Hoạt động bảo lãnh đã và đang góp phần làm tăng vị thế của ngân hàng, mở rộng quan hệ đại lý trên thị trường trong nước và quốc tế, thúc đẩy giao dịch vốn và các giao dịch kinh doanh khô
Trang 1-iii-
TÓM TẮT
Những năm gần đây, sự chuyển biến tích cực của môi trường kinh tế -
xã hội nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển Cùng với đó, từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bên cạnh các cơ hội trong việc mở rộng hoạt động và đẩy mạnh hợp tác quốc tế, các ngân hàng trong nước cũng đứng trước những thách thức rất lớn đòi hỏi phải vượt qua để có thể đứng vững và phát triển
Bảo lãnh là một trong những sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, là nghiệp vụ chính của ngân hàng, đem lại cho ngân hàng những lợi nhuận đáng kể Hoạt động bảo lãnh đã và đang góp phần làm tăng vị thế của ngân hàng, mở rộng quan hệ đại lý trên thị trường trong nước và quốc tế, thúc đẩy giao dịch vốn và các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng, đầu tư, thực hiện hợp đồng,… Hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở nước ta thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả dáng kể, góp phần tích cực vào sự thành công của các giao dịch kinh tế
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
và thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động của các tổ chức tín dụng nước ta có những thay đổi căn bản về cả số lượng và chất lượng dịch vụ Nhờ
đó, cơ cấu thu nhập của các TCTD đã có sự chuyển đổi hợp lý hơn theo hướng giảm dần doanh thu từ hoạt động tín dụng ngân hàng, cùng với tăng dần doanh thu từ các hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng Việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về dịch vụ ngân hàng đã góp phần đáng kể vào kết quả trên của các TCTD Về cơ bản, Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này đã tạo
ra một khuôn khổ pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho hoạt động cung cấp dịch vụ của các TCTD và hoạt động quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Tuy nhiên, do sự thay đổi nhanh chóng của hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng như xu hướng tự do hoá dịch vụ ngân hàng, sự xuất hiện của nhiều dịch vụ ngân hàng mới, pháp luật về ngân hàng đã bộc lộ một số điểm bất cập, không phù hợp với sự phát triển nhanh
Trang 2-iv-
chóng của các loại hình dịch vụ ngân hàng và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Mặc
dù đã được sửa đổi, bổ sung liên tục trong những năm qua, nhưng khung pháp lý về dịch vụ ngân hàng vẫn chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn, chưa giải quyết căn bản các vướng mắc, bất cập đã, đang và sẽ nảy sinh và chưa thực sự tạo
ra khuôn khổ pháp lý phù hợp để hỗ trợ cho các TCTD phát triển các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đồng thời pháp luật về dịch vụ ngân hàng cũng chưa thực sự tạo thành cơ sở pháp lý phù hợp cho hoạt động quản lý, giám sát của NHNN
Chính vì vậy, việc không ngừng nâng cao pháp luật về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ở nước ta là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay./
Trang 3-v-
ABSTRACT
In recent years, the positive changes in the social - economic environment of our country have created favorable conditions for the growth of banking activities Along with that, since Vietnam officially becomes a member of World Trade Organization (WTO); in addition to the opportunity to expand and strengthen international cooperation, domestic banks have also faced to enormous challenges which are required to overcome to maintain position firmly and increasingly develop
Guarantee is one of the products and services of the bank, as the bank's main operation, giving substantial profits to the bank Guarantee activity has supported on increasing bank's position, expanding agent relationship in domestic and international market, promoting capital transactions and business transactions not only in the field
of credit, investment, contract performance, Banking guarantee activities in our country recently have achieved many significant results, contributing actively to the success of economic transactions
Along with transition of economics, the process of international economic integration and implementation of international commitments in the field of banking, the activities of credit institutions in our country have changed fundamentally in both
of number and quality of services Thereby, the income structure of credit institutions has a more reasonable transition towards decreasing revenues from operations of banking credit, along with gradually increasing revenues from provision of banking services The construction and completion of legal documents on banking services which have contributed significantly to the results of credit institutions Basically, the Law on Credit Institutions and the documents on guiding the implementation of this law have created a relatively complete legal framework for service provision of Credit Institutions and management activities of the State Bank of Vietnam (SBV) However, due to the rapid change of provision of banking services, such as the trend of liberalization of banking services, the emergence of new banking services, banking law has exposed some shortcomings which are not suitable for the rapid development
Trang 4-vi-
of various types of banking services and the requirements of international economic integration Although it has been amended and supplemented continuously in recent years, the legal framework for banking services has not yet kept pace with the rapid development of practices, not solving fundamental problems and shortcomings and not really arising and creating an appropriate legal framework to support for the development of banking services of financial institutions, especially in the modern banking services, as well as laws on banks have not really constituted appropriately legal basis for the management and supervision of SBV
Therefore, the constant improvement of the law on banking guarantee operation in our country is one of the currently urgent requirements./
Trang 5-vii-
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC HÌNH xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 6
1.1 Khái quát về bảo lãnh ngân hàng 6
1.1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng 6
1.1.2 Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng 7
1.1.3 Phân loại bảo lãnh ngân hàng 10
1.1.4 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng 21
1.1.4.1 Đối với hoạt động ngân hàng 22
1.1.4.2 Đối với hoạt động của doanh nghiệp 23
1.1.4.3 Đối với nền kinh tế 24
1.1.5 Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng 25
1.1.5.1 Rủi ro đối với ngân hàng 25
1.1.5.2 Rủi ro đối với người được bảo lãnh 26
Trang 6-viii-
1.1.5.3 Rủi ro đối với người thụ hưởng bảo lãnh 27
1.2 Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng 29
1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo lãnh ngân hàng 29
1.2.2 Hình thức xác lập quan hệ pháp luật bảo lãnh ngân hàng 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 36
2.1 Thực trạng quy định về chủ thể tham gia bảo lãnh ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện 36
2.1.1 Thực trạng quy định về chủ thể tham gia bảo lãnh ngân hàng 36
2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện 41
2.2 Thực trạng về phạm vi bảo lãnh ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện 43
2.2.1 Thực trạng về phạm vi bảo lãnh ngân hàng 43
2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện 45
2.3 Thực trạng quy định về hình thức và nội dung cam kết bảo lãnh ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện 46
2.3.1 Thực trạng quy định về hình thức và nội dung cam kết bảo lãnh ngân hàng 46 2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện 51
2.4 Thực trạng quy định về điều kiện, thủ tục bảo lãnh ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện 53
2.4.1 Thực trạng quy định về điều kiện, thủ tục bảo lãnh ngân hàng 53
2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện 60
2.5 Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ các bên trong bảo lãnh ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện 61
2.5.1 Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ các bên trong bảo lãnh ngân hàng 61
2.5.1.1 Quyền, nghĩa vụ của bên bảo lãnh 61
2.5.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được bảo lãnh 64
2.5.1.3 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh 65
Trang 7-ix-
2.5.2 Kiến nghị hoàn thiện 68
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8-x-
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Số thứ tự Từ viết tắt Diễn giải
Trang 9-xi-
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu hình Tên hình Trang
Trang 10-1-
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, vai trò của hệ thống ngân hàng đang ngày càng được khẳng định và có một vị trí hết sức quan trọng Để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế ở mỗi quốc gia và tính toàn cầu hóa của kinh tế thế giới, bên cạnh việc giữ vững và hoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, các ngân hàng cũng không ngừng tiếp cận và mở rộng các dịch vụ ngân hàng tiên tiến,
đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ, trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng (BLNH) đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ cuối những năm 70 của thế kỷ trước, đóng vai trò quan trọng trong giao dịch kinh tế toàn cầu Tại Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng được thực hiện từ những năm
90 của thế kỷ XX và hiện nay đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một biện pháp đảm bảo thông dụng trong lĩnh vực ngân hàng do hiệu quả đảm bảo cao cho quyền lợi của người thụ hưởng, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp đề nghị phát hành bảo lãnh, đồng thời mang lại nguồn thu cho hệ thống ngân hàng
Song hành với sự phát triển của hoạt động bảo lãnh, hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này cũng được Nhà nước ta quan tâm xây dựng và hoàn thiện thể hiện qua các qui định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng
6 năm 2005 (sau đây gọi là BLDS 2005), Bộ Luật Dân Sự số 91/2015/QH13 ngày
24 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi là BLDS 2015), Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam số 46/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,
kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 (sau đây gọi là Luật NHNN 2010), Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm
2010 (sau đây gọi là Luật các TCTD), Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25
Trang 11-2-
tháng 6 năm 2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Thông tư số 07/2015/TT-NHNN), … và các văn bản hướng dẫn về BLNH Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các ngân hàng cũng như doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được các nhu cầu thực tiễn Chính vì vậy, để hoạt động bảo lãnh có một môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển tương ứng với tiềm năng, lợi ích của nó mang lại cho nền kinh tế, việc hoàn thiện pháp luật về BLNH tại Việt Nam là một trong những yêu cầu hết sức bức thiết trong thời gian tới
Với những lý do trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam
về hoạt động bảo lãnh ngân hàng” làm Luận văn Thạc sỹ Luật kinh tế của mình với mong muốn những nghiên cứu và đề xuất trong luận văn sẽ góp phần tạo môi trường pháp lý thuận lợi và đưa ra một số giải pháp phát triển phù hợp cho hoạt động BLNH tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Có thể nói, trong thời gian gần đây, BLNH là một trong những đề tài được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu Số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về việc thi hành pháp luật trong hoạt động BLNH cũng ngày một tăng, trong đó phải
kể một số công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu sau:
Nguyễn Thành Long (1999), Những vấn đề pháp lý về bảo lãnh Ngân hàng,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội
Bùi Vân Hằng (2008), Điều chỉnh pháp luật về bảo lãnh trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc
gia Hà Nội
Võ Thanh Sử (2010), Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín
dụng, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Thân Thị Kim Nga (2016), Pháp luật Việt Nam về bảo lãnh ngân hàng –
Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Cần Thơ
Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2012), “Hoàn thiện một số quy
định của quy chế bảo lãnh ngân hàng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 8/2012
Trang 12-3-
Nguyễn Ngọc Điện (1999), “Một số suy nghĩ về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
trong Luật Dân sự Việt Nam”, NXB Trẻ 1999, thành phố Hồ Chí Minh
Ngô Quốc Kỳ (2005), “Hoàn thiện pháp luật của Ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, NXB Tư pháp, Hà Nội
Nguyễn Thanh Thư (2013), “Địa vị pháp lý của pháp nhân với tư cách là bên
bảo lãnh khi tham gia quan hệ bảo lãnh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Bùi Đức Giang (2012), “Một số hạn chế của quy định pháp luật về gọi bảo
lãnh”, Tạp chí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Đỗ Minh Tuấn (2012), “Hoàn thiện một số quy định của quy chế bảo lãnh
ngân hàng”, Tạp chí Dân chủ & pháp luật, Bộ Tư pháp
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên chỉ dừng lại ở mức độ chung nhất về hoạt động BLNH, một số công trình thời gian nghiên cứu đã lâu, các văn bản pháp luật nghiên cứu đã hết hiệu lực, hay một số đề tài chỉ nghiên cứu về một trong những loại hình bảo lãnh, chưa đề cập đến các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hoạt động BLNH thực tế hiện nay
Ngày 25/06/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ký ban hành Thông tư số 07/2015/TT – NHNN quy định về BLNH của các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài Thông tư này đã thay thế Thông tư
số 28/2012/TT – NHNN ngày 03/10/2012 của Thống đốc NHNN quy định về BLNH Mặc dù, thông tư mới đã tạo khung pháp lý mới vừa đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế vừa tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành có liên quan, khắc phục tối đa những vấn đề còn bất cập, đáp ứng yêu cầu thực tiễn; đảm bảo hiệu quả,
an toàn, thông suốt hoạt động bảo lãnh ngân hàng của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nhưng cũng không tránh khỏi những vướng mắc và bất cập mà hiện nay các ngân hàng đang gặp phải
Do đó, bản thân nhận thấy việc nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành về hoạt động BLNH và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt BLNH trong