có hiệu quả
- Quy mô sản xuất của các hộ còn nhỏ, đơn lẻ chưa được quy hoạch và thiếu sự liên kết
- Chi phí đầu tư ban đầu rất cao vì vậy các nông hộ gặp khó khăn về nguồn vốn để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất [32]
Hiện nay, hoa Cát Tường chủ yếu được sản xuất ở Đà Lạt bởi một số công ty nổi tiếng trong đó có Lang Biang Farm, Hasfarm, floralseed Vietnam…
và là một trong những loại hoa được xuất khẩu nhiều ra thị trường quốc tế Việt Nam đã xuất khẩu hoa Cát Tường sang thị trường Nhật Bản với kim ngạch đạt hơn 7,8 nghìn USD/tháng trong ba tháng cuối năm 2010 [37]
Trang 231.4 Tình hình nghiên cứu hoa Cát Tường trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa Cát Tường trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu về chọn lọc, nhân giống hoa Cát Tường
Trước đây, cánh hoa Cát Tường chỉ có dạng trơn Với chương trình lai tạo giống, Trường Đại học Florida đã tạo ra giống hoa Cát Tường có dạng cánh xù như hoa cẩm chướng (Brent K Harbaugh, 2007) [15]
Năm 1985, chương trình chọn lọc và nhân giống hoa Cát Tường được thực hiện với mục đích phát triển giống hoa Cát Tường chịu nhiệt và giống lùn
có thể trồng quanh năm ở Florida (Mỹ) Bởi tại thời điểm đó, các giống hoa Cát Tường có sẵn chỉ cho hoa vào khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 Đến năm
1995, hai giống hoa chịu nhiệt là Maurin Blue dùng trồng chậu và Florida Blue dùng trồng thảm được tạo ra (Brent K Harbaugh and John Scott, 1998) [16]
Cây con giống Cát Tường thương mại thường hình thành khóm (như hoa đồng tiền) khi được trồng ở 25 - 28oC Cây dạng khóm có lá tập trung ở gốc, đốt rất ngắn điển hình của cây 2 năm, trong vòng từ 3 đến 6 tháng nếu không được đưa vào điều kiện nhiệt độ không quá 15 - 18oC trong 3 đến 4 tuần thì cây sẽ không ra hoa Cây có dạng nửa khóm, tức là vẫn cho thân chính, sẽ phát triển khi cây con được trồng ở điều kiện nhiệt độ ổn định 22 -
25oC hoặc có đêm dưới 25oC và ngày trên 28oC Mặc dù cây dạng nửa khóm (rosette) có 1 hoặc nhiều hơn chồi bên có thể kéo dài rồi ra hoa, chúng sẽ ra hoa không đều và chất lượng kém nếu dùng làm hoa cắt cành hoặc trồng chậu
Do vậy, sản xuất Cát Tường thương phẩm bán dịp cuối xuân hoặc mùa hè bị hạn chế ở một số vùng có nhiệt độ cao Sản xuất vào mùa thu, để cung cấp cây cho hoa vào đầu xuân, cũng khó khăn do hình thành dạng khóm gây ra bởi sự tương tác giữa nhiệt độ cao và ngày ngắn “Maurine Blue” và “Florida Blue” được đưa ra năm 1995 là những cây giống Cát Tường chịu nhiệt phát triển tại trường ĐH của Trung tâm giáo dục và Nghiên cứu bờ biển Gulf của bang Florida Đây là những cây giống chịu nhiệt đầu tiên mà hạt giống của chúng được trồng ở 28oC đến 31oC có thân phát triển bình thường
Trang 24Để chọn tạo ra các giống chịu nhiệt thì điều kiện trồng để chọn lọc cây
giống chịu nhiệt trong suốt quá trình phát triển của cây bao gồm:
- Chăm sóc cây trong suốt những tháng mùa hè trong điều kiện nhà lưới
ở nhiệt độ trên 35o
C;
- Cây con 3 - 4 tuần tuổi được trồng ở 28oC trong 4 tuần để lựa chọn thế hệ đầu;
- Cây con 17 ngày tuổi được trồng ở 31oC trong 5 tuần để lựa chọn bố
mẹ cuối cùng cho con lai F1 Kết quả đã chọn được ra các giống ‘Maurine Pink’, ‘Maurine Pink-Lilac’, ‘Maurine White’, ‘Maurine White-on-Blue’, và
‘Maurine Lilac’ là những giống lai F1 có đặc điểm thực vật học và nở hoa giống với “Maurine Blue” (Brent K Harbaugh and John W Scott, 1998) [16]
DA Kee Dong, Zhang Song và cs (2008) [18] đã tiến hành nhân giống
in vitro cây hoa Cát Tường từ lá và nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng trong quá trình tái sinh chồi, khả năng sinh trưởng của cây và khả năng ra rễ Kết quả nghiên cứu cho thấy: môi trường cơ bản MS bổ sung thêm BA 1mg/l có tác dụng cho việc tăng khả năng sinh chồi từ lá; MS + BA 0,1mg/l + NAA 0,05mg/l làm tăng khả năng sinh trưởng của cây; MS + IAA 0,1mg/l là thích hợp cho sự sinh trưởng của rễ Với cây trồng trong nhà kính, giá thể thích hợp cho trồng cây là ½ đất, than bùn + ½ chất khoáng nền sẽ cho cây sinh trưởng tốt nhất
Peak, Kee Yoeup và cs (2000) [26] đã nghiên cứu ảnh hưởng của xytokinin, auxin và than hoạt tính đến khả năng sinh trưởng và đặc tính của chồi ngọn hoa Cát Tường Khi sử dụng BA và kinetin ở nồng độ cao (13,32 -
22,2 và 13,94 - 23,23 µM) cho hình thành chồi tốt nhưng tỷ lệ hyperhydric
trong chồi cao Tăng nồng độ IAA và IBA sẽ thuận lợi cho quá trình hình thành rễ, trong khi tăng nồng độ axit naphthaleneacetic thì lại ảnh hưởng bất lợi đến quá trình hình thành rễ Cả rễ và chồi đều sinh trưởng tốt trong điều kiện cân bằng than hoạt tính Tỷ lệ tái sinh và chồi có số lá lớn nhất là sau 4 tuần kể từ khi đưa cây ra khỏi môi trường MS có bổ sung 4,44 mM BA + 1,47 - 4,92 mM IAA
Trang 251.4.1.2 Nghiên cứu về bảo vệ thực vật
Tesera E Sejio và cs (2002) [28] cho biết: tháng 9 năm 2000, một loại bệnh mới được tìm thấy lần đầu tiên trên cây hoa Cát Tường trồng trong nhà lưới ở Manatee County, Florida, USA Bệnh gây hại ở thời kỳ cây con có khoảng 6 lá thật Vết bệnh bắt đầu xuất hiện trên gân chính của lá, sau đó lan dần đến gốc làm lở cổ rễ, thối thân và gây chết Hai đến ba tháng sau đó một ổ dịch lớn có triệu chứng tương tự xuất hiện trên các vườn trồng hoa Cát Tường Kiểm tra hình thái và khả năng gây bệnh đã xác định được bệnh do vi khuẩn
Burkholderia gladioli gây nên
Hoa Cát Tường bị ảnh hưởng của rất nhiều nguồn bệnh khác nhau Nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu và đưa ra biện pháp khắc phục có hiệu quả Trong đó, các bệnh phổ biến thường gặp trên cây hoa Cát Tường là bệnh mốc xám, đốm lá, thối thân và rễ do nấm (Neil O Anderson, 2007) [25]
Thối thân và ngọn do Fusarium là một trong những bệnh tàn phá mạnh nhất trên hoa Cát Tường Theo các kết quả nghiên cứu thì loại bệnh này xuất hiện trên cả cây trồng chậu và hoa cắt cành nhưng đặc biệt tàn phá sản xuất hoa cắt Ví dụ, năm 1997, một cuộc điều tra về triệu chứng bệnh thối thân và ngọn ở 3 điểm trồng hoa cắt ở Florida, 4 điểm ở California đã cho kết quả tỷ
lệ chết của cây cao tới 70% Tác nhân gây ra bệnh này, Fusarium avenaceum,
trước tiên tấn công ngọn và thân cây hoa Cát Tường, nhưng cũng có thể làm thối rễ trụ và các rễ nhánh lớn gần mặt đất Triệu chứng đầu tiên trên mặt đất
là việc mất dần dần màu xanh của lá, tiếp sau đó là các vết đốm nâu vàng trên
lá, chuyển nâu của gân lá, và mất màu chuyển sang nâu vàng của toàn bộ lá Thân héo, thối và có màu nâu xuất hiện như một kết quả tất yếu của bệnh, và các cây bị nhiễm sẽ chết rất nhanh Những khối bào tử màu cam hình thành trên gốc của thân bị thối và được chẩn đoán là yêu cầu rất quan trọng
Trang 26Brent Harbaugh và R.J McGovern (2000) [17] đã nghiên cứu đánh giá
46 giống Cát Tường để xác định xem tính kháng có tồn tại hay không và từ đó
có thể ứng dụng vào chiến lược phòng trừ hiện tại hay có thể là bước khởi đầu cho nhân giống các cây trồng kháng bệnh Thí nghiệm được tiến hành trên 16 giống màu xanh, 15 giống màu hồng và 15 giống màu trắng Hạt giống được gieo ở 72-75oF (22-24oC) và chiếu sáng bổ sung 30µmol/m2s trong 12h Môi trường gieo hạt gồm 3 phần than bùn: 2 phần khoáng: 1 phần đá trân châu sao cho pH dao động trong khoảng 6,7 ± 0,2 Khay hạt được di chuyển ra nhà lưới sau 2 tuần gieo Duy trì nhiệt độ ở 15,5-35oC và cung cấp cho cây con 2 tuần
1 lần với lượng phân là 15N- 7P- 14K hòa tan trong nước Trước khi lây
nhiễm với F avenaceum, duy trì nhiệt độ ở 18,9 ±1ºC và chiếu sáng bổ sung
180µmol/m2s trong 16h, cung cấp nước và phân qua hệ thống ngầm F avenaceum được lây nhiễm cho cây qua môi trường đất xung quanh cây Kết
quả thí nghiệm cho thấy:
+ Cây giống màu xanh da trời: Tỷ lệ cây bị bệnh (tức là phần trăm cây
có triệu chứng điển hình do nhiễm F avenaceum) dao động từ 10-55% sau
25 ngày lây nhiễm Đến ngày 40, phần trăm cây bị bệnh dao động từ 18-100%
và ở ngày thứ 55 tỷ lệ cây nhiễm bệnh dao động từ 25% (Ventura Deep Blue)” tới 100% với “Mermaid Blue”
+ Cây giống màu hồng: 25 ngày sau khi lây nhiễm, tỷ lệ cây bị bệnh
thấp nhất là 3% và cao nhất là 58% Đến ngày 40, các cây giống có phần trăm bệnh dao động từ 8% đến 90% Phần trăm cây bị bệnh ở ngày thứ 55 dao
động từ 23% với “Bridal Pink” tới “98%” với Maurine Pink”
+ Cây giống màu trắng: Chỉ có một số cây có biểu hiện triệu chứng ở
ngày thứ 25 sau khi lây nhiễm với tỷ lệ cao nhất là 28% với “Royal White” Ngày thứ 40, chỉ có “Lisa White” và “Tyrol White” là không xuất hiện triệu chứng, trong khi đó, “Maurine White-on-Blue” đạt tới 33% số cây bệnh Tuy nhiên, đến ngày thứ 55, phần trăm thấp nhất cây bị bệnh là 53% với “Heidi Pure White” và có 5 giống có 100% số cây bị bệnh
Trang 27Tóm lại, tất cả các cây giống đem kiểm tra đều được xem là nhạy cảm với F avenaceum do tất cả các giống đều có cây bị nhiễm bệnh Tuy nhiên,
có sự khác nhau rõ rệt giữa các giống trong các nhóm màu khác nhau theo độ dài thời gian phát triển và theo tần số cây bị nhiễm bệnh, chỉ ra mức độ nhạy cảm khác nhau giữa chúng Cơ sở di truyền cho việc làm chậm sự phát triển của bệnh hoặc sự kháng một phần cần được nghiên cứu để tận dụng được những lợi thế của những phát hiện này để chọn tạo được những cây giống
kháng bệnh Sử dụng tính kháng với F avenaceum trong công tác chọn tạo
giống có thể cải tiến đáng kể đặc tính của giống và giúp hạn chế việc phải dùng thuốc hóa học diệt nấm
1.4.1.3 Nghiên cứu về bảo quản hoa Cát Tường
Michael S Rield (2000) [24] đã nghiên cứu ảnh hưởng của ethylen đến quá trình bảo quản hoa Cát Tường Hoa Cát Tường nhạy cảm với một số chất Biocides bảo quản trong thương mại, chúng làm cho thân cây chuyển sang màu nâu Ngoài ra, ông cho rằng việc xử lý Lisanthus ở nồng độ sacarose cao
> 3% ở mỗi bình, hay xử lý với sacarose 12% và một ít Biocides trong 24 giờ
sẽ làm cho hoa tươi lâu hơn, màu sắc của hoa được cải thiện, cành hoa trở nên cứng hơn và kéo dài thời gian sử dụng hoa
MC Cho, F Celikel, L Dodge (1999) [23] đã nghiên cứu biện pháp để nâng cao chất lượng sau thu hoạch hoa cắt của hoa Cát Tường Độ bền sau thu hoạch của hoa Cát Tường cắt cành được giới hạn ở thời điểm khi nụ hoa nở kém và cổ hoa nở bị uốn cong Kết quả cho thấy dung dịch trong bình có chứa tới 6% glucose hoặc sucarose cải thiện được chất lượng và độ bền của hoa Ngoài ra các carbonhydrate giúp cải thiện màu sắc cánh hoa tươi lâu, không
bị bay màu, tăng nụ hoa nở, cuống hoa khỏe, và kéo dài tuổi thọ của hoa lên tới trên 10 ngày Glucose là loại đường có ý nghĩa quan trọng hơn so với sucarose hay fructose trong việc tăng cường tuổi thọ của hoa và số hoa nở
Ngày nay, Cát Tường trở thành một loại hoa cắt thương phẩm quan trọng Đã có rất nhiều nghiên cứu về yêu cầu điều kiện môi trường trong sản xuất hoa Cát Tường Độ bền cắm lọ sau thu hoạch ngắn là một trong những
Trang 28vấn đề quan trọng nhất của hoa cắt cành Sự già hóa của hoa cắt bị kích thích bởi một số yếu tố, ví dụ ức chế nước, sụt giảm hàm lượng cacbohydrat, do vi sinh vật và ảnh hưởng của etylen
M Kazemi, M.Aran, và S Zamani (2011) [22] đã sử dụng axit succinic, axit salicylic, axit citric và glutamine như các tác nhân làm chậm quá trình già hóa Công thức xử lý axit citric không có tác dụng với acc - oxidasa và hoa cắt cắm lọ; trong khi công thức sử dụng axit succinic, glutamine, và SA (Axitssalicylic) thì giảm hoạt động của acc-oxidasa và tăng độ bền cắm lọ của hoa cắt Từ kết quả của nghiên cứu này có thể kết luận rằng, xử lý glutamine, axit succinic, và axit salicylic làm giảm đáng kể hoạt động của MDA và ACC
- Oxidasa, kéo dài tuổi thọ của hoa cắt, giữ được hoa cắm lọ tươi trong thời gian lâu hơn
1.4.1.4 Nghiên cứu về sinh lý của cây hoa Cát Tường
Brent K Harbaugh (1995) [13] đã tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và quang chu kỳ đến sự sinh trưởng của cây con và phản
ứng ra hoa đối với 4 giống hoa Cát Tường ‘Yodel White’ ‘Heidi Pink’, ‘Blue
Lisa’ và ‘GCREC-Blue’
Thí nghiệm được tiến hành vào 2 giai đoạn: cây con và giai đoạn phân hóa hoa Đầu tiên, hạt của 4 giống hoa Cát Tường trên được gieo vào các khay nhựa có kích thước (24cm dài × 2cm rộng × 3cm cao) và được đặt vào phòng kích thích nảy mầm (22-240C) trong 14 ngày Các cây con sau đó được trồng ra
đất dưới điều kiện ánh sáng ngày ngắn (chiếu sáng 12h) hoặc ngày dài (chiếu
sáng 18h) ở 120C hoặc 280C trong 29 ngày Sau 29 ngày (từ ngày thứ 14-ngày thứ 43), các cây con được xử lý trên sẽ được chia nhỏ thành 4 ô và được tiến hành xử lý ở cùng nhiệt độ và quang chu kỳ trong 36 ngày (từ ngày thứ 43-ngày thứ 79), với tổng số là 16 công thức xử lý cho 4 giống Để xác định phản
ứng ra hoa, các cây con tiếp tục được trồng ở 220
C trong 120 ngày dưới cùng
điều kiện quang chu kỳ mà chúng nhận được ở giai đoạn xử lý ban đầu
Trang 29Kết quả thí nghiệm cho thấy tác động qua lại giữa nhiệt độ và quang chu kỳ đã ảnh hưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng và phát triển (ra hoa) của các giống hoa Cát Tường thí nghiệm
+ Đối với tất cả các giống thí nghiệm, ở giai đoạn cây con thì các cây con cao hơn và có nhiều lá hơn khi trồng ở 280C so với trồng ở 120C, nhưng các cây
có chiều cao cây cao nhất lại ra hoa từ những cây con được xử lý ở 120C
+ Các cây con của một vài mức xử lý đã không thể ra nụ hoa, và một vài cây con phát triển ra nụ hoa nhưng sau đó những nụ hoa này lại rụng, kết quả là các cây không có hoa khi thí nghiệm kết thúc (199 ngày)
+ Tỷ lệ phần trăm cây ra hoa chịu ảnh hưởng của giống và tác động qua lại của quang chu kì và nhiệt độ Phản ứng sinh trưởng sinh dưỡng và ra hoa
là tương tự ở các giống ‘Yodel White’, ‘Heidi Pink’ và ‘Blue Lisa’ Các cây ngày dài đã ra hoa khi các cây con của chúng được trồng ở 120C trong giai
đoạn 43 hoặc 79 ngày sau trồng Tuy nhiên, khi được trồng dưới điều kiện
ngày ngắn ở 280C thì cây con của những giống này đã không ra hoa ở giai
đoạn 43 ngày sau trồng, mặc dù chúng được xử lý với quang chu kỳ hoặc
nhiệt độ từ ngày thứ 14-ngày thứ 43 Tuy nhiên, quang chu kỳ ngày ngắn ở
280C không hạn chế việc ra hoa đối với giống ‘GCREC-Blue’
1.4.1.5 Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác
Harbaugh (1997) [14] đã nghiên cứu tác dụng của phân đạm và canxi ở các mức khác nhau đến cây hoa Cát Tường Hạt giống của 4 giống hoa Cát Tường sau khi nảy mầm được cấy vào giá thể gồm than bùn và đá trân châu
mà không cần bổ sung phân bón Cây được trồng trong nhà kính và được tưới nước hàng ngày có bổ sung 0, 100, 200, hoặc 400mg N/l ở thí nghiệm về N;
và 0, 75, 150, hoặc 300mg Ca/l trong thí nghiệm về Ca Cây được thu hoạch sau 8 tuần Kết quả cho thấy khi tăng nồng độ N thì làm giảm chiều dài thân
và số hoa không đáng kể nhưng làm tăng số chồi và hàm lượng chlorophyll Tăng nồng độ Ca giúp tăng số lượng nụ, số cành của cây
Trang 30H.J.Hsu (1995) [21] đã nghiên cứu ảnh hưởng của Promot trên cây Cát Tường Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới tại Ventura, Califonia năm
1995 Dung dịch Promot bao gồm Trichoderma harazianum nồng độ 2.108conidia/g và Trichoderma koningii nồng độ 3.108 conidia/g Thí nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 công thức và 4 lần nhắc lại Mỗi công thức gồm 12 chậu có chiều cao 20 cm, mỗi chậu chứa 2,5kg giá thể Cây
có chiều cao trung bình 17cm, được đưa ra từ vườn ươm
CT1: Không sử dụng Promot
CT2: P100: Promot được pha loãng 100 lần với nước
CT3: P200: Promot được pha loãng 200 lần với nước
Xử lý cho cây bằng dung dịch Promot ở thời điểm 7 ngày trước khi trồng Mỗi cây được tưới 10ml dung dịch và các cây được cung cấp một lượng nước như nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt, 7 ngày sau cây được trồng vào chậu Số hoa trên cây được theo dõi ghi chép vào các ngày 19/9; 28/9; 13/10; 6/11; Chiều cao cây được đo vào ngày 6/11 Sau khi đo chiều cao, cắt cây ở ngay phần tiếp giáp với chậu, sau đó cân khối lượng tươi, khối lượng khô ở 75oC trong 48h
Kết quả chỉ ra rằng khi đo ở ngày 19/9 không có sự khác nhau đáng kể
về số hoa trên cây giữa các công thức xử lý Xử lý promot pha loãng 200 lần làm tăng đáng kể số hoa trên cây khi đo vào ngày 28/9, trong khi xử lý với promot pha loãng 100 lần đã không ảnh hưởng đến số hoa trên cây Kết quả
đo ngày 6/11 cho thấy xử lý với promot pha loãng 200 lần làm tăng đáng kể
số hoa trên cây Như vậy kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng xử lý promot
đã làm tăng số hoa trên cây nhưng không ảnh hưởng đến khối lượng chất tươi,
khối lượng chất khô và chiều cao cây hoa Cát Tường
Fascination, một chất điều hòa sinh trưởng cấu thành từ gibberellins 4+7 và benzyl adenine, hiện nay đang được khuyến khích sử dụng với hoa lily (nhóm lily Phương Đông) để làm giảm sự biến vàng lá và làm chậm lại quá
Trang 31trình già hóa của hoa Người ta cũng thấy rằng, Fascination cũng gây ra sự kéo dài thân không mong muốn ở hoa lily Trong thí nghiệm này, cung cấp
Fascination cho hoa Cát Tường (Eustoma grandiflorum), một loại hoa cắt phổ
biến trên thị trường hoa thế giới, trồng để đánh giá ảnh hưởng của nó lên chiều dài thân và đường kính hoa cắt Sử dụng Fascination ở các liều lượng khác nhau: 0ml, 10ml, 25ml, 50ml Kết quả chỉ ra rằng khộng có sự nhất quán
về chiều dài thân và đường kính hoa khi xử lý trên cây Cát Tường ở các liều lượng trên các giống khác nhau Ngoại trừ “Echo Blue”, các cây giống Cát Tường trong thí nghiệm này không cho thân dài hơn khi xử lý Fascination khi trồng ra ngoài so với không xử lý Kết quả này chỉ ra rằng Fascination không
sử dụng để hỗ trợ trong việc kéo dài chiều cao cây và tăng đường kính hoa ở cây hoa Cát Tường (R.C.Sloan và S.S Harkness, 2004) [27]
Natri clorua (NaCl) có ảnh hưởng tới hầu hết các quá trình sinh lý liên quan tới sự sinh trưởng và phát triển của cây Các quá trình sinh lý khác nhau bắt đầu trong sinh trưởng và phát triển của cây là kết quả của xử lý NaCl (Hale và Orcutt, 1987) Diện tích lá giảm khi nồng độ NaCl tăng (Jimenez và cộng sự, 1997; Morales và cộng sự, 1998) Shillo và cộng sự (2002) cũng
đánh giá ảnh hưởng của các công thức 2-6 dS m-1
NaCl lên các thông số hình
thái của Cát Tường (Lisianthus grandiflorum Raf Shinn) Các nhà nghiên cứu
xác định là nồng độ NaCl thấp làm tăng khối lượng của thân và số hoa trên cành Nhiệt độ thấp là nhân tố quan trọng nhất trong việc bảo quản thành công hoa cắt cành vì nó làm giảm các quá trình trao đổi chất Môi trường không khí biến đổi khép kín đóng góp một phần vào quá trình làm lạnh, do đó tăng hiệu quả làm lạnh trong việc kéo dài thời gian bảo quản của của hoa cắt cành (dẫn theo B.Akbudak và A.eris (2005)) [12]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cát Tường ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoa Cát Tường là một loài hoa mới do vậy những nghiên
cứu về hoa Cát Tường còn hạn chế
Trang 321.4.2.1 Nghiên cứu về nhân giống in vitro
Dương Tấn Nhựt và cs (2006) [8] đã nghiên cứu sự tái sinh chồi và rễ trực tiếp từ mô lá của cây hoa Cát Tường nuôi cấy mô in vitro Việc nghiên cứu hệ thống tái sinh ở cây hoa Cát Tường- một loài hoa có giá trị kinh tế cao
đã mở ra triển vọng cho việc nhân giống nhanh và cung cấp một quy trình tái
sinh tần số cao phục vụ các nghiên cứu chuyển gen Lá của cây hoa Cát Tường được cắt ngang làm đôi có kích thước khoảng 0,5x1cm; lát mỏng cắt ngang lá có kích thước 1mm và các đoạn rễ có nguồn gốc từ lá được nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung BA, IBA, GA3 Tần số tái sinh chồi và số chồi trên mỗi mảnh lá đạt cao nhất trên môi trường MS có bổ sung 2,0 mg/l BA
Sự tái sinh cả chồi và rễ đạt được kết quả tối ưu trên môi trường bổ sung 2,5mg/l BA và 1,0 mg/l IBA Khi cấy lên môi trường MS không bổ sung chất
điều hòa sinh trưởng thực vật, chồi tái sinh từ các mảnh lá có sự phân đốt rất
ngắn Sự tái sinh chồi từ lớp mỏng ngang lá đạt tần số tái sinh cao nhất (100% với 5,6 chồi trên mẫu cấy) trên môi trường MS có bổ sung 2,0 mg/l BA và 0,3 mg/l GA3 hoặc 2,5 mg/lBA, 1,0 mg/l IBA và 0,3mg/l GA3, chồi tái sinh từ các mảnh lá có sự hình thành thân chính phân đốt Sự tái sinh chồi từ các đoạn rễ
in vitro đạt 100% trên môi trường MS bổ sung 2,5mg/lBA, 1,0mg/l IBA và 0,3 mg/l GA3 hoặc 2,0mg/l BA và 0,3 mg/l GA3
Nguyễn Thị Kim Lý và cs (2009) đã tiến hành nhân giống hoa Cát Tường bằng phương pháp in vitro Bước đầu xác định việc khử trùng các chồi (chồi đỉnh, chồi nách) có thể dùng HgCl2 1%, Ca(OCl)2 có tác dụng khử trùng tốt nhất Môi trường tốt nhất để vào mẫu, nhân nhanh, ra rễ là môi trường cơ bản MS và tùy thuộc vào từng giai đoạn mà bổ sung các chất ngoại sinh cho phù hợp Tùy vào từng mô nuôi cấy và từng giai đoạn mà bổ sung 1 - 2 ppm BAP và 0,4 - 0,5 ppm NAA (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Hoa, 2009) [6]
Chu Tuấn Thành (2010) [10] đã bước đầu nghiên cứu xây dựng quy trình nhân nhanh in vitro hoa Cát Tường đã kết luận:
+ Hóa chất khử trùng tốt nhất là HgCl2 với thời gian khử trùng là 7 phút
Trang 33+ Môi trường cơ bản tốt nhất cho tái sinh và nhân nhanh chồi là: MS + 3% đường + 6,8g/l agar+ 100mg/l Inositol +0,5 mg/l BAP +0,3 mg/l NAA
+ Môi trường tốt nhất để ra rễ và tạo cây hoàn chỉnh trong bình nuôi cấy là:
MS + 3% đường + 6,8g/l agar + 100mg/l Inositol + 0,3mg/lα NAA + 0,1mg/l IBA
+ Giá thể tốt nhất cho giai đoạn ra ngôi ngoài vườn ươm là hỗn hợp cát + trấu hun
1.4.2.2 Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật
Phan Ngọc Diệp (2011) [5] đã khảo sát giống và nghiên cứu môt số biện pháp kỹ thuật giai đoạn vườn ươm hoa Cát Tường trồng tại Gia Lâm -
Hà Nội kết quả cho thấy:
+ Trong 6 giống Cát Tường nhập nội đưa vào thí nghiệm là:Pure white pelleted; Yellow imp pelleted; Pink pelleted; Pink picotee pelleted; Misty blue pelleted; Blue picotee pelleted đều có tỷ lệ nảy mầm, khả năng sinh trưởng,
phát triển tốt, tỷ lệ nhiễm sâu bệnh thấp Trong đó giống Blue picotee pelleted
là giống có triển vọng nhất: Tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ cây xuất vườn cao (tương
ứng 91,5 và 90,2%), cây sinh trưởng và phát triển tốt; số hoa trên cây nhiều
(11,7 hoa); đường kính hoa lớn (6,7cm); hoa thẳng, cứng cáp (đường kính cành 0,73cm); tuổi thọ hoa cao (độ bền hoa cắm lọ và độ bền hoa trên đồng ruộng tương ứng là 9 và 16 ngày); màu sắc hoa đẹp, mới lạ
+ Trong các thời vụ từ tháng 8 đến tháng 11 thì gieo hạt Cát Tường vào tháng 9 là tốt nhất: ở thời vụ này tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ cây xuất vườn, khả năng sinh trưởng và chất lượng của cây giống đều cao hơn so với các thời vụ còn lại
+ Giá thể gieo hạt là hỗn hợp gồm 1/3 đất phù sa + 1/3 phân chuồng + 1/3 trấu hun có tác dụng nâng cao chất lượng cây giống xuất vườn: Chiều cao
cây đạt 3,4cm; có 3,2 cặp lá/cây; kích thước lá dài 3,1cm và rộng 2,0cm
+ Cung cấp chế phẩm dinh dưỡng Atonik, liều lượng là 10ml/bình 8 lít nước, 10 ngày phun một lần có tác dụng nâng cao chất lượng cây trên vườn
ươm: Chiều cao cây 3,4cm; đạt 3,3 cặp lá trên cây; chiều dài lá: 3,0cm; chiều
rộng lá 2,0cm
Trang 34+ Sử dụng Score 250ND nồng độ 0,05% có hiệu quả tốt nhất đối với phòng trừ bệnh đốm lá cho cây hoa Cát Tường
+ Xuất vườn khi cây giống trên vườn ươm có đủ 3 cặp lá thật để nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng hoa thương phẩm
Nguyễn Thị Bích Hoa (2009) [6] đã nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển và ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng hoa Cát Tường tại Hà Nội kết quả cho thấy:
+ Trong các giống Cát Tường tham gia thí nghiệm, giống tím và giống viền tím có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất chất lượng hoa cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, có thể sử dụng trong sản xuất hoa cắt cành Giống trắng viền hồng có chiều cao cây thấp, màu sắc hoa đẹp, độ bền hoa lâu có thể sử dụng để trồng chậu
+ Giá thể là hỗn hợp gồm dớn + mùn rác + trấu hun phù hợp nhất để ra ngôi cây in vitro giai đoạn vườn ươm
+ Kích phát tố Thiên Nông có tác động tốt đến sinh trưởng, phát triển của cây, cho năng suất và chất lượng hoa cao
Theo nghiên cứu của công ty hạt giống hoa Floralseed Việt Nam (2009) [3] thì khi gieo hạt nên gieo vào khay có lỗ sâu và việc cung cấp độ ẩm trong giai đoạn này quyết định sự nảy mầm đồng loạt và tỷ lệ nảy mầm cao Giai
đoạn này cần duy trì nhiệt độ trong khoảng 20-220
C là tốt nhất Ở giai đoạn cây con nên bổ sung phân bón lá hoặc phân bón gốc nhẹ, đặc biệt là các loại phân có gốc Ca giúp thân cây vững chắc và phát triển tốt
Bên cạnh đó, trong quá trình trồng hoa Cát Tường có thể sử dụng GA3
để xử lý với mục đích:
+ Giải quyết tình trạng cây bị rosetting (cây không phát triển được chiều cao, mọc thành khóm như hoa đồng tiền ở ngay sát mặt đất): phun 100 ppm trong 2 - 3 lần cách nhau 20 ngày
+ Kiểm soát sự kéo dài của đốt cây: phun 25ppm trong 5 lần cách nhau 10-12 ngày sau khi sang luống
Trang 35Tuy nhiên nếu thừa GA3 cây mảnh khảnh và bị kéo dài kì dị, nụ hoa bị kéo dài ra, vì vậy tùy thuộc vào khí hậu (nhiệt độ lớn hơn 150C) và tình trạng của cây mà phun thành các lần và liều lượng mỗi lần phun là khác nhau
Công ty trách nhiệm hữu hạn hoa Phương Đông (2008) [2] đã nghiên cứu và kết luận trong thời gian từ khi gieo hạt đến khi xuất vườn nên cung cấp thêm phân bón lá có gốc NPK 20- 20- 20 hòa tan với nước theo liều lượng 40gr/100 lít nước phun khi cây còn nhỏ và tưới bằng bình khi cây lớn hơn Ngoài ra có thể cung cấp thêm phân vi lượng nhưng với liều lượng bằng ½ theo khuyến cáo của nhà sản xuất
Cũng theo nghiên cứu của công ty trách nhiệm hữu hạn hoa Phương
Đông (2008) thì khi cây con trên vườn ươm đạt 2-3 bộ lá thật sau 2,5 đến 3
tháng thì có thể trồng ra ngoài ruộng sản xuất [2]
Như vậy có thể thấy các nghiên cứu về hoa Cát Tường ở trên thế giới tương đối nhiều nhưng ở Việt Nam còn rất ít Mới chỉ có một số nghiên cứu
về nhân giống in vitro cho cây hoa Cát Tường Các nghiên cứu về khảo nghiệm giống, biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo quản chưa nhiều và chỉ dựa vào kinh nghiệm là chính, dẫn đến năng suất cũng như chất lượng không cao Vì vậy cần thiết phải có các nghiên cứu về khảo nghiệm giống mới và các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc để có thể áp dụng rộng rãi và
có hiệu quả ra sản xuất
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng: giống hoa Cát Tường Blue picotee pelleted (Trắng viền
tím) được Công ty hạt giống hoa Việt Nam nhập nội từ Nhật Bản, gieo ươm tại Đà Lạt Cây giống được gieo trên khay xốp 40 x 60 cm mỗi khay có 209 cây Tiêu chuẩn cây giống cao 3- 4 cm, có từ 2-3 cặp lá thật
* Vật liệu nghiên cứu:
- Giá thể: đất, trấu hun, xơ dừa, phân chuồng
- Phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
+ Phân bón lá Đầu trâu 502: Sản phẩm của công ty phân bón Bình Điền (Việt Nam) sản xuất Có thành phần dinh dưỡng như sau:
N: 30% Ca: 0,05% Cu: 0,05% Mn: 0,01%
P2O5: 12% Mg: 0,05% B: 0,02% Mo: 0,001%
K2O: 10% Zn: 0,05% Fe: 0,01%
Nồng độ phun: 25 g/ bình 16 lít, định kỳ phun 10 ngày/ lần
+ Nitorat Canxi: là phân bón do Công ty CP Nông Nghiệp Nhiệt Đới nhập khẩu của Công ty Behn Meyer (CHLB ĐỨC) Có thành phần dinh dưỡng như sau:
Đạm Amon 13,5% Đạm Nitrat 13,5% Canxi 12%
Nồng độ phun: 100 g/ 10 lít nước, định kỳ 10 ngày/ lần
+ Chất điều hòa sinh trưởng GA3 do Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp TP Hồ Chí nhập khẩu và phân phối Có các thành phần chính sau:
Gibberellic Acid 10%; Phụ gia: 90 %
Nồng độ phun: 1g/ bình 16 lít, định kỳ phun 10 ngày/ lần
+ Chất kích thích sinh trưởng Atonik 1,8DD: Sản phẩm của công ty cổ phần thuốc sát trùng Cần Thơ sản xuất có chứa hợp chất Nitro thơm là 1,8gam/lít
Nồng độ phun: 10 ml/ bình 16 lít, định kỳ phun 10 ngày/lần
Trang 372.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại Khu nhà lưới - Khoa Nông học - Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên
- Thời gian: Vụ Đ ô n g - Xuân từ tháng 0 9/2015 đến tháng 02/2016
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung
- Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống hoa Cát TườngBlue picotee pelleted (Trắng viền tím) tại thành phố Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hoa Cát Tường Blue picotee
pelleted tại thành phố Thái Nguyên
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống hoa Cát Tường Blue picotee pelleted tại thành phố Thái Nguyên
Thí nghiệm gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại, được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh Diện tích ô thí nghiệm 2m2, mật độ trồng 25 cây/m2
(Giá thể gồm 1/3 trấu hun + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng được trộn
đều với nhau)
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Trang 38NL1 4 1 2 3
* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất
điều hòa sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống
hoa Cát Tường Blue picotee pelleted tại thành phố Thái Nguyên
Thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại, được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
- Công thức thí nghiệm:
Công thức 1: Không phun (Đối chứng)
Công thức 2: Đầu Trâu 502
Công thức 3: Nitorat Canxi
Công thức 4: Đầu Trâu 502 + Atonik
Công thức 5: Nitorat Canxi + GA3 50 ppm
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí trên nền giá thể 1/2 giá thể + 1/2 đất
Cách phun: Pha phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng vào nước sạch với nồng độ như hướng dẫn trên bao bì của nhà sản xuất Phun ướt đẫm lá, bắt
đầu phun sau trồng 30 ngày cho tới khi cây ra hoa, định kỳ 10 ngày/lần
2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.3.1 Chỉ tiêu theo dõi
* Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển được tính từ khi trồng đến khi cây phân cành, ra nụ, hé nở bông đầu tiên và nở bông hoa đầu tiên
* Chỉ tiêu về sinh trưởng
Mỗi công thức được theo dõi trên 5 cây/ 1 lần nhắc lại, 10 ngày theo dõi một lần
Trang 39Số cây sống
Tỉ lệ cây sống (%) = x 100
Tổng số cây trồng
- Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao của cây (cm): Đo từ mặt
đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất (đo ngày thứ 10 sau trồng)
- Theo dõi động thái ra lá (lá/cây): Đếm số lá trên thân của cây
- Theo dõi động thái ra cành cấp 1 (cành cấp 1/cây)
- Chiều cao thân chính khi phân cành (cm) được đo từ gốc tới điểm phân cành đầu tiên
- Chiều dài cành cấp 1 (cm) đo 3 cành ở 3 vị trí gốc, ngọn và giữa thân trên các cây theo dõi rồi lấy trung bình
* Chỉ tiêu về năng suất, chất lượng hoa
- Số cây hoa thực thu (cây hoa/m2): số cây hoa thu được/ ô thí nghiệm
- Đường kính hoa (cm): đo khi hoa nở hoàn toàn, đặt thước vuông góc giữa tâm bông hoa đến đỉnh 2 cánh hoa
- Chiều dài nụ hoa (đo khi nụ bắt đầu chuyển mầu) được đo từ đỉnh đến cuống nụ
- Chu vi nụ (đo khi nụ bắt đầu chuyển mầu) đo ở điểm lớn nhất giữa
Trang 40- Độ bền hoa trên đồng ruộng (ngày): Tính từ khi hoa bắt đầu nở đến khi bông hoa cuối cùng bị héo trên đồng ruộng
* Theo dõi tình hình sâu bệnh hại: Phương pháp theo dõi sâu bệnh hại: áp dụng theo “Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng mắt thường” của Hà Minh Trung,
Vũ Khắc Nhượng (1983) và “Quy định về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật
hại cây trồng” (QĐ số 82/2003/QĐ-BNN&PTNT về việc ban hành 10TCN 224)
Chọn ngẫu nhiên 5 điểm trên hai đường chéo ô, mỗi điểm điều tra 5 cây
Định kỳ 10 ngày theo dõi 1 lần
- Đối với bệnh hại:
+ Theo dõi tỷ lệ nhiễm sâu bệnh hại ở các cây trong ô thí nghiệm
(++) Mức độ bệnh hại TB: TLB 20 - 40%
(+++) Mức độ bệnh hại nặng: TLB > 40%
- Đối với sâu hại:
+ Đếm số sâu hại trên 5 điểm điều tra theo đường chéo góc mỗi điểm 1m2+ Mật độ sâu (con/m2) = Tổng số sâu đếm được/ 5
+ Đánh giá mức độ sâu hại:
(-) Không xuất hiện (+) Xuất hiện ít: mật độ sâu hại (MĐSH) <5con/m2(+ +) Xuất hiện TB: MĐSH 5- 10 con/m2
(+ + +) Xuất hiện nhiều: MĐSH >10 con/m2