Tính cấp thiết của Đề án Quận Liên Chiểu nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Đà Nẵng với địahình khá đặc trưng, đa dạng về các loại hình kinh tế; bao gồm: sản xuất nôngnghiệp, hoạt động ki
Trang 1“GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU ĐẾN NĂM 2020
VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2025”
Cơ quan chủ trì Đề án: Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng Chủ nhiệm Đề án: Th.S Đinh Thị Hoa Mỹ
Trang 3Phần thứ nhất: Thực trạng sản xuất nông nghiệp đô thị và tiêu thụ nông
sản trên địa bàn quận trong những năm qua
5
Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển
nông nghiệp đô thị
Phần thứ hai: Phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn quận Liên Chiểu đến
Trang 4Nội dung Trang
Đề xuất một số mô hình thí điểm giai đoạn 2017-2020 và nhân rộng đến
năm 2025
26
Đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn quận
đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025
27
Giải pháp và cơ chế, chính sách trong từng lĩnh vực 29
Trang 5Một số hình ảnh
Hình 1 Vùng sản xuất lúa tại phường Hòa Hiệp Bắc
Hình 2 Vùng sản xuất rau ở Hòa Hiệp Nam
Hình 3 Nhà làm nấm tại Hòa Minh
Hình 4 Mô hình nông nghiệp xanh theo chiều thẳng đứng tại SingaporeHình 5 Mô hình trồng hoa lili tại Hà Nội
Hình 6 Mô hình trồng hoa lan trong nhà lưới tại TP.HCM
Trang 6MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của Đề án
Quận Liên Chiểu nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Đà Nẵng với địahình khá đặc trưng, đa dạng về các loại hình kinh tế; bao gồm: sản xuất nôngnghiệp, hoạt động kinh tế rừng, công nghiệp, thương mại, dịch vụ…Trong nhữngnăm qua, với định hướng phát triển kinh tế quận theo hướng Công nghiệp - Tiểuthủ công nghiệp, Thương mại- Dịch vụ và Nông nghiệp và quá trình chỉnh trang
đô thị cùng với công nghiệp hóa diễn ra khá mạnh mẽ trên địa bàn quận đã làmcho diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn quận hiện nay giảm đáng kể Cụ thể:diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn quận Liên Chiểu hiện từ 245 ha (2010)xuống còn 65,5 ha (năm 2014); trong đó: đất trồng lúa: 25,5 ha; diện tích còn lại
là đất trồng cây lương thực, thực phẩm các loại Tuy nhiên, diện tích đất nôngnghiệp còn lại này cũng chưa được quy hoạch ổn định Do đó, cơ sở hạ tầngphục vụ sản xuất nông nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ đã làm cho việc sảnxuất trở nên khó khăn dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, chưa phát huy đượclợi thế của từng vùng, từ đó làm cho thu nhập của người dân không ổn định
Để tăng thu nhập, người dân địa phương đã tự học hỏi và triển khai một số
mô hình chăn nuôi, trồng trọt, chẳng hạn như: trồng nấm, nuôi ếch giống, nuôi cácảnh giống, trồng hoa… Song song đó, các ngành chức năng, hội đoàn thể củaquận và thành phố đã triển khai một số chương trình tập huấn, hỗ trợ nông dânchuyển đổi phương thức sản xuất cũng như xây dựng các mô hình nông nghiệpphù hợp Cụ thể như: tập huấn kỹ thuật trồng hoa, cây cảnh, hỗ trợ khai hoang,tận dụng đất trống ở các khu dân cư/khu công nghiệp để sản xuất rau, màu …Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan một số mô hìnhkhông được duy trì và nhân rộng trên địa bàn quận
Để tăng hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người dân tham gia sản xuấtnông nghiệp, trong giai đoạn 2016 -2020, quận Liên Chiểu đã chủ trương pháttriển nông nghiệp của quận hướng đến
“….tăng nhanh sản phẩm hàng hoá, ứng dụng khoa học – kỹ thuật, tăng
năng suất lao động, làm tốt dịch vụ đầu vào và đầu ra cho nông dân yên tâm phát triển sản xuất có hiệu quả”
Nghĩa là, nông nghiệp trên địa bàn quận đòi hỏi phải có những mô hìnhnông nghiệp phù hợp với trình độ lao động, điều kiện khí hậu và đất đai, diệntích đất nông nghiệp nhỏ Đồng thời, xây dựng một số vùng sản xuất ổn định, với
sự đầu tư về hạ tầng phục vụ sản xuất đồng bộ, ưu tiên ứng dụng công nghệ caotrong sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra khối lượng hàng hóa đủ lớn và có chấtlượng từ đó nâng cao tính cạnh tranh cao của các mặt hàng nông sản do người
Trang 7dân địa phương sản xuất ra Trên cơ sở đó, có thể nâng cao hiệu quả sản xuất vàlàm tăng thu nhập cho người sản xuất.
Do đó, Đề án “Giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn quận
Liên Chiểu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025” với mục tiêu đánh giá
thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn quận trong những năm qua, xâydựng một số mô hình phù hợp và đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp
đô thị trên địa bàn quận trong thời gian đến sẽ giải quyết các yêu cầu đã đề cập
II Căn cứ pháp lý để xây dựng Đề án:
- Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 06/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng vàphát triển bền vững
- Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chínhsách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ
về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020
- Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chínhphủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp
- Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chínhsách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng vàphát triển bền vững
- Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chínhphủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêuthụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 cuả Thủ tướng Chính
phủ về “Một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước”.
- Quyết định số 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một
số chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giai đoạn 2020
2011 Nghị định số 02/2010/NĐ2011 CP ngày 08/01/2010 của Chính Phủ về
Trang 8- Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 của Thủ tướng chính phủ
về “Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm
2020”.
- Quyết định số 1866/QĐ-TTg ngày 08/10/2010 của Thủ tướng chính phủ
về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
đến năm 2020”.
- Quyết định số 142/2009/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chínhphủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôiphục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung
ương khóa X hội nghị lần thứ 7 ban hành chủ trương về “Phát triển nông
nghiệp, nông dân, nông thôn”.
- Quyết định 61/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/5/2008
về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Dải ven biển miền
Trung Việt Nam đến năm 2020”.
- Chỉ thị 12/2006/CT-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng ngày08/5/2006 Về việc nghiêm cấm chăn nuôi, giết mổ, mua bán gia súc, gia cầmsống trên địa bàn quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà và một số phường thuộcquận Cẩm Lê, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu
- Quyết định số 8999/QĐ-UBND ngày 31/12/2012 của UBND thành phố
Đà Nẵng về việc Hội Nông dân thành phố trực tiếp thực hiện và phối hợp thựchiện một số chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vàtrong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020
- Quyết định số 6211/2010/QĐ_UBND ngày 18/8/2010 của Ủy ban nhân
dân thành phố Đà Nẵng về “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành
khoa học công nghệ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”.
- Quyết định số 8918/2010/QĐ-UBND ngày 18/11/2010 của Ủy ban nhân
dân thành phố về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nông nghiệp
và phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”.
- Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 26/02/2014 Về việc Hội Nông dânquận Liên Chiểu trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình,
đề án, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giai đoạn 2011-2020
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ V quận Liên Chiểu nhiệm kỳ 2020
Trang 92015-III Mục tiêu của Đề án
- Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn quận LiênChiểu trong những năm qua;
- Đề xuất một số mô hình nông nghiệp đô thị phù hợp trên địa bàn quận;
- Đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn quậnđến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025
IV Phạm vi và đối tượng áp dụng
1 Phạm vi áp dụng:
Phạm vi áp dụng của đề án gồm:
- Chăn nuôi tại phường Hòa Hiệp Bắc
- Trồng trọt trên địa bàn 5 phường
2 Đối tượng áp dụng
Các hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức, doanh nghiệp
Trang 10Phần thứ nhất THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TRONG NHỮNG NĂM QUA
I Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển NNĐT
I.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Quận Liên Chiểu nằm ở phía Bắc thành phố Đà Nẵng, Đông giáp vịnh ĐàNẵng, Nam giáp quận Cẩm Lệ và quận Thanh Khê, Tây giáp huyện Hòa Vang
và Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế Quận có 5 phường Hòa Hiệp Bắc, Hòa HiệpNam, Hòa Khánh Bắc, Hòa Khánh Nam và Hòa Minh
Diện tích tự nhiên: 7.912,7 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất rừng vàđất lâm nghiệp (3.452ha) Diện tích đất nông nghiệp chỉ còn 65,5 ha; trong đóđất trồng lúa: 25,5 ha; diện tích còn lại là đất trồng cây lâu năm các loại
Liên Chiểu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình Mỗi năm
có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 9 – 12 và mùa khô từ tháng 1 – 8.Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,90C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8(trung bình khoảng 350C) và thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2 (trung bình khoảng
200C) Độ ẩm không khí trung bình là 83,4% Lượng mưa trung bình hàng năm
là 2.504,57mm, cao nhất vào các tháng 10 và 11, trung bình 550-1.000mm/tháng
và thấp nhất từ tháng 1 – 4, trung bình 23-40mm/tháng Hàng năm chịu ảnhhưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới Chẳng hạn như,năm 2015 có 05 cơn bão và 02 ấp thấp nhiệt đới hoạt động ở Biển Đông, trong
đó cơ bão số 3 – VAMCO đổ bộ vào tỉnh Quảng Nam vào giữa tháng 9/2015 đãảnh hưởng trực tiếp đến thành phố Đà Nẵng Cụ thể gây mưa diện rộng với tổnglượng mưa toàn đợt phổ biến 150-300mm
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây nhiệt độ ngày càng tăng Điểnhình, trong năm tình hình nắng nóng tại Đà Nẵng xảy ra chủ yếu từ giữa tháng 5đến tháng 7, nhiệt độ cao nhất đo được vào giữa tháng 5 là 39,40C
Tình hình nắng nóng, hạn hán kéo dài dẫn đến tình trạng mực nước vàdòng chảy trên các sông, suối tại một số khu vực thuộc quận bị suy giảm mạnh,mặn xâm nhập có chiều hướng đi sâu vào các sông
Trong những năm qua, điều kiện kinh tế của quận phát triển khá Kết cấu
hạ tầng của quận ngày càng hoàn thiện, công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thịđược thực hiện đều khắp và đồng bộ Hiện nay, trên địa bàn quận có hơn 60 dự
án quy hoạch dân cư như dự án Trung tâm đô thị mới Tây Băc, Khu đô thị sinh
Trang 11thái Quan Nam – Thủy Tú, Dự án nâng cấp và mở rộng Xí nghiệp Dây và cápđiện Tân Cường Thành, đường DT 606 (lên khu du lịch nghỉ dưỡng Bà Nà), mởrộng và nâng cấp đường Hoàng Văn Thái sẽ tạo nên bộ mặt đô thị ngày càngkhang trang, hiện đại.
Ngoài ra, trên địa bàn quận còn có một số cơ sở hạ tầng đặc biệt, baogồm: Trung tâm Chế biến gia súc- gia cầm Đà Sơn tại Đà Sơn, phường HòaKhánh Nam với công suất 1.200 con heo, 50 con bò và hàng ngàn con gia cầmhàng đêm; bãi rác Khánh Sơn; các kho xăng dầu; khu sinh sống của đồng bào từlàng Cân chuyển vào…
Nền kinh tế quận phát triển theo cơ cấu Công nghiệp – Dịch vụ - Nôngnghiệp Trong đó, công nghiệp – TTCN giữ vai trò chủ đạo, thương mại – dịch
vụ giữ vị trí quan trọng, nông nghiệp sẽ giảm dần tỷ trọng đến mức ổn định
Là quận công nghiệp, Liên Chiểu có 2 khu công nghiệp lớn với trên 200nhà máy, xí nghiệp công nghiệp lớn của địa phương và trung ương cũng như cácnhà đầu tư trong và ngoài nước Số công nhân trên địa bàn quận lên đến hơn30.000 người Bên cạnh đó, trên địa bàn quận có 2 trường đại học lớn, 04 trườngcao đẳng, 05 trường trung học chuyên nghiệp đã thu hút trên 32.000 học sinh,sinh viên đến lưu trú và học tập
Về dân số và số người trong độ tuổi lao động của quận tăng dần theo cácnăm (Bảng 1)
Bảng 1 Một số chỉ tiêu về dân số (2011-2015)
Chỉ tiêu ĐVT 2011 2012 2013 2014 2015
Dân số trung bình Người 141.730 146.334 151.006 154.893 158.558
Số người trong độ tuổi lao đông Người 103.377 106.926 110.161 112.300 114.950
(Nguồn: Niên giám thống kê quận Liên Chiểu 2014, 2015) Trên địa bàn quận có chợ Hòa Khánh là chợ có quy mô khá lớn của cảkhu vực Tây Bắc thành phố, ngoài ra còn có các chợ nhỏ khác như chợ ThanhVinh, Nam Ô, Hòa Mỹ…
I.2 Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, xã hội đến phát triển NNĐT
I.2.1 Thuận lợi
Từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội nêu trên, quậnLiên Chiểu có một số lợi thế nhất định trong thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế
- xã hội nói chung cũng như phát triển NNĐT nói riêng, thể hiện qua các mặtsau:
Trang 12- Quận nằm trên nhiều tuyến đường giao thông quan trọng, có nhà ga, một
số khu du lịch sinh thái… tạo điều kiện giao thương hàng hóa, trong đó có hàngnông sản
- Với hệ thống chợ đều khắp trên địa bàn cùng với dân số cao và số lượngcông nhân, sinh viên, học sinh trung học chuyên nghiệp lớn trên địa bàn quận làlợi thế trong việc tiêu thụ hàng hóa do người dân địa phương sản xuất ra
I.2.2 Khó khăn
Bên cạnh thuận lợi, các đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hộicũng gây ra một số khó khăn nhất định đối với sản xuất nông nghiệp trên địabàn:
- Thời tiết khí hậu khắc nghiệt, thiên tai bão lũ thường xuyên xảy ra ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất Bên cạnh đó các loại sâu, bệnh trên câytrồng vật nuôi ngày càng nhiều và khó kiểm soát, làm giảm năng suất, chấtlượng hàng nông sản
- Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã làmgiảm diện tích đất nông lâm nghiệp, do đó các lao động trung niên, lớn tuổi vàphụ nữ - là những đối tượng không thể tìm kiếm việc làm ở các ngành nghề khác– bị mất đất sản xuất nên phải tìm kiếm đất đai ở những khu đất trống, khu đấthoang hóa để mưu sinh
Trong khi đó tại những khu vực này, cơ sở hạ tầng cho sản xuất nôngnghiệp hầu như không có nên họ phải bỏ khá nhiều công lao động cũng nhưkinh phí để cải tạo đất, đầu tư lại sản xuất Tuy nhiên, do không có sự ổn định vềđất đai nên việc đầu tư còn hạn chế Tất cả những lý do trên đã làm cho hiệu quảsản xuất không cao và không ổn định
- Quá trình hoạt động của các khu công nghiệp, bãi rác…đã gây ô nhiễmmôi trường không khí, đất, nước nên ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất của ngườidân ở các khu vực xung quanh
II Thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn quận trong những năm qua
Giá trị sản xuất nông nghiệp từ năm 2011 đến quý III/2016 giảm khoảng8,6%; trong đó giai đoạn 2011-2013 giảm 14% sau đó giá trị sản xuất tăng 6,4%trong giai đoạn 2013-2016 Trong đó, giá trị ngành chăn nuôi có giá trị sản xuấttăng 20% (Bảng 2)
Trang 13Bảng 2 Giá tr s n xu t nông nghi p theo giá c nh 2010 (tri uị sản xuất nông nghiệp theo giá cố định 2010 (triệu ản xuất nông nghiệp theo giá cố định 2010 (triệu ất nông nghiệp theo giá cố định 2010 (triệu ệp theo giá cố định 2010 (triệu ố định 2010 (triệu đị sản xuất nông nghiệp theo giá cố định 2010 (triệu ệp theo giá cố định 2010 (triệu
Theo kết quả khảo sát người dân sản xuất tại 2 phường, người dân sảnxuất lúa chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sản xuất và mua các loại vật tư nôngnghiệp ở các cửa hàng tại chợ Hòa Khánh Trong vài năm gần đây, người dânnhận được giống lúa hỗ trợ của quận Do đó, năng suất lúa cũng đạt bình quânkhoảng 53,7 tạ/ha vụ Đông Xuân và 45 tạ/ha trong vụ Hè Thu năm 2016 (Bảng3)
Các hộ sản xuất lúa để đủ sử dụng trong gia đình nên hầu như không quantâm đến giá lúa, tiêu thụ lúa và hiệu quả sản xuất
Hình 1 Vùng sản xuất lúa tại phường Hòa Hiệp Bắc
Trang 14Bảng 3 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa từ năm 2011 – 2015
(Nguồn: Niên giám thống kê quận Liên Chiểu 2014, 2015 và Báo cáo quý
III/2016 Phòng Kinh tế quận Liên Chiểu)
b) Sản xuất rau màu:
Tổng diện tích rau màu của cả quận hiện chỉ còn khoảng 40 ha, chủ yếutập trung tại phường Hòa Hiệp Bắc (20 ha) tại khu vực Đồng Tranh, Đồng Khế;Hòa Hiệp Nam (7ha) tại khu vực Đồng Rọc, Cồn Ông Công, ven hồ Bàu Tràm.Một số diện tích đất sản xuất rau màu hiện nay trên địa bàn quận là đất tận dụng
từ đất của các dự án được thành phố giao đất nhưng chưa triển khai hoặc cá lôđất trống trong các khu dân cư Do đó, diện tích trồng thường manh mún, nhỏ lẻ
Một số khu vực trước đây là những cánh đồng trồng rau màu của ngườidân nhưng sau khi giao đất cho dự án đã trở thành những khu hoang hóa, nếu
Trang 15muốn sử dụng phải tốn khá nhiều công sức để cải tạo như khu vực Đồng Tằm(5ha đất màu), phường Hòa Khánh Bắc đã quy hoạch Khu dân cư Thanh Vinh.
Về chủng loại rau, người dân chủ yếu sản xuất các loại rau ăn lá như: dền
đỏ, cải xanh, cải ngọt, rau muống, mồng tơi, ngò… và rau ăn quả như bí đao,bầu, mướp hương…
Trên địa bàn quận, đã triển khai
thực hiện một số mô hình sản xuất rau
sạch; chẳng hạn như: Mô hình rau sạch
do Tổ chức Người nghèo Thế giới tài
trợ tại Hòa Khánh Nam (1ha) tại các
vùng có hệ thống thủy lợi khá hoàn
chỉnh Trong đó, hỗ trợ giống, phân
bón, thuốc BVTV và kinh phí tập
huấn Sau khóa tập huấn, người dân Hình 2 Vùng sản xuất rau ở Hòa Hiệp Namđược cấp giấy chứng nhận và họ tiếp tục thực hiện dự án cho đến khi một sốdiện tích đã bị thu hồi Hiện nay, một số hộ ở phường Hòa Hiệp Nam vẫn tiếpsản xuất tại các vùng rau trên địa bàn phường Dự án QSEAP (Sở NN-PTNTThành phố) hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân phường Hòa Hiệp Nam (1,7ha) về kỹthuật sản xuất rau an toàn
Trong năm 2004, với sự hỗ trợ của UBND quận, một số nông dân ởphường Hòa Hiệp Bắc đã triển khai mô hình trồng rau sạch, với diện tíchkhoảng gần 01ha Trong đó, UBND quận đã hỗ trợ hệ thống điện, giống, giếngbơm, phân bón, tập huấn kỹ thuật sản xuất và cử cán bộ kỹ thuật theo dõi môhình Tuy nhiên, sau khi dự án kết thúc, người dân không tiếp tục sản xuất chủyếu do các nguyên nhân sau:
- Tâm lý của người dân trong sản xuất luôn trông vào hỗ trợ toàn bộ củanhà nước cả về giống, phân bón, thuốc BVTV, họ chỉ bỏ công lao động để thulại lợi nhuận
- Đồng thời, trong thời điểm đó, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm chưađược người tiêu cùng quan tâm Do đó, sản xuất ra rau có chất lượng đảm bảonhưng vẫn bán theo giá thị trường và giá cả khá bấp bênh nên lợi nhuận manglại không cao so với lao động ở các ngành nghề khác
- Các loại rau sản xuất trong mô hình chưa có chất lượng cao hơn các mặthàng đang có ở chợ
Trang 16- Người dân tham gia mô hình không có kinh nghiệm trong sản xuất rau
và chủ yếu lao động đã lớn tuổi nên không thể lao động thường xuyên ngoàiđồng ruộng
c) Trồng nấm:
Người dân trong quận đã sản xuất nấm rơm, nấm bào ngư từ rất sớm (từnhững năm 2004-2005).Tuy nhiên, qua quá trình sản xuất khoảng 5-6 nămkhông mang lại hiệu quả nên hầu hết các hộ đã ngừng sản xuất
Hiện nay chỉ còn khoảng10 hộ sản xuất nấm, diện tích nhỏ lẻ chủ yếu tậndụng đất của gia đình; chỉ có 5 hộ sản xuất với quy mô 200m2 Riêng các hộ hộtrồng nấm ở phường Hòa Khánh Nam đã thành lập Tổ hợp tác làm nấm bào ngư,mỗi ngày thu hoạch khoảng 30kg nấm Tại phường Hòa Minh, 01 hộ gia đình đãtrồng thử nghiệm nấm linh chi cũng mang kết quả khả quan
Trong những năm gần đây, Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyếncông thành phố hỗ trợ lò hấp nấm và giàn phun sương cho một số hộ
Qua tìm hiểu, người dân không tiếp tục sản xuất nấm chủ yếu do cácnguyên nhân sau:
- Nấm bào ngư chỉ thích hợp nuôi trồng ở nhiệt độ 25-320C nhưng các hộdân chưa đầu tư các hệ thống phun sương Do đó, trong điều kiện nắng nóng lênđến 35-360C, sản xuất nấm gặp nhiều khó khăn do bị nấm bệnh và không ra tainấm
- Nguồn giống cung cấp không đảm bảo cùng với dụng cụ hấp nấm thủcông, đơn giản nên các bịch phôi thường bị nấm bệnh gây thối hàng loạt
- Sự hỗ trợ đầu tư về thiết bị, công nghệ chưa đồng bộ, cụ thể là: hộ dânđược hỗ trợ hệ thống phun sương thì không có lò hấp nấm và ngược lại
- Các hộ khó khăn về vốn để đầu tư nhà trồng nấm, hệ thống phun sương,sấy khô sản phẩm
- Do đặc trưng về tiêu thụ chủ yếu những ngày ăn chay của người dân nênvới trong những ngày còn lại, giá bán khá thấp và khó tiêu thụ
Trang 17Hình 3 Nhà làm nấm tại Hòa Minh
d) Sản xuất hoa, cây cảnh:
Trên địa bàn các phường, người dân vẫn tận dụng những khu đất trống(của tư nhân và dự án) để sản xuất các loại hoa trong chậu như ly ly, hồng, cúc
để bán vào dịp Tết Âm lịch hàng năm Với những chủng loại hoa này, các hộdân cũng dễ dàng tiêu thụ, đặc biệt có hộ ở Hòa Khánh Nam bán cúc chậu vàhồng ra tận ngoài thị trường Thừa Thiên Huế
Bên cạnh đó, các loại cây cảnh cũng được người dân sản xuất tại nhà Các
hộ đã liên kết với nhau trong Hội Sinh vật cảnh quận để hợp tác sản xuất, trưngbày và tiêu thụ sản phẩm Hàng năm, với sự hỗ trợ về kinh phí của UBND quận,Hội Sinh vật cảnh đã tham gia các hội chợ, triển lãm để quảng bá sản phẩm
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, các loại cây cảnh do người dân chưa cótính cạnh tranh cao do mẫu mã, hình thức chưa đẹp và loại cây cũng phổ biến ởnhiều nơi
Tại phường Hòa Hiệp Bắc, với sự hỗ trợ của UBND phường về thuê đấtcủa các hộ dân trong phường, hộ ông Nguyễn Văn Thi đã thuê khoảng 2 ha đấtmàu bỏ hoang tại Đồng Khế để trồng các loại giống cây cảnh quan Việc sảnxuất và tiêu thụ các loại cây cảnh quan của hộ đã mang lại hiệu quả kinh tế khá
II.2 Chăn nuôi
Gia cầm, gia súc: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn quận chủ yếu quy mô
nhỏ hộ gia đình Chẳng hạn như, ở Hòa Khánh Bắc, người dân tận dụng đất vennúi Thanh Vinh, Thanh Phước để làm trang trại, trong đó có nuôi gà, heo; 8 hộdân nuôi heo quy mô 20-50 con/chuồng Phường Hòa Khánh Nam cũng có môhình nuôi gà, heo vườn đồi tại Khánh Sơn; phường Hòa Minh: nuôi thỏ tại nhà
Mô hình nuôi ếch giống kết hợp với nuôi gà, ngan, ngỗng trên 10 năm vớiquy mô lên đến 1000 con giống Tuy nhiên, mô hình này không được duy trì và
mở rộng do không thể tiêu thụ được ếch giống
Riêng phường Hòa Hiệp Bắc, hiện nay có khoảng 2.010 con gia súc cácloại (bao gồm: bò: 1.150 con; dê: 200 con; heo: 620 con và 10 con trâu) và3.350 con gia cầm mang lại thu nhập cho các hộ dân từ 2,5-4 triệu đồng/tháng.Theo người dân địa phương, chất lượng đàn gia súc tại phường Hòa Hiệp Bắccòn khá thấp, chủ yếu giống địa phương và nuôi theo hình thức chăn thả là chủyếu nên hình thức bò không đẹp và khó cạnh tranh với bò ở các địa phươngkhác
Trang 18Trong khi đó, các hộ chăn nuôi heo chưa được đầu tư về xử lý chất thảinhư hầm bioga nên ảnh hưởng môi trường xung quanh
Hiện nay, một số hộ dân đã trồng cỏ nuôi bò, như: phường Hòa Hiệp Bắc
đã có 01 hộ thuê 7 sào lúa trồng cỏ để nuôi khoảng 11 con bò; 01 hộ tại HòaKhánh Nam: trồng 01 sào cỏ để nuôi bò (04 con bò thịt)
Mặc dù, công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đượctriển khai hằng năm nhưng do nhiều nguyên nhân các loại dịch bệnh cũngthường xuyên xảy ra gây thiệt hại cho các hộ chăn nuôi
Nuôi cá cảnh: Tận dụng diện tích đất ở, một số hộ dân đã đầu tư đồng bộ
các trang thiết bị để nuôi cá cảnh Cụ thể như hộ ông Trần Trung Hữu (tổ 68,phường Hòa Khánh Nam) đã xây dựng trại nuôi cá cảnh rộng hơn 200m2, quy
mô hơn 3.000 con cá mẹ và hàng chục vạn cá con các loại
II.3 Nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào
- Khuyến nông: Trong thời gian gần đây, chủ yếu tập huấn kỹ thuật sản
xuất rau, hoa các loại cũng như sử dụng phân bón và thuốc BVTV an toàn
- Giống, phân bón, thuốc BVTV:
+ Nguồn gốc: Các hộ sản xuất chủ yếu mua giống rau, hoa tại các cửahàng ở chợ Hòa Khánh Ngoài ra, các hộ nông dân còn được hỗ trợ giống củanhà nước
Đối với chăn nuôi, chủ yếu mua giống trôi nổi trên thị trường, chất lượnggiống không đảm bảo và nguồn giống không chủ động
+ Chủng loại: Các hộ dân sản xuất chủ yếu là các loại rau thông thườngnhư rau muống, xà lách, cải, ngò
Trong chăn nuôi, chủ yếu nuôi dê, bò, heo thịt, gà thả vườn
- Tín dụng: Do quy mô diện tích nhỏ, phân tán và nhu cầu vốn đầu tư cho
sản xuất rất ít nên người nông dân thường sử dụng vốn tự có để phục vụ sảnxuất Một số hộ dân được vay vốn từ hội nông dân, khoảng 10-25 triệu/hộ tùytheo quy mô sản xuất của từng hộ
- Điều kiện đất đai để sản xuất: Như đã phân tích ở trên, đất đai sản xuất
lúa thì không chủ động nước, thiếu hạ tầng cơ sơ để hỗ trợ sản xuất Diện tíchđất sản xuất rau màu không ổn định vì thuộc các dự án phát triển nên sản xuấtcầm chừng và cũng ít có sự đầu tư về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
II.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
Trang 19Qua khảo sát thực địa, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất tại các vùng sảnxuất nông nghiệp rất nghèo nàn Cụ thể là:
Với 25,5 ha đất lúa còn lại tại 2 phường Hòa Hiệp Bắc và Hòa KhánhNam đang sử dụng nước từ núi chảy xuống qua hệ thống kênh, mương tự nhiênkhông có đập, hồ chứa nước để phục vụ sản xuất Các hộ sử dụng đường giaothông là các tuyến đường quốc lộ, đường trong khu dân cư; không có hệ thốngđường giao thông nội đồng để vận chuyển vật tư sản xuất và thu hoạch
Tại các khu vực sản xuất rau, màu: Do là đất tận dụng của các dự án nêncác hộ dân đã tận dụng nước chảy tự nhiên từ các hồ nước trong khu vực, như từ
hồ Bàu Tràm theo hệ thống kênh mương cũ để dẫn nước đến khu vực sản xuất.Tuy nhiên không có hệ thống thoát nước nên thường xuyên bị ngập lụt trongmùa mưa Một số nơi được hỗ trợ khoan giếng để sản xuất
Hệ thống điện phục vụ sản xuất hầu như chưa được đầu tư; để phục vụ sảnxuất, người dân chủ yếu kéo điện sinh hoạt của gia đình để sử dụng bơm, tưới
II.5 Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp
Với nền NNĐT còn nhiều khó khăn thì trong giai đoạn phát triển vừa quavai trò quản lý của nhà nước là rất lớn thể hiện qua một số hoạt động chính:
+ Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng trọt cho người dân; chẳng hạnnhư: kỹ thuật sản xuất các loại hoa, nấm, rau; sử dụng phân bón và thuốc BVTV antoàn trong sản xuất rau
+ Hỗ trợ giống lúa mới và phân bón cho các hộ dân tại các vùng sản xuấtlúa; hầm bioga cho một số hộ chăn nuôi
+ Phối hợp với các cơ quan, đơn vị thực hiện công tác quản lý nhà nướctrên những lĩnh vực quản lý, du nhập các giống cây trồng, con vật nuôi mới làm
đa dạng thêm về chủng loại giống và loại bỏ các giống cây trồng, con vật nuôi
- Bên cạnh đó, Hội Nông dân quận đã triển khai các hoạt động nhằm hỗtrợ cho các hộ dân sản xuất nông nghiệp:
+ Hội đã đại diện cho các hộ dân sản xuất tại các khu đất thuộc các dự ánđang bỏ trồng cam kết với các chủ đầu tư về sử dụng đất hợp lý và trả lại đất khi
dự án triển khai
+ Phối hợp tổ chức 33 lớp tập huấn trồng rau, hoa, đu đủ, chăm sóc câycảnh, trồng cỏ nuôi bò, nuôi cá nước ngọt và 2 lớp kỹ năng kinh doanh cho
Trang 20+ Tổ chức cho Hội viên nông dân đi thăm học tập kinh nghiệm các môhình nuôi heo rừng, nuôi thỏ, nuôi cá nước ngọt, nuôi trồng và chế biên các loạinấm ăn, nấm dược liệu tại Huyện Hòa Vang, Quận Sơn Trà và quận Cẩm Lệgiúp nông dân nắm bắt được những kiến thức mới, tự tin ứng dụng vào thực tếsản xuất, nuôi trồng, kinh doanh mang lại hiệu quả
Tuy nhiên, theo ý kiến của người dân, trong tập huấn sử dụng phân bón,thuốc BVTV an toàn, cán bộ thường khuyến khích người sản xuất rau sử dụngcác loại chế phẩm sinh học hay một số loại thuốc BVTV an toàn nhưng ngườidân không thể tìm mua tại các cửa hàng vật tư nông nghiệp trên địa bàn quận
II.6 Tình hình tiêu thụ các mặt hàng nông sản do người dân địa phương sản xuất
Qua khảo sát người dân và các tiểu thương bán mặt hàng rau tươi sống tạicác chợ, tình hình tiêu thụ các mặt hàng nông sản do người dân địa phương sảnxuất ra như sau:
Địa chỉ mua các mặt hàng nông sản
Nhìn chung, các chợ trên địa bàn chính là địa chỉ người dân thường đến
để mua các mặt hàng nông sản Tất cả các sản phẩm nông sản được khảo sát đềuđược mua chủ yếu ở chợ với tỷ lệ dao động từ 60-90% tùy từng loại Trong đó
có khoảng 90% người tiêu dùng mua các loại rau, bao gồm rau ăn trái, rau gia vị
và rau ăn lá tại các chợ trên địa bàn
Ngoài địa điểm là chợ, người dân cũng đến siêu thị và hộ gia đình tại địaphương để chọn mua các sản phẩm gà, vịt
Hình thức mua hàng trực tuyến hoặc qua điện thoại cũng xuất hiện nhưngvới tỷ lệ nhỏ chỉ ở một vài người được khảo sát (2,4%) Riêng mặt hàng hoa có
tỷ lệ mua ở các đại lý cao hơn các sản phẩm khác (22%)
Đối với các hộ tiểu thương kinh doanh tại chợ, họ cũng chủ yếu mua cácmặt hàng rau, củ quả ở tại chợ Họ không quan tâm đến nguồn gốc của mặt hàng
mà chỉ quan tâm đến mẫu mã, giá cả, khả năng cung ứng thường xuyên Do đó,theo họ nếu các mặt hàng nông sản do người dân địa phương sản xuất ra đápứng những yêu cầu đó thì họ vẫn mua Có khoảng 30% hộ tiểu thương cho rằng
họ sẵn sàng mua rau các loại của người dân địa phương sản xuất dù giá cả caohơn khoảng 10-20% vì họ tin tưởng chất lượng và họ có một lượng khách hàng
có nhu cầu tiêu thụ nông sản sạch
Các yếu tố ảnh hưởng khi mua hàng nông sản
Kết quả khảo sát cho thấy sự tiện lợi của nơi bán (73,2%), chất lượngnông sản (70,7%), uy tín nơi bán (63,4%) và yếu tố giá cả (63,4%) là những yếu
Trang 21tố người tiêu dùng ưu tiên xem xét khi mua nông sản Trong khi đó, quảng cáo,mẫu mã bên ngoài không xem là yếu tố quan trọng.
Mặc dù yếu tố nguồn gốc sản phẩm được 100% người trả lời khảo sát trảlời có quan tâm tuy nhiên chỉ có 58,5% trường hợp mang tính quyết định đếnviệc tiêu dùng
Điểm đáng lưu ý của kết quả khảo sát chính là mặc dù mong muốn muanông sản do địa phương sản xuất ra nhưng có đến 62,9% người tiêu dùng khôngbiết phải mua sản phẩm ở đâu Bên cạnh đó, sản xuất không thường xuyên(71,4%) và không đủ về chủng loại sản phẩm (48,6%) cũng gây khó khăn choviệc tiêu dùng sản phẩm địa phương Một số người trả lời cho biết rau do địaphương trồng không đa dạng, ít chủng loại để lựa chọn nên phải mua các sảnphẩm của nơi khác được bày bán phong phú ở chợ Các ý kiến cũng cho rằngngười sản xuất cần thông qua người bán hàng để tìm hiểu nhu cầu cụ thể củangười tiêu dùng để có thể đáp ứng tốt hơn
Góp ý nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm
Khi được hỏi để nâng cao tính cạnh tranh của các mặt hàng nông sản địaphương, đa số các ý kiến đều tập trung vào chất lượng và sự cung ứng của sảnphẩm Trong đó có 82,9% người được phỏng vấn đề nghị nâng cao chất lượngnông sản địa phương cao hơn các sản phẩm cùng loại 95,1% góp ý cải thiện khảnăng cung cấp để sản phẩm địa phương xuất hiện thường xuyên hơn ở các địađiểm bán và trong số các địa điểm bán hàng thì chợ vẫn là địa điểm các mặthàng nên được ưu tiên xuất hiện (80,5%) Mặt khác, cần hỗ trợ địa điểm bán hợp
lý cũng như giá cả cho bà con nông dân, đồng thời thông tin địa điểm bán rausạch đến với người dân để thuận tiện hơn trong việc mua sản phẩm
Khảo sát thăm dò ý kiến người tiêu dùng cũng cho thấy giá cả không phải
là vấn đề khi có đến 46,3% sẵn sàng mua nông sản địa phương với mức giá caohơn các sản phẩm cùng loại từ 10% - 20% và chỉ có 14,6% đề nghị sản phẩmđược bán với mức giá rẻ hơn
Về mẫu mã và khả năng bảo quản, một số cho biết rau sản xuất tại địaphương có mẫu mã không đẹp bằng các loại rau khác bày bán ở chợ và đề nghịcải thiện mẫu mã sản phẩm (41,5%) Bên cạnh đó, có 48,8% người được khảosát góp ý cần nâng cao khả năng bảo quản sản phẩm lâu hơn
Kết luận
Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu về nông sản sạch của người tiêu dùngtại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng là khá lớn Trong khi đó, trên địa bàn
Trang 22quận chưa có địa chỉ cung cấp rau sạch đáng tin cậy Do đó, sản xuất nông sảnsạch của người dân đã có một thị trường tiềm năng khá lớn.
II.7 Những vấn đề đặt ra trong phát triển NNĐT trên địa bàn quận và nguyên nhân
Từ những phân tích trên, có thể thấy phát triển NNĐT trên địa bàn quậnđang gặp một số vấn đề chính và những nguyên nhân sau đây:
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp: Quy hoạch sử dụng đất nôngnghiệp của quận thiếu tính ổn định, chưa có vùng sản xuất nào trên địa bàn quậnđược UBND thành phố phê duyệt quy hoạch phát triển Chính điều này đã gâynhiều khó khăn cho các hộ dân và các doanh nghiệp có thể mạnh dạn đầu tư vốnkinh doanh, sản xuất
- Quy mô sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nhỏ lẻ, phân tán; chất lượngsản phẩm nông nghiệp chưa cao và chưa tạo được uy tín, thương hiệu, lòng tinđối với người tiêu dùng; cụ thể:
+ Đối với vùng trồng lúa: Do lịch sử để lại nên trên diện tích đất lúa lànhững mảnh đất manh mún, diện tích đất lúa bình quân trên hộ còn thấp, khoảng0,3ha/hộ
+ Vùng sản xuất rau còn manh mún, chủ yếu người dân tận dụng đất ở cáckhu đất bỏ trống tại các dự án, khu dân cư Do đó, để sản xuất được người dânphải bỏ khá nhiều công lao động cũng như kinh phí để cải tạo đất, đầu tư lại sảnxuất
+ Tương tự, mặt bằng trồng hoa cũng thiếu ổn định, chưa đảm bảo; hầuhết người dân trồng hoa để phục vụ Tết Nguyên Đán Trình độ kỹ thuật sản xuấtcủa người dân còn hạn chế; chủng loại hoa thiếu đa dạng, chủ yếu hoa cúc trồngchậu
+ Chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, chất lượng đàn gia súc, gia cầm còn thấp chủyếu chăn nuôi theo hình thức thả rông, khó kiểm soát dịch bệnh Chưa ứng dụngcác kỹ thuật chăn nuôi an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường
- Đầu tư cơ giới hóa, áp dụng các kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuấtnông nghiệp chưa được triển khai do hạn chế về trình độ của người sản xuất,vốn đầu tư, đất đai hạn chế và chưa ổn định
- Điều đáng quan tâm trong sử dụng đất của người dân đó là: Những hộdân đã bị thu hồi hoặc chuẩn bị bị thu hồi đất thì cố gắng tìm kiếm các khu đấttrống, đất bỏ hoang để khai hoang, phục hóa để đầu tư sản xuất nông nghiệp từ
đó có thể tạo thu nhập cho gia đình Trong khi đó, những hộ dân đang còn sở
Trang 23hữu đất lúa tại 2 phường Hòa Hiệp Bắc và Hòa Khánh Nam lại không muốn đầu
tư vào sản xuất nông nghiệp Họ chỉ sản xuất theo kiểu “được chăng hay chớ” vàchủ yếu sống nhờ các nghề khác
Thậm chí, diện tích đất màu gần khu công nghiệp Liên Chiểu (Hòa HiệpBắc) không bị thu hồi nhưng người dân cũng bỏ hoang không sản xuất trongnhững năm gần đây
- Các loại nông sản do người dân địa phương sản xuất ra được tiêu thụchủ yếu là mặt hàng tươi sống không qua sơ, chế biến Do đó, nếu sản xuất ra sốlượng lớn và không có địa chỉ tiêu thụ thì người dân phải bán với giá rẻ hoặckhông tiếp tục sản xuất Do đó, trong những năm qua đã có một số mô hình sảnxuất mặc dù người dân đã sản xuất ra một số sản phẩm mới nhưng không đượcduy trì hoặc mở rộng
- Dịch vụ và hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp chưađảm bảo:
+ Các loại vật tư phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất;chẳng hạn chưa có các mặt hàng phân bón và thuốc BVTV an toàn trong sảnxuất rau Do đó, trong quá trình sản xuất các loại rau an toàn đáp ứng nhu cầucủa người tiêu dùng còn gặp nhiều khó khăn
+ Hầu như tại các vùng sản xuất hiện nay trên địa bàn quận chưa đượcđầu tư hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất, bao gồm: hệ thống điện, thủy lợi, giaothông nội đồng
- Trong những năm gần đây (khoảng từ 2010- 2015), tại một số vùng sảnxuất của các phường Hòa Khánh Nam, Hòa Hiệp Bắc, một số người dân hầunhư không được tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi
- Sự phù hợp của các mô hình sản xuất: Thời gian qua đã có nhiều môhình thí điểm về chuyển đổi cây trồng, con vật nuôi trên địa bàn quận nhưngnhìn chung chưa phù hợp với điều kiện thời tiết Đồng thời, kỹ thuật cũng nhưđầu tư sản xuất chưa phù hợp nên nhiều mô hình đã bị thất bại Chẳng hạn như:
mô hình nuôi ếch giống, trồng nấm bào ngư, trồng cây chùm ngây, trồng bưởi daxanh…
Bên cạnh đó, trong một số dự án được nhà nước đầu tư 100% kinh phí đãxây dựng thành công mô hình sản xuất Tuy nhiên, khi thời gian triển khai dự ánkết thúc, người dân đã không tiếp tục đầu tư sản xuất
- Tâm lý của người dân: Lao động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là phụ
Trang 24Họ chỉ sản xuất các loại cây trồng, con vật nuôi theo tập quán, thói quen lâu đờitại địa phương Chẳng hạn như, ở vùng sản xuất lúa mặc dù sản xuất lúa khôngđem lại nhiều lợi nhuận nhưng họ không mạnh dạn để chuyển sang trồng cácloại cây trồng khác như rau, màu hoặc cỏ nuôi bò.
Ngoài ra, ý thức về bảo vệ của cải của người khác còn nhiều hạn chế dongười dân đã sống với nhau tại địa phương qua nhiều thế hệ nên họ thường cótâm lý nể nang, sợ mất lòng Chẳng hạn như, các hộ chăn bò ở Hòa Hiệp Bắc thảrông bò, phá hoại cây trồng của người dân địa phương, cũng chưa được giảiquyết triệt để
III Kinh nghiệm phát triển NNĐT
III.1 Ở các nước
Đài Loan: Tập trung phát triển và gọi là “hưu nhàn nông nghiệp” tức là
nông nghiệp nghỉ ngơi, thư giãn Xây dựng các cơ ngơi nghỉ ngơi đồ sộ, caotầng theo kiểu kiến trúc đô thị phải tôn trọng thiên nhiên, hài hòa thiên nhiên vàkiến trúc
Tập trung chọn tạo, nhân giống, xây dựng thương hiệu một số cây giống,con giống mà đô thị có ưu thế, có thể là giống hoa, cây kiểng, cây cảnh phù hợpvới trình độ tay nghề, khí hậu, thổ nhưỡng và những đặc điểm sinh học để tránhlai tạp Đài Loan rất chú trọng sản xuất máy móc, công nghệ (dây chuyền), cáccông cụ chuyên dùng, các loại dinh dưỡng, bảo vệ thực vật,….nhằm đáp ứngnhu cầu đa dạng và thiếu nguồn lao động trong sản xuất nông nghiệp nói chung,ngành hoa kiểng nói riêng Trong lĩnh vực thu hoạch, bảo quản, sơ chế, vậnchuyển cũng vậy, cần đi vào chuyên môn hóa và tranh thủ thời gian một cách tối
đa, nhất là việc tổ chức tiêu thụ các loại hoa cắt cành (lily, cúc, hồng, layơn,….)
Đài Loan đã có 13.000ha trồng các loại hoa, cây cảnh và chủ yếu đượctiêu thụ trong nước (90%) đạt 500 triệu USD, chỉ xuất khẩu khoảng 50 triệuUSD chủ yếu là hoa lan và một số loại hoa cắt cành Đài Loan có nhiều trungtâm, chợ đầu mối do chính phủ đầu tư, xây dựng cơ sở ban đầu và giao cho các
tổ chức trong hiệp hội hoa khai thác dưới hình thức công ty cổ phần Chợ hoaĐài Bắc rộng 4,6 ha, là một doanh nghiệp cổ phần Cổ đông bao gồm các nhàkinh doanh (60%), các nhà vườn, cơ sở sản xuất (40%) và kích thích tiêu thụnhiều sản phẩm bằng chính sách ưu đãi cho người bán buôn, các nhà phân phốilớn Nhờ tác động của hoạt động kinh doanh, dịch vụ mà ngành hoa kiểng Đài
Loan phát triển bền vững và ngày càng đi vào năng suất, chất lượng, hiệu quả
cao.
Trang 25Singapore: Trong một nước nhỏ
chỉ có khả năng đáp ứng 7% nhu cầu tiêu
thụ rau xanh, mô hình Nông nghiệp xanh
theo chiều thẳng đứng là một giải pháp
hiệu quả và đem lại lợi ích cho môi
trường Trong một nhà lưới, hệ thống 5
tầng theo chiều thẳng có hệ thống thủy
canh đứng có thể sản xuất gấp 5 đến 10
lần so với sản xuất truyền thống Nhà lưới
và hệ thống tưới thủy canh giúp sản xuất
xà lách và cải bắp quanh năm cũng như
tiết kiệm năng lượng và nước
Hình 4 Mô hình nông nghiệp xanh theo chiều thẳng đứng tại Singapore (Nguồn:
Từ Internet)
Tại Mumbai (Ấn Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao nhất
thế giới, 48.215 người/km2 Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, đông ngườinghèo, Tiến sĩ Doshi đưa ra phương pháp làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ trên bancông, thậm chí treo trên tường, trên cơ sở dùng bã mía trộn đất đựng trong túinhựa hay trong các loại hộp, ống, lốp xe, để hộ dân có rau ăn tại gia và tăng thunhập Theo cách thức của ông, hộ gia đình có thể tự túc được 5kg rau quả mỗingày trong 300 ngày của năm
III.2 Trong nước
Hà Nội: Người dân thủ đô đã tận dụng đất đai ở ao hồ, kênh mương để
sản xuất nông nghiệp; chẳng hạn như húng Láng, rau Tây Tựu, đào Nhật Tân,cam Canh bưởi Diễn, cá rô Đầm Sét, tôm cá Hồ Tây…
Thủ đô là địa bàn vừa sản xuất, vừa gắn với thị trường tiêu thụ lớn và cónhiều đơn vị nghiên cứu của Trung ương về nông nghiệp nên có lợi thế hơn hẳncác tỉnh, thành khác trong việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật mới vào sản xuất.Người dân đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, như chăm sóc bưởi Diễn
ở khu Chiến Thắng, thị trấn Xuân Mai (Chương Mỹ), Phương Đình (ĐanPhượng) cho giá trị thu nhập đạt trên 150-200 triệu đồng/ha, mô hình trồng camCanh ở Cao Viên (Thanh Oai) cho thu nhập 250-300 triệu đồng/ha, chăn nuôi bòsữa ở Ba Vì, Gia Lâm cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/hộ/năm…
Ngoài ra, nhiều hộ gia đình còn kinh doanh chim cảnh, cá cảnh, chó cảnh,cây cảnh rất có hiệu quả
Trang 26Hình 5 Mô hình trồng hoa lili tại Hà Nội Hình 6 Mô hình trồng hoa lan trong nhà lưới tại TP.HCM (Nguồn: Internet)
Thái Nguyên, Những năm gần đây, quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ
rất nhanh; năm 2002, thành phố thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp đôthị Một số gia đình được chọn tham gia dự án trồng hoa trong nhà lưới, được hỗtrợ 100% kinh phí mua giống, xây dựng nhà lưới, chuyển giao kỹ thuật Sau mộtnăm thực hiện, mô hình đã cho thu nhập 300 triệu đồng/ha/năm Việc ứng dụngcông nghệ cao vào phát triển nông nghiệp đô thị rất cần thiết nhưng đòi hỏi vốnđầu tư lớn, nếu không có nguồn hỗ trợ thì người dân không thể thực hiện Hơnnữa, dù mô hình rất hiệu quả nhưng khi nhân rộng lại gặp khó khăn, chủ yếu là
do vốn
TP.Hồ Chí Minh: Phát triển NNĐT rất phù hợp với điều kiện đất đai, khí
hậu, thủy văn, khoa học công nghệ và đặc biệt là con người và thị trường tiêuthụ lớn,… thành phố đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ nhằm pháttriển nông nghiệp đô thị “Chương trình phát triển hoa, cây cảnh, chim, cá cảnh”
ở TP Hồ Chí Minh cho hiệu quả kinh tế rất cao Từ đầu năm 2008 đến nay, cácdoanh nghiệp và hộ nuôi cá cảnh đã xuất khẩu bình quân 1-2 triệu con cá cảnhcác loại sang thị trường châu Âu, Mỹ, Nhật Bản với kim ngạch đạt 2-3 triệuUSD, tăng bình quân 30%/năm
Nhằm phát triển nông nghiệp đô thị lên một tầm cao mới vào những năm
2020 và xa hơn; trong năm 2009 thành phố đã phê duyệt quy hoạch sản xuấtnông nghiệp thành phố đến năm 2020, tầm nhìn 2025 và đang đẩy mạnh nghiêncứu, quy hoạch chi tiết các vùng sản xuất cho từng loại cây con, vùng sản xuấtgiống cây trồng, vật nuôi Các trung tâm nông nghiệp công nghệ cao như: KhuNông nghiệp Công nghệ cao (Củ Chi), Trung tâm Công nghệ Sinh học (Quận12), Trung tâm thủy sản (Cần Giờ), trại thực nghiệm Bò sữa công nghệ cao -hợp tác Israel (Củ Chi), đã tạo ra các giống cây trồng vật nuôi chất lượng cao,
Trang 27đặc sản, phân bón, kỹ thuật để cung cấp cho nhu cầu tại chỗ và thị trường bênngoài trong tiến trình phát triển nông nghiệp đô thị.
Với các trung tâm công nghệ cao, thành phố đã hỗ trợ các đại phương,doanh nghiệp và người nông dân ứng dụng công nghệ, tiến bộ khoa học, kỹthuật vào sản xuất, chăn nuôi, chế biến sản phẩm; nhất là kỹ thuật canh tác cungcấp giống, bảo quản sau thu hoạch Đồng thời, thành phố đã có nhiều chính sách
ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, cóthị trường tiêu thụ ổn định
Lâm Đồng: Đà Lạt hiện là một địa phương có thế mạnh trong phát triển
NNĐT và nông nghiệp công nghệ cao việc ứng dụng công nghệ sinh học vàocác vườn rau thực nghiệm; sản xuất giống cây trồng bằng công nghệ nuôi cấy
mô, chủ yếu là nhân giống các loại hoa Nhờ đó, mỗi năm, thành phố này sảnxuất khoảng 12 - 14 triệu cây giống sạch bệnh, trong đó xuất khẩu trên 5 triệucây với hơn 100 giống hoa các loại, đem về 4 triệu USD/năm Tỉnh đã xâydựng Trung tâm Xuất sắc quốc gia về công nghệ sinh học và nông nghiệp côngnghệ cao Đà Lạt Trung tâm được đầu tư khoảng 2.000 tỷ đồng để xây dựng trêndiện tích 100ha tại huyện Lạc Dương Khi đi vào hoạt động ổn định sẽ tác độngtrực tiếp đến các vùng chuyên canh rau hoa của Lâm Đồng
Không chỉ mang lại lợi ích xã hội, nông nghiệp đô thị còn mang lại lợi íchkinh tế khá lớn; ở vị trí cửa ngõ thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), xã Hiệp An cólợi thế về giao thông thủy lợi, đất đai phì nhiêu, xã được tỉnh đầu tư xây dựngcác mô hình thí điểm trồng rau, hoa trong nhà kính, nhà lưới Hiện hàng trămhécta đất trồng lúa của xã trước đây đã được chuyển sang trồng rau, hoa Cónhững hộ chuyên trồng các loại hoa cao cấp như layơn, hồng, đồng tiền, địa lan,
… thu nhập mỗi năm vài trăm triệu đồng Trước đây, bà con chỉ trồng rau đểbán cho thị trường nội địa, nhưng nay đã có rau thương phẩm chất lượng caophục vụ xuất khẩu
Bình Dương: Người dân đã chú ý đến việc xây dựng các mô hình nông
nghiệp cho phù hợp với quá trình đô thị hoá ngày càng nhanh, như: trồng raumầm, trồng nấm, trồng rau thủy canh, các mô hình trồng hoa lan, bon sai, câycảnh và cách nuôi các loại động vật đặc sản có giá trị kinh tế cao Nguyên dođây là những mô hình mới, mang tính trình diễn thí điểm, đòi hỏi người nôngdân cần phải nhanh nhạy trong việc tiếp thu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật, nắm bắt nhu cầu của thị trường; nguồn vốn đầu tư cao cũng là khó khăn,trung bình đầu tư cho các mô hình này là từ 30 - 40 triệu đồng, riêng các môhình trồng hoa lan có vốn đầu tư hàng tỷ đồng Qua đánh giá sơ bộ, các mô hình