Do đó, Đề án “Phát triển kinh tế vườn rừng trên địa bàn quận Liên Chiểu giai đoạn 2016-2020” với mục tiêu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế rừng, xác định cây trồng, con vật nuôi ma
Trang 1“PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƯỜN RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
LIÊN CHIỂU GIAI ĐOẠN 2016-2020”
Cơ quan chủ trì Đề án: Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng Chủ nhiệm Đề án: TS Nguyễn Phú Thái
Phó Chủ nhiệm Đề án: ThS Đinh Thị Hoa Mỹ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I.1 Sự cần thiết xây dựng đề án 1
I.2 Căn cứ pháp lý để xây dựng đề án 2
I.3 Phạm vi và đối tượng áp dụng 3
Phần thứ nhất 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 4
II.1 Cơ sở lý luận về kinh tế vườn rừng 4
II.1.1 Một số khái niệm 4
II.1.2 Đặc trưng của kinh tế vườn rừng 4
II.1.3 Các loại hình phát triển kinh tế vườn rừng 5
II.1.4 Vai trò của KTVR trong phát triển kinh tế xã hội 6
II.1.5 Một số kinh nghiệm phát triển vườn rừng tại một số địa phương 7
* Bài học kinh nghiệm từ những mô hình trên 10
II.2 Cơ sở thực tiễn 11
II.2.1 Hiện trạng đất rừng sản xuất trên địa bàn quận Liên Chiểu 11
II.2.2 Cơ cấu cây trồng, con vật nuôi trong các mô hình KTVR trên địa bàn quận 12
II.2.3 Thực trạng phát triển các mô hình KTVR trên địa bàn quận 15
II.2.3.8 Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển KTVR trên địa bàn quận 22
II.3 Đánh giá chung 23
II.3.1 Đánh giá về sự phù hợp trong cơ cấu cây trồng, con vật nuôi của các mô hình KTVR 23
II.3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển KTVR trên địa bàn quận 24 Phần thứ hai 26
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN 26
III.1 Quan điểm 26
III.2 Mục tiêu cụ thể 26
Phần thứ ba 27
Trang 3CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƯỜN
RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GIAI ĐOẠN 2016-2020 27
IV.1 Các hoạt động triển khai đề án 27
IV.1.1 Truyền thông nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kiến thức cho các chủ vườn về định hướng phát triển KTVR trên địa bàn quận giai đoạn 2016-2020 27
IV.1.2 Các hoạt động hỗ trợ 27
- Triển khai công tác giao đất, giao rừng cho các hộ đầu tư phát triển KTVR .27 - Hỗ trợ hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất 27
- Tạo điều kiện để các hộ dân được vay vốn đầu tư phát triển KTVR 28
IV.1.3 Hoạt động chuyên môn kỹ thuật 28
IV.1.3 Hoạt động kiểm tra, giám sát thực hiện đề án 29
IV.2 Các giải pháp và cơ chế hỗ trợ nhằm phát triển KTVR trên địa bàn quận giai đoạn 2016-2020 30
IV.2.1 Triển khai xây dựng các mô hình thí điểm 30
IV.2.2 Hỗ trợ các hoạt động sơ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm của KTVR trên địa bàn quận 31
IV.2.3 Tăng cường mối liên kết giữa các vườn rừng và giữa các vườn rừng với các tổ chức kinh tế khác 33
IV.2.4 Chính sách hỗ trợ nhằm bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực phầm 33
PHÀN THỨ TƯ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 35
V.1 Thời gian thực hiện đề án và kinh phí thực hiện: 35
V.2 Kế hoạch tổ chức thực hiện: 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
I Kết luận 36
II Kiến nghị 36
Tài liệu tham khảo 388
Trang 5MỞ ĐẦU
I.1 Sự cần thiết xây dựng đề án
Quận Liên Chiểu nằm về phía Bắc thành phố Đà Nẵng Đông giáp vịnh ĐàNẵng, Nam giáp quận Cẩm Lệ và quận Thanh Khê, Tây giáp huyện Hòa Vang,Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế Diện tích tự nhiên là 7.912,7 ha, trong đó, diệntích rừng và đất lâm nghiệp chiếm 49,2% (3.890,3 ha), bao gồm:
- Diện tích rừng và đất rừng đặc dụng: 1.826,6 ha;
- Diện tích rừng và đất rừng sản xuất: 986,5 ha;
- Diện tích rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp: 1.077,2ha
Quận hiện có 5 phường: Hoà Hiệp Nam, Hoà Hiệp Bắc, Hòa Khánh Nam,Hòa Khánh Bắc và Hòa Minh đều có rừng và đất lâm nghiệp Trong đó chỉ có 03phường có đất rừng sản xuất, chủ yếu tập trung tại phường Hòa Hiệp Bắc
Hiện nay, trên địa bàn quận có 06 chủ rừng nhà nước (Hạt Kiểm lâm quận
và UBND các phường: Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, Hòa Khánh Bắc, HòaKhánh Nam, Hòa Minh) và trên 400 chủ rừng là tập thể, hộ gia đình và cá nhân.Với diện tích rừng trồng hơn 2.000 ha rừng trồng kinh tế, chủ yếu là rừng Keo
và Bạch đàn của trên 400 tập thể, hộ gia đình, cá nhân đầu tư bằng vốn tự có,thu nhập bình quân từ trồng rừng của hộ gia đình đạt khoảng 50 triệu đồng/năm
Ngoài hoạt động trồng rừng, các chủ rừng đã triển khai các hoạt độngchăn nuôi động vật rừng, trồng cây ngắn ngày, cây ăn quả dể tăng hiệu quả kinh
tế Ngoài ra, trên địa bàn quận có 02 đơn vị kinh doanh du lịch sinh thái tại khuvực Trạm dừng hầm đường bộ Nam Hải Vân và Suối Lương (phường Hòa HiệpBắc) và 22 hộ gia đình làm dịch vụ du lịch sinh thái Loại hình du lịch chủ yếu
là khám phá thiên nhiên, dã ngoại, vui chơi ngoài trời
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế rừng của các chủ rừng vẫncòn nhiều hạn chế do các chủ rừng phát triển kinh tế theo hướng tự phát, manhmún, thiếu kỹ thuật nuôi trồng nên hiệu quả kinh tế chưa cao Cơ sở hạ tầngphục vụ phát triển vườn rừng còn hạn chế Trong khi đó, địa phương vẫn còngặp khó khăn trong định hướng đầu tư, phát triển kinh tế rừng
Do đó, Đề án “Phát triển kinh tế vườn rừng trên địa bàn quận Liên
Chiểu giai đoạn 2016-2020” với mục tiêu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế
rừng, xác định cây trồng, con vật nuôi mang lại lợi ích kinh tế cho chủ vườnrừng từ đó đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế rừng sẽ góp phần làm tănghiệu quả sử dụng đất rừng làm cơ sở để phát triển kinh tế vườn rừng là việc làmhết sức cần thiết
Trang 6I.2 Căn cứ pháp lý để xây dựng đề án
Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về việcthúc đẩy phát triển kinh tế trang trại
Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chínhphủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, đượcthuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2004 của Chính phủ về việchướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thuhồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về KhuyếnNông
Thông tư số 27/2011/TT-NN&PTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tếtrang trại
Thông tư số 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tụchành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng theo Nghị quyết số 57/NQ-
Luật đất đai năm 2013
Thông tư số 15/2013/TT-BNNPTNT ngày 26/02/2013 của Bộ NN-PTNT vềQuy định một số điều của Nghị định 02/2010/NĐ-CP
Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 Về chính sách tín dụng phục
vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
Quyết định 5924/QĐ-UBND ngày 27/8/3013 của UBND thành phố Đà nẵng
Về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng thành phố Đà Nẵng giaiđoạn 2011-2020
Trang 7Quyết định số 7262/QĐ-UBND ngày 14/10/2014 của UBND thành phố ĐàNẵng Về phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địabàn thành phố Đà Nẵng.
Quyết định số 7280/QĐ-UBND ngày 14/10/2014 của UBND thành phố
Đà Nẵng về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND phường Hòa Hiệp Bắcquản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Quyết định số 7282/QĐ-UBND ngày 14/10/2014 của UBND thành phố
Đà Nẵng về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND phường Hòa KhánhBắc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Quyết định số 7266/QĐ-UBND ngày 14/10/2014 của UBND thành phố
Đà Nẵng về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND phường Hòa KhánhNam quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-BNNPTNT ngày 06/5/2014 của Bộ PTNT về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho
NN-tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
I.3 Phạm vi và đối tượng áp dụng
* Đối tượng nghiên cứu:
- Hoạt động kinh tế vườn rừng
* Phạm vi nghiên cứu:
- Lĩnh vực: Chăn nuôi và trồng trọt
- Địa điểm 3 phường: Hòa Hiệp Bắc, Hòa Khánh Bắc và Hòa Khánh Nam
* Phương pháp thu thập số liệu:
- Tiến hành đi thực địa tại 3 phường trong phạm vi nghiên cứu
- Điều tra đánh giá tình hình phát triển kinh tế vườn rừng của 40 hộ giađình đang đầu tư, phát triển KTVR thông qua Phiếu khảo sát chuẩn bị sẵn (Phụlục 1 đính kèm)
Nội dung điều tra: Thực trạng vườn rừng; tình hình đất đai; cơ sở hạ tầngtại khu vực sản suất; phương tiện phục vụ sản xuất; vốn; nguồn lao động; cácyếu tố đầu vào phục vụ sản xuất; kỹ thuật sản xuất; tình hình tiêu thụ; thông tin
về chủ hộ: Độ tuổi, trình độ
- Thu thập tài liệu sơ cấp
Trang 8Phần thứ nhất
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỀ ÁN II.1 Cơ sở lý luận về kinh tế vườn rừng
II.1.1 Một số khái niệm
Vườn rừng: Vườn nằm ở trên đất thoải, ít dốc thường từ 120 đến 250, hệthống các cây trồng khá đa dạng bao gồm các cây ăn quả lâu niên nhưmận,nhãn, cam, quýt, na, bưởi…; các cây công nghiệp dài ngày như chè, càphê… được trồng ở lưng chừng đồi, xen cây ngắn ngày (ngô, đậu nành, đậuphụng, sắn, ngô…), cây lấy củ, cây dược liệu ở tầng thấp vừa tận dụng đất chothu hoạt nhiều loại sản phẩm, lại có tác dụng che phủ và cải tạo đất Do địa hìnhđồi dốc nên bố trí cây trồng phải theo đường đồng mức, có hệ thống mương nhỏ
và bờ cản nước xen kẻ theo đường đồng mức hoặc san đất, trồng các loại câygiữ đất, chống xói mòn, rửa trôi như dứa để canh tác lâu dài, hiệu quả và ổnđịnh
Sản phẩm của kinh tế vườn rừng (KTVR) rất đa dạng và phong phú, kếtquả của các vườn rừng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó mô hình sản xuất làmột yếu tố có tác động trực tiếp KTVR có bản chất đặc trưng riêng và phù hợpvới điều kiện của từng nơi
Phát triển KTVR là sự kết hợp giữa các nguồn lực, gồm: đất đai, vốn, laođộng, kỹ thuật, cơ cấu cây trồng, con vật nuôi…để sản xuất ra các loại sản phẩmkhông chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong gia đình mà còn mang lại giá trị kinh
tế cao với các sản phẩm tươi, sản phẩm khô, sản phẩm chế biến cũng như dịch
vụ trên thị trường Là một ngành sản xuất quan trọng, KTVR cần được chú trọng
và phát triển hơn về quy mô, năng suất, sản lượng và chất lượng là sản phẩm củacây trồng, con vật nuôi, dịch vụ trong một địa phương
II.1.2 Đặc trưng của kinh tế vườn rừng
- Phương thức canh tác đa dạng gắn với đất vườn rừng
Kinh tế vườn rừng khác với một số khác loại hình kinh tế khác ở chỗ làcác loại cây trồng, con vật nuôi trên đất rừng có đặc điểm về chế độ canh tác,nuôi dưỡng riêng biệt
Kinh nghiệm từ cuộc sống đã cho thấy “Đất nào thì cây đó” với điều kiệnđất đai, địa hình của từng tiểu khu, từng khu rừng có nhiều loại hình khác nau:rừng có độ dốc thấp và thoải, dạng rừng có dạng dải đồi nhấp nhô uốn lượn…
- Sản phẩm kinh tế vườn rừng đa dạng
Trang 9Từ hệ thống cây trồng đa dạng, chủ yếu là cây lâu năm, trong giai đoạnkiến thiết cơ bản và chưa khép tán vườn được trồng xen canh với các loại câyngắn ngày, đồng thời kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm Do đó, sản phẩmthu hoạch đa dạng, phong phú, rải rác các tháng trong năm, thực hiện phươngchâm “lấy ngắn nuôi dài”.
Sản phẩm của KTVR chủ yếu là tươi sống, sản phẩm quả chín, dễ dập nát,
do chưa tạo nên cùng sản xuất tập trung chuyên canh cây lớn nên sản phẩm tảnmạnh, chủ yếu sản phẩm tươi Trong khi đó, cơ sở chế biến và công nghệ bảoquản ở các địa phương còn chậm phát triển, quá trình vận chuyển khó khăn
- Kinh tế vườn rừng có mối quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên, kinh
tế kỹ thuật, xã hội và môi trường
Mỗi loại cây trồng, con vật nuôi chỉ thích nghi trong điều kiện tự nhiên vàyêu cầu về kỹ thuật chăm sóc nhất định Cây trồng hay vật nuôi sẽ cho sản phẩmtối đa khi các điều kiện đó phù hợp với quy luật sinh trường và phát triển củachúng Để khai thác mọi tiềm năng sản xuất, Kinh tế vườn rừng phải tận dụngnhững lợi thế của điều kiện tự nhiên cả về không gian và thời gian để bố trí hợp
lý cây trồng, con vật nuôi nhằm phát huy được hiệu quả sử dụng các nguồn lực,mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Đặc điểm thời tiết, khí hậu, đất đai, nguồn nước và sự thay đổi của chúngđều ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây trồng, con vật nuôi Do đó, ở cácvùng có điều kiện tự nhiên khác nhau thì việc bố trí cây trồng, vật nuôi khácnhau
Biện pháp canh tác, kỹ thuật chăm sóc, thời vụ là điều kiện để nâng caochất lượng và hiệu quả sản xuất của mô hình Bên cạnh đó, sự am hiểu về kinh
tế thị trường, trình độ kỹ thuật của các chủ thể mô hình, tiềm lực kinh tế của chủ
hộ có tác động lớn đến kết quả sản xuất của mô hình
Mô hình phát triển còn phụ thuộc vào tính kịp thời, hợp lý của chính sáchkinh tế của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương Ngoài ra hệthống cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, tập quán canh tác, kinh nghiệm về pháttriển kinh tế vườn rừng của hộ gia đình và địa phương là điều kiện rất cần thiết
để Kinh tế vườn rừng hoàn thiện và phát triển
II.1.3 Các loại hình phát triển kinh tế vườn rừng
- Loại hình phát triển KTVR thông qua cải tạo vườn tạp:
Do những năm trước đây, người dân chủ yếu làm kinh tế vườn rừng theokiểu có gì trồng nấy nên trong các khu vườn bố trí cơ cấu cây trồng chưa hợp lý
Trang 10Đất vườn không được bổ sung dinh dưỡng, cải tạo hàng năm, tưới tiêu khôngkịp thời nên vườn lúc bị hạn hoặc lũ lụt
Trong những năm gần đây, với chủ trương cải tạo vườn tạp và phong tràolàm kinh tế vườn rừng nên người dân đã đầu tư cải tạo vườn tạp bằng cách đưagiống cây tốt, kháng sâu bệnh, năng suất cao và ổn định vào sản xuất Đồngthời, áp dụng kỹ thuật chăm sóc phù hợp, vườn được cải tạo thành vườn trồngthuần, vườn trồng chuyên canh, kinh tế vườn rừng được nâng lên
- KTVR chuyên canh: trong vườn hộ dân chỉ trồng thuần một vài câytrồng chính và một ít cây trồng phụ Cây trồng chính là cây có giá trị kinh tế cao,cho thu nhập và chiếm tỷ lệ lớn trong vườn, còn các loại cây phụ chiểm tỉ lệnhỏm là cây ngăn ngày, cho thu hoạch bổ sung trong thời kỳ vườn chưa khépkín tán (các loại cây đậu, xả, dứa…) và có tác dụng bảo vệ, ngăn xói mòi đất,giữ ẩm, làm giàu đạm cho đất để cung cấp cho cây chính Giữa 2 loại cây trồngchính và phụ có tác dụng hỗ trợ nhau về dinh dưỡng, độ ẩm, ánh sáng và cácmặt sinh học khác
- KTVR liên ngành: Là mô hình kết hợp giữa các ngành sản xuất nhằmphát huy tốt nhất sự hỗ trợ nhau của các ngành sản xuất trong quá trình làm rasản phẩm như mô hình sản xuất nông – lâm kết hợp, mô hình nông – lâm – ngưnghiệp, mô hình VAC, mô hình VAC-R…
II.1.4 Vai trò của KTVR trong phát triển kinh tế xã hội
Trong hệ thống sản xuất nông lâm nghiệp của hộ, đất vườn rừng có vị tríquan trọng, đó là nơi để sản xuất ra các loại lương thực, thực phẩm, rau quả,nguyên liệu công nghiệp, là nơi chăn thả gia súc gia cầm và là nơi xây dựng các
mô hình sản xuất, Kinh tế vườn rừng, trang trại… đóng góp cho phát triển kinh
tế xã hội nói chung và trong kinh tế hộ nói riêng Đó là nhờ:
- KTVR mang lại thu nhập khá cao, góp phần tích cực vào việc ổn định vànâng cao đời sống vật chất cho người nông dân Nhờ lợi thế về quy mô của các
hộ làm KTVR giúp tạo ra một khối lượng hàng sản phẩm khá lớn Bên cạnh đó,sản phẩm do các hộ làm ra có giá trị cao và họ chỉ kinh doanh những loại cây,con có hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu mà thị trường đòi hỏi
- Tạo việc làm ở nông thôn, thu hút những lao động trong độ tuổi mà cònthu hút các tầng lớp lao động, đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi Hạn chế các tiêucực xảy ra do nhàn rỗi của người lao động, tình trạng du canh, du cư, đốt phárừng làm nương rẫy, hoang hóa đất rừng…
- Góp phần đa dạng hóa nông nghiệp, tạo nên vùng sản xuất chuyên canh,sản xuất hàng hoá, vùng sinh thái nông nghiệp bền vững
Trang 11- Là cách thích hợp nhất để đưa đất chưa sử dụng thành đất nông nghiệp.
- Tạo thêm lượng sản phẩm lớn làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
và xuất khẩu
- Mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
- Tham gia chuyển dịch cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, đẩy nhanh việc ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao dân trí của nông dân đốivới nghề làm vườn
II.1.5 Một số kinh nghiệm phát triển vườn rừng tại một số địa phương
* Phát triển vườn cây ăn quả theo hướng bền vững ở tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang một trong những tỉnh có kinh tế trang trại phát triển khá nhanh,nhất là trang trại vườn rừng trồng cây ăn quả Toàn tỉnh có trên 20 nghìn môhình kinh tế vườn rừng có diện tích từ 0,5ha trở lên, khoảng 55.000 ha đất có giátrị thu hoạch trên 50 triệu/ha/năm, trên 28 ngàn hộ đạt tiêu chí thu nhập từ 50đến 100 triệu đồng/năm
Để đạt được những kết quả trên, trong những năm qua chính quyền tỉnhBắc Giang đã thực hiện một số khuyến khích phát triển kinh tế trang trại vườncây ăn quả theo hướng bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Cụ thểnhư sau:
- Triển khai xây dựng quy hoạch các vùng kinh tế chuyên trồng cây ănquả ở huyện Lục Ngạn, các trang trại kết hợp giữa trồng cây ăn quả với các câytrồng và vật nuôi khác ở hai huyện Yên Thế và Lục Nam
- Thực hiện các chương trình chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa hoc vàcông nghệ, nhất là các chương trình triển khai sản xuất cây ăn quả theo tiêuchuẩn VietGAP nhằm nâng cao độ an toàn tròng sản xuất, đặc biệt tại sự an toàncủa sản phẩm Nhờ đó, các vùng chuyên canh cây ăn quả đã hình thành và pháttriển bền vững trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Chính quyền khuyến khích xây dựng các mô hình kết hợp giữa trồng cây
ăn quả, chủ yếu là cây vải được trồng trước đây với chăn nuôi gia cầm, chủ yếu
là gà Mô hình này được triển khai ở 2 huyện Lục Nam và Yên Thế, trong đó môhình kết hợp trồng cây ăn quả với chăn nuôi gà thả vườn, đồi ở huyện Yên Thế
đã tạo dựng thương hiện “Gà đồi Yên Thế” có hiệu quả và tính bền vững cao
* Huyện miền núi Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
Huyện miền núi Tân Kỳ (Nghệ An) đã xác định kinh tế vườn rừng là thếmạnh và đòn bẩy để phát triển kinh tế địa phương Cho đến nay, toàn huyện dã
Trang 12trở lên, trong đó có 45 trang trại cho thu nhập từ 250 triệu đồng trở lên Để pháttriển kinh tế vườn rừng bền vững, các xã đã tạo điều kiện cho người dân thamquan, học tập một số mô hình kinh tế vườn rừng ở trong và ngoài huyện cho thunhập cao để từ đó nhân rộng
Đối với người dân, đầu tư vườn rừng trong điều kiện đất đồi núi khó khăn,cây trồng chủ yếu là giang, nứa, lau lách Các hộ gia đình đã thực hiện phươngchâm “lấy ngắn nuôi dài” Trên diện tích rừng, gia đình đã trồng xen sắn, khoai,chuối để chăn nuôi trâu, bò Ngoài ra còn đào ao nuôi cá, trồng thêm mía Đồngthời, họ đã mạnh dạn thay thế giang nứa bằng các loại cây công nghiệp dài ngàynhư keo, xoan với vốn đầu tư ít nhưng phát triển tốt tại địa phương và cho lợinhuận cao
* Xã Đức An, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh:
Xác định phát triển KTVR là một
trong ba đột phá phát triển kinh tế của xã,
trong những năm qua, xã đã tập trung nguồn
đầu tư khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế
của mô hình KTVR theo hướng trang trại
liên ngành Đầu tiên, xã đã tuyên truyền đến
người dân về chủ trương phát triển KTVR
và hỗ trợ người dân trong triển khai thực
hiện Nhiều hộ dân trong xã đã áp dụng theo
mô hình vườn – ao – chuồng, trong đó: nuôi
heo, bò lai; con gà thả vườn; trồng cam,
chanh kết hợp trồng rừng (Huy Hùng,
chuồng
* Xã Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình:
Đây là một trong những xã nghèo của huyện Quảng Trạch Tuy nhiên,trong những năm qua, dựa trên một số lợi thế về điều kiện đất đai phù hợp vớicây hồ tiêu cũng như cây sắn và các cây ngắn ngày khác như gừng, nghệ…Đồng thời, với lợi thế đất đồi núi rộng lớn, đồng cỏ nhiều, chăn nuôi gia súc, giacầm, nuôi ong lấy mật cũng là lợi thế Chính quyền xã Quảng Thạch đã triểnkhai chủ trương phát triển vườn rừng trên địa bàn xã Với sự hỗ trợ về kỹ thuật,kinh nghiệm phát triển kinh tế vườn rừng của ngành nông nghiệp, người dân địaphương đã thực hiện thành công kinh tế vườn rừng Cụ thể: Trong giai đoạn2010-2015, toàn xã đã trồng mới được khoảng 1.000ha rừng đưa tổng diện tíchrừng trồng lên gần 1.600ha; trong đó diện tích rừng thông lấy nhựa đạt gần 600
Trang 13ha Diện tích cây hồ tiêu: 48 ha; phát triển gần 200 ha sắn nguyên liệu, gần 50 hacác loại cây nén, gừng, nghệ Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn rừng, gà thảvườn, nuôi ong lấy mật Đã xây dựng 117 mô hình kinh tế vườn rừng (HạnhNguyễn, 2016).
* Tỉnh Quảng Nam:
Thông qua Quỹ hỗ trợ nông dân tỉnh, với hơn 20 tỷ đồng; vốn vay ủy thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội hơn 1.080 tỷ đồng, Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam cho nông dân vay đầu tư phát triển Đồng thời, Hội Nông dân tỉnh đã hỗ trợ nông dân trong việc phát triển các
mô hình kinh tế với dịch vụ phân bón trả chậm với hơn 700 tấn Sau đây là một số mô hình phát triển KTVR hiệu quả:
Huyện Tiên Phước: Trên địa
bàn xã miền núi còn nhiều khó
khăn, nhiều hộ dân đã xây dựng
được mô hình kinh tế vườn rừng
liên ngành với cây trồng chính là
tiêu, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia
cầm cho nguồn thu ổn định Cho
đến nay, nhiều hộ gia đình đã phát
triển các loại hình KTVR và mang
lại thu nhập khá từ trồng tiêu, các
loại cây ăn quả
(www.baoquangnam.vn)
Hình 1.2 Quả thanh trà- đặc sản nổi tiếng
của vùng quê Tiên Hiệp (Nguồn: Internet)Huyện Đại Lộc: Mô hình vườn – ao – chuồng – rừng của các hộ gia đìnhtại xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc được xem là mô hình tiêu biểu trong phát triểnKTVR của tỉnh Quảng Nam Với hơn diện tích đất rừng khaonrg từ 3-5ha, các
hộ đầu tư trồng cây keo, diện tích còn lại đầu tư phát triển chăn nuôi dê, bò thảvào rừng, ao lớn nuôi thả ba ba, ngoài ra còn trồng thêm hồ tiêu
Huyện Nông Sơn: Huyện Nông Sơn, mảnh đất đầu nguồn sông Thu Bồn
có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế trang trại Ở đây, kinh tế vườn - kinh tếtrang trại đóng một vai trò quan trọng góp phần mang lại thu nhập cho hộ giađình Vì vậy, huyện đã xác định cải tạo kinh tế vườn, kinh tế trang trại là khâuđột phá mang lại hiệu quả kinh tế phát triển nông nghiệp bền vững tạo công ănviệc làm và góp phần xóa đói giảm nghèo
Tính đến năm 2010, diện tích cải tạo vườn tạp là170 ha và diện tích mởmới vườn đồi, vườn rừng là 441 ha Thời gian qua, được sự hỗ trợ của Dự ánkhoa học công nghệ nên huyện đã xây dựng được 1 vườn giâm phục vụ công tácgiâm cành chiết từ cây trụ lông làng Đại Bình để nhân rộng với diện tích khoảng
Trang 14500m2 Tổng vốn đầu tư để phát triển kinh tế vườn là 1.390 triệu đồng, trong đóvốn vay 720 triệu, còn lại bà con nông dân tự bỏ vốn ra để đầu tư phát triển kinh
tế vườn nhà Qua thực tế, đã cho thấy, kinh tế vườn rừng đạt hiệu quả kinh tếcao là nuôi ếch và bồ câu; nuôi heo siêu nạc; nuôi ghép cá trắm cỏ, rô phi, cábống tượng và mô hình trồng cây ăn quả như trụ long, bòn bon và sầu riêng
Về kinh tế trang trại, đến nay toàn huyện Nông Sơn có 54 trang trại (baogồm 45 trang trại lâm nghiệp, 9 trang trại tổng hợp) với tổng diện tích đất tựnhiên là 1.179,63 ha Trong đó diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất là 940,23 ha
Riêng tại xã Đại Bình, huyện Nông Sơn đã được ví như “vựa trái cây Nam
Bộ thu nhỏ” ở miền Trung Chính quyền và các hộ dân đã phát triển du lịch làng
du lịch sinh thái vườn Đến mô hình du lịch này, khách du lịch được thưởngthức trái cây theo “mùa nào thức nấy” và mua về làm quà.(http://www.hoinongdanqnam.org.vn/)
* Bài học kinh nghiệm từ những mô hình trên
Để phát triển KTVR các địa phương trải qua quá trình phát triển khá lâuvới các đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội vàđịnh hướng phát triển của từng địa phương Một số bài học kinh nghiệm có thểrút ra đó là:
Thứ nhất, KTVR phát triển với nhiều hình thức đa dạng khác nhau vàhình thức sản xuất lấy hộ gia đình làm nền tảng để sản xuất nông sản hàng hóa,
sử dụng lao động gia đình trong quản lý và sản xuất, có thể sử dụng lao độnglàm thuê hoặc theo mùa vụ
Thứ hai, nhà nước có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và pháttriển KTVR Trong đó, nhà nước định hướng phát triển cho từng vùng, đồngthời có những chính sách hỗ trợ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ cho các hộdân trong đầu tư sản xuất phát triển KTVR theo định hướng đó Từ đó, tạo racác vùng sản xuất tập trung, chuyên canh và tạo ra số lượng hàng hóa lớn phục
vụ nhu cầu của người dân trong và ngoài tỉnh
Thứ ba, quy mô đất đai không ảnh hưởng nhiều đến thu nhập của hộ giađình mà phụ thuộc nhiều vào sử dụng hiệu quả diện tích đất hiện có và chấtlượng sản phẩm Đồng thời, cần thực hiện phương châm “lấy ngắn nuôi dài” đểduy trì và phát triển KTVR
Thứ tư, các mặt hàng nông sản từ các mô hình phát triển vườn rừng lànhững sản phẩm đã có mặt trên thị trường, không phải là những mặt hàng mớinhưng vẫn được tiêu thụ Đó là nhờ uy tín về chất lượng và đảm bảo vệ sinh an
Trang 15toàn thực phẩm của các mặt hàng này với người dân trong và ngoài địa phương
so với các mặt hàng cùng loại trên thị trường
Cuối cùng, kết hợp mô hình KTVR với du lịch và phục vụ du lịch tại địaphương cũng góp phần tạo thêm thu nhập cho các hộ dân đầu tư vào KTVR vàthúc đẩy phát triển KTVR tại các địa phương
II.2 Cơ sở thực tiễn
II.2.1 Hiện trạng đất rừng sản xuất trên địa bàn quận Liên Chiểu
Ngày 14/10/2014 theo các Quyết định số 7266/QĐ-UBND, UBND và 7281/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng, rừng và đất rừngsản xuất trên địa bàn quận Liên Chiểu đã được giao cho UBND các phường HòaKhánh Nam, Hòa Hiệp Bắc và Hòa Khánh Nam quản lý, bảo vệ và phát triểnrừng giai đoạn 2011-2020 Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch 3loại rừng là 957,4 ha, trong đó:
7280/QĐ Phường Hòa Hiệp Bắc: 571,5 ha
- Phường Hòa Khánh Bắc: 143.5 ha
- Phường Hòa Khánh Nam: 242,4 ha
Cụ thể diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch 3 loại rừng tại 3phường như sau:
Bảng 1.1 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch 3 loại rừng
Tổngsố
Giàu T/bình Nghèo Non
Trang 16rừng non (91ha) và đất chưa có rừng (0,7 ha) trên địa bàn phường Hòa Hiệp BắcBắc
Theo Báo cáo số 56/BC-UBND ngày 17/3/2016 của UBND quận LiênChiểu, các tổ chức, cá nhân trồng rừng và sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn quậnđều tuân thủ các nội quy, quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng Trong
đó, các hộ đã ký cam kết thực hiện các quy định với ngành Kiểm lâm và chínhquyền địa phương trong công tác trồng rừng và phát triển kinh tế vườn rừng.Tuy nhiên, công tác giao rừng và đất lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất lâm nghiệp cho nhân dân còn chậm nên ảnh hưởng đến phát triển kinh
tế vườn rừng Tình trạng lấn chiếm, san ủi, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đíchvẫn còn chưa xử lý dứt điểm
II.2.2 Cơ cấu cây trồng, con vật nuôi trong các mô hình KTVR trên địa bàn quận
Để tìm hiểu thực trạng các mô hình KTVR trên địa bàn quận, chúng tôi đãtiến hành đi thực địa và khảo sát 40 hộ dân đầu tư phát triển KTVR trên địa bàn
3 phường
Thời gian đầu tư vào KTVR của các hộ dân trung bình khoảng 8 năm;trong đó: hộ làm lâu nhất từ những năm 1990 đến nay; những hộ mới đầu tưKTVR được 3 năm
Về độ tuổi của các chủ hộ, khoảng 55% chủ hộ có độ tuổi từ 40-50 tuổi;35% chủ hộ tuổi từ 51-60 và 10% là người trên 60 tuổi (Hình 2.1)
Trình độ của các chủ hộ cũng khác nhau, tỷ lệ chủ hộ có trình độ THPTchiếm cao nhất (47,5%); tiếp đến là trình độ THCS (40%); 7,5% chủ hộ có trình
độ đại học và 2,5% chủ hộ có trình độ là trung cấp và tiểu học (Hình 2.2)
Hình 2.1 Độ tuổi của chủ hộ Hình 2.2 Trình độ văn hóa của chủ hộ
Trang 17Kết quả khảo sát cho thấy rằng, hiện nay, người dân tập trung vào các môhình KTVR như sau:
Các hộ dân đầu tư phát triển KTVR trong nhiều mô hình khác nhau tùythuộc vào diện tích đất, loại đất, khả năng kinh tế của hộ và lao động Trong đó,trên địa bàn cả 3 phường, đa số là mô hình cây lâm nghiệp - cây ăn quả - chănnuôi – ao, với 27,5% hộ đầu tư mô hình này; cây ăn quả - chăn nuôi và cây lâmnghiệp – cây ăn quả cũng được nhiều hộ lựa chọn đầu tư Riêng trên địa bànphường Hòa Khánh Nam, có đến 22,5% hộ dân được khảo sát chỉ đầu tư chănnuôi gia súc, gia cầm (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Tổng hợp các mô hình KTVR trên địa bàn 3 phường
(Đơn vị : %)
cộng
Hòa Khánh Bắc
Hòa Khánh Nam
Hòa Hiệp Bắc
Cây ăn quả - Cây lâm nghiệp - Chăn
Cây ăn qủa - Cây lâm nghiệp - Chăn
Trong các mô hình, các hộ dân đầu tư các loại cây trồng, con vật nuôi khá
đa dạng Về cây trồng, cây lâm nghiệp chủ yếu là keo, bạch đàn; các loại cây ănquả như bưởi, mít, xoài, chanh…, một số loại cây ngắn ngày như chuối, dượcliệu, xả… Trong chăn nuôi, chủng loại vật nuôi cũng khá đa dạng từ chăn nuôigia súc, gia cầm như heo, bò, dê, thỏ, ếch, gà, vịt đến các loại có giá trị cao như
cá cảnh giống, hươu lấy nhung Cụ thể tại các phường như sau:
- Tiểu khu 41, khu rừng Khánh Sơn, Đà Sơn, phường Hòa Khánh Nam vàrừng Đa Phước, Hòa Khánh Bắc:
Dưới các khu rừng keo, bạch đàn được phân bố ở trên núi có độ dốc lớn,tại các khu vực ven chân núi, độ dốc nhỏ, người dân đã sản xuất các vườn vớicác loại cây trồng, con vật nuôi như sau:
+ Cây trồng:
Trang 18Tại một số vườn, các hộ dân đã đầu tư trồng cây ăn quả các loại như: mítThái Lan, bưởi da xanh, xoài, mãng cầu, tre lấy măng … kết hợp với các loạicây ngắn ngày như cây cà gai leo, chuối, đu đủ… Hộ ông Nguyễn Phước Nhàn(phường Hòa Khánh Nam) đã trồng thử nghiệm khoảng 40 cây sưa đỏ đượckhoảng 2 năm và hầu hết cây sinh trưởng khá tốt, đây là loại cây có tiềm năngkinh tế Hộ ông Nguyễn Văn Tánh trồng thử nghiệm khoảng 300m2 cây cà gaileo, đã cho thu hoạch với năng suất khá (ước khoảng 130kg tươi)
Có 02 hộ đầu tư vào ươm cây giống lâm nghiệp, chủ yếu là keo lá chàm
và cây dược liệu (cây ba kích), với diện tích vườn tương đối nhỏ (khoảng5.000m2) nhưng đã tạo công ăn việc làm thường xuyên cho khoảng 4-5 lao độngtại địa phương/vườn
+ Chăn nuôi
Một số hộ đầu tư chuồng trại nuôi heo, gà, vịt tập trung với số lượngkhông lớn, khoảng 20-50 con heo/trại; 100-200 gà, vịt/vườn Tuy nhiên, chỉ cómột vài hộ đầu tư xây dựng hầm biogas với công suất nhỏ (khoảng 12-20m3)
Do đó, các hộ đều có nhu cầu đầu tư nâng cấp hầm lớn hơn nhưng do vốn cóhạn nên chưa thực hiện được Riêng đối với các hộ nuôi gà, vịt bán thịt, hầu nhưchưa xử lý môi trường chăn nuôi, chuồng trại cũng tạm bợ
Một số hộ đầu tư nuôi dê, nhím, heo rừng để cung cấp cho các nhà hàngtrong thành phố Theo các hộ này cho rằng, từ khi đầu tư nuôi các loại gia súcnày đã mang lại thu nhập ổn định cho gia đình họ
Bên cạnh đó, một số hộ cũng đào ao nuôi các loại cá phổ biến như: trê lai,trắm cỏ, cá lóc… hoặc đầu tư chuồng để nuôi ếch thịt và ếch giống
- Tiểu khu 4A, 11 và 16 khu vực Suối Lương và rừng đặc dụng Nam HảiVân, phường Hòa Hiệp Bắc:
Tương tự các vườn tại phường Hòa Khánh Nam và Hòa Khánh Bắc, các
hộ tại khu vực này cũng trồng cây lâm nghiệp như keo, bạch đàn; các loại cây ănquả: xoài, mít, bưởi, cũng như chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như bò, heo,
dê, gà, vịt Bên cạnh đó, các hộ làm vườn tại khu vực rừng đặc dụng Nam HảiVân trồng khá nhiều chanh cho năng suất, chất lượng khá cao và đã mang lại thunhập cho các hộ sản xuất tại khu vực này
Ngoài ra, một số hộ đã đầu tư nuôi trồng một số loại cây con có giá trịkinh tế Chẳng hạn như, hộ ông Nguyễn Như Tiến đã đầu tư nuôi hươu lấynhung, với số lượng từ 3-5 cặp Hay hộ bà Huỳnh Thị Hoa đầu tư trồng thửnghiệm cây gió, quế
Trang 19Riêng tại khu vực Suối Lương, nhờ địa hình, đường giao thông thuận lợi
và tận dụng suối tự nhiên nên các hộ dân tại khu vực này ngoài đầu tư trồng trọt
và chăn nuôi, họ còn đầu tư dịch vụ phục vụ du lịch Hộ ông Nguyễn Văn Dũng
đã đầu tư vườn cây ăn quả, dịch vụ ăn uống, giải trí phục vụ khách du lịch đếnvui chơi tại vườn trên diện tích 1,5ha
II.2.3 Thực trạng phát triển các mô hình KTVR trên địa bàn quận
II.2.3.1 Về đất đai
* Diện tích đất rừng sản xuất:
Qua khảo sát các hộ dân, diện tích đất rừng chủ yếu là do các hộ tự khaihoang từ lâu và sản xuất để nuôi sống gia đình và bản thân, chỉ có một số hộmua đất để đầu tư sản xuất Một số hộ lúc đầu dự tính trồng một số loại cây thửnghiệm, sau khi thu hoạch và mang lại thu nhập cho gia đình nên họ đã mở rộngsản xuất Do đó, diện tích đất của các hộ làm KTVR trên địa bàn quận chênhlệch khá lớn; hộ có diện tích vườn rừng cao nhất là 10ha, thấp nhất là 300m2 ;trong đó ngoài diện tích trồng cây lâm nghiệp thì diện tích làm vườn trung bìnhcủa các hộ khoảng 5.730m2, cao nhất khoảng 4ha
Đa số các hộ dân cho rằng với diện tích đất như trên là đủ để hộ gia đìnhsản xuất, kinh doanh Trong khi đó, 12,5% số hộ được hỏi cho rằng họ vẫn cònthiếu đất rừng sản xuất Để khắc phục thiếu hụt về đất đai, các hộ có thể đi thuêthêm đất để sản xuất và mong muốn được nhà nước giao thêm đất để tăng quy
mô sản xuất trong những năm đến
* Công tác giao đất, giao rừng cho hộ dân sản xuất
Năm 2014, UBND thành phố đã có các Quyết định giao rừng và đất lâmnghiệp cho UBND các phường Hòa Hiệp Bắc, Hòa Khánh Bắc và Hòa KhánhNam quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (Mục 2, phần Mở đầu) Trên cơ sở đó,trong 2 năm 2015, Hạt Kiểm Lâm Liên Chiểu đã bàn giao rừng cho UBND cácphường
Để tiến hành giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho các hộ dân trênđịa bàn theo Văn bản Hợp nhất số 21/VBHN-BNNPTNT ngày 6/5/2014 của BộNN-PTNT, UBND các phường xây dựng phương án của từng phường Trên cơ
sở đó, UBND quận xây dựng phương án của quận và trình UBND thành phố phêduyệt Hiện nay, các cơ quan chức năng đang trong quá trình xây dựng phương
án và trình phê duyệt Vì thế, các hồ sơ xin giao rừng, cho thuê rừng của các hộdân làm KTVR trên địa bàn quận chưa được giải quyết
Theo kết quả khảo sát các hộ dân, đa số các hộ dân cho rằng thủ tục cấp
Trang 20được giải quyết, trong khi vài hộ không làm thủ tục vì chưa có tiền thuế và cácloại phí, lệ phí liên quan Một số hộ đã được cấp GCN QSDĐ từ lâu và họ chorằng khi nhà nước có chủ trương thì họ phải làm thủ tục đầy đủ để trình các cấpgiải quyết
Đáng chú ý, việc cấp GCN QSDĐ cho các hộ đầu tư KTVR tại Tiểu khu
41 (Hòa Khánh Nam) trong những năm qua chưa được thực hiện do nhiềunguyên nhân Do đó, hầu như các hộ được khảo sát chưa được cấp GCN QSDĐnên khi người dân xây dựng chuồng trại chăn nuôi, kho chứa vật tư nông nghiệpkiên cố thì không được nhà nước cấp phép Trên thực tế, một số hộ khi xây dựng
đã bị Đội Quy tắc đô thị phường buộc tháo dở
Do đó, theo kết quả khảo sát, có đến 70% hộ dân cho rằng công tác giaođất, giao rừng không thuận lợi Gần 82% hộ dân đã làm đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với đất sản xuất vườn rừng nhưng chưa được cấp và 13,6% hộ khôngbiết thủ tục nên chưa làm các thủ tục xin GCN QSDĐ (Hình 3.1)
Hình 3.1 Nguyên nhân không được cấp GCN QSDĐ
II.2.3.2 Cơ sở hạ tầng và phương tiện phục vụ sản xuất
- Đường giao thông: Đối với những hộ làm vườn rừng ở các khu vực venđường giao thông thì việc đi lại, vận chuyển hàng nông sản cũng dễ dàng vàthuận lợi Tuy nhiên, đối với các hộ làm vườn rừng trong các khu vực sâu (cách
xa đường giao thông chính khoảng từ 200m trở lên) thì đường đi chủ yếu làđường đất do họ tự khai hoang nên việc đi lại trở nên khó khăn Đối với những
hộ này, họ cũng mong muốn chính quyền hỗ trợ xây dựng đường giao thông.Theo kết quả khảo sát các hộ, nhu cầu làm đường bê tông cho các hộ nàykhoảng 4km
- Về nước tưới và điện: 100% hộ dân đã tự đầu tư kinh phí để có nướcphục vụ sản xuất Do các vườn nằm ở ven rừng nên 76,5% số hộ đã tận dụng
Trang 21nguồn nước suối trên cao và đầu tư kinh phí mua đường ống để dẫn nước về sửdụng Khoảng gần 24% số hộ đầu tư khoan giếng bơm công nghiệp với chi phíkhá đắt đỏ, thấp nhất 36 triệu/giếng và có hộ đã đầu tư hơn 50 triệu đồng Tuynhiên, qua sử dụng, đường ống bị hư hỏng nên đòi hỏi phải thay thế Vì vậy, ảnhhưởng đến chi phí đầu tư cho sản xuất Mặt khác, đến mùa hè, một số con suốicạn nước nên các hộ không có đủ nước để phục vụ chăn nuôi, trồng trọt
Tương tự, đa số hộ cũng đã tự đầu tư kinh phí để có điện phục vụ sản xuất
và sinh hoạt Hiện nay, một số hộ đang sản xuất KTVR dọc theo đường tránhNam Hải Vân phải tự đầu tư đường điện và trả tiền điện khá cao để có điện sửdụng trong sinh hoạt và sản xuất
- Về phương tiện phục vụ sản xuất:
Đối với các phương tiện sản xuất thông thường như cuốc, xẻng, kéo… thìcác hộ trang bị đầy đủ, nhưng các loại thiết bị, máy móc thì hầu như các hộ đithuê để làm Nguyên nhân chủ yếu là do giá cao nên họ không có đủ tiền để mua
và không phải chi phí sửa chữa, bảo dưỡng máy móc
Trong quá trình đầu tư phát triển KTVR của các hộ dân trên địa bàn 3phường, họ gặp những khó khăn về cơ sở hạ tầng, chủ yếu liên quan đến nước,đường đi khó khăn cho việc vận chuyển nông sản và điện không đảm bảo (Hình4.1.)
Hình 4.1 Những khó khăn về cơ sở hạ tầng của hộ dân
II.2.3.3 Vốn và tình hình vay vốn phục vụ sản xuất
Cho đến nay, vốn đầu tư của các hộ dân chủ yếu là vốn tự huy động củagia đình, chiếm đến 80% tổng vốn, vốn đi vay chỉ chiếm khoảng 20%
Trang 22Hầu như các hộ chưa có đủ vốn đề đầu tư sản xuất nên có nhu cầu vayvốn từ các nguồn khác nhau 42,5% số hộ được hỏi đã vay, trong đó: 60% hộđược vay từ nguồn Hội Nông dân phường; 33,3% hộ được vay vốn của Ngânhàng chính sách xã hội (Hình ; chỉ có 6,7% hộ vay của Ngân hàng NN-PTNT.Trong khi đó, 10% hộ dân muốn vay vốn, chủ yếu từ nguồn Hỗ trợ Nông dâncủa Hội Nông dân, nhưng đến nay vẫn chưa được vay (Hình 5.1.).
Thiếu vốn sản xuất đang là vấn đề nan giải của một số hộ đầu tư phát triểnKTVR trên địa bàn quận Muốn xây dựng chuồng trại, cơ sở hạ tầng trong khuvực sản xuất, đầu tư trang thiết bị, máy móc Hầu hết các hộ cho rằng với số vốnhiện tại và vốn vay từ các hội, đoàn thể và ngân hàng chính sách vẫn chưa đủphục vụ nhu cầu sản xuất của hộ
Do hạn mức cho vay của các
nguồn vốn ưu đãi còn thấp (khoảng từ
10-40 triệu/hộ/lần), thời gian vay vốn
ngắn và khó tiếp cận nên hầu như chưa
đáp ứng nhu cầu cần vay của các hộ
dân Trong lúc đó, để vay vốn từ các
ngân hàng thương mại với lãi suất cao
đòi hỏi phải có GCN QSDĐ hoặc GCN
trang trại Tuy nhiên, các hộ không có
đầy đủ thủ tục như GCN trang trại
hoặc GCN QSDĐ đất của vườn hiện Hình 5.1 Các nguồn vốn vaynay nên họ không có tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng Vì vậy, đối vớinhiều hộ dân, việc vay vốn đầu tư phát triển sản xuất rất khó khăn
II.2.3.4 Các nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất
Qua thực tế khảo sát, các nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất tại cácvườn rừng có nguồn gốc cụ thể như sau:
- Về cây/con giống: Các hộ dân chủ yếu mua từ các cơ sở mua bán tại cácđịa phương khác nhưng chất lượng cây/con giống không đảm bảo, chẳng hạnnhư nhiễm bệnh nên dễ bị chết hoặc sinh trưởng, phát triển không tốt Bên cạnh
đó, giá cả cũng khá cao do hộ phải trả chi phí vận chuyển
- Các loại nguyên liệu phân bón và thuốc trừ sâu; thức ăn chăn nuôi vàthuốc thú y: Người dân chủ yếu mua ở các hộ kinh doanh dịch vụ trên địa bànphường và chợ Hòa Khánh và thanh toán ngay khi mua do số lượng mua khôngnhiều và không thường xuyên Ngoài ra, tận dụng hoặc mua nguồn phân chuồng
Trang 23trong chăn nuôi để chăm sóc cây trồng hoặc các loại cây dùng cho chăn nuôingay tại vườn
Về chất lượng, đa số hộ dân cho rằng “chất lượng các loại vật tư này có lúc tốt có lúc không”
II.2.3.5 Lao động và kỹ thuật sản xuất
Trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của các chủ hộ có ảnh hưởng lớnđến hiệu quả sản xuất kinh doanh Những chủ hộ có trình độ chuyên môn, họcvấn cao, có trình độ quản lý tốt thì sẽ dễ dàng áp dụng các công nghệ tiến bộ vàosản xuất, dám đầu tư và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, quản lý và sửdụng các nguồn lực vào sản xuất một cách hợp lý và có hiệu quả hơn
Các chủ hộ ở trên địa bàn 3 phường chủ yếu học hết phổ thông và tỷ lệcác chủ hộ có trình độ chuyên môn là rất thấp Theo kết quả khảo sát, đa sốngười dân chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng, con vật nuôi trong vườnchủ yếu nhờ kinh nghiệm của bản thân (65,6% người trả lời) Một số người đãtham gia các lớp tập huấn do Hội nông dân, Trung tâm Khuyến nông lâm tổchức Ngoài ra, họ còn học hỏi qua TV, đài truyền thanh cũng như người quen
có nhiều kinh nghiệm (Hình 6.2.)
Hình 6.1 Hiểu biết kỹ thuật sản xuất
Do đất đai tự khai hoang và sản xuất, nên diện tích đất và quy mô sản xuấtcủa đa số các hộ được khảo sát thường nhỏ Do đó, chủ yếu sử dụng lao độngtrong gia đình để tiến hành các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt nên các hộ khônggặp khó khăn về lao động (70% hộ trả lời)
Trong khi đó, 30% số hộ còn lại gặp khó khăn về lao động như không đủngười làm, có người làm nhưng sức khỏe yếu hoặc tiếp thu kém Do đó, 75% hộ
Trang 24thường thuê thêm người làm theo thời vụ; 10% hộ thuê người làm lâu dài có khảnăng đáp ứng yêu cầu lao động và chỉ 10% hộ lựa chọn là cố gắng làm thêm.Lao động trong các vườn chủ yếu là lao động phổ thông và làm các làm cáccông việc giản đơn như: cho vật nuôi ăn, gieo trồng, thu hoạch…
Nhìn chung, trong các vườn, hầu như không có cán bộ kỹ thuật có chuyênmôn sâu, lao động không qua đào tạo là chủ yếu
Hình 6.2 Nguyên nhân thiếu lao động Trong quá trình sản xuất, các hộ gặp nhiều khó khăn, trong đó đa số hộcho rằng thời tiết, khí hậu ngày càng khắc nghiệp làm cho tình trạng thiếu nướcvào mùa hè, lũ lụt trong mùa mưa trở nên trầm trọng hơn (45,7% người trả lời).Đặc biệt, ở hầu hết các vùng sản xuất nếu người dân không đầu tư kinh phí lớn
để khoan giếng công nghiệp thì đều bị thiếu nước Bên cạnh đó, gần 40% ngườisản xuất gặp nhiều khó khăn trong sản xuất do không nắm được kỹ thuật Do đó,hầu như các hộ chưa đầu tư thâm canh tăng năng suất chất lượng nuôi, trồng.Chẳng hạn như, trong chăm sóc cây ăn quả, hầu như chưa có hộ dân nào thựchiện các kỹ thuật cơ bản về tỉa cành, tạo tán và lựa chọn quả Bón phân cho câychưa đầy đủ, số lượng bón còn hạn chế Trong chăn nuôi, chưa áp dụng tiêmphòng, chủng ngừa các loại bệnh thường xuyên xảy ra cho gia súc, gia cầm, chỉ
áp dụng chữa trị khi phát hiện bệnh Vì vậy, hiệu quả chữa trị không cao dẫn đếntình trạng con vật nuôi chết cả đàn
Trang 25Hình 6.3 Nguyên nhân của khó khăn trong quá trình sản xuất
II.2.3.6 Tiêu thụ sản phẩm
Với dân số trên địa bàn quận khá đông và mức sống của người dân ngàycàng được nâng cao nên nhu cầu tiêu dùng các loại nông sản an toàn rất lớn Vìvậy, sản xuất nông nghiệp nói chung và các vườn rừng nói riêng đòi hỏi phải sảnxuất ra hàng hóa có khối lượng lớn và chất lượng tốt
Sản phẩm từ sản xuất KTVR chủ yếu là các loại nông sản tươi, chưa quasơ/chế biến nên tiêu thụ sản phẩm nông sản là vấn đề được người dân hết sứcquan tâm, hiện nay, việc tiêu thụ sản phẩm của đa số các hộ khá thuận lợi Chủyếu là nhờ các sản phẩm do người dân địa phương sản xuất ra vừa ít sử dụngthuốc BVTV cũng như hóa chất bảo quản nên người dân địa phương ưa chuộngnhững sản phẩm do các chủ vườn rừng bán ngay tại địa phương; trong khi đó,các sản phẩm nông sản trên thị trường không đảm bảo chất lượng
Hình thức tiêu thụ cũng khá đa dạng, gần 25% hộ dân khi sản xuất ra cótiểu thương đến thu mua tận vườn; khoảng 60% hộ dân tự bán tại các chợ ở địaphương hoặc tại nhà (Hình 7.1)
Về giá cả, do người mua – người bán thương lượng và giá cũng ngang ởngoài thị trường đôi lúc có thể cao hơn nhưng người mua cũng vẫn sẵn sàngmua
Tuy nhiên, đối với một số hộ việc tiêu thụ còn gặp một số khó khăn chủyếu là có lúc bán được, có lúc bán cũng khó; hoặc không biết bán ở đâu và giá
cả không ổn định Các hộ này chủ yếu là những hộ mới đầu tư phát triển KTVRnên chưa được tiểu thương biết đến
Cho đến nay, chưa có mặt hàng nào từ KTVR trên địa bàn quận có thểtiếp cận với hệ thống bán chính thức như siêu thị, cửa hàng nông sản sạch trên
địa bàn thành phố Khi chúng tôi đặt câu hỏi “Hộ gia đình có muốn tìm nơi tiêu