1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam

82 312 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những yếu tố quan trọng, tác động mạnh đến di cư là nghèo đói; bắt nguồn từ mong muốn thoát nghèo, cải thiện cuộc sống của các cá nhân và hộ gia đình.. So với các nghiên cứu tr

Trang 1



VƯU TUYẾT TRINH

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA NGHÈO ĐA CHIỀU ĐẾN DI CƯ

CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 2



VƯU TUYẾT TRINH

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA NGHÈO ĐA CHIỀU ĐẾN DI CƯ

CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập do tôi thực hiện

Với tư cách là người thực hiện đề tài, tôi xin cam đoan rằng các trích dẫn trong bài đều được ghi rõ nguồn gốc và có độ chính xác cao trong phạm vi hiểu biết của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn đều là trung thực

Nếu có gì trái với lời cam đoan, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng khoa học

Học viên thực hiện luận văn

Vưu Tuyết Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu, hình

Tóm tắt

Chương 1.Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.2.3.Câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2.Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Cấu trúc luận văn 4

Chương 2 Cơ sở lý thuyết 5

2.1 Các khái niệm 5

2.2 Lược khảo các lý thuyết liên quan 7

2.2.1 Một số lý thuyết về di cư 7

2.2.1.1 Các quy luật di cư của Ravenstein 7

2.2.1.2 Lý thuyết về hai khu vực của Lewis 8

2.2.1.3 Mô hình kinh tế tân cổ điển Harris- Todaro 9

2.2.1.4 Lý thuyết hút đẩy (The push pull theory of migration) của Lee 10

2.2.1.5.Lý thuyết lực hấp dẫn (Reilly’s Law of retail gravitation) của Reilly (1931)

11

2.2.1.6 Lý thuyết kinh tế mới của di cư lao động 12

Trang 5

2.2.2 Mối quan hệ giữa di cư và phát triển 12

2.2.3 Một số lý thuyết về nghèo và nghèo đa chiều 13

2.2.3.1 Đo lường nghèo đơn chiều 14

2.2.3.2 Đo lường nghèo đa chiều 15

2.2.3.3 Các phương pháp đo lường nghèo tại Việt Nam 16

2.2.4.Các chỉ số đo lường nghèo đa chiều hiện nay 17

2.2.4.1 Chỉ số phát triển con người (HDI- Human Development Index) 17

2.2.4.2 Chỉ số nghèo con người (HPI- Human Poverty Index) 18

2.2.4.3 Chỉ số nghèo đa chiều (MPI- Multidimensional Poverty Index) 18

2.2.5.Cách tính chỉ số nghèo đa chiều tại Việt Nam 20

2.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 22

2.3.1 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan về di cư 22

2.3.2.Lược khảo các nghiên cứu về nghèo đa chiều- các chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều 24

2.4 Sơ lược về tình hình nghèo và di cư tại việt nam 26

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu 29

3.1 Định nghĩa các chiều và chỉ tiêu 29

3.1.1.Chiều giáo dục 29

3.1.2 Chiều sức khỏe 29

3.1.3 Chiều nhà ở 30

3.1.4 Chiều điều kiện sống 30

3.1.5 Chiều tiếp cận thông tin 30

3.2 Khung phân tích 31

3.3 Giả thiết nghiên cứu và mô hình kinh tế 33

3.3.1.Giả thiết nghiên cứu: 33

3.3.2.Giới thiệu mô hình kinh tế 33

3.3.3.Phương pháp phân tích số liệu 36

3.3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 36

3.3.3.2 Phương pháp phân tích hồi quy 36

Trang 6

3.4 Dữ liệu 36

3.4.1.Nguồn dữ liệu 36

3.4.2.Trích lọc và mô tả biến 37

Chương 4 Kết quả 41

4.1 Tình trạng nghèo đa chiều của hộ gia đình nông thôn việt nam 41

4.1.1.Nghèo đa chiều theo từng chỉ tiêu 41

4.1.2.Nghèo đa chiều theo từng chiều 44

4.1.3.Nghèo đa chiều MPI tổng thể 46

4.2 Quan hệ giữa nghèo đa chiều và di cư 48

4.2.1.Sơ lược về biến phụ thuộc di cư 48

4.2.2.Các đặc điểm của hộ quan sát 49

4.2.3.Mối tương quan giữa các biến giải thích 51

4.3 Tác động của nghèo đa chiều đến di cư 52

4.3.1.2 Kết quả phân tích mô hình gộp các vùng [ Mô hình (1)] 54

4.3.1.3 Kết quả mô hình cho từng vùng [ Mô hình (2) ;(3); (4) ;(5)] 58

4.4 Thảo luận về những phát hiện trong nghiên cứu 61

Chương 5 Kết luận và kiến nghị 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Kiến nghị 62

5.2.1.Đầu tư và quan tâm hơn đến chất lượng nguồn nhân lực 62

5.2.2.Tăng cường chia sẻ thông tin, 63

5.2.3.Cải thiện năng suất nông nghiệp 63 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DHMT Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH

- Danh mục bảng

Bảng 2.1 Cách tính các chỉ số đo lường trong HDI 17

Bảng 2.2 Các chiều thiếu hụt trong đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam 20

Bảng 3.1 Số quan sát trong mẫu 37

Bảng 3.2 Mô tả và đo lường biến 38

Bảng 4.1 Tỷ lệ các chỉ tiêu thiếu hụt theo vùng 43

Bảng 4.2 Tỷ lệ các chiều thiếu hụt theo vùng 45

Bảng 4.3 Chỉ số nghèo đa chiều theo vùng 46

Bảng 4.4 Tỷ lệ người nghèo, độ sâu nghèo và MPI cho từng vùng 46

Bảng 4.5 Quan sát hộ di cư theo dân tộc 48

Bảng 4.6 Quan sát hộ di cư theo vùng địa lý 48

Bảng 4.7 Thống kê mô tả các biến định lượng trong mô hình 49

Bảng 4.8 Các đặc điểm của chủ hộ và hộ 50

Bảng 4.9 Các yếu tố tác động đến di cư của hộ gia đình 52

- Danh mục hình Hình 2.1 Thành tựu giảm nghèo 26

Hình 4.1 Chiều thiếu hụt giữa các vùng 44

Trang 9

và chất lượng cuộc sống của người nghèo Nghiên cứu này tập trung xem xét mối quan hệ của nghèo đa chiều đến di cư cũng như mối tương quan của từng chiều đo lường nghèo với di cư

Bài viết sử dụng 5628 quan sát hộ gia đình nông thôn tại 4 vùng Đồng bằng Sông Hồng, Trung du và miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long để xem xét tác động của nghèo đa chiều đến di cư Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chiều thiếu hụt tiếp cận thông tin có tác động mạnh đến di cư hơn các chiều thiếu hụt còn lại Tùy theo đặc tính của từng vùng mà nghèo

đa chiều có tác động đến di cư hay không Kết quả cũng chỉ ra rằng các biến về đặc tính hộ, đặc tính chủ hộ có tác động đến di cư rõ rệt hơn các chiều và chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Di cư là sự di chuyển của một người từ nơi này đến nơi khác Xét về mặt vĩ mô,

di cư đóng vai trò không chỉ là động lực mà còn là kết quả của tiến trình phát triển

Có nhiều yếu tố tác động đến quyết định di cư của một người như thay đổi môi trường sống, tìm kiếm cơ hội hoặc là sự kì vọng vào mức sống tốt hơn với mức thu nhập cao hơn Một trong những yếu tố quan trọng, tác động mạnh đến di cư là nghèo đói; bắt nguồn từ mong muốn thoát nghèo, cải thiện cuộc sống của các cá nhân và hộ gia đình Trên thực tế, ở một số khu vực, di cư gần như là phương án khả thi nhất cho hộ gia đình vượt qua khó khăn và bế tắc trong cuộc mưu sinh Vậy phải chăng một cá nhân hoặc hộ gia đình càng nghèo thì họ càng có động lực để quyết định di cư?

Khi nhắc tới nghèo, người ta thường liên tưởng đến nghèo về thu nhập hay nghèo về chi tiêu, xuất phát từ quan điểm mỗi cá nhân cần phải được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản về vật chất, mà cụ thể được quy đổi bằng tiền Tuy nhiên, vẫn có một

số nhu cầu cơ bản của con người không thể đo lường bằng tiền như nhu cầu tham gia

xã hội, tiếp cận giao thông, cơ sở hạ tầng, môi trường, dịch vụ y tế, giáo dục công, v.v Theo đó, phương pháp tiếp cận và đo lường nghèo thông qua thu nhập hay chi tiêu ngày càng bộc lộ rõ nhiều thiếu sót Thay vào đó, cách tiếp cận nghèo đa chiều ngày càng cho thấy sự phù hợp và cách nhìn nhận nghèo ở nhiều góc độ hơn, đánh giá khách quan và chính xác hơn Ba khía cạnh để đo lường nghèo đa chiều gồm giáo dục, y tế và mức sống Các yếu tố này được tạo nên do các nhân tố chủ quan (đặc tính

cá nhân, hộ gia đình) và nhân tố khách quan (sự cách biệt địa lý, chính sách của chính phủ)

So với các nghiên cứu trước đây chủ yếu xem xét tác động của nghèo về phương diện thu nhập đến di cư, bài viết muốn xem xét tác động của các chiều đo lường nghèo

đa chiều đến quyết định di cư của hộ gia đình nông thôn Liệu rằng hộ gia đình sẽ đi đến quyết định di cư khi bị thiếu hụt giáo dục, mức sống, cũng như các nhu cầu phi

Trang 11

vật chất khác? Bài viết chủ yếu phân tích dữ liệu để có cái nhìn chung về tình hình nghèo đa chiều tại khu vực nông thôn và xem xét mối quan hệ giữa nghèo đa chiều

và di cư Qua đó, bài viết có thể đưa ra những kiến nghị cho các nhà hoạch định chính sách trong việc giảm nghèo đa chiều

Bài viết trích lọc và sử dụng các dữ liệu cần thiết từ bộ dữ liệu VHLSS 2014 cũng như các dữ liệu thứ cấp thu thập từ các nguồn khác về hiện trạng nghèo và di cư tại các tỉnh để có thể phản ánh một cách tương đối đầy đủ về mối liên hệ giữa nghèo

đa chiều và di cư

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Kiểm tra tác động của nghèo đa chiều tại nông thôn đến tình trạng di cư

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định chỉ số nghèo đa chiều cấp độ hộ gia đình theo phương pháp MPI

- Xem xét quan hệ nhân quả giữa tình trạng nghèo đa chiều của hộ gia đình

và vấn đề di cư của hộ

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Với từng nhóm chỉ báo riêng biệt, nhóm chỉ báo nào tác động nhiều nhất đến quyết định di cư của một cá nhân hoặc hộ gia đình?

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ gia đình tại các khu vực nông thôn tại các vùng có thành viên di cư đến nơi khác để làm ăn xa và hiện không có ở hộ Các khu vực quan sát bao gồm khu vực nông thôn của các vùng sau:

Trang 12

(1) Đồng bằng Sông Hồng: gồm thành phố Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình

(2) Trung du và miền núi Bắc Bộ: gồm các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình

(3) Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: gồm thành phồ Đà Nẵng và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận

(4) Đồng bằng Sông Cửu Long: gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau

Nghiên cứu không chọn các quan sát hộ gia đình nông thôn tại hai khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ vì đây đều là hai điểm đến của dân di cư trong cả nước

Về Đông Nam Bộ, đây là vùng giàu nhất cả nước, tập trung các thành phố lớn với nhiều nhà máy, xí nghiệp lớn Do đó, dân ở vùng nông thôn khu vực này sẽ có xu hướng ít di chuyển sang tỉnh hoặc vùng khác mà di chuyển và lao động trong các nhà máy, xí nghiệp ở tỉnh hoặc vùng đang sinh sống Đông Nam Bộ là điểm được lựa chọn đầu tiên đối với người di cư đến từ khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Về Tây Nguyên, mặc dù đây là vùng cao, còn hạn chế nhiều về điều kiện sinh sống, song quỹ đất ở khu vực này còn nhiều, thích hợp cho các hoạt động canh tác cây trồng lâu năm Đây thường là điểm đến của dân di cư từ các vùng phía Bắc

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các hộ gia đình tại các khu vực nông thôn đang có xu hướng di cư đến các thành phố lớn hiện nay Nghiên cứu dựa trên dữ liệu

Trang 13

của cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình (VHLSS) của Tổng cục thống kê năm 2014 Bài nghiên cứu tập trung vào phân tích tác động của nghèo đa chiều các hộ gia đình tại khu vực nông thôn đến di cư của hộ

1.4 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Bài viết được chia làm 5 chương

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và

phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Giới thiệu các khái niệm liên quan, trình bày cơ sở lý thuyết và các

nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài Chương này cũng trình bày khái quát

về tình hình nghèo và di cư tại Việt Nam

Chương 3: Giới thiệu các chiều và các chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều Xây

dựng phương pháp, mô hình nghiên cứu Chương này đồng thời cũng giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến trong nghiên cứu

Chương 4: Mô tả kết quả về tình hình nghèo đa chiều tại khu vực nông thôn,

thông kê mô tả các biến, phân tích kết quả hồi quy mô hình

Chương 5: Kết luận, kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 CÁC KHÁI NIỆM

- Di cư

Di cư được hiểu là sự di chuyển của người từ nơi này đến nơi khác Theo Giải thích thuật ngữ di cư của Tổ chức di cư quốc tế (International Organization for Migration - IOM), di cư (migration) là sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia Di cư bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, di cư kinh tế hay vì những mục đích khác, trong đó

Người di cư: Vẫn chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận chung trên cấp

độ quốc tế về người di cư Thuật ngữ người di cư thường được hiểu bao hàm mọi trường hợp di cư do cá nhân tự quyết định vì lý do “tiện ích cá nhân” mà không có

sự can thiệp của các nhân tố bên ngoài Theo Liên Hợp Quốc, người di cư là một cá nhân đã cư trú tại một nước hơn một năm, bất kể là di cư hợp pháp hay trái phép hay không, bất kể là di cư tự nguyện hay không Theo đó, những người đi lại với thời gian ngắn như khách du lịch, thương nhân không được xem là người di cư

- Người di cư ngắn hạn

Người di cư ngắn hạn: Một người di chuyển đến một nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất ba tháng nhưng chưa đến một năm, trừ trường hợp di chuyển vì mục đích giải trí, nghỉ lễ, thăm bạn bè, họ hàng,

đi công việc hoặc chữa bệnh

Trang 15

- Người di cư dài hạn

Người di cư dài hạn là người chuyển tới một nước không phải nước của họ trong khoảng thời gian ít nhất một năm, do đó nơi đến trở thành nơi cư trú thường xuyên của họ Đối với nơi đi, người này là người xuất cư dài hạn và đối với nơi đến, người này là người nhập cư dài hạn

- Nghèo

Nghèo là tình trạng bị tướt đoạt ở nhiều khía cạnh khác nhau Nó thể hiện ở khía cạnh thu nhập thấp, không có khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ cơ bản cần thiết nhằm duy trì việc tồn tại của con người Nghèo còn được hiểu là thiếu các tiếp cận về y tế và giáo dục, thiếu các điều kiện vệ sinh và nước sạch, không được đảm bảo về an ninh, thiếu tiếng nói, không có đủ khả năng và cơ hội để cải thiện cuộc sống (WB, 2010)

- Ngưỡng nghèo hay mức nghèo

Ngưỡng nghèo hay mức nghèo là mức chi tiêu dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để đảm bảo cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các chi tiêu bắt buộc khác Người ở ngưỡng nghèo là người có tổng thu nhập tương đương với tổng chi tiêu dùng tối thiểu đó

- Tỷ lệ nghèo

Tỷ lệ nghèo (hay chỉ số đếm đầu người) là tỷ lệ dân số có mức sinh hoạt (mức tiêu dùng bình quân đầu người) nằm dưới chuẩn nghèo trong một giai đoạn cụ thể

Trang 16

2.2 LƯỢC KHẢO CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

2.2.1 Một số lý thuyết về di cư

2.2.1.1 Các quy luật di cư của Ravenstein

“Các quy luật của di cư” (Law of Migration) của Ravenstein (1885) chỉ ra rằng

di cư là một phần không thể tách rời của sự phát triển “Các quy luật của di cư” đóng vai trò là nền tảng, mở đường cho việc phát triển các lý thuyết di cư về sau Dựa trên quan sát thực nghiệm 20 quốc gia châu Âu, Ravenstein xây dựng mô hình tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa di cư và quy mô dân số, khoảng cách địa lý, dòng di cư

và sự khác nhau về khuynh hướng di cư giữa thành thị và nông thôn

Bảy quy luật động thái dân số của Ravenstein bao gồm:

+ Di cư và khoảng cách: Đa số người di cư với phạm vi ngắn Khoảng cách càng tăng thì mức hấp dẫn của nơi đến sẽ giảm Với các trường hợp di cư xa, địa điểm họ thường hướng đến là các thành phố, trung tâm thương mại lớn

+ Di cư theo các giai đoạn: Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa sẽ tạo ra các dòng di cư hướng đến các các trung tâm công nghiệp và thương mại lớn, nơi có sức hút lớn về việc làm và thu nhập Cơ chế của quá trình di cư là người di cư sẽ tập trung

di chuyển từ nông thôn đến các thành phố phát triển, và người di cư đến từ các vùng

xa xôi, hẻo lánh hơn sẽ lấp đầy các khoảng trống dân số ở vùng nông thôn

+ Dòng di cư xuôi và ngược: “Mỗi dòng di cư đều tạo ra một dòng di cư ngược lại để bù đắp”

+ Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn trong xu hướng di cư: Người sinh ra

ở các đô thị, thành phố thường ít di cư hơn so với người sinh ra ở nông thôn

+ Nữ giới chiếm vượt trội trong số những người di cư khoảng cách ngắn Ngược lại, nam giới chiếm ưu thế đối với việc di cư khoảng cách lớn

Trang 17

+ Công nghệ và di cư: Sự gia tăng các phương tiện di chuyển và sự phát triển

kỹ thuật trong sản xuất và thương mại tác đô ̣ng đến gia tăng di cư

+ Yếu tố kinh tế là động lực chính quyết định thúc đẩy quá trình di cư

Hạn chế của lý thuyết này là chỉ đưa ra bằng chứng thực tại mà không giải thích được tại sao lại có sự tồn tại của mẫu hình này

2.2.1.2 Lý thuyết về hai khu vực của Arthus Lewis

Arthus Lewis (1954) đưa ra lý thuyết “Mô hình hai khu vực” (Dual Sector) nhằm giải thích sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp ở một số nước vừa mới công nghiệp hóa Trong mô hình này, tác giả giả định nền kinh tế chỉ tồn tại hai khu vực là khu vực nông thôn truyền thống và khu vực thành thị công nghiệp hiện đại Đặc trưng của khu vực nông thôn truyền thống là lao động thủ công phổ biến, năng suất biên thấp Ngược lại, khu vực thành thị công nghiệp hiện đại tập trung nhiều ngành nghề chế biến hiện đại, năng suất cao

Khu vực thành thị mở rộng bằng cách thu hút lao động từ nông thôn bằng cách trả tiền lương cao hơn để khiến người lao động di cư Quá trình này sẽ tiến triển cho đến khi hết thặng dư lao động từ khu vực truyền thống, tiền lương tăng và sản phẩm biên ở hai khu vực bằng nhau Như vậy, lý thuyết của Lewis cũng hàm ý sự chênh lệch mức lương cũng như mức sống cũng là một trong những nguyên nhân của vấn

đề di cư

Mô hình Lewis phân tích được sự dịch chuyển nguồn lực cũng như mối quan

hệ trong sự phát triển đồng thời của cả hai khu vực là nông thôn và thành thị Tuy nhiên, mô hình cũng có những hạn chế sau:

(1) Không lý giải được hiện tượng dòng người nhập cư vẫn ồ ạt đổ vào thành phố trong khi tình trạng thất nghiệp đang diễn ra gay gắt tại các nước đang phát triển (Quy luật tiền lương hiệu quả)

(2) Lao động không dễ dàng dịch chuyển giữa các khu vực

Trang 18

(3) Tiền lương không phải luôn là cố định

2.2.1.3 Mô hình kinh tế tân cổ điển Harris- Todaro

Mô hình kinh tế tân cổ điển hay còn gọi là mô hình lý thuyết “Kỳ vọng thu nhập” (Expected Income Model) của Harris- Todaro (1969) cũng đưa ra các giả thiết về di

cư dựa trên sự mất cân bằng năng suất lao động và mức thu nhập dự kiến của 2 khu vực nông thôn và thành thị Mô hình tập trung về hành vi của cá nhân với các giả định sau:

(1) Quyết định di cư là quyết định duy lý

(2) Quyết định di cư dựa vào sự kỳ vọng hơn là sự khác biệt thu nhập thực tế (3) Xác suất tìm được việc tỷ lệ nghịch với thất nghiệp

(4) Có sự mất cân bằng giữa thành thị và nông thôn

Mô hình tập trung cho thấy tác động của động cơ kinh tế đến quyết định di cư của một cá nhân Cá nhân sẽ dựa trên tiền lương để so sánh trong việc lựa chọn địa điểm để di cư Kỳ vọng về thu nhập (chênh lệch thu nhập) là động lực để đưa ra quyết định di cư Kỳ vọng thu nhập càng lớn thì xu hướng di cư càng tăng Thậm chí, ngay

cả khi thu nhập dự kiến ở thành thị thấp hơn thu nhập ở nông thôn nhưng tổng lợi ích

kỳ vọng từ việc di cư ra thành thị lớn hơn tổng lợi ích dự kiến nếu tiếp tục ở nông thôn, thì cá nhân đó vẫn quyết định di cư

Mô hình Harris- Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực phi chính thức (Informal Sector), bao gồm các hoạt động không hoàn toàn là bất hợp pháp nhưng đại đa số các hoạt động trong khu vực này không được sự thừa nhận chính thức của

xã hội, không đăng ký và được sự quản lý của nhà nước Kết quả của việc ồ ạt đổ dồn vào đô thị là nhiều người lao động không tìm được việc làm trong khu vực kinh tế chính thức và buộc họ phải chấp nhận làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức như lao động tự do, giúp việc gia đình, thu lượm ve chai, đánh giày, bán hàng rong, v.v

Trang 19

Hạn chế của mô hình này là chỉ đề cập đến yếu tố kinh tế, cụ thể là thu nhập đến quyết định di cư Một cá nhân quyết định di cư đôi khi không chỉ dựa trên thu nhập

kỳ vọng mà còn có nhiều mục đích khác như học tập, kết hôn, thay đổi môi trường sống, v.v Hơn nữa, mô hình không giải thích được hiện tượng di cư ngược về nông thôn hay di cư tuần hoàn Tuy nhiên, mô hình vẫn được ứng dụng nhiều trong thực tế

để dự báo vấn đề di cư từ các vùng nông thôn - thành thị cũng như di cư giữa các quốc gia

2.2.1.4 Lý thuyết hút đẩy (The push pull theory of migration) của Lee

Thừa kế ý tưởng của Ravenstein, Lee phát triển và cho ra đời mô hình phổ biến trong nghiên cứu di dân hiện đại Lý thuyết hút đẩy (The push pull theory of migration) của Lee (1966) được xây dựng dựa trên ý tưởng tác động của các nhân tố

“đẩy” (push) và “kéo” (pull) đến di cư như cơ hội việc làm, lương cao hơn, và các đặc tính khác của người di cư Theo Lee, quyết định di cư của một người được xác định bởi 4 nhóm yếu tố chính:

(1) Nhóm các yếu tố gắn liền với nơi xuất cư (origin)

(2) Nhóm các yếu tố gắn liền với nơi nhập cư (migration’s destination)

(3) Nhóm các yếu tố cản trở di cư, trở ngại trung gian (chi phí, khoảng cách vật lý,v.v.)

(4) Nhóm các yếu tố mang tính cá nhân của người di cư

Theo mô hình, cá nhân sẽ xem xét tính cân bằng giữa “yếu tố đẩy” và “yếu tố kéo” bắt nguồn từ các nhân tố gắn liền với nơi xuất cư, nơi nhập cư, các trở ngại và các yếu tố cá nhân để quyết định di cư hay không Trong nghiên cứu di cư nông thôn- thành thị, yếu tố thu hút ở các đô thị bao gồm cơ hội việc làm ở đô thị cho người nhập

cư, sự chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị hoặc đôi khi là lối sống đô thị Thông qua các thông tin đại chúng, thành thị thật sự là một nơi hấp dẫn, “miền đất hứa” đối với những người dân ở khu vực nông thôn

Trang 20

Mô hình của Lee được áp dụng rộng rãi trong việc giải thích di cư Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là khó tách bạch “yếu tố đẩy” và “yếu tố kéo” đối với những nhân tố phi kinh tế, yếu tố cá nhân

2.2.1.5 Lý thuyết lực hấp dẫn (Reilly’s Law of retail gravitation) của Reilly (1931)

Lý thuyết lực hấp dẫn được nhà nghiên cứu Reilly xây dựng vào năm 1931, trên

cơ sở định luật Vạn vật hấp dẫn của Issac Newtons Theo lý thuyết mà Reilly đề xuất, các thành phố càng lớn thì phạm vi hấp dẫn của nó đối với người di cư càng rộng Mức độ hấp dẫn của thành phố phụ thuộc vào quy mô dân số của thành phố, thành phố càng lớn thì mức độ lan tỏa của nó càng xa

Giả định của lý thuyết này là không có hạn chế về vị trí địa lý để thay đổi quyết định của người di cư Tương tự như định luật Vạn vật hấp dẫn của Newtons, điểm bàng quang là điểm mà tại đó, lực hấp dẫn của hai thành phố là như nhau, tỷ lệ thuận với quy mô và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách

𝑑𝐴

𝑑𝐵 = √

𝑃𝐴𝑃𝐵

Với dA và dB là khoảng cách từ điểm bàng quang đến A và B PA/PB là tỷ lệ quy mô của hai thành phố

Nếu như vị trí của người di cư ở giữa A và B và D là khoảng cách giữa hai thành phố thì vị trí của điểm bàng quang tính từ A là

1 + √𝑃𝐵/𝑃𝐴Nếu hai thành phố có cùng quy mô, d=D/2 và nếu thành phố A lớn hơn thành phố B thì vị trí điểm bàng quang sẽ gần B hơn

Trang 21

Lý thuyết này vấp phải nhiều ý kiến phản biện, cho rằng các thành phố có lịch

sử phát triển lâu đời đương nhiên sẽ có quy mô lớn hơn so với các thành phố mới Tuy nhiên, cơ hội việc làm và phát triển bản thân tại các thành phố mới đôi khi lại dồi dào hơn, do ít phải cạnh tranh và có nhiều ưu đãi hơn Trong những trường hợp như vậy, quy mô thành phố không phản ảnh được mức độ hấp dẫn của thành phố đó

2.2.1.6 Lý thuyết kinh tế mới của di cư lao động

Lý thuyết kinh tế mới của di cư lao động (NELM- New Economics of Labour Migration) chỉ ra rằng di cư là động lực của tiến trình phát triển, thu hẹp sản xuất, đầu tư của hộ gia đình vào thị trường không hoàn hảo và tạo nên sự gia tăng trong thu nhập của cá nhân và hộ gia đình

Dòng di cư và di cư quốc tế đưa người di cư đến những khu vực kinh tế lớn hơn (Russel và Teitelbaum, 1992) Quyết định di cư của một cá nhân là một phần trong chiến lược gia tăng thu nhập của hộ gia đình, tạo lập quỹ đầu tư vào các hoạt động mới để đảm bảo thu nhập và giảm rủi ro trong hoạt động sản xuất Hoạt động di cư luôn diễn ra liên tục, di cư được xem là giải pháp của cá nhân và hộ gia đình hạn chế rủi ro về thu nhập và tiền gởi từ người di cư đóng vai trò như là một bảo hiểm thu nhập cho hộ gia đình Bên cạnh đó, đặc điểm của nền kinh tế cũng là nhân tố tác động đến quyết định di cư Nền kinh tế kém phát triển, không khuyến khích sản xuất, đầu

tư, thiếu vắng thị trường tài chính để đầu tư sẽ tác động đến cả quyết định di cư và quyết định đầu tư của cá nhân và hộ gia đình

2.2.2 Mối quan hệ giữa di cư và phát triển

- Về phía người di cư:

So với người không di cư, người di cư gặp nhiều khó khăn hơn khi tiếp cận các dịch vụ xã hội do các bất cập về quy trình đăng ký thường trú hay tạm trú Do người

di cư phải trả một khoản phí cho dịch vụ xã hội tư nhân đắt đỏ hơn, điều này góp phần làm trầm trọng hóa sự bất bình đẳng và tình trạng nghèo đói tại đô thị

Trang 22

- Về phía nơi tiếp nhận người di cư:

Dòng di cư đa phần hướng đến khu vực thành thị và các khu công nghiệp, nơi

có nhiều cơ hội việc làm hơn Ở tất cả mọi nền kinh tế, luôn có những nghề nghiệp không thu hút lao động địa phương Thông thường, những công việc này được đáp ứng bởi lao dộng di cư do hạn chế về vốn nhân lực cũng như vốn xã hội của họ Tại Việt Nam, dân số sinh sống tại các khu vực thành thị chiếm gần 30% tổng dân số cả nước Sự gia tăng dân số sẽ gây áp lực lên hệ thống dịch vụ và cơ sở hạ tầng tại nơi tiếp nhận người di cư cũng như nhiều hệ lụy về an ninh xã hội

- Về phí nơi có người di cư:

Các cộng đồng có người di cư, thường cũng là nơi họ sẽ trở về, là nơi được hưởng thêm lợi ích từ di cư Những người di cư với mục đích kinh tế thường là mong muốn giúp đỡ gia đình, những người ở lại Theo số liệu của VHLSS 2004, 88,7% các

hộ gia đình có người di cư có nhận tiền gởi dưới hình thức này hay hình thức khác Hầu hết các khoản tiền này được dùng cho mục đích giáo dục và chăm sóc sức khỏe, làm rút ngắn sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn Tiền gởi từ người di cư không chỉ giúp gia đình của họ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cộng đồng Tuy nhiên, di cư cũng tác động tới cơ cấu phân công trách nhiệm gia đình, phân công giới và phân công giữa các thế hệ Ngoài ra, việc lan tỏa tri thức- kỹ năng hoặc bệnh truyền nhiễm (HIV) của người di cư sau khi trở về cũng tạo nên tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với địa bàn có người di cư

Với tư cách đại diện cho một bộ phận đáng kể của lực lượng lao động, người di

cư là nền tảng cơ sở cho phát triển kinh tế xã hội quốc gia Tuy nhiên, cũng không nên xem di cư là liều thuốc chữa bệnh đói nghèo và bất bình đẳng thu nhập

2.2.3 Một số lý thuyết về nghèo và nghèo đa chiều

Theo báo cáo của WB năm 2012, nghèo là sự thiếu thốn tới mức không thể chấp

nhận được trong đời sống Tuy nhiên, đời sống bao hàm nhiều yếu tố cấu thành nên

Trang 23

một mức sống chấp nhận được (hay không chấp nhận được), do đó thước đo và chuẩn nghèo theo từng quan điểm và khía cạnh cũng không giống nhau

2.2.3.1 Đo lường nghèo đơn chiều

Phương pháp truyền thống được sử dụng rộng rãi để đo lường nghèo là dựa vào thu nhập (hay chi tiêu) Thu nhập hay chi tiêu của cá nhân hay hộ gia đình sẽ được so sánh với chuẩn nghèo Cá nhân hay hộ gia đình được xem là nghèo nếu có thu nhập hay chi tiêu dưới chuẩn nghèo và ngược lại Phương pháp này được gọi là đo lường nghèo đơn chiều (Unidimensional Poverty) bởi vì nó chỉ tập trung vào khía cạnh tiền

tệ mà bỏ qua các khía cạnh khác của nghèo Phương pháp này xây dựng chuẩn nghèo

“mang tính hành chính” nhằm tập trung nguồn lực công có hạn vào những người khó khăn nhất

- Tính toán nghèo theo phương pháp thu nhập

Trên lý thuyết, thu nhập là thước đo cơ hội về phúc lợi- mức sinh hoạt mà một

hộ gia đình có khả năng chi trả ở một thời điểm cụ thể

WB lần đầu đưa ra chuẩn nghèo toàn cầu vào năm 1990 với mức 1,01 USD/ngày/người (tính theo PPP 1985) Năm 2008, WB điều chỉnh mức đánh giá nghèo chung là 1,25USD/ngày/người (tính theo PPP 2005) Vào năm 2015, WB tuyên

bố nâng chuẩn nghèo quốc tế từ 1,25USD/ngày/người lên 1,9USD/ngày/người (tính theo PPP 2011)

Chen, Ravallion và Sangraula (2008) đưa ra chuẩn nghèo quốc tế là 1,25USD/ngày/người (tính theo PPP 2005) Chuẩn nghèo cho các nước đang phát triển là 2 USD/ngày/người (tính theo PPP 2005) Và chuẩn trung vị cho tất cả các nước (không kể 15 nước nghèo nhất) là 2,5 USD/ngày/người (tính theo PPP 2005) Chuẩn nghèo quốc tế theo từng khu vực cũng có sự chênh lệch Chuẩn nghèo quốc tế cho các nước đang phát triển và chuyển đổi là 2,0USD/ ngày/người Vào năm

2015, chuẩn nghèo quốc tế cho nhóm quốc gia này đã tăng lên là 3,1 USD/ngày/người

Trang 24

Theo đề nghị của Bộ Lao động thương binh và xã hôi, Việt Nam chính thức áp dụng chuẩn nghèo đa chiều cho giai đoạn 2016-2020 Theo đó, tiêu chí về thu nhập của chuẩn nghèo là 700.000 đồng/tháng/người ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/tháng/người ở khu vực thành thị; chuẩn cận nghèo là 1.000.000 đồng/tháng/người ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/tháng/người ở khu vực thành thị

- Tính toán nghèo theo phương pháp chi tiêu

Tiêu dùng là thước đo phúc lợi đạt được, tức là mức sinh hoạt mà một hộ gia đình thực sự đạt được tại một thời điểm Theo quan điểm của WB, xác định nghèo theo quan điểm chi tiêu bằng cách hiệu chỉnh các chi tiêu mua lương thực theo chỉ số giá cả vùng (PPI- Provincial Price Index) Tỷ trọng giữa chi tiêu lương thực và phi lương thực càng nhỏ thì càng phát triển vì người nghèo

- Tính toán nghèo theo phương pháp dinh dưỡng

Ở cách tính này, nghèo được xác định theo phương pháp “chi tiêu các nhu cầu

cơ bản”, bao gồm các nhu cầu tối thiểu về lương thực và phi lương thực Trước hết, cần xác định số tiền tối thiểu cần có để có thể mua một lượng lương thực có năng lượng là 2.300 calories/người/ngày, tại một thời điểm và địa phương cụ thể Sau đó cộng với giá trị nhu cầu tối thiểu về phi lương thực thiết yếu Tổng chi tiêu này sẽ được hiểu chỉnh theo chỉ số giá vùng và chỉ số giá theo tháng Và đây là ngưỡng nghèo

2.2.3.2 Đo lường nghèo đa chiều

Phương pháp đo lường nghèo đa chiều là sự bổ sung quan trọng cho đo lường nghèo theo thu nhập hay chi tiêu truyền thống Nó phản ánh những thiếu hụt mà người nghèo phải đối mặt về giáo dục, y tế và chất lượng cuộc sống trong cùng một thời điểm Phương pháp này xây dựng chuẩn nghèo “mang tính đạo đức” mà qua đó phản ánh chuẩn mực mà quốc gia hay vùng lãnh thổ khao khát hướng tới

Trang 25

Đo lường nghèo đa chiều vượt trội so với các công cụ trước đây ở các điểm sau:

- Phản ánh toàn diện những thiếu hụt ảnh hưởng đến cuộc sống của một người trong cùng một thời điểm

- Chỉ ra những người nào nghèo và dễ bị tổn thương nhất, cần nhận được sự giúp đỡ nhiều nhất

- Cho biết những chỉ tiêu nào mà người dân mỗi vùng, mỗi nhóm dân cư bị thiếu hụt nhiều nhất Từ đó có những chính sách phân bổ nguồn lực hợp lý, hiệu quả nhất cho từng nhóm dân cư, từng vùng

- Phản ánh hiệu quả các can thiệp chính sách nhanh chóng, giúp các nhà chính sách điều chỉnh kịp thời

- Tích hợp nhiều chỉ tiêu về nghèo đói trong mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào trong một phương pháp đo lường duy nhất Từ đó giúp các nhà chính sách nắm bắt và so sánh tình trạng nghèo giữa các quốc gia, các địa phương với nhau một cách

dễ dàng

- Các chỉ tiêu đo lường có thể linh hoạt thay đổi tùy theo đặc điểm cụ thể của quốc gia hay khu vực nghiên cứu

2.2.3.3 Các phương pháp đo lường nghèo tại Việt Nam

Có 2 phương pháp chủ yếu để đo lường nghèo tại Việt Nam hiện nay

Phương pháp thứ nhất do Bộ lao động thương binh và xã hội (MOLISA) áp dụng nhằm đưa ra cách phân loại để xác định đối tượng được hưởng thụ các chính sách, chương trình giảm nghèo của nhà nước cũng như để theo dõi tình hình nghèo trong ngắn hạn Trong phương pháp này, thu nhập được xem là chỉ tiêu phúc lợi căn

cứ vào Tổng điều tra nghèo toàn quốc được thực hiện 5 năm/ lần

Phương pháp thứ hai do Tổng cục thống kê và WB (GSO-WB) áp dụng chủ yếu

để tìm hiểu về những thay đổi tình trạng nghèo trong dài hạn Phương pháp này tiêu dùng đóng vi trò là chỉ tiêu phúc lợi, và các thước đo nghèo xác định trên cơ sở dữ liệu từ khảo sát hộ gia đình (VHLSS)

Trang 26

2.2.4 Các chỉ số đo lường nghèo đa chiều hiện nay

2.2.4.1 Chỉ số phát triển con người (HDI- Human Development Index)

Chỉ số phát triển con người (HDI- Human Development Index) được phát triển bởi một kinh tế gia người Pakistan là Mahbub ul Haq và nhà kinh tế người Ấn Độ là Amartya Sen vào năm 1990 HDI là chỉ số so sánh, đo lường về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác trên thế giới HDI giúp đưa ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia

Chỉ số phát triển con người HDI là trung bình hình học (geometric mean) của 3 chỉ số: tuổi thọ, giáo dục và thu nhập

𝐻𝐷𝐼 = √𝐼3 𝑡𝑢ổ𝑖 𝑡ℎọ∗ 𝐼𝑔𝑖á𝑜 𝑑ụ𝑐 ∗ 𝐼𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝Trong đó, các chỉ số được tính theo bảng sau:

Bảng 2.1 Cách tính các chỉ số đo lường trong HDI

Chỉ số tuổi thọ Chỉ số giáo dục Chỉ số thu nhập

𝐼𝑡𝑢ổ𝑖 𝑡ℎọ

= 𝑎𝑔𝑒𝑖 − 𝑎𝑔𝑒𝑚𝑖𝑛

𝑎𝑔𝑒𝑚𝑎𝑥 − 𝑎𝑔𝑒𝑚𝑖𝑛

Trong đó

agei là tuổi thọ trung

bình của quốc gia i;

agemin là tuổi thọ thấp

IME là chỉ số nhập học trung bình

𝐼𝑀𝐸 = 𝑀𝐸𝑖− 𝑀𝐸𝑚𝑖𝑛

𝑀𝐸𝑚𝑎𝑥− 𝑀𝐸𝑚𝑖𝑛

IEE là chỉ số nhập học kỳ vọng (hay kế hoạch đặt ra)

ln(income)i là logarithm tự nhiên của thu nhập bình quân đầu người ngang sức mua của quốc gia i;

ln(income)min là logarithm tự nhiên của thu nhập bình quân đầu người ngang sức mua của quốc gia có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất;

ln(income)max là logarithm tự nhiên của thu nhập bình quân đầu người ngang sức mua của quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao nhất;

Nguồn: Nguyễn Hoàng Bảo, 2015

Trang 27

2.2.4.2 Chỉ số nghèo con người (HPI- Human Poverty Index)

Chỉ số nghèo con người (HPI- Human Poverty Index) là chỉ số mức sống trong một quốc gia, do Anand và Sen đề xuất (2007) và được Liên Hợp Quốc phát triển để

bổ sung cho chỉ số phát triển con người (HDI- Human Development Index) HPI được xem như một phần của báo cáo phát triển con người vào năm 1997 HPI được đánh giá là phản ánh rõ nét mức độ thiếu thốn ở các nước phát triển hơn là HDI

HPI là chỉ số đo lường mức độ nghèo khổ của con người trên ba phương diện

cơ bản: tuổi thọ, tri thức và chất lượng cuộc sống Ngoài ra, phương diện thứ tư là sự loại trừ xã hội (những người bị thất nghiệp từ 12 tháng trở lên) còn được đo lường trong chỉ số HPI-2 Liên Hợp Quốc sử dụng HPI-1 chi các nước đang phát triển và HPI-2 cho các nước có nguồn thu nhập cao OEDC được chọn từ Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

- Chỉ số phát triển giới (GDI)

Ngoài HDI ra, chỉ số phát triển giới (GDI) sử dụng các chỉ báo tương tự như HDI song đo lường khoảng cách nam nữ trong từng chỉ báo Theo đó, khi phụ nữ bị

bỏ lại so với nam giới trong việc đạt các kết quả về y tế, tiếp cận kiến thức và thu nhập bình đẳng, quốc gia sẽ bị xếp hạng thấp hơn

2.2.4.3 Chỉ số nghèo đa chiều (MPI- Multidimensional Poverty Index)

Chỉ số nghèo đa chiều MPI (Multidimensional Poverty Index) được phát triển bởi tổ chức Oxford Poverty & Human Development Initiative (OPHI), là sản phẩm kết hợp của tỷ lệ nghèo đói đếm đầu đa chiều (tỷ lệ người nghèo đa chiều) và độ sâu nghèo đói của hộ (số lượng thiếu hụt trung bình của mỗi người nghèo) Chỉ số này được Liên Hợp Quốc áp dụng thay cho HPI trong Báo cáo phát triển con người toàn cầu vào năm 2010, với mục tiêu tạo ra một khung phân tích mới về nghèo và tiếp cận nghèo đa chiều

Trang 28

MPI thường được sử dụng để so sánh tỷ lệ hộ nghèo giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc giữa các khu vực trong phạm vi một lãnh thổ

Cách tính toán chỉ số nghèo đa chiều MPI dựa trên phương pháp của Alkire và Foster (AF) gồm các bước chính sau:

Bước 1: Lựa chọn đơn vị phân tích

Bước 2: Chọn chiều phân tích Lựa chọn 3 chiều tương tự như cách tiếp cận toàn cầu, gồm y tế, giáo dục và mức sống

Bước 3: Xác định đường nghèo cho từng chỉ tiêu Mỗi hộ hoặc cá nhân sẽ được xác định là thiếu hụt hay không thiếu hụt đối với từng chỉ tiêu được xem xét

Bước 4: Chọn chỉ tiêu phân tích và trọng số áp dụng cho từng chỉ tiêu

Bước 5: Xác định đường nghèo đói đa chiều Trong phân tích, ngưỡng nghèo là k=3, tức là có thiếu hụt ít nhất 3 chỉ tiêu hoặc k=2 khi có chỉ tiêu y tế và ít nhất một chỉ tiêu giáo dục không được đảm bảo

Bước 6: Tính tỷ lệ nghèo đa chiều H (Multidimension headcount ratio) H là tỷ

lệ dân số có điểm thiếu hụt lớn hơn 33.3% trong mẫu quan sát

𝐻 =𝑞

𝑛 =

𝑠ố 𝑛𝑔ườ𝑖 𝑛𝑔ℎè𝑜 đ𝑎 𝑐ℎ𝑖ề𝑢𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑛𝑔ườ𝑖 𝑑â𝑛 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑚ẫ𝑢Bước 7: Tính độ sâu nghèo đói

Độ sâu nghèo A là tỷ lệ (có trọng số) trung bình của một người nghèo bị thiếu hụt (chỉ tính cho những hộ nghèo đa chiều)

𝐴 =∑ 𝑐𝑞1

𝑞 =

∑ đ𝑖ể𝑚 𝑡ℎ𝑖ế𝑢 ℎụ𝑡 𝑐ủ𝑎 𝑚ỗ𝑖 ℎộ 𝑔𝑖𝑎 đì𝑛ℎ𝑞1

𝑆ố 𝑛𝑔ườ𝑖 𝑛ằ𝑚 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑑𝑖ệ𝑛 𝑛𝑔ℎè𝑜 đ𝑎 𝑐ℎ𝑖ề𝑢Bước 8: Tính MPI

Chỉ số nghèo đa chiều MPI được tính bằng công thức sau:

Trang 29

MPI=H * A

2.2.5 Cách tính chỉ số nghèo đa chiều tại Việt Nam

Tại Việt Nam, 27/9/2015 vừa qua, Thủ tướng quyết định phê duyệt đề án tổng thể do Bộ Lao động đã xây dựng và đề xuất 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa chiều tương ứng là: giáo dục người lớn, giáo dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, nhà ở, nước sạch, hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Các chỉ số đo lường này được trình bày trong bảng dưới đây:

Bảng 2.2 Các chiều thiếu hụt trong đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam

1986 trở lại không tốt nghiệp trung học cơ sở và hiện không

các dịch vụ y tế

Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là

bị bệnh/ chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải

có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường)

Hiến pháp 2013

Luật Khám chữa bệnh 2011

Trang 30

2.2 Bảo hiểm y

tế

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế

Hiến pháp 2013

Luật bảo hiểm y tế 2014

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Luật Nhà ở 2014

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

3.2 Diện tích

nhà ở bình

quân đầu người

Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m2

Luật Nhà ở 2014

Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

4.2 Hố xí/nhà

vệ sinh

Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà vệ sinh hợp vệ sinh

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Luật Viễn thông 2009

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Luật Thông tin Truyền thông

2015

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015

Trang 31

2.3 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN

2.3.1 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan về di cư

Trong báo cáo về tình hình di cư trong nước (UN, 2010), tỷ lệ người di cư ngày càng tăng qua các thời kỳ, bắt đầu từ thời kỳ Đổi Mới vào năm 1986 Đa số người di

cư là thanh niên và tỷ lệ nữ di cư tăng đáng kể Phần lớn người di cư không di chuyển cùng gia đình và chủ yếu di cư là vì lý do kinh tế, bao gồm mong muồn tìm việc, tăng mức thu nhập và nâng cao điều kiện sống bản thân và gia đình

Khó khăn về kinh tế và sinh kế là động lực dẫn đến di cư Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng là một trong những động lực dẫn đến di cư trên phạm vi toàn cầu Trong báo cáo của UN (2014), áp lực môi trường do biến đổi khí hậu cũng là một phần của quyết định di cư Tùy theo mức độ và tính chất nguy hiểm của hiểm họa thiên nhiên

mà cá nhân hay gia đình có đưa ra quyết định di cư hay không Các nghiên cứu khác

về di cư tại Việt Nam như Dang, Goldstein, McNally, (1997), de Brauw (2010) cũng chỉ ra rằng khoảng cách, mức sống, chất lượng cũng ảnh hưởng đến quyết định di cư của cá nhân, hộ gia đình

Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm (2011) dựa trên dữ liệu thu thập thông qua một cuộc điều tra chọn mẫu tại 4 tỉnh là Thái Bình, Tiền Giang, Hà Nội và Tp.HCM Bài viết chỉ ra các lý do dẫn đến quyết định di cư lần lượt là kinh tế (do thiếu đất đai, thiếu việc làm), giáo dục, các vấn đề gia đình và do bị thu hút bởi lối sống đô thị Nghiên cứu cũng đưa ra các khía cạnh chính cho tính chọn lọc của di cư bao gồm: giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, giáo dục, sức khỏe và quan hệ gia đình

Alan de Brauw và cộng sự (2001) áp dụng lý thuyết mới của di cư lao động để tìm hiểu mối quan hệ giữa di cư, tiền gởi về, thu hoạch mùa vụ và thu nhập lao động tại khu vực nông thôn Trung Quốc Nghiên cứu chỉ ra rằng di cư làm tăng thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình Tuy nhiên lợi ích mà di cư mang lại cho hộ gia đình không thể đến ngay tức thì mà cần phải có thời gian Ngoài ra, nghiên cứu cũng

Trang 32

chỉ ra rằng việc đưa ra chính sách của chính phủ có thể mở rộng hoặc thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị

Semyonov và Gorodzeisky (2005) thử nghiệm và đánh giá sự khác biệt giới và

di cư tại Filipino và Filipina (Philippines) Tác giả chỉ rằng sự khác biệt giới gắn liền với sự khác biệt thu nhập và tiền gởi gia đình từ những người di cư, tạo nên sự khác biệt thu nhập từ nguồn tiền gởi về của các gia đình tại Philippines

Nghiên cứu của Zai Liang, Yiu Por và Yanmin Gu (2002) về di cư của Trung Quốc chỉ ra rằng xu hướng di cư tăng khi giáo dục tăng Nghĩa là cá nhân khi có nền giáo dục tốt hơn, có nhiều kỹ năng để có việc làm tốt hơn thường có xu hướng di cư Tình trạng hôn nhân hay giới tính cũng có tác động đến quyết định di cư

Các nghiên cứu về tác động của di cư đến giảm nghèo đã được thực hiện khá nhiều tại Việt Nam và trên thế giới Di cư và tiền gởi thật sự có tác động mạnh đến điều kiện sống của những hộ gia đình có người di cư Lokkshin và cộng sự (2007) sử dụng dữ liệu khảo sát mức sống gia đình tại Nepal (NLSS- Nepal Living Standard Survey) cho thấy 20% nghèo đói giảm tại Nepal trong giai đoạn 1995-2004 là nhờ vào di cư và tiền gởi từ những người di cư Nếu không có di cư, tỷ lệ nghèo tại Nepal

sẽ tăng từ 30% lên 33,6% và chi tiêu bình quân đầu người sẽ giảm từ 15.000NPR xuống còn 14.000NPR Nghiên cứu cũng chỉ ra tầm quan trọng của các chính sách công Các chiến lược, chính sách tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo tại Nepal cần phải có sự kết hợp chặt chẽ nhiều mặt của các khía cạnh động lực di cư Các chính sách cần khuyến khích cả di cư nội địa và xuất khẩu lao động quốc tế, với dòng tiền gởi về đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo tại Nepal

Các nghiên cứu khác cũng cho thấy di cư trong nước cũng có tác động tích cực đến giảm nghèo tại Việt Nam, mặc dù cần có thời gian để nhận thấy tác động này Lê Quốc Hội và Nguyễn Thị Hoài Thu (2014) phát hiện rằng tác động của di dân lên giảm nghèo mạnh hơn đối với các tỉnh có tỷ lệ bất bình đẳng cao Nghiên cứu cũng khẳng định vai trò của việc gia tăng năng suất và vốn nhân lực trong xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam Những nhân tố này tác động nhanh hơn tác động của di cư lên giảm nghèo

Trang 33

2.3.2 Lược khảo các nghiên cứu về nghèo đa chiều- các chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều

Asselin và Vu đã áp dụng 5 chiều đo lường cho Việt Nam bao gồm giáo dục, sức khỏe, nước sạch/vệ sinh, việc làm và nhà ở (Asselin, 2009) Trong đó, khía cạnh sức khỏe liên quan đến yếu tố bệnh mãn tính; khía cạnh giáo dục bao gồm giáo dục người lớn và giáo dục trẻ em

Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012) dựa trên bộ số liệu VHLSS (2010), sử dụng đồng thời phương pháp phân tích nhân tố (PCA) và phân tích đa phản hồi (MCA) để xác định các chỉ báo kinh tế để đo lường tình trạng nghèo đa chiều tại các hộ ở khu vực nông thôn Kết quả đưa ra 10 nhân tố được đo lường thông qua 4 nhóm tài sản sinh kế: vốn con người; vốn tự nhiên; vốn vật chất và vốn xã hội Santos và Ura (2008) ước lượng nghèo đa chiều ở Bhutan với 5 chiều bao gồm thu nhập, giáo dục, nơi ở có sẵn, khả năng tiếp cận điện và nước sạch Với khu vực nông thôn, đường đi và tiếp cận nguồn đất sở hữu là 2 chiều được bổ sung thêm Đánh giá nghèo do Viện khoa học xã hội Việt Nam (VASS) phối hợp thực hiện vào năm 2008 theo phương pháp cùng tham gia (PPP) tại 5 tỉnh Lạng Sơn, Hải Dương, Kom Tum, Bình Thuận và An Giang cho thấy đặc tính chung của người nghèo ở nông thôn bao gồm các đặc tính xoay quanh về thiếu hụt vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn tài chính; vốn vật chất và vốn con người Ngoài ra, đánh giá nghèo này còn đưa ra các đặc tính về nhân khẩu (có nhiều con), thiếu lao động và việc làm, đất canh tác có chất lượng xấu, thiếu tài sản phục vụ cho sản xuất, tiếng Việt còn hạn chế, độ gắn kết với bên ngoài thấp, chịu chi phối bởi thương lái và vốn xã hội thấp Đánh giá cũng cho thấy rủi ro từ lạm phát năm 2008 đã gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi tầng lớp dân cư, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số

“Báo cáo quốc gia về phát triển con người” (UNDP Việt Nam, 2011) dựa trên

9 chiều đo là an sinh xã hội; nhà ở; chất lượng, diện tích nhà; y tế; an ninh; tham gia

xã hội; giáo dục và thu nhập Kết quả cho giáo dục là nhóm chỉ tiêu bị thiếu hụt trầm trọng nhất (20% dân số), kế đến là mức sống (17,5% dân số) và y tế (1,6%) Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ người nghèo đa chiều cao nhất (49,7%) trong

Trang 34

khi tỷ lệ nghèo theo chi tiêu thấp hơn trung bình cả nước Nguyên nhân là do những thiếu hụt lớn về giáo duc và điều kiện sống Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ

có tỷ lệ người nghèo đa chiều thấp nhất (3,6% và 9%) là nhờ sự phát triển mạnh mẽ công nghiệp, dịch vụ ở hai vùng này Các thành phố lớn như Hà Nội, TpHCM đã giúp giảm tỷ lệ nghèo đáng kể, tạo điều kiện cải thiện dịch vụ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, và làm giảm nghèo đa chiều

Báo cáo Nghèo của Tổng cục Thống kê năm 2010 cũng có áp dụng chỉ số nghèo

đa chiều cho trẻ em bao gồm 9 khía cạnh: giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, không làm việc trước tuổi lao động, vui chơi giải trí, hòa nhập xã hội

và được xã hội bảo vệ

Jiantuo Yu (2012) sử dụng bộ dữ liệu khảo sát sức khỏe và dinh dưỡng Trung Quốc (China Health and Nutrition Survey) để tìm hiều về tình hình nghèo đa chiều tại Trung Quốc Bằng cách tiếp cận theo phương pháp Alkire- Foster, 5 chiều để khảo sát bao gồm thu nhập, giáo dục, sức khỏe, an ninh xã hội và mức sống Kết quả chỉ

ra rằng Trung Quốc là một bằng chứng về việc giảm nghèo đa chiều trong giai đoạn 2001-2009 ở tất cả các tình thành được điều tra Tuy nhiên, một nền kinh tế phát triển hơn không tự động tạo nên sự phát triển con người cao hơn và nghèo đa chiều thấp hơn Việc bị tước đoạt khả năng tiếp cận hệ thống an ninh xã hôi là nguyên nhân lớn nhất của nghèo đa chiều Sự thiếu hụt trong giáo dục đòi hỏi nhiều chính sách cần được quan tâm Mặc dù khoảng cách thu nhập giữa thành thị- nông thôn liên tục gia tăng trong khoảng thời gian quan sát, tuy nhiên khoảng cách nghèo đa chiều giữa thành thị và nông thôn không tăng, được cho là do tác động tích cực của việc xây dựng xã hội chủ nghĩa mới (Socialist New Countryside Constructions)

Có thể thấy, kết quả đo lường nghèo đa chiều tùy thuộc rất nhiều vào sự tin cậy của các chiều đo và các chỉ tiêu đại diện cho từng chiều đo

Trang 35

2.4 SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH NGHÈO VÀ DI CƯ TẠI VIỆT NAM

Theo Báo cáo đánh giá nghèo của WB (2012), dù Việt Nam đã đạt những kết quả khả quan trong công tác giảm nghèo, tuy nhiên vẫn chưa triệt để và hiệu quả Hàng chục triệu hộ gia đình đã thoát nghèo nhưng với mức thu nhập rất sát chuẩn nghèo và rất dễ tái nghèo do các cú sốc về sức khỏe tuổi tác và khuyết tật; mất việc làm và lương không ổn định; thiên tai hủy hoại mùa màng và ảnh hưởng tới thu nhập nông thỗn Nhiều người nghèo ngập trong nợ nần và các rủi ro có thể hủy hoại những sáng kiến mới

Các nhân tố đặc trưng của người nghèo từ suốt thập niên 90 đến nay đó là: trình

độ học vấn thấp và hạn chế về kỹ năng; phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc; cô lập về địa lý xã hội; chịu những thiệt thòi mang tính đặc thù dân tộc; chịu các rủi to về thiên tai và các rủi ro khác

Hình 2.1 Thành tựu giảm nghèo

Nguồn: Báo cáo đánh giá nghèo (WB, 2012)

Trang 36

Không được đi học vẫn là yếu tố quyết định tình trạng nghèo Theo số liệu năm

2010, 46% hộ nghèo và 58% hộ nghèo cùng cực có chủ hộ chưa học xong tiểu học

Tỷ lệ nhập học của trẻ em nghèo, tiêu biểu là của nhóm dân tộc thiểu số giảm dần qua các cấp lớp Mặc dù tình tình giáo dục của Việt Nam đã tốt hơn so với trước, song chênh lệch về tỷ lệ nhập học của trẻ hộ nghèo và hộ khá giả vẫn còn tồn tại

Phân tích báo cáo cho thấy nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của rất nhiều người nghèo Theo số liệu phân tích báo cáo năm 2010, trên 90% người nghèo

và 94% người nghèo cùng cực sống ở khu vực nông thôn Tình trạng nghèo chủ yếu tập trung chủ yếu ở vùng cao như miền núi Đông Bắc và Tây Bắc, Tây Nguyên Dân tộc thiểu số chiếm 15% dân số Việt Nam và gần nửa trong số họ vẫn sống trong nghèo đói Vào năm 2010, 66,3% người dân tộc thiểu số vẫn nghèo trong khi con số này ở dân tộc Kinh chỉ là 12,9% Nguyên nhân là do phần lớn người dân tộc thiểu số vẫn sống tại các vùng miền núi cô lập và có năng suất sản xuất thấp, thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động nông nghiệp Khoảng cách chênh lệch kéo dài giữa dân tộc thiểu số và người Kinh càng làm trầm trọng hóa tình trạng bất bình đẳng tại các vùng nghèo có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống

Báo cáo phát triển con người quốc gia (UNDP, 2011) tập trung phân tích những thách thức mà người Việt Nam hiện phải đối mặt trong tiếp cận các dịch vụ cơ bản Năm 2010, chỉ số phát triển con người (HDI) xếp thứ 113 trên tổng 193 quốc gia trên toàn cầu Kết quả này đạt được chủ yếu là nhờ vào tăng trưởng kinh tế ấn tượng Xu hướng phát triển của Việt Nam có sự tương đồng với Trung Quốc cũng như các quốc gia khác, nơi mà tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng có sự cải thiện chậm hơn

về tuổi thọ và giáo dục Mặc dù các tỉnh nghèo đã đạt được những tiến bộ trong chỉ

số phát triển con người, song chênh lệch giữa các tỉnh nghèo và tỉnh giàu còn rất lớn, chủ yếu là do không được tiếp cận nước sạch

Di cư đóng góp 57% vào tăng trưởng dân số thành thị, là yếu tố quan trọng nhất

và duy nhất của tình trạng đô thị hóa tại Việt Nam (UNDP, 2011) Theo Tổng điều

Trang 37

tra dân số, di cư trong nước đã tăng từ 4,5 triệu người vào năm 2009 lên 6,6 triệu người vào năm 2009, trong đó di cư giữa thành thị và dư cư từ nông thôn lên thành thị tăng gấp đôi trong giai đoạn này Dữ liệu cũng cho thấy xu hướng nữ hóa trong di

cư, những người di cư từ nông thôn ra thành thị đa phần là người trẻ tuổi, được đào tạo nhiều hơn, có mức sống cao hơn, nhà cửa tốt hơn so với những người không di

Người di cư Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với việc thiếu công bằng tiếp cận cơ hội để phát triển năng lực bản thân và cải thiện mức sống Người di cư tạm thời (hay di cư theo mùa vụ) thường nghèo hơn và dễ bị tổn thương hơn so với những người di cư vĩnh viễn Nguyên nhân chính là do họ thiếu cơ hội tiếp cận các dịch vụ

và bảo trợ xã hội Thêm vào đó, họ thường tập trung vào các ngành nghề dễ bị tổn thương, có mức lương thấp Với những người di cư vĩnh viễn, việc tiếp cận các dịch

vụ xã hội có thể bị gián đoạn do phải di chuyển giữa các đơn vị hành chính khác nhau Mặc khác, di cư có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc học hành của trẻ em, là một trong những nguyên nhân tạo nên vòng lẩn quẩn nghèo đói

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỊNH NGHĨA CÁC CHIỀU VÀ CHỈ TIÊU

3.1.1 Chiều giáo dục

Giáo dục là cơ sở để tạo ra vốn con người của cá nhân, là nền tảng để tạo ra lợi thế cho cá nhân như tăng hiểu biết và nhận thức, tăng năng suất, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống Một trong tám mục tiêu Thiên niên kỷ mà Việt Nam đưa ra trong năm 2015 là phổ cập giáo dục tiểu học Theo UNDP, trong năm 2009, tỷ lệ nhập học

và hoàn thành tiểu học lần lượt là 95,5% và 88,2%; tỷ lệ người dân từ 15-24 tuổi biết đọc biết viết là 97,1% Tuy nhiên, chất lượng giáo dục vẫn còn nhiều yếu kém Nguyên nhân là do cơ hội học tập của các nhóm trẻ chịu thiệt thời còn hạn chế và phương pháp học tập chưa thật sự tốt, hạn chế kỹ năng giải quyết vấn đề

Số năm đi học của người lớn: Chỉ tiêu này phản ánh mức học vấn của các

thành viên trên 15 tuổi và những người lao động chính trong hộ gia đình Trình độ học vấn của những người lao động chính, trụ cột của gia đình càng thấp thì càng ít khả năng cải thiện thu nhập, và càng nhiều khả năng nghèo hơn

Đi học của trẻ em: Chỉ tiêu này phản ánh tình trạng nhập học của trẻ em từ 5

đến dưới 15 tuổi Giáo dục là hành trang đề trẻ em hoàn thiện bản thân và phát triển các năng lực tiềm năng Trẻ em không được đi học đồng nghĩa với việc bị tước đi nhu cầu và quyền cơ bản

3.1.2 Chiều sức khỏe

Bên cạnh giáo dục, sức khỏe cũng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực Sức khỏe tốt không chỉ làm tăng năng suất lao động mà còn làm giảm bớt chi phí y

tế cho cá nhân và hộ gia đình

Tiếp cận các dịch vụ y tế: Việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở

y tế không chỉ giúp cá nhân bị bệnh phục hồi sức khỏe mà còn hạn chế tới nguồn

Trang 39

nhân lực phải ở nhà, chăm sóc người bệnh Qua đó, cải thiện thu nhập và tránh áp lực sinh kế lên các thành viên còn lại của hộ

Tham gia bảo hiểm y tế: Việc tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện không chỉ

chia sẻ rủi ro với người khác mà còn giảm rủi ro cho chính hộ gia đình khi có phát sinh bất trắc

3.1.3 Chiều nhà ở

Diện tích nhà ở, chất lượng nhà ở: Nhà ở đóng vai trò quan trọng trong đời

sống của con người Một hộ được xem là thiếu hụt chỉ tiêu này khi diện tích ở nhỏ hơn 8m2/ người hoặc chất liệu nhà là vật liệu bán kiên cố hoặc nhà thô sơ

3.1.4 Chiều điều kiện sống

Nguồn nước sinh hoạt: Nước sạch đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe

của các nhân Uống và sử dụng nước sạch giúp suy trì sức khỏe và giảm khả năng mắc các bệnh liên quan đến đường ruột Việc được sử dụng nước sạch cũng là một nhu cầu thiết yếu và chính đáng của cá nhân Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay vẫn còn tình trạng không thể tiếp cận nguồn nước sạch

Hố xí, nhà vệ sinh: Nhà vệ sinh ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc

sống và sức khỏe con người Nhà vệ sinh không hợp vệ sinh là mầm móng gây các bệnh truyền nhiễm, tạo nên vòng lẩn quẫn nghèo đói, bệnh tật Tại Việt Nam, vẫn còn tình trạng nhà vệ sinh không hợp vệ sinh do thói quen hoặc do áp lực chi phí Một hộ được xem là thiếu hụt chỉ tiêu này khi không có nhà vệ sinh hợp vệ sinh

3.1.5 Chiều tiếp cận thông tin

Dịch vụ viễn thông: Viễn thông, chủ yếu là điện thoại và internet là phương

thức liên lạc và cập nhật thông tin phổ biến và hữu ích hiện nay Việc cập nhật thông tin sẽ giúp các hộ tiếp cận nhiều hơn với thế giới, thị trường bên ngoài, từ đó có thể

tự trang bị cho mình khả năng chống đỡ và vượt qua các cú sốc

Trang 40

Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin: Việc sở hữu các phương tiện thông tin

truyền thông như ti vi, radio, nhằm mục đích nắm bắt thông tin, giải trí cũng là một nhu cầu chính đáng của cá nhân và hộ gia đình

(1): Trong đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng trong giai đoạn 2016-2020 (UNDP, 2014), qua thảo luận của các bộ ngành, 5 chiều với 10 chỉ số trên được xác định để đo lường mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản Các nhu cầu sơ bản này là như nhau và cho điểm ngang bằng nhau Mỗi chiều 20 điểm, tương ứng với mỗi chỉ số là 10 điểm Tổng điểm của các chỉ tiêu sẽ là điểm thiếu hụt của hộ Ngưỡng thiếu hụt đa chiều là mức

(9)

(8)

(7) (6) (5) (4) (3) (2)

Di cư

Giới tính chủ

hộ Tuổi chủ hộ Học vấn chủ hộ

Tình trạng việc làm chủ hộ Quy mô hộ

Dân tộc

Số lao động chính (1e)

(1d) (1c)

Chiều điều kiện sống

+ Nguồn nước sinh hoạt

Ngày đăng: 22/08/2017, 23:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Cách tính các chỉ số đo lường trong HDI - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 2.1. Cách tính các chỉ số đo lường trong HDI (Trang 26)
Bảng 2.2.  Các chiều thiếu hụt trong đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 2.2. Các chiều thiếu hụt trong đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam (Trang 29)
Hình 2.1. Thành tựu giảm nghèo - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Hình 2.1. Thành tựu giảm nghèo (Trang 35)
Bảng 3.1.  Số quan sát trong mẫu - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 3.1. Số quan sát trong mẫu (Trang 46)
Bảng 3.2.  Mô tả và đo lường biến - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 3.2. Mô tả và đo lường biến (Trang 47)
Bảng 4.1.  Tỷ lệ các chỉ tiêu thiếu hụt theo vùng - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.1. Tỷ lệ các chỉ tiêu thiếu hụt theo vùng (Trang 52)
Hình 4.1. Chiều thiếu hụt giữa các vùng - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Hình 4.1. Chiều thiếu hụt giữa các vùng (Trang 53)
Bảng 4.2.  Tỷ lệ các chiều thiếu hụt theo vùng - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.2. Tỷ lệ các chiều thiếu hụt theo vùng (Trang 54)
Bảng 4.3.  Chỉ số nghèo đa chiều theo vùng - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.3. Chỉ số nghèo đa chiều theo vùng (Trang 55)
Bảng 4.4.  Tỷ lệ người nghèo, độ sâu nghèo và MPI cho từng vùng - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.4. Tỷ lệ người nghèo, độ sâu nghèo và MPI cho từng vùng (Trang 55)
Bảng 4.5.  Quan sát hộ di cư theo dân tộc - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.5. Quan sát hộ di cư theo dân tộc (Trang 57)
Bảng 4.6.  Quan sát hộ di cư theo vùng địa lý - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.6. Quan sát hộ di cư theo vùng địa lý (Trang 57)
Bảng 4.7.  Thống kê mô tả các biến định lượng trong mô hình - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.7. Thống kê mô tả các biến định lượng trong mô hình (Trang 58)
Bảng 4.8.  Các đặc điểm của chủ hộ và hộ - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.8. Các đặc điểm của chủ hộ và hộ (Trang 59)
Bảng 4.9.  Các yếu tố tác động đến di cư của hộ gia đình - Phân tích tác động của nghèo đa chiều đến di cư của hộ gia đình nông thôn việt nam
Bảng 4.9. Các yếu tố tác động đến di cư của hộ gia đình (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w