1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tập bài giảng những vấn đề của thời đại ngày nay

62 254 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân đối với vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ...25 4.3.1.. + Môi trường sinh thái bầu khí quyển,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -

TẬP BÀI GIẢNG

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THỜI ĐẠI NGÀY NAY

(DÀNH CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG NGÀNH 2 GDCD VÀ ĐẠI HỌC NGÀNH GDCT)

Tác giả: Nguyễn Thị Như Nguyệt

NĂM 2017

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 BÙNG NỔ DÂN SỐ 2

1.1 Khái niệm, nguyên nhân, đặc điểm và tác động của bùng nổ dân số đối với sự phát triển chung của nhân loại 2

1.1.1 Khái niệm 2

1.1.2 Nguyên nhân 2

1.1.3 Đặc điểm bùng nổ dân số trên thế giới 2

1.1.4 Tác động của bùng nổ dân số đối với sự phát triển chung của nhân loại 3

1.2 Trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết vấn đề bùng nổ dân số 4

1.2.1 Phương hướng hành động chung 4

1.2.2 Những hoạt động chung 5

1.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân trước vấn đề bùng nổ dân số 5

1.3.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước 5

1.3.2 Trách nhiệm của công dân trước vấn đề dân số 7

CHƯƠNG 2 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU 9

I Ô nhiễm môi trường và những biểu hiện chủ yếu của ô nhiễm môi trường hiện nay 9

1 Khái niệm và những nguyên nhân gây ô nhiễm 9

2 Những biểu hiện chủ yếu của tình trạng ôi nhiễm môi trường hiện nay 9

II Cộng đồng quốc tế với nỗ lực bảo vệ môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững 12

1 Phương hướng hành động 12

2 Những hoạt động chung 12

Trang 3

2.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công

dân trước vấn đề môi trường 13

2.3.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước 13

2 Trách nhiệm của công dân với vấn đề bảo vệ môi trường 16

CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH 17

3.1 Chiến tranh – nguồn gốc, bản chất và mối quan hệ với chính trị 17

3.1.1 Khái niệm 17

3.1.2 Nguồn gốc, bản chất của chiến tranh 17

3 Mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị 18

3.2 Cộng đồng quốc tế với vấn đề chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình 18

3.2.1 Các xu thế chủ yếu về liên kết và tập hợp lực lượng trên thế giới ngày nay .19

3.2.2 Những hoạt động chung 19

3.3 Quan điểm của Đảng, trách nhiệm của công dân đối với vấn đề bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh 19

3.3.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 19

3.3.2 Trách nhiệm của công dân đối với vấn đề bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh 21

CHƯƠNG 4 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA 22

4.1 Văn hóa và di sản văn hóa 22

4.1.1 Khái niệm 22

4.1.2 Phân loại di sản văn hóa 22

4.1.3 Ý nghĩa của di sản văn hoá đối với đời sống nhân loại 23

4.2 Những nỗ lực của cộng đồng quốc tế để bảo vệ các di sản văn hoá 23

4.2.1 Khái quát về hiện trạng di sản văn hoá trên thế giới 23

Trang 4

4.2.2 Các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của cộng đồng quốc tế

24

4.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân đối với vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa 25

4.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước 25

4.3.2 Trách nhiệm của công dân 27

CHƯƠNG 5 28

NHÂN LOẠI VỚI VIỆC PHỒNG CHỐNG CÁC DỊCH BỆNH 28

5.1 Các đại dịch lớn trong lịch sử và hậu quả của nó đối với con người 28

5.1.1 Bệnh đậu mùa 28

5.1.2 Bệnh dịch tả 28

5.1.3 Bệnh dịch hạch 29

5.1.4 Các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp 30

5.1.5 Đại dịch HIV/AIDS 31

5.2 Cộng đồng quốc tế với việc phòng chống, đẩy lùi và ngăn chặn các dịch bệnh hiểm nghèo 32

5.2.1 Vai trò của Tổ chức Y tế thế giới và những định hướng cơ bản trong việc phòng chống dịch bệnh trên thế giới 33

5.2.2 Nhân loại với cuộc chiến phòng chống HIV/AIDS 33

5.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân đối với việc phòng chống các dịch bệnh 35

5.3.1 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe nhân dân 35

5.3.2 Trách nhiệm của công dân trong việc phòng chống các dịch bệnh 37

CHƯƠNG 6 GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, CHỐNG THẤT NGHIỆP 39

6.1 Thất nghiệp 39

Trang 5

6.1.1 Khái niệm 39

6.1.2.Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp 39

6.2 Đói nghèo 39

6.2.1 Khái niệm 39

6.2.2 Tiêu chí đánh giá và chuẩn đói nghèo 40

6.3 Cộng đồng quốc tế với việc giải quyết vấn đề việc làm, chống thất nghiệp và đói nghèo 41

6.3.1 Cộng đồng quốc tế với việc giải quyết vấn đề việc làm và chống thất nghiệp 41

6.3.2 Trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết vấn đề đói nghèo .42

6.4 Chủ trương của Đảng, Nhà nước và trách nhiệm của công dân đối với vấn đề lao động, việc làm, chống thất nghiệp và xóa đói, giảm nghèo 44

6.4.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước 44

2 Trách nhiệm của công dân đối với vấn đề lao động, việc làm, chống thất nghiệp và xóa đói, giảm nghèo 46

CHƯƠNG 7 PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI 47

7.1 Tệ nạn xã hội, bản chất, đặc điểm và những tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa nhân loại 47

7.1.1 Khái niệm 47

7.1.2 Bản chất và đặc điểm chung của tệ nạn xã hội 47

7.1.3 Những tác động của một số tệ nạn xã hội điển hình trên thế giới ngày nay .48

7.2 Cộng đồng quốc tế với việc phòng chống tệ nạn xã hội 50

7.2.1 Những biểu hiện và nguyên nhân gia tăng tệ nạn xã hội trên thế giới ngày nay 50

Trang 6

7.2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm ngăn chặn sự gia tăng các tệ nạn xã hội quốc tế 52 7.2.3 Những hoạt động chung của cộng động quốc tế trong việc ngăn chặn sự gia tăng tệ nạn xã hội 52 7.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân trong việc đấu tranh, phòng ngừa tệ nạn xã hội 53 7.3.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước 53 7.3.2 Trách nhiệm của công dân trong đấu tranh, phòng chống tệ nạn xã hội 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Những vấn đề của thời đại là những vấn đề lớn có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi người và cả xã hội loài người, đòi hỏi toàn thể nhân loại phải quan tâm và cùng nhau giải quyết.Vì vậy, có thể có nhiều vấn đề mang tính thời đại tồn tại đan xen, quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình vận động của lịch sử nhân loại Nhưng để phù hợp với mục tiêu giáo dục, chương trình và nội dung đào tạo giáo viên Giáo dục công dân ở trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, tập bài giảng này chỉ tập trung định hướng một số vấn đề cấp thiết có tính toàn cầu mà loài người đang phải đối mặt

Đó là những vấn đề: bùng nổ dân số; bảo vệ môi trường; chống chiến tranh và bảo vệ hòa bình; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; phòng chống các dịch bệnh; giải quyết việc làm, chống thất nghiệp và đói nghèo; phòng chống tệ nạn xã hội Mặc dù đó hệ thống hóa một cách cô động những nội dung cơ bản những vấn đề của thời đại tuy vậy không thể tránh khỏi những bổ sung và chỉnh sửa Rất mong các đồng nghiệp và sinh viên đóng góp ý kiến để bài giảng hoàn thiện hơn

Quảng Bình, tháng 5 năm 2017

Nguyễn Thị Như Nguyệt

Trang 8

1.1.2 Nguyên nhân

- Nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là ở các quốc gia đang và chậm phát triển, chưa thực hiện, hoặc thực hiện kém hiệu quả các biện pháp hạn chế sự gia tăng dân số, người dân cũng sinh đẻ nhiều, sinh đẻ không có kế hoạch

- Do những phong tục tập quán của nhiều dân tộc, ở nhiều vùng trên thế giới tồn tại tập quán và tâm lí kết hôn sớm, muốn có nhiều con, coi trọng con trai…

và thường không sử dụng các biện pháp tránh thai nên tất yếu dẫn đến việc đẻ nhiều con

- Một số quốc gia do dân số ít, mật độ dân số thấp nên không có chính sách hạn chế tỉ suất sinh, thậm chí còn khuyến khích sinh đẻ như Mông Cổ, Malaixia…

1.1.3 Đặc điểm bùng nổ dân số trên thế giới

- Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh

+ Thời gian để số dân trên thế giới tăng thêm 1 tỉ người và để dân số tăng gấp đôi ngày càng có xu hướng rút ngắn lại

Bảng 1: Khoảng thời gian để dân số thế giới tăng lên 1 tỉ người

Thời điểm Số dân trên thế giới Khoảng thời gian

Năm 1804 1 tỉ người Từ khi con người xuất hiện đến 1804

(Nguồn: Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền - NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2002)

Trang 9

Bảng 2: Khoảng thời gian để dân số tăng lên gấp đôi

Thời điểm Dân số thế giới Khoảng thời gian

Nguồn: Thời báo Washington ngày 21 tháng 7 năm 1999

+ Trung bình, mỗi năm dân số thế giới lại tăng thêm hơn 80 triệu người, tức

là tương đương với số dân của một nước đứng vào hàng thứ 13 số dân thế giới (CHLB Đức hoặc Việt Nam)

+ Với đà gia tăng như hiện nay, nếu không có những giải pháp và sự kìm chế hữu hiệu, dân số thế giới sẽ lên tới 7,8 tỉ người vào năm 2015; 11,2 tỉ người vào năm 2050; 27 tỉ người vào năm 2150 (Dự báo của UNPFA 1999)

+ Tốc độ gia tăng dân số trên quy mô toàn thế giới có xu hướng giảm về tỉ suất (từ 1,9% thời kì 1975 - 1985 xuống 1,7% thời kì 1985 - 1995 và 1,5% thời

kì 1995 - 2000), nhưng lại tăng rất nhanh về số dân tuyệt đối (thể hiện ở hai bảng

1.1.4 Tác động của bùng nổ dân số đối với sự phát triển chung của nhân loại

- Bùng nổ dân số với vấn đề giải quyết việc làm, chống thất nghiệp

Sự gia tăng dân số không đều giữa các nhóm nước đã dẫn đến hai xu hướng trái ngược nhau: trẻ hoá dân số trong nhóm các nước đang phát triển (gây áp lực

Trang 10

các nước công nghiệp phát triển (dẫn đến thiếu hụt lực lượng lao động, đe doạ nghiêm trọng tương lai phát triển kinh tế của các nước này)

- Bùng nổ dân số với vấn đề đảm bảo lương thực

Dân số tăng quá nhanh, trong điều kiện giới hạn của nền sản xuất xã hội tạo nên tình trạng thiếu hụt về lương thực, thực phẩm so với nhu cầu Việc bảo đảm lương thực thực hiện đang đứng trước những thách thức:

+ Bình quân lương thực trên đầu người có xu hướng giảm xuống trong những thập kỉ tới và số người bị thiếu lương thực trên thế giới tiếp tục tăng lên + Khả năng dự trữ lương thực trên toàn thế giới không đạt mức an toàn, các kho lúa dự trữ trên thế giới đều ở mức thấp làm cho nạn đói và đời sống nghèo khổ xuất hiện ở nhiều vùng trên thế giới

+ Sự phát triển của nông nghiệp không theo kịp những thay đổi về khối lượng và cơ cấu nhu cầu lương thực của thế giới

+ Mất cân đối sâu sắc về sản xuất và tiêu thụ lương thực, thực phẩm giữa các nước phát triển và đang phát triển

- Bùng nổ dân số với vấn đề khai thác các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái

Khi dân số tăng lên, các nhu cầu về ăn, mặc, nơi ở, đi lại, học hành, vui chơi, giải trí… đều tăng lên Muốn đáp ứng các nhu cầu đó, con người phải tăng cường khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và dẫn đến những kết quả như: + Diện tích rừng nguyên sinh tự nhiên, rừng tái sinh và độ che phủ của rừng ngày càng bị thu hẹp; nhiều loài sinh vật, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm

bị suy giảm nhanh chóng

+ Rừng bị tàn phá nặng nề làm cho đất đai bị xói mòn và bạc màu, thảm thực vật từng bước bị mất dần cùng với việc sử dụng thường xuyên phân hoá học, thuốc trừ sâu… làm cho đất bị suy thoái dẫn đến hoang hoá Bên cạnh đó, hàng năm quỹ đất cho sản xuất lại bị cắt xén để dành cho việc phát triển đô thị, làm nhà ở, đường giao thông và các mục đích khác

+ Nguồn khoáng sản đang có nguy cơ cạn kiệt dần đe doạ đến sự phát triển bền vững của xã hội tương lai

+ Môi trường sinh thái (bầu khí quyển, nguồn nước…) bị ô nhiễm là hậu quả tất yếu của khối lượng chất thải khổng lồ, liên tục thải ra từ các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt của con người và nó

có mối quan hệ chặt chẽ với sự gia tăng dân số

1.2 Trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết vấn đề bùng nổ dân số

1.2.1 Phương hướng hành động chung

- Thứ nhất, mỗi quốc gia cần phải xây dựng chiến lược ổn định và phát triển

dân số phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước mình trong từng thời

Trang 11

kì nhất định theo mục tiêu vì sự phát triển bền vững Trong đó, đặc biệt chú trọng việc điều chỉnh quy mô dân số phù hợp với nguồn lực kinh tế, tài nguyên, môi trường thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình

- Thứ hai, thực hiện chương trình quốc gia về dân số và kế hoạch hoá gia

đình theo những mục tiêu xác định nhằm ổn định và nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn của xã hội hiện đại: con người được đảm bảo về điều kiện vật chất, tinh thần, học tập, lao động và vui chơi giải trí

- Thứ ba, tăng cường và thực hiện có hiệu quả các hoạt động tuyên truyền,

giáo dục về dân số, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản nhằm cung cấp cho mọi người những nhận thức đúng đắn về dân số để từ đó điều chỉnh hành vi của mình một cách hợp lí, gắn trách nhiệm bản thân với cộng động xã hội

- Thứ tư, đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, hỗ trợ phương tiện kĩ thuật và đảm

bảo cung cấp kịp thời, thường xuyên các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình nhằm đảm bảo cho mọi gia đình thực hiện được việc sinh đẻ có kế hoạch, hạn chế tới mức thấp nhất việc mang thai ngoài ý muốn

- Các tuyên bố, chương trình quốc tế được xây dựng, trong đó đặc biệt là

“Tuyên bố Amsterdam” – Hà Lan 1989 và “Chương trình Hành động Cairô” –

Ai Cập 1994

- Chương trình, chính sách Dân số của mỗi quốc gia

- Ngày Dân số thế giới: 11/7 hàng năm (với chủ đề cụ thể từng năm), (Ngày Dân số VN là 26/12)

- Trao Giải thưởng Dân số thế giới hàng năm cho những quốc gia đạt các mục tiêu trong lĩnh vực dân số và phát triển (1999: VN được trao Giải thưởng Dân số)

1.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân trước vấn đề bùng nổ dân số

1.3.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước

Thực trạng dân số Việt Nam

Hiện dân số Việt Nam là gần 92 triệu người, đứng thứ 13 trên thế giới và mỗi năm tăng khoảng 1 triệu người Mật độ dân số Việt Nam (năm 2009) khoảng

260 người/km2, thuộc nhóm nước có mật độ dân số cao nhất thế giới nhưng kết quả giảm sinh chưa bền vững

Trang 12

Năm 2009, có 28/63 tỉnh, thành phố thuộc các vùng trung du và miền núi phía Bắc, bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên chưa đạt mức sinh thay thế

Dân số Việt Nam đang già đi với tốc độ nhanh Năm 2009, tỉ trọng người từ

65 tuổi trở lên là 6,6% và chỉ số già hóa là 35,7%, cao hơn mức trung bình trong khu vực Đông Nam Á (30%) Quá trình già hóa này sẽ gâyáp lực đối với việc bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi

Từ năm 1999, tỉ số giới tính khi sinh bắt đầu mất cân bằng, năm 2010, ước vượt xa tỉ lệ thông thường của quy luật tự nhiên (104 bé trai/100 bé gái)

Số năm trung bình sống khỏe mạnh của người Việt Nam chỉ đạt 66 tuổi (dù tuổi thọ bình quân đạt mức 72,8 tuổi), xếp thứ 116/182 nước, tỉ lệ dân số bị khuyết tật chiếm tới 7,8%, số trẻ mới sinh bị dị tật bẩm sinh có xu hướng tăng Tỉ

lệ tử vong sơ sinh cao, chiếm 70% tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và 50% tử vong trẻ

- Năm 2003, chính phủ ban hành Pháp lệnh Dân số

- Ngày 22.12.2000, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định 147/TTg về Chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2010

- Nghị quyết 47- NQ/TW ngày 22.3.2005 của Ban chấp hành Trung ương về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ)

- Pháp lệnh Dân số và Nghị định 104/NĐ-TW đó đưa công tác DS-KHHGĐ vào nề nếp, tạo điều kiện thông tin, giáo dục cụ thể và thống nhất cách hiểu về quy mô gia đình ít con, thực hiện có hiệu quả việc quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với công tác DS-KHHGĐ

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội đó thông qua Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số và ngày 5.1.2009, Chủ tịch nước đó ban hành Lệnh về việc công bố Pháp lệnh Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số có hiệu lực thi hành từ ngày 1.2.2009

- Chính phủ đó ban hành Nghị quyết số 31/NQ-CP về Chương trình hành động đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ giai đoạn 2010-2015

Mục tiêu dân số của Việt Nam

Căn cứ vào nội dung Chương trình hành động của Chính phủ về việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) giai đoạn 2015-

2020

Quan điểm phát triển dân số

Các quan điểm về phát triển dân số ở nước ta hiện nay được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng khóa VII về Chính sách dân số -

Trang 13

kế hoạch hóa gia đình và từng bước được hoàn thiện qua các Đại hội lần thứ VII, VIII và IX của Đảng

- Một là, công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát

triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xó hội, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

- Hai là, thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hòa quan

hệ giữa số lương với chất lượng dân số, giữa phát triển dân số với phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân cư với phát triển kinh tế - xã hội

là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân số; tập trung ưu tiên cho các vùng có mức sinh cao, vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa để giải quyết các vấn đề về dân số

và nâng cao mức sống nhân dân

- Ba là, đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triển bền vững và

mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp, gián tiếp và rõ rệt Nhà nước đảm bảo đủ nguồn lực cho công tác dân số, đồng thời vận động sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ của quốc tế

- Bốn là, đẩy mạnh công tác truyền thông – giáo dục về dân số và phát triển,

kết hợp với việc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, tăng cường vai trò của gia đình và thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình là những giải pháp cơ bản để đảm bảo tính bền vững của chương trình dân

số và phát triển

- Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp, đẩy

mạnh xã hội hóa về công tác dân số là yếu tố quyết định sự thành công của chương trình dân số và phát triển Huy động toàn xã hội tham gia công tác dân

số, kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể quần chúng, chính trị

xã hội, đồng thời phải nâng cao vai trò, trách nhiệm của bộ máy chuyên trách quản lí theo chương trình mục tiêu, làm cho các nguồn lực phục vụ cho công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được sử dụng có hiệu quả đến từng người dân

Các chương trình dân số:

+ Chương trình nâng cao năng lực quản lí cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số

+ Chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình

+ Chương trình nâng cao chất lượng thông tin, dữ liệu về dân số

+ Chương trình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chất lượng dân số + Chương trình dân số và phát triển gia đình bền vững

+ Chương trình tăng cường dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, đặc biệt là ở các vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa

1.3.2 Trách nhiệm của công dân trước vấn đề dân số

- Thực hiện nghiêm chỉnh “Pháp lệnh Dân số” của nước CHXHCNVN được ban hành năm 2003

Trang 14

- Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững

- Thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao thể chất, trí tuệ và tinh thần của bản thân và các thành viên trong gia đình

- Tôn trọng lợi ích của Nhà nước, xã hội, cộng đồng trong việc điều chỉnh quy mô dân số, phân bố dân cư, nâng cao chất lượng dân số

- Tuyên truyền, giáo dục ý thức, trách nhiệm của công dân đối với vấn đề dân số

Trong trường THPT, mỗi giáo viên phải là một thành viên tích cực, gương mẫu về việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

về dân số, đồng thời phải tích cực tuyên truyền giáo dục về dân số cho mọi người trong cộng đồng và cho học sinh có ý thức, hành vi dân số đúng đắn

Trang 15

CHƯƠNG 2 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU

I Ô nhiễm môi trường và những biểu hiện chủ yếu của ô nhiễm môi trường hiện nay

1 Khái niệm và những nguyên nhân gây ô nhiễm

Theo Luật Bảo vệ môi trường (ngày 10.1.1994) môi trường được định nghĩa như sau:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

“Ô nhiễm môi trường là làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”

Thực chất của ô nhiễm môi trường là sự xuất hiện các chất độc hại trong thành phần của môi trường, gây phương hại đến sự sống của con người và các sinh vật khác

- Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường là do hoạt động sản xuất vật chất và sinh hoạt của con người

- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động kinh tế công nghiệp

- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ sản xuất nông nghiệp

2 Những biểu hiện chủ yếu của tình trạng ôi nhiễm môi trường hiện nay

* Ô nhiễm không khí - bầu khí quyển

Ô nhiễm khí quyển là sự có mặt của chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng về thành phần không khí, làm cho không khí không trong sạch hoặc gây ra sự toả mùi ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật nói chung

Có hai nguồn cơ bản gây ra ô nhiễm môi trường không khí: nguồn gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên; nguồn gây ô nhiễm có nguồn gốc nhân tạo

+ Nguồn ô nhiễm tự nhiên do các hiện tượng tự nhiên gây ra như đất cát trong sa mạc, đất trồng bị mưa gió bào mòn thổi tung lên bầu trời; núi lửa phun

và thải vào không khí các chất lạ, cháy rừng, sấm chớp làm xuất hiện các axit nitơnic (HNO3); quá trình phân huỷ giải phóng amôniac, mêtan, ôxit nitơ và

CO2…

+ Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng nhưng chủ yếu là do đốt cháy các nhiên liệu (gỗ, than đá, dầu mỏ, khí đốt…), do hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt của con người Các hoạt động này ngày càng có xu hướng gia tăng do sự phát triển của sản xuất, kinh tế - xã hội và dân số

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 1,5 tỷ dân thành thị trên thế giới thường xuyên hứng chịu ô nhiễm không khí vượt mức cho phép Có tới một nửa triệu dân bị chết do ô nhiễm bụi và sun-phua đi ô-xít, chủ yếu thải từ xe cộ Người dân sống ở các khu vực ổ chuột cũng phải vật lộn với chất lượng không

Trang 16

khí thấp Có khoảng 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm do nhiễm bệnh hô hấp cấp

Ở Việt Nam, tại các khu dân cư, khu công nghiệp, đô thị lớn vấn đề ô nhiễm không khí đặc biệt nghiêm trọng do lượng bụi, các khí độc từ chất thải vượt quá giới hạn cho phép Dân cư sống ở các vùng ven trục giao thông, khu công nghiệp thường mắc các bệnh đường hô hấp, bệnh da, mắt với tỷ lệ lớn

Sự suy thoái tầng ôzôn - lỗ thủng tầng ôzôn và thay đổi khí hậu Trái đất - nhiệt độ Trái đất nóng dần lên là hậu quả nặng nề của ô nhiễm không khí

* Ô nhiễm nguồn nước

Nước có vai trò đặc biệt nghiêm trọng đối với sự sống trên Trái đất Nhưng cũng như khí quyển, nước đang đứng trước một tình trạng ô nhiễm đáng báo động

Ô nhiễm nước là sự có mặt của một hay nhiều chất lạ trong môi trường nước làm cho nguồn nước bị biến đổi Khi các sinh vật hấp thụ nguồn nước đó sẽ hấp thụ luôn các tạp chất trong nước đến một mức độ vượt ngưỡng chịu đựng của cơ thể sẽ gây ra những ảnh hưởng đến sức khoẻ, thậm chí dẫn đến cái chết

Hiến chương Châu Âu định nghĩa: “Sự ô nhiễm là một biến đổi nói chung

do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây ra nguy hại đối với việc sử dụng của con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi-giải trí, cũng như đối với các động vật nuôi, các loài hoang dại”

+ Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể do tự nhiên hoặc nhân tạo:

Ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên do mưa kéo theo các chất bụi bẩn xuống sông, suối, ao, hồ…

Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, y tế, thuốc trừ sâu, phân hoá học… trong nông nghiệp

+ Hậu quả của việc ô nhiễm nguồn nước:

Tình trạng suy giảm nguồn nước ngọt trên toàn cầu cả về số lượng và chất lượng đang là vấn đề nổi cộm của môi trường Trên thế giới hiện nay, ở tất cả các nước đều có tình trạng một bộ phận dân cư phải sống trong điều kiện nguồn nước ngọt không an toàn Theo ước tính, hiện có khoảng 20% dân số thế giới đang thiếu nước ngọt an toàn và khoảng 50% thiếu thiết bị vệ sinh nguồn nước Nhiều dòng sông lớn trên thế giới bị ô nhiễm, thậm chí có những khu vực đã bị ô nhiễm nguồn nước ngầm Các con sông lớn như sông Nin ở Châu Phi, sông Hằng ở Ấn

Độ, sông Hoàng Hà ở Trung Quốc và nhiều sông lớn khác trên thế giới bị mất từ 10-15% lượng nước

Ô nhiễm nguồn nước đã tác động tiêu cực đến sức khoẻ của khoảng 1,2 tỉ người và gây ra cái chết của hàng chục triệu người (khoảng 15 triệu trẻ em bị chết mỗi năm do phải sử dụng nguồn nước đã bị ô nhiễm) Một số không nhỏ

Trang 17

dân cư do sử dụng nguồn nước ngọt bị ô nhiễm đã bị mắc các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, giun, sán, đau mắt… và các bệnh liên quan tới hoá học

Nguồn nước bị ô nhiễm còn ảnh hưởng đến các hệ sinh thái nước làm chết các loài tôm, cá và các loài thực vật dưới nước

Ngoài các dạng ô nhiễm môi trường điển hình trên, ở một số nơi trên thế giới đã và đang tiếp tục xảy ra các hiện tượng ô nhiễm khác như “mưa axit”,

“sương mù độc hại”, “ô nhiễm đời sống sinh vật biển”… làm tổn hại lớn đến cuộc sống con người và các loài sinh vật khác

* Ô nhiễm môi trường đất

Ô nhiễm đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm, làm cho đất không sử dụng được vào mục đích mong muốn

Nguồn gốc gây ô nhiễm đất là do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải nông nghiệp và do tác động của không khí từ các khu công nghiệp đô thị

+ Các chất thải công nghiệp từ các ngành khai mỏ, năng lượng, công nghiệp luyện kim đen và màu, ngành hoá học thải ra khối lượng lớn chất thải rắn gây ô nhiễm môi trường

+ Các chất thải của nông nghiệp

Việc sử dụng trong nông nghiệp các sản phẩm hoá học như phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu và trừ cỏ đã làm ô nhiễm môi trường đất Người ta tính chỉ có khoảng 50% nitơ bón vào đất được cây trồng sử dụng, lượng còn lại là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất Chúng làm thay đổi thành phần và tính chất đất, nếu không sử dụng hợp lí sẽ làm chai cứng đất, làm chua đất, làm thay đổi cân bằng dinh dưỡng giữa đất và cây trồng

+ Các chất thải của sinh hoạt:

Đó là các loại chất thải từ mọi khía cạnh của hoạt động con người trong cuộc sống hàng ngày, từ phân và nước tiểu đến các thức ăn thừa, rác quét nhà, xác ô tô hỏng, đồ gỗ cũ bị thay thế, các chất rắn trong quá trình xử lí nước cống rãnh Trong các chất thải này có những chất hữu cơ có thể gây men và là môi trường phát triển của các vi sinh vật gây bệnh Các chất thải còn lại không chỉ ảnh hưởng đến môi trường ở khía cạnh mỹ quan mà còn lấn chiếm đất canh tác

Sự ô nhiễm môi trường bởi các chất thải sinh hoạt liên quan đến các thành phố và khu công nghiệp đông dân cư, ở đó dân số đông, mật độ dân số cao, do đó chất thải lớn và tập trung Những nơi này cũng là nơi gây ra các mầm bệnh

- Đất là nguồn tài nguyên vô giá đang bị xâm hại nặng nề Số liệu của Liên hợp quốc cho thấy cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu có khoảng 10 ha đất trở thành sa mạc Sa mạc hoá đe doạ nghiêm trọng đối với các khu vực khô hạn, bán

Trang 18

khô hạn trên toàn cầu Khu vực Xahara có diện tích 8 triệu km2, mỗi năm diện tích sa mạc mở rộng thêm từ 5-7km2

Do sự phát triển đô thị và đường giao thông mà đất đai canh tác đang bị thu hẹp (Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm nhanh từ 0,5 ha/người xuống còn 0,2 ha/người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ còn khoảng 0,14 ha/người)

và bị ô nhiễm nặng, và điều đó dẫn đến năng suất cây trồng ngày càng giảm sút Theo ước tính trong khoảng thời gian 1985 - 2010 sản lượng lương thực sẽ giảm khoảng 19 - 29% do hậu quả của các tác động trên

* Ngoài ra, còn có ô nhiễm tiếng ồn, phóng xạ và nhiệt cũng đưa lại những nguy hại cho con người và các loài sinh vật trên Trái đất

II Cộng đồng quốc tế với nỗ lực bảo vệ môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững

1 Phương hướng hành động

Các Nghị quyết, Công ước của Liên hợp quốc về bảo vệ môi trường toàn cầu tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

Một là, chính phủ của tất cả các quốc gia phải có trách nhiệm ngăn ngừa sự

cố môi trường mà không tính đến việc có luật hay không

Hai là, cam kết thực hiện giảm bớt mức độ hoạt động, vận hành các công

nghệ sản xuất gây ô nhiễm môi trường, phổ biến và áp dụng các công nghệ làm sạch môi trường, tất cả các quốc gia phải cam kết thực hiện giảm các chất gây hiệu ứng nhà kính

Ba là, tăng cường thực hiện các biện pháp theo nguyên lí phòng ngừa, quán

triệt tư tưởng phòng tránh sự cố môi trường có lợi hơn xử lí ô nhiễm môi trường

Bốn là, thực hiện nguyên lí công bằng giữa các thế hệ, đảm bảo sự công

bằng, đáp ứng nhu cầu về tài nguyên và môi trường của các thế hệ hiện tại và tương lai

Năm là, giảm sự khai thác và triệt phá các khu rừng nhiệt đới, thực hiện

nguyên tắc bù đắp bằng việc trồng rừng tái sinh

Sáu là, bảo tồn và quản lí tài nguyên sinh học, thành lập các khu bảo tồn đa

dạng sinh học, kiểm soát và loại trừ các hành vi đe doạ các hệ sinh thái, bảo vệ khôi phục các loài có nguy cơ đe doạ tuyệt chủng

2 Những hoạt động chung

- Tổ chức: Viện Quan sát Thế giới được thành lập năm 1975, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Hiệp hội bảo vệ tài nguyên và thiên nhiên quốc tế (IUCN), Hệ thống quan trắc môi trường toàn cầu (GEMS), Tổ chức khí tượng Thế giới (WMO), Chương trình Môi trường của LHQ (UNEP),…

- Nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức như: Hội nghị quốc tế về môi trường

và con người tổ chức tại Stockhom – Thụy Điển (1972), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển tổ chức tại Rio – Braxin (1992), Hội nghị về biến đổi khí hậu tổ chức ở Copennhagen, Đan Mạch (2009), Hội nghị LHQ về biến đổi khí

Trang 19

hậu lần 16 (COP-16) tại Cancun, Meehicô (2010), Hội nghị LHQ về biến đổi khí hậu toàn cầu tại Durban, Nam Phi (2011), HN thượng đỉnh LHQ COP21 ở Pari, Pháp (2015)

- Các tuyên bố, chương trình được cam kết và thực hiện như: Công ước quốc tế 1973 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu gây ra; Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ôzôn; Nghị định thư Montrean về các chất làm suy giảm tầng ôzôn 1987; Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu 1992; Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển 1992; Chương trình nghị sự 21 năm 1992; Nghị định thư Kyoto năm 1997 về giảm lượng chất thải độc hại về môi trường;…

- Luật Bảo vệ môi trường của mỗi quốc gia được ban hành

- Ngày Môi trường thế giới: 5/6 hàng năm

2.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân trước vấn đề môi trường

2.3.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước

* Khái quát thực trạng tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam

Việt Nam là một nước có mật độ và quy mô dân số tương đối cao trên thế giới và cũng là đất nước nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và tính đa dạng sinh học cao Đây là những nguồn lực to lớn của đất nước để phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trong nhiều thập kỉ qua, việc khai thác và sử dụng không hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên cộng thêm hậu quả của chiến tranh và chịu các tác động của sự cố thiên nhiên đó dẫn đến việc nhiều nguồn tài nguyên bị suy giảm mạnh mẽ về cả

số lượng và chất lượng, môi trường sống của dân cư ở cả nông thôn, thành thị chưa được đảm bảo và có xu hướng xuống cấp nghiêm trọng

- Sự biến đổi của khí hậu: đó xuất hiện cỏc hiện tượng khí hậu bất thường như: mưa axit, bão lũ, hạn hán

- Rừng tự nhiên bị suy giảm về diện tích và chất lượng: Rừng tự nhiên bị mất đi trung bình mỗi năm từ 120.000 đến 150.000ha Hiện nay, diện tích đất rừng toàn quốc chỉ còn khoảng gần 9 triệu ha, tỉ lệ che phủ khoảng 25% diện tích đất tự nhiên (trong khi ở đầu XX là trên 45%) Hiệu quả bảo vệ môi trường của

cả hai loại rừng tự nhiên và rừng trồng còn thấp Rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực những con sông lớn ở nước ta chỉ khoảng dưới 20% (trong khi mức báo động là dưới 30%) Rừng ngập mặn đang bị khai thác quá mức, có những nơi hầu như không còn khả năng phục hồi, tái sinh Diện tích rừng bị thu hẹp kéo theo diện tích đất đai bị hoang hóa, xói mòn, nhiễm chua, phốn, mặn Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng mới đó ngày một gia tăng, song xét về mặt sinh thái thì rừng tự tái sinh không thể bằng rừng tự nhiên Vì vậy, việc bảo

vệ rừng tự nhiên là nhiệm vụ hàng đầu cùng với việc trồng thêm 5 triệu ha rừng đến năm 2010 theo chiến lược của Đảng và Nhà nước là hết sức cần thiết

- Diện tích đất nông nghiệp theo đầu người ngày càng giảm cả về số lượng

và chất lượng

Trang 20

Đất nông nghiệp nước ta có khoảng trên 10 triệu ha, nếu chia bình quân theo đầu người thì ở mức thấp so với thế giới (ở nước ta bình quân 0,13 ha/người, chỉ bằng 1/6 mức trung bình của thế giới) Theo đà phát triển kinh tế - xã hội hiện nay thì mức bình quân này cũng tiếp tục bị giảm xuống

- Đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng (cả trên đất liền và dưới đại dương)

Về động vật, có hàng trăm loài đang nằm trong danh sách bị đê dọa toàn cầu (ví dụ có 14 loài chim nằm trong Sách đỏ, ngoài ra cũng một số loài có giá trị kinh tế lớn bị đe dọa suy giảm nghiêm trọng như tê giác một sừng, hổ, bò xám,

bò rừng, hươu vàng ) Về thực vật cũng có nhiều loài đang đứng trước nguy cơ ngày càng bị khan hiếm

- Nguồn tài nguyên nước dồi dào nhưng đó bị ô nhiễm

Việt Nam có nguồn tài nguyên nước dồi dào, với trữ lượng lớn thể hiện ở mạng lưới sông ngòi, số lượng ao hồ và nguồn nước ngầm Mạng lưới sông ngòi nước ta dày đặc, lưu vực sông có diện tích rộng lớn với tổng lượng nước trung bình hàng năm là trên 800 tỉ m3, trong đó lượng nước hình thành ở Việt Nam là trên 325 tỉ m3 Nguồn tài nguyên nước ngầm cũng khá dồi dào, hàng năm có thể khai thác khoảng 1 tỉ m3, chất lượng nước ngầm đáp ứng được nhu cầu sử dụng, nhất là cho nhu cầu sinh hoạt

Mặc dù nguồn nước dồi dào những vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước, đặc biệt là nước sạch sử dụng cho sinh hoạt Hầu hết các sông đều bị ô nhiễm bởi các chất dinh dưỡng, các chất kim loại, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật Tất cả các sông ở đô thị đều bị ô nhiễm nghiêm trọng do các chất thải sản xuất và sinh hoạt chưa qua xử lí hoặc xử lí thấp thải ra sông ngòi vượt mức cho phép Nước ngầm cũng đã có hiện tượng ô nhiễm do ngấm các chất thải từ trên mặt đất, điển hình

là các thành phố lớn Tình trạng ô nhiễm có chiều hướng gia tăng ở khu vực biển

và ven bờ do ô nhiễm dầu, kẽm và vi sinh vật

- Môi trường bị ô nhiễm nặng ở khu vực đô thị và các khu công nghiệp, môi trường nông thôn có nguy cơ tăng mức độ ô nhiễm (các vùng phát triển kinh tế trọng điểm; đất đai, hệ sinh thái tự nhiên ở nông thôn)

* Chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường

Nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trước vấn đề cải thiện và bảo vệ môi trường

- Sự tham gia của Việt Nam đối với các chương trình hành động toàn cầu về bảo vệ môi trường như: Công ước quốc tế 1973 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu gây ra; Nghị định thư 1978 của Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển

do tàu gây ra; Công ước về buôn bán quốc tế các chủng loại động vật hoang dại

có nguy cơ tiệt chủng; Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ôzôn…

- Các chương trình hành động quốc gia về bảo vệ môi trường ở Việt Nam + Chương trình phục hồi môi trường sau chiến tranh Chương trình này được thực hiện vào cuối những năm 1970 với những nội dung chủ yếu là tháo gỡ

Trang 21

bom mìn, xoá dần các vết thương chiến tranh của môi trường, khôi phục rừng, tăng cường quản lí và sử dụng đất trong lâm nghiệp, công nghiệp và khu đô thị + Chương trình nghiên cứu sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường được hình thành năm 1981 với các nội dung: điều tra tài nguyên, tìm hiểu các biện pháp khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên

+ Chương trình nghiên cứu và đưa ra “Dự thảo chiến lược quốc gia về bảo tồn thiên nhiên” được triển khai năm 1985

+ Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền được Chính phủ Việt Nam duyệt năm 1991

+ Ngoài các chương trình, kế hoạch hành động quốc gia về môi trường nêu trên, trong thời gian qua Việt Nam đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng liên quan đến môi trường như Luật Đất đai, Luật bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, Luật Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ biển….và đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua năm 1993

Quan điểm, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu nhằm bảo vệ môi trường Việt Nam trong mối quan hệ với sự phát triển bền vững

- Các quan điểm cơ bản:

Bước vào thế kỉ XXI, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá mọi mặt đời sống xã hội, Đảng ta luôn coi bảo vệ môi trường vừa là một nhiệm

vụ quan trọng vừa là mục tiêu hướng tới trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy Đại hội IX của Đảng đã nêu ra quan điểm phát triển chung như sau:

“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Từ quan điểm chung, các quan điểm cơ bản về bảo vệ môi trường được xác định là:

Thứ nhất, phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi

trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học

Thứ hai, bảo vệ môi trường là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân và

toàn xã hội, tăng cường quản lí nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân

Thứ ba, bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong

đường lối, chủ trương và kế hoạc phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở bảo đảm việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chủ động gắn kết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chí quan trọng đánh giá các giải pháp phát triển

Thứ tư, coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là phương châm chủ đạo, kết

hợp với xử lí ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên

Trang 22

Thứ năm, kết hợp phát huy nội lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo

vệ môi trường

- Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường nước ta trong giai đoạn hiện nay:

+ Ngăn ngừa ô nhiêm môi trường;

+ Phục hồi và cải tạo môi trường ở những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học;

+ Từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị

và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân;

+ Tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu đạt chỉ tiêu về bảo vệ môi trường mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã đề ra

- Các giải pháp chủ yếu:

+ Một là, thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp

sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường

+ Hai là, tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường,

ban hành các chính sách về phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thực hiện Luật Bảo vệ môi trường

+ Ba là, chủ động phòng chống ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường,

khắc phục tình trạng suy thoái môi trường

+ Bốn là, khai thác, sử dụng hợp lí, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ

đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên

+ Năm là, tăng cường các nguồn lực và đa dạng hoá đầu tư cho hoạt động

bảo vệ môi trường, mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường

+ Sáu là, tăng cường công tác quản lí Nhà nước về bảo vệ môi trường từ

trung ương đến địa phương

+ Bảy là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, từng bước hiện đại

hoá công tác nghiên cứu dự báo khí tượng - thuỷ văn và vật lí địa cầu, đào tạo cán bộ, chuyên gia về lĩnh vực bảo vệ môi trường

2 Trách nhiệm của công dân với vấn đề bảo vệ môi trường

- Có ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường chung của cộng đồng, bảo vệ môi trường nơi công cộng, trường lớp, chỗ ở và nơi làm việc

- Thực hiện nghiêm chỉnh Luật Bảo vệ môi trường

- Tuyên truyền, vận động thuyết phục người khác cùng tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn và xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp

Trang 23

CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH

3.1 Chiến tranh – nguồn gốc, bản chất và mối quan hệ với chính trị 3.1.1 Khái niệm

- Chiến tranh là hiện tượng chính trị - xã hội mang tính lịch sử được thể hiện bằng đấu tranh vũ trang giữa các tập đoàn người trong một quốc gia hoặc liên minh các quốc gia nhằm đạt tới những mục đích chính trị nhất định

- Hòa bình là trạng thái xã hội không có chiến tranh, không dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, các nhóm chính trị xã hội Hòa bình đối ngược với chiến tranh Trong xã hội có nhiều chính đảng, hòa bình cũng được mô tả bởi mối quan hệ giữa các đảng phái trong sự tôn trọng lẫn nhau và theo công lý Nhìn chung hòa bình thường không liên tục, luôn

bị gián đoạn bởi các cuộc chiên tranh

3.1.2 Nguồn gốc, bản chất của chiến tranh

- Nguồn gốc của chiến tranh:

Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định rằng, sự xuất hiện và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chính là nguồn gốc kinh tế, nguồn gốc sâu

xa, suy đến cùng đã dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại chiến tranh Đồng thời, sự xuất hiện và tồn tại các giai cấp đối kháng trong xã hội là nguồn gốc xã hội trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại chiến tranh Lênin nói: “Chừng nào xã hội còn phân chia thành giai cấp, chừng nào còn có người bóc lột người thì chiến

tranh là không thể tránh khỏi” (V.I.Lênin.Toàn tập, Tập 10 NXB Tiến bộ, M,

1979, tr.379), cũng như “không thể xoá bỏ được chiến tranh, nếu không xoá bỏ

các giai cấp và không thiết lập chủ nghĩa xã hội” Điều đó có nghĩa là đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi mà giai cấp, nhà nước không còn thì chiến tranh cũng sẽ đi vào lịch sử

- Bản chất của chiến tranh:

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, bản chất của chiến tranh được

cấu thành bởi hai mặt cơ bản: Một là, đường lối chính trị của một giai cấp, nhà nước nhất định; Hai là, sự tiếp tục chính trị ấy bằng bạo lực vũ trang

Trong hai mặt đó, đường lối chính trị là yếu tố cơ bản nhất, là mục đích của bạo lực vũ trang, đóng vai trò quyết định đối với chiến lược và thông qua chiến lược tác động đến chiến dịch và các hình thức chiến thuật Tuy nhiên, bạo lực vũ trang lại là phương tiện chủ yếu, một yếu tố không thể thiếu trong bản chất chiến tranh, một việc chủ chốt trong chiến tranh Mọi nhiệm vụ và mục tiêu chính trị trong chiến tranh đều phải được thực hiện thông qua bạo lực vũ trang và sự thành bại của nó tác động sâu sắc tới đường lối chính trị

Hai mặt trên của bản chất chiến tranh luôn tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau trong thể thống nhất, trong đó, đường lối chính trị thường mang tính ổn định tương đối, còn bạo lực vũ trang lại thường xuyên biến đổi Vì thế, bên cạnh khả năng phù hợp còn chứa đựng khả năng không phù hợp, không tương xứng

Trang 24

giữa đường lối chính trị và bạo lực vũ trang là mối quan hệ cơ bản quyết định sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của chiến tranh

3 Mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị

Lênin cho rằng: mọi cuộc chiến tranh đều gắn với chế độ chính trị đó sinh ra

nó Từ đó có thể khái quát mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị là mối quan

hệ nhân quả; hoặc đó là mối quan hệ giữa cái bộ phận và cái toàn bộ, trong đó, chiến tranh như là “sự tập trung của chính trị, sự bồi dưỡng của chính trị” Nhưng rõ nhất, tập trung nhất của mối quan hệ này là mối quan hệ giữa chủ thể

và phương tiện, trong đó chính trị đóng vai trò chủ thể

Chủ thể đó chuẩn bị, tổ chức, điều khiển mọi quá trình chiến tranh, quyết định những vấn đề cơ bản nhất của chiến tranh như mục đích, phương hướng tiến hành chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh, thời cơ Chính trị tạo ra môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội ở trong nước và quốc tế để chiến tranh xuất hiện và tồn tại, chỉ đạo các hoạt động đấu tranh kinh tế, ngoại giao để hỗ trợ cho chiến tranh Chính trị chủ động dự kiến và sử dụng kết quả của chiến tranh Ngược lại, chiến tranh là một bộ phận, một phương tiện của chính trị, là kết quả phản ánh những nỗ lực cao nhất của chính trị Chiến tranh có thể làm thay đổi mọi tổ chức chính trinh (nhà nước, đảng phái ) Chiến tranh cũng có thể làm thay đổi tương quan so sánh các lực lượng chính trị, tính chất gay gắt của các mâu thuẫn chính trị, từ đó có thể làm xuất hiện hoặc mất đi thời cơ cách mạng Mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị là mối quan hệ cơ bản xuyên suốt mọi cuộc chiến tranh Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng mang tính lịch sử - cụ thể, luôn vận động và phát triển, tùy thuộc vào đặc điểm của chính trị và chiến tranh, cũng như điều kiện lịch sử của mỗi cuộc chiến tranh

Trong thời đại ngày nay, mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị vẫn không có gì thay đổi Nhưng do sự vận động của những yếu tố mới (tính chất của thời đại, sự phát triển của KH-CN, ) mà mối quan hệ này sẽ có những bước phát triển mới, theo hướng chính trị sẽ tác động đến chiến tranh rộng hơn, nhanh hơn

3.2 Cộng đồng quốc tế với vấn đề chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình

* Các nguy cơ chiến tranh hiện nay:

- Hoạt động khủng bố

- Xung đột vũ trang

- Tàng trữ vũ khí hạt nhân

- Xâm phạm chủ quyền lãnh thổ

Trang 25

3.2.1 Các xu thế chủ yếu về liên kết và tập hợp lực lượng trên thế giới ngày nay

- Xu thế liên kết, tập hợp lực lượng theo ý thức hệ trên cơ sở các mâu thuẫn

cơ bản của thời đại

- Xu thế liên kết, tập hợp lực lượng trên cơ sở trùng hợp lợi ích trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế

- Xu thế liên kết, tập hợp lực lượng theo khu vực trên cơ sở sự gần gũi về địa lí

- Xu thế liên kết, tập hợp lực lượng trên cơ sở gần gũi về truyền thống lịch

sử, văn hóa và ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc…

3.2.2 Những hoạt động chung

- Các hội nghị, phong trào đấu tranh, biểu tình như: HN phụ nữ quốc tế lên

án chiến tranh tại Becnơ, Thụy Sĩ (3/1915); Biểu tình chống chiến tranh ở Nga ở Pờtrụgrat (1/1917); HN chống chiến tranh của các ĐCS Châu Âu (3/1929); HN Amxtecdam chống chiến tranh ở Hà Lan (8/1932); HN giải trừ quân bị (1979);

HN thượng đỉnh về an ninh hạt nhân tại Oasinhtơn, Mỹ (4/2010); HN Châu Á về không phổ biến VKHN tại Tokyo, Nhật Bản (1/2016); HN thượng đỉnh an ninh hạt nhân tại Oasinhtơn, Mỹ (4/2016)

- Thành lập các tổ chức: Liên Hợp Quốc (24/10/1945); Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA) (1957); Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới (WPC) (1949); Liên hiệp Cụng đoàn thế giới (10/1945); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (1967); Cộng đồng chính trị an ninh ASEAN (APSC),…

- Các cam kết quốc tế

- Ngày Quốc tế chống chiến tranh: 1/8 hàng năm; Ngày Quốc tế về hòa bình: 21/9 hàng năm; Ngày chống vũ khí nguyên tử: 6/8 hàng năm

- Giải Nobel về hòa bình (10/12 hàng năm)

3.3 Quan điểm của Đảng, trách nhiệm của công dân đối với vấn đề bảo

vệ hòa bình, chống chiến tranh

3.3.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

* Dự báo tình hình thế giới những thập niên đầu thế kỉ XXI

Tại Đại hội IX, Đảng ta đã dự báo những nét lớn của tình hình thế giới những thập niên đầu thế kỉ XXI như sau:

- Một là, trong một vài thập kỉ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới

Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nới với tính chất phức tạp ngày càng tăng

- Hai là, hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức

xúc của các quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh của các dân tộc cho hoà bình và phát triển, vì độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội sẽ

có những bước tiến mới

Trang 26

- Ba là, khu vực Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương sau khủng hoảng

tài chính - kinh tế, có khả năng phát triển năng động nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định

* Chủ trương đối ngoại của Đảng ta:

- Trong đường lối đối ngoại, Đảng ta luôn khẳng định quan điểm độc lập, tự

chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá Nghị quyết Đại hội VII đã khẳng định: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”

Đến Đại hội IX, quan điểm trên được phát triển lên một tầm cao mới, đó là

“Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc

tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”

- Trong quan hệ với các nước trên thế giới, dù nước lớn hay nước nhỏ, Đảng

và Nhà nước ta luôn tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước khác, quyền lựa chọn chế độ chính trị, không can thiệp vào công việc nội

bộ của nhau

- Với chính sách yêu chuộng hoà bình, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước, bảo vệ các nước nghèo, nhỏ yếu, phương châm của Đảng ta trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế là phát huy những điểm tương đồng, hạn chế những bất đồng, giải quyết các tranh chấp bằng thuơng lượng hoà bình, kiên quyết phản đối dùng vũ lực

- Để gìn giữ hoà bình, Đảng ta kiên định quan điểm và quyết tâm đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa khủng bố và các hoạt động lợi dụng chống khủng bố dưới mọi hình thức để can thiệp vào các nước có chủ quyền; đồng thời ủng hộ các nỗ lực của cộng đồng quốc tế về chống khủng bố trên cơ sở tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của Luật pháp quốc tế vì hoà bình, ổn định và an ninh trong khu vực và trên thế giới

Để thực hiện tốt những quan điểm trên, trong điều kiện hiện nay Đảng ta chủ trương:

+ Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng

+ Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, đang phát triển

+ Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế Đẩy mạnh hoạt động ở các diễn đàn đa phương

+ Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu

+ Củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các Đảng Cộng sản và công nhân, với các đảng cánh tả, các phong trào giải phóng và độc lập dân tộc, với phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới

+ Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền

Trang 27

+ Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân

3.3.2 Trách nhiệm của công dân đối với vấn đề bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh

- Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, sẵn sàng chiến đấu,

hi sinh vì độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

- Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác với mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, tin tưởng và kiên định theo con đường XHCN mà Đảng và nhân dân ta đó lựa chọn Không dao động trước các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, không nghe theo lời dụ dỗ tham gia vào các hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc

- Rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với lợi ích dân tộc, quốc gia, với sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới

- Tích cực tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân

- Giữ vững lập trường quan điểm, bản sắc văn hóa trong giao lưu và hội nhập quốc tế, theo phương châm “hội nhập nhưng không hòa tan”

- Tích cực tham gia các hoạt động thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình và phản đối chiến tranh Có ý thức tuyên truyền, vận động người khác cùng tham gia vào các hoạt động cụ thể bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh

Trang 28

CHƯƠNG 4 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA

4.1 Văn hóa và di sản văn hóa

4.1.1 Khái niệm

- Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội

- Di sản, theo nghĩa chung, được xem là những giá trị vật chất hay tinh thần của các thế hệ đi trước trong quá khứ để lại

Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người hoặc

có sự kết hợp với thiên nhiên tạo ra và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành, khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học… và các sản phẩm – di sản đó luôn thể hiện bản sắc dân tộc cụ thể

Di sản văn hoá là những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

Di sản văn hoá bao hàm tính truyền thống và hiện đại, tính kế thừa và phát triển

4.1.2 Phân loại di sản văn hóa

- Di sản văn hoá được phân thành hai loại: Di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể

+ Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

+ Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Tuy nhiên, cũng có những cách phân chia khác, chẳng hạn ở Nhật Bản, người ta chia di sản văn hoá thành di sản văn hoá hữu hình và di sản văn hoá vô hình Hay cũng có thể chia di sản văn hoá thành di sản văn hoá tĩnh và di sản văn hoá động

Sự phân biệt giữa di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể chỉ có

ý nghĩa tương đối, mọi hiện tượng văn hoá - di sản văn hoá đều ít nhiều tồn tại hay biểu hiện dưới dạng vật chất (vật thể) hay tinh thần (phi vật thể) Một giá trị văn hoá vật thể luôn mang kèm trong nó các yếu tố không thể cân đong đo đếm, còn một giá trị văn hoá phi vật thể luôn luôn phải tồn tại, biểu hiện dưới các hình

Trang 29

thức, dạng thức vật chất cụ thể của thực tại Chẳng hạn, một ngôi chùa cổ kính tự

nó toát ra dáng cách trầm mặc, trang nghiêm, hoặc một loại hình âm nhạc dân gian nào đó không thể tồn tại nếu không có các hiện vật như nhạc cụ, trang phục…Sự phân loại chỉ nhằm đáp ứng cho mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu cụ thể chứ không phải là cách phân loại duy nhất

4.1.3 Ý nghĩa của di sản văn hoá đối với đời sống nhân loại

+ Di sản văn hoá là tài sản chung của nhân loại, đồng thời là yếu tố cơ bản tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc Di sản văn hoá còn là xuất phát điểm tạo nên cảm hứng của các sáng tạo nghệ thuật hàm chứa các chuẩn mực nhân văn; là điểm tựa cho việc tạo dựng nhân cách, giáo dục truyền thống, là đối tượng để tham quan, du lịch, là thông điệp của các thế hệ đã qua để lại cho thế hệ kế tục + Bảo vệ, giữ gìn, phát huy các di sản văn hoá không phải là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà là vấn đề chung của toàn cầu

4.2 Những nỗ lực của cộng đồng quốc tế để bảo vệ các di sản văn hoá 4.2.1 Khái quát về hiện trạng di sản văn hoá trên thế giới

- Công tác thống kê và phân loại các di sản văn hoá nhân loại

Trong thời kì cổ đại, người Hy Lạp đã xếp bảy công trình sau đây là bảy kì quan thế giới: Kimtự tháp Ai Cập; vườn treo Babylon; Đền Nữ thần Arternis ở Ephesus; Tượng Thần Zeus trên đỉnh Olympis; Lăng Halicarnassus; Tượng Người khổng lồ Rhodes; Ngọn hải đăng Alechxandria

Trong khi những Kim tự tháp Ai Cập còn tồn tại thì sáu kì quan của thế giới

cổ đại giờ đây hầu như đã biến mất, chỉ còn để lại dấu vết mờ nhạt trong hồ sơ khảo cổ học

Theo số liệu của UNESCO, tính đến năm 2002 trên thế giới có 754 di sản được UNESCO công nhận, trong đó 582 là di sản văn hoá, 149 là di sản thiên nhiên và 23 là di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hoá Những di sản này nằm tại 128 quốc gia thành viên Nếu phân bố theo khu vực địa lí, thì 60 di sản nằm ở Châu Á-Thái Bình Dương, 107 ở Mĩ Latinh và vùng Caribê, Châu Âu

và Bắc Mĩ chiếm tới 382 di sản

- Nhiều di sản văn hoá thế giới đang có nguy cơ xuống cấp và bị tàn phá + Theo báo cáo của UNESCO, đến những năm cuối của thế kỉ XX, nhiều di sản văn hoá mà nhân loại tạo ra đã biến mất hoàn toàn mà nguyên nhân chủ yếu

là do con người Trong hai cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, hàng nghìn thị trấn - thành phố và di sản văn hoá quan trọng đã bị hư hỏng hoặc biến mất

+ Tháng 3 năm 2001, phiến quân Taliban đã cho nổ tung những pho tượng Phật lớn nhất thế giới tại Apganixtan, đơn giản vì họ không thích chúng tồn tại + Tháng 4 năm 2003, khi cuộc chiến tranh Irắc lần thứ hai gần kết thúc, Viện bảo tàng khảo cổ quốc gia, Trung tâm lưu trữ quốc gia và Thư viện quốc

Trang 30

gia tại Bagđa, cùng bảo tàng ở thành phố Mosul của Irắc - nơi lưu giữ những cổ vật quý hiếm về nền văn minh Lưỡng Hà cách đây khoảng 6000 năm đã bị cướp phá Hàng ngàn tác phẩm vô giá thuộc các nền văn minh lâu đời nhất của nhân loại cất giữ tại những viện bảo tàng này đã bị lấy cắp và huỷ hoại

Bên cạnh đó, theo các chuyên gia ngôn ngữ dự đoán chỉ trong vòng một trăm năm tới, tiến trình hiện đại hoá theo “mô hình toàn cầu” sẽ triệt tiêu tới

3000 ngôn ngữ trong tổng số 6000 ngôn ngữ trên toàn cầu

Những tác động của thiên nhiên (bão, lụt, động đất, núi lửa, mưa, nắng, độ

ẩm, sự biến đổi về nhiệt độ…) và tác động của con người (chiến tranh, đô thị hoá, du lịch thiếu kiểm soát, mặt trái của toàn cầu hoá…) đã trở thành những nguy cơ mang tính toàn cầu và dẫn dến những hậu quả khôn lường, đe doạ sự tồn vong của không ít các di sản văn hoá dân tộc và nhân loại

- Ở Việt Nam, nhiều di tích danh thắng gắn liền với sinh hoạt lễ hội, tín ngưỡng dân gian như hội Chùa Hương, hội Chùa Thầy… bị xâm phạm và huỷ hoại đáng kể; hệ thống thành cổ như thành Cổ Loa, thành Thăng Long, thành Tây Đô, Lam Kinh, thành nhà Mạc và các lăng tẩm, các cổ vật như bia, ấn chương, hoặc các đô thị cổ như Hà Nội, Huế cũng xuống cấp; những địa danh gắn liền với những chiến công oanh liệt của nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ trải dài khắp mọi miền đất nước đang bị xoá mờ dần dấu vết; nhiều giá trị văn hoá phi vật thể (như lễ hội, phong tục nghề nghiệp, từ ngữ, thành ngữ, tiếng lóng nghề nghiệp…) đang đứng trước nguy cơ bị mai một

và mất chỗ đứng trong đời sống cộng đồng; nạn đào phá di tích và săn lùng cổ vật vẫn là vấn đề nhức nhối; tình trạng buôn bán và chảy máu cổ vật vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ Chỉ tính riêng các cửa khẩu lớn như cảng Hỉa Phòng, cảng Sài Gòn, sân bay Nội Bài, sân bay Tân Sơn Nhất, đã thu giữ tới 4000-5000 cổ vật

4.2.2 Các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của cộng đồng quốc tế

Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) luôn đi đầu trong các nỗ lực quốc tế nhằm bảo vệ các di sản của thế giới

- Năm 1972, “Công ước vềviệc bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên của thế giới” ra đời Đó thực sự là một thành công lớn của UNESCO trong việc bảo

vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên của thế giới Đây cũng chính là công ước quốc tế có số thành viên tham gia lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Công ước về Quyền trẻ em

- Ngày càng có nhiều quốc gia ý thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn

và phát huy các di sản văn hoá và tham gia vào Công ước này Tính đến tháng 6 năm 2002, Công ước UNESCO về việc bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới năm 1972 đã có 172 quốc gia thành viên Công ước có hiệu lực tại 167 nước (Việt Nam trở thành thành viên của Công ước năm 1987 theo hình thức chấp thuận)

Trang 31

- Ngày 17 tháng 10 năm 2003, UNESCO đã chính thức thông qua Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể tại phiên họp lần thứ 32 của Đại hội

đồng Mục đích của Công ước này là: bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể; bảo đảm

sự tôn trọng đối với di sản văn hoá phi vật thể của các cộng đồng, các nhóm và các cá nhân có liên quan; nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc

tế về tầm quan trọng của di sản văn hoá phi vật thể, để từ đó đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lĩnh vực này; tạo ra sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế Đây là một công cụ pháp lý quốc tế cần thiết, làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách văn hoá nghiên cứu, xây dựng chiến lược và chính sách phát triển văn hoá trong

sự hội nhập quốc tế

- Tính đến tháng 6 năm 2002, tổng số di sản trong danh sách di sản thế giới

là 754, tổng số quốc gia có di sản được ghi tên trong danh sách di sản thế giới là

128, tổng số khu di sản văn hoá (Cultural Sites) là 582, tổng số khu di sản thiên nhiên (Natural Sites) là 149, tổng số khu di sản hỗn hợp (Mixed Sites) là 23

- Trong năm 2001, 19 di sản văn hoá bằng tiếng nói và phi vật thể đầu tiên

đã được UNESCO công bố, trong đó có nghệ thuật hát Kunqu của Trung Quốc, nghệ thuật sân khấu Kutiyattam Sanskrit của ấn Độ, nghệ thuật biểu diễn Nogaku của Nhật Bản; các nghi thức múa hát cung đình cổ xưa của Hàn Quốc; những bài hát của dân tộc Ifugao ở Philippin Cũng ở lần xét này, Nhã nhạc cung đình Huế của Việt Nam cũng được Uỷ ban Di sản đánh giá rất cao

Từ những nỗ lực của UNESCO, chính phủ và người dân ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn

và phát huy các di sản văn hoá Nhiều công trình, di tích văn hoá… đã được trùng tu, tôn tạo Các dân tộc trên thế giới đã nhận thức một cách sâu sắc vấn ðề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc mình bằng việc khôi phục và phát triển các di sản văn hoá Vì thế, có thể nói, các di sản văn hoá của nhân loại đang đứng trước những triển vọng khả quan

4.3 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và trách nhiệm của công dân đối với vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa 4.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Ngày nay, di sản văn hoá Việt Nam đã thực sự khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội Nhưng mặt khác, di sản văn hoá cũng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn, ảnh hưởng đến sự mất còn Mấy thập

kỉ vừa qua, công tác bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hoá đã nhận được

sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước và gắn liền với tình cảm, trách nhiệm của mỗi người Việt Nam yêu nước Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Kể từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, chỉ thị về công tác bảo vệ di sản văn hoá

- Trong gần hai thập kỉ qua, nghị quyết của các Đại hội Đảng toàn quốc về

Ngày đăng: 22/08/2017, 13:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Khoảng thời gian để dân số tăng lên gấp đôi - Tập bài giảng những vấn đề của thời đại ngày nay
Bảng 2 Khoảng thời gian để dân số tăng lên gấp đôi (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w