1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của tự do kinh tế, doanh thu thuế và chất lượng quy định của chính phủ đến thu nhập bình quân đầu người, phân tích tại các quốc gia trên thế giới

85 354 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 845,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, với đề tài “Tác động của tự do kinh tế, doanh thu thuế và chất lượng quy định của chính phủ đến thu nhập bình quân đầu người, phân tích tại các quốc gia trên thế giới” nhằm

Trang 1

NGUYỄN HÀ ANH

TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO KINH TẾ, DOANH THU THUẾ

VÀ CHẤT LƯỢNG QUY ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ LÊN THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI

- PHÂN TÍCH TẠI CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 3

Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Thương mại, 2005 Công bố năm tiêu chí về nền kinh tếthị trường <http://vietnamnet.vn/kinhte/2005/06/463469/> [Ngày truy cập: 20tháng 10 năm 2016].

Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, 2009 Công bố sáu tiêu

chí đánh giá nền kinh tế thị trường của Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

<https://vn.usembassy.gov> [Ngày truy cập: 15 tháng 10 năm 2016]

Tài liệu Tiếng Anh

Ali, Abdiweli M., and W Mark Crain (2001) Political Regimes, Economic

Freedom,Institutions and Growth Journal of Public Finance and Public Choice 19

(1): 3-22

Ali, Abdiweli M., and W Mark Crain (2002) Institutional Distortions, Economic

Freedom and Growth Cato Journal 21 (3): 415-426.

Ashby, Nathan J., Avilio Bueno, and Deborah Martinez (2013) Economic Freedom

and Economic Development in the Mexican States Journal of Regional Analysis

and Policy 43 (1): 21-33.

Beach, William W., and Timothy Kane (2007) Methodology: Measuring the 10

economic freedoms, Index of Economic Freedom, Heritage Foundation Retrieved

March 5, 2009

Cebula, Richard J (2011) Economic Growth, Ten Forms of Economic Freedom,

and Economic Stability The Journal of Private Enterprise 26 (2): 61-81.

Cebula, Richard J (2010) Impact of Trade Freedom on Per Capita Real GDP

Growth among OECD Nations: Recent Panel Data Evidence Applied Economics

Letters 17 (16-18): 1687-1690.

Cebula, R.J., and Gigi M Alexander (2006) “Determinants of Net Interstate

Migration, 2000-2004,” Journal of Regional Analysis and Policy, 27 (2): 116-23.

Trang 4

Clark, J.R., Peter J Boettke, and Edward Stringham (2008) Are Regulations theAnswer for Emerging Stock Markets? Evidence from the Czech Republic and

Poland Quarterly Review of Economics and Finance 48 (3): 541-566.

Clark, J.R., and Robert A Lawson (2008) The Impact of Economic Growth, Tax

Policy, and Economic Freedom on Income Inequality Journal of Private Enterprise

24 (1)

Cole, Julio H (2003) The Contribution of Economic Freedom to World Economic

Growth, 1980-99 Cato Journal 23 (2): 189-198.

Damette, O., and V Fromentin (2013) Migration and Labour Markets in OECD

Countries: A Panel Cointegration Approach Applied Economics 45 (16):

2295-2304

Dawson, John W (1998) Institutions, Investment, and Growth: New Cross-Country

and Panel Data Evidence Economic Inquiry 36 (4): 603-619.

Dawson, John W (2003) Causality in the Freedom-Growth Relationship European

Journal of Political Economy 19 (3): 479-495.

De Haan, Jakob and Jan-Egbert Sturm (2000) On the Relationship between

Economic Freedom and Economic Growth European Journal of Political Economy

16 (2): 215- 241

Farr, W Ken, Richard A Lord, and J Larry Wolfenbarger, (1998) EconomicFreedom, Political Freedom, and Economic Well-Being: A Causality Analysis

Cato Journal 18: 247–262.

Goldsmith, Arthur A (1995) Democracy, Property Rights and Economic Growth

The Journal of Development Studies 32 (2): 157-174.

Grubel, Herbert G (1997) Economic Freedom and Human Welfare: Some

Empirical Findings Cato Journal 18 (2): 287-304.

Gwartney, James D., Randall G Holcombe, and Robert A Lawson (2006)

Trang 5

Theoretical Economics 155, 643–663.

Hausman, J.A (1978) Specification Tests in Econometrics Econometrica 46 (6):

1273-1291

Heckelman, Jac C (2000) Economic Freedom and Economic Growth: A Short-Run

Causal Relationship Journal of Applied Economics 3 (1): 71-91.

Heckelman, Jac C., and Michael D Stroup (2000) Which Economic Freedoms

Contribute to Economic Growth? Kyklos 53 (4): 527-544.

Islam, Sadequl (1996) Economic Freedom, Per Capita Income, and Economic

Growth Applied Economics Letters 3 (10): 595-597.

Mathers, Rachel L and Claudia Williamson (2011) Cultural Context: Explaining

the Productivity of Capitalism Kyklos 64 (2): 231-252.

Mishkin, Frederic S (2013) The Economics of Money, Banking, and Financial

Markets New York: Pearson.

Mulholland, Sean E., and Rey Hernandez-Julian (2013) Does Economic freedom

Lead to Selective Migration by Education? Journal of Regional Analysis and Policy

43 (1): 65-87

Nissan, Edward, and Farhang Niroomand (2008) Linking Labor Productivity to

Economic Freedom The American Economist 52 (2): 42-53.

Nissan, Edward, and Farhang Niroomand (2010) Distribution of Income and

Expenditures across Nations Journal of Economics and Finance 34 (2): 173-186.

Powell, Benjamin (2003) Economic Freedom and Growth: The Case of the Celtic

Tiger Cato Journal 22: 431–448.

Saltz, Ira S (1998) State Income Tax Policy and Geographic Labor Force Mobility

in the United States Applied Economics Letters 5 (10): 599-601.

Richard J Cebula & J R Clark (2014) Impact of Economic Freedom, RegulatoryQuality, and Taxation on the Per Capita Real Income : An anlysis for OECD

Trang 6

The Heritage Foundation, 2016 Công bố dữ liệu chỉ số tự do kinh tế.

<http://www.heritage.org/> [Ngày truy cập: 10 tháng 06 năm 2016]

The World Bank, 2016 Công bố các dữ liệu tổng hợp của các nước trên thế giới

<http://www.worldbank.org/> [Ngày truy cập: 08 tháng 06 năm 2016]

The World Bank Institute, 2016 Công bố dưc liệu chính phủ

<http://www.govindicators.org/> [Ngày truy cập 12 tháng 06 năm 2016]

The International Monetary Fund (2016) Công bố các dữ liệu và thống kê

<http://www.imf.org/external> [Ngày truy cập 20 tháng 08 năm 2016]

Upadhyaya, Kamal P., Jeannie E Raymond, and Franklin Mixon, Jr (1997) TheEconomic Theory of Regulation Versus Alternative Theories for the Electric

Utilities Industry: A Simultaneous Probit Model Resource and Energy Economics

19 (2): 191- 202

White, Halbert (1980) A Heteroskedasticity-Consistent Covariance Matrix and a

Direct Test for Heteroskedasticity Econometrica 48 (4): 817-38.

Trang 7

STT QUỐC GIA STT QUỐC GIA

7 Croatia 35 Egypt, Arab Rep

8 Czech Republic 36 Georgia

21 Latvia 49 South Africa

22 New Zealand 50 Sri Lanka

Trang 8

NGUYỄN HÀ ANH

TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO KINH TẾ, DOANH THU THUẾ

VÀ CHẤT LƯỢNG QUY ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ LÊN THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI

- PHÂN TÍCH TẠI CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 9

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõràng, cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưatừng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Hà Anh

Trang 10

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG I – GIỚI THIỆU 2

1.1 Vấn đề nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa thực tiễn và điểm mới của đề tài 4

1.6 Kết cấu của bài luận văn 5

CHƯƠNG II – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây 6

2.1.1 Mối quan hệ giữa tự do kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 7

2.1.2 Mối quan hệ giữa doanh thu thuế và thu nhập bình quân đầu người 14

2.1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng quy định của chính phủ và thu nhập bình quân đầu người 15

2.1.4 Tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất thực, ổn định chính trị, thâm hụt ngân sách và thu nhập bình quân đầu người 17

2.1.5 Mối quan hệ giữa hệ số tự do kinh tế, doanh thu thuế và chất lượng quy định của chính phủ đối với thu nhập bình quân đầu người 18

2.2 Điểm khác biệt của bài nghiên cứu 20

Trang 11

3.1.2 Biến độc lập: 23

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

CHƯƠNG IV – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

4.1 Kết quả ước tính PLS tuyến tính theo mô hình hiệu ứng cố định FE 53

4.2 Kết quả kiểm định tương quan phần dư, phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan 61

4.2.1 Kiểm định Pesaran tương quan giữa các sai số ngẫu nhiên, phần dư giữa các cá thể cho mô hình hiệu ứng cố định 61

4.2.2 Kiểm định Modified Wald phương sai thay đổi cho mô hình hiệu ứng cố định 61

4.2.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan Wooldridge cho mô hình hiệu ứng cố định 62

4.3 Kết quả hồi quy tuyến tính theo mô hình hiệu ứng cố định được hiệu chỉnh phương sai sai số thay đổi 63

4.4 Kết quả ước tính PCSEs (Panel corrected standard errors) và FGLS (Feasible generalizes least squares) 65

4.5 Kết quả hồi quy theo phương pháp sử dụng biến công cụ GMM (Generalized method of moments) 67

CHƯƠNG V – KẾT LUẬN 70

5.1 Tổng kết kết quả của bài nghiên cứu 70

5.2 Khuyến nghị 71

5.3 Hạn chế của bài nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tiếp theo 72

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 12

squares) PLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất với dữ liệu bảng

(Panel Least Squares)

RE Hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects)

FE Hiệu ứng cố định (Fixed Effects)

PCSEs Phương pháp sai số chuẩn điều chỉnh trong dữ liệu bảng

(Panel corrected standard errors) FGLS Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát có khả thi

(Feasible generalizes least squares) GMM Phương pháp ước lượng tổng quát sử dụng các biến công

cụ (Generalized Method of Moments) OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for

Economic Cooperation and Development) GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product)

Trang 13

Bảng 3.2 Mười chỉ số tự do kinh tế thành phần trong hệ số tự do kinh tế tổng hợp

của The Heritage Foundation 2016 50

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến 53 Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình, 56 quốc gia, giai

đoạn 2004 - 2015 54

Bảng 4.3 Kết quả hồi quy bằng phương pháp OLS giai đoạn 2004 - 2015, 56 quốc

gia Biến phụ thuộc là thu nhập bình quân đầu người (PPP) 56

Bảng 4.4 Kết quả uớc tính mô hình tuyến tính hiệu ứng cố định (Fixed effects) và

hiệu ứng cố định (Random effects) giai đoạn 2004-2015, 56 quốc gia Biến phụthuộc là thu nhập bình quân đầu người (PPP) 58

Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Hausman để lựa chọn hai mô hình FE và RE 60 Bảng 4.6 Kết quả uớc tính mô hình tuyến tính hiệu ứng cố định (Fixed effects) đã

hiệu chỉnh giai đoạn 2004-2015, 56 quốc gia Biến phụ thuộc là thu nhập bình quânđầu người (PPP) 63

Bảng 4.7 Kết quả ước tính PCSEs (Panel corrected standard errors) và FGLS (F

generalizes least squares) với dữ liệu của 56 nước, giai đoạn 2004 - 2015 Biến phụthuộc là RPCY - thu nhập bình quân đầu người (PPP) 65

Bảng 4.8 Kết quả hồi quy theo GMM, 56 quốc gia, giai đoạn 2004 - 2015, biến phụ

thuộc là thu nhập bình quân đầu người/ GDP (PPP) 68

Trang 14

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu mối quan hệ tác độngcủa tự do kinh tế, chất lượng quy định của chính phủ và doanh thu thuế lên thu nhậpbình quân đầu người tại một số quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 12 năm

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dựa trên bộ dữ liệu bảng (panel data) đượcthực hiện bằng mô hình hồi quy đa biến OLS với tác động hiệu ứng cố định (Fixedeffects) đã được hiệu chỉnh robust Các ước tính theo PCSEs và FGLS được sửdụng để kiểm định lại tính vững của mô hình Ngoài ra, để khắc phục hiện tượngnội sinh của các biến liên quan, mô hình hồi quy mới có các biến công cụ là độ trễcủa các biến độc lập được ước lượng bằng phương pháp GMM để mang lại kết quảtốt hơn

Qua các mô hình ước lượng cho thấy một tác động tích cực của hệ số tự do kinh tế

vá chất lượng quy định của chính phủ lên thu nhập bình quân đầu người, nhất là khi

đã loại bỏ khả năng đa cộng tuyến trong mô hình Riêng biến tỷ lệ doanh thu thuếtrên GDP cho thấy bằng chứng mối quan hệ tiêu cực với biến thu nhập bình quânđầu người trong tất cả các mô hình được kiểm định, trừ trường hợp mô hình khắcphục hiện tượng nội sinh

Các kiểm định với bộ dữ liệu thay thế trong giai đoạn thay thế lớn hơn và sự phânloại đặc điểm của dữ liệu cũng nên được tiến hành trong các nghiên cứu tiếp theo đểthấy những kết quả kiểm tra rõ nét hơn Các kết quả thực nghiệm cho thấy những ýnghĩa của các yếu tố quan trọng trong việc gia tăng thu nhập cho các quốc gia vàđịnh hướng cho những hành động, chính sách có lợi cho nền kinh tế

Trang 15

CHƯƠNG I – GIỚI THIỆU

1.1 Vấn đề nghiên cứu

Đối với lịch sử loài người, hầu hết các cá nhân đã trải qua giai đoạn thiếu tự do kinh

tế và cơ hội, lên án sự đói nghèo và thiếu thốn Hôm nay, chúng ta đang sống trongthời gian thịnh vượng nhất trong lịch sử nhân loại Đói nghèo, bệnh tật, và sự ngudốt được giảm xuống trên toàn thế giới, do một phần lớn dựa vào sự tiến bộ của tự

do kinh tế, sự gia tăng về thu nhập

Các quốc gia hiện nay đang nỗ lực để tăng trưởng và phát triển, mở rộng thươngmại và tự do hóa kinh tế, phát huy các chìa khóa lợi thế cần thiết để nhắm đến mụctiêu thu nhập bình quân cao hơn, mức sống tốt hơn Vấn đề về tăng trưởng kinh tế,gia tăng thu nhập bình quân đang được quan tâm tại các quốc gia, là mục tiêu màcác chính phủ chú trọng, làm cơ sở đưa ra những chính sách và định hướng phù hợp

Mở cửa nền kinh tế, môi trường kinh tế thị trường đa quốc gia phát triển, thúc đẩytăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập, ổn định tiền tệ,… đang trở thành xu hướngchung trên thế giới Đồng thời, cách quản lý của mỗi chính phủ tại các quốc gia đốivới thị trường là khác nhau trong việc tạo điều kiện phát triển kinh tế, tự do kinhdoanh, hay là hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với nền kinh tế Dựa vào nguồnthu ngân sách quan trọng từ doanh thu các loại thuế cho các mục đích chi tiêu củachính phủ đã góp phần tác động đến nền kinh tế, xã hội của quốc gia đó Rất ít cácnghiên cứu tập trung đồng thời vào tác động của tự do kinh tế, doanh thu thuế vàchất lượng quy định của chính phủ đến thu nhập bình quân đầu người cũng nhưchưa làm rõ được sự ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của các yếu tố quan trọng này

Chính vì vậy, với đề tài “Tác động của tự do kinh tế, doanh thu thuế và chất

lượng quy định của chính phủ đến thu nhập bình quân đầu người, phân tích tại các quốc gia trên thế giới” nhằm đánh giá vai trò của tự do kinh tế, chất lượng

quy định của chính phủ và doanh thu thuế tác động như thế nào đến thu nhập bìnhquân đầu người tại các quốc gia được nghiên cứu, giải đáp các vấn đề quan trọngthực tiễn trên

Trang 16

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm, đề tài này giải quyết hai vấn đề sau:

 Thứ nhất, đánh giá chỉ số tự do kinh tế theo Heritage Foundation 2016 đã hiệuchỉnh, doanh thu thuế và chất lượng điều hành của chính phủ có tác động đồngthời đến thu nhập bình quân đầu người tại các quốc gia nghiên cứu hay không

 Thứ hai, đánh giá các tác động (nếu có) của từng yếu tố, tự do kinh tế, doanhthu thuế và chất lượng quy định của chính phủ là tích cực hay tiêu cực đến thunhập bình quân đầu người

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung vào dữ liệu của 56 nước trên thế giới

Giai đoạn số liệu nghiên cứu 12 năm từ 2004 – 2015

Chỉ số nghiên cứu chính gồm: chỉ số tự do kinh kế, chất lượng quy định của chínhphủ/ chất lượng điều hành của chính phủ, doanh thu thuế và thu nhập bình quân đầungười của mỗi quốc gia theo từng năm

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu thực hiện theo phương pháp định lượng để kiểm định mô hình hồiquy đa biến và các giả thuyết bằng phần mềm Stata-11 trên cơ sở sử dụng dữ liệubảng với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân đầu người theo ngang giá sức mua.Các biến độc lập trong mô hình gồm tự do kinh tế, chất lượng quy định của chínhphủ và doanh thu thuế, các biến kiểm soát là tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất thực dài hạn,

ổn định chính trị và thâm hụt ngân sách

Nghiên cứu này sử dụng biện pháp tính toán trung bình tổng thể của tự do kinh tếkhi loại bỏ hai trong số mười chỉ số quyền tự do kinh tế của Heritage Foundation(2016), cụ thể là, tự do tài khóa và tự do kinh doanh, chủ yếu là để loại bỏ sự hiệndiện vấn đề đa cộng tuyến do chúng tạo ra và một phần là để thay thế chúng cũngnhư tránh trùng lắp với các biến số được cho là tốt hơn để đo lường chỉ số quyền tự

do tài khóa và quyền tự do kinh doanh, cụ thể là, tỷ lệ tất cả các loại thuế so vớiGDP (thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm) và đo lường trực tiếp chất lượng điều

Trang 17

hành của chính phủ, thành phần chủ yếu của tự do kinh doanh Sự thay thế này sẽđược giải thích thêm ở phía sau của bài nghiên cứu.

Mô hình thể hiện dưới dạng tuyến tính, được ước tính bởi PLS (panel least squares),đầu tiên sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random effects model), sau đó sửdụng mô hình hiệu ứng cố định (Fixed effects model), dùng kiểm định Hausman đểlựa chọn mô hình phù hợp sau khi hiệu chỉnh phương sai sai số thay đổi Các ướctính PCSEs và FGLS để khắc phục các khuyết tật của mô hình cũng được thực hiện.Tiếp theo, mô hình các biến công cụ theo độ trễ với phương pháp GMM(Generalized method of moments) được sử dụng để khắc phục vấn đề nội sinh và tựtương quan cho dữ liệu bảng

1.5 Ý nghĩa thực tiễn và điểm mới của đề tài

Bài nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý

mà còn mở ra định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề đánh giá tác độngcủa tự do kinh tế, chất lượng quy định và doanh thu thuế lên thu nhập bình quân đầungười nhằm nghiên cứu mức độ tăng trưởng, phát triển của các quốc gia bị ảnhhưởng như thế nào từ vai trò của các biến quan sát trong mô hình Từ đó, nhấnmạnh thêm mức độ càng cao của tự do kinh tế sẽ thúc đẩy cao hơn hoạt động nềnkinh tế và làm gia tăng thu nhập bình quân đầu người trong nền kinh tế khi các yếu

tố khác không đổi Tương tự như vậy, tác động của doanh thu thuế và chất lượngquy định của chính phủ đến thu nhập bình quân đầu người được kiểm định để từ đó

có những định hướng, hành động nhằm mục tiêu gia tăng thu nhập cho các quốcgia

Điểm mới của đề tài là nghiên cứu mức độ tác động của các yếu tố tự do kinh tế,chất lượng quy định và doanh thu thuế đến thu nhập bình quân đầu người đối vớimẫu nhóm nước trên thế giới đáp ứng bộ dữ liệu đầy đủ để nghiên cứu Đây lànhững chỉ số quan trọng và cho thấy một cái nhìn mới, tổng thể thể hiện sự tác độngđến thu nhập, đến tăng trưởng kinh tế và cần được định hướng nghiên cứu tiếp trongtương lai Đặc biệt bài nghiên cứu còn kiểm định củng cố, làm rõ hơn các kết quảkhi kiểm soát các vấn đề về tác động nội sinh trong mô hình

Trang 18

1.6 Kết cấu của bài luận văn

Ngoài phần mở đầu, các danh mục bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo kèmtheo, để tài nghiên cứu được trình bày theo bố cục gồm năm chương Chương I làgiới thiệu Chương II là phần tổng quan các nghiên cứu trước đây và trình bày cơ sở

lý luận Chương III thể hiện dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương IV trìnhbày và đánh giá kết quả hồi quy Chương V cuối cùng là phần tổng kết, đánh giánhững đóng góp của bài nghiên cứu, đồng thời chỉ ra những giới hạn của bài luậnvăn và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 19

CHƯƠNG II – CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

Chỉ tiêu GDP trên người là một chỉ tiêu tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện mứcsống và phúc lợi của người dân Một sự tăng trưởng kinh tế bền vững là yếu tố vôcùng quan trọng để thay đổi tiêu chuẩn sống của người dân Trong nghiên cứu này,mức thu nhập thực tế bình quân đầu người được đo lường bằng mức GDP thực tếbình quân đầu người của mỗi quốc gia trong thời gian nghiên cứu từ năm 2004 đến

năm 2015 Giá trị của GDP bình quân thực tế, được so sánh giữa các quốc gia bằng

cách điều chỉnh ngang giá sức mua (PPP) Với sự nhấn mạnh về vai trò của tự dokinh tế trong việc xác định mức thu nhập thực tế bình quân đầu người và sự chênhlệch của nó giữa các quốc gia, các giả thuyết cơ bản nhất của nghiên cứu này là thunhập bình quân đầu người thực tế phụ thuộc trực tiếp vào tự do kinh tế trong mỗihình thức được nghiên cứu khác nhau của nó, khi các yếu tố khác không đổi Ngoài

ra, thu nhập thực tế bình quân đầu người được giả thuyết là một hàm nghịch chiều

với doanh thu thuế - thể hiện như tỷ lệ phần trăm của GDP Vì tỷ lệ thuế trả cao hơn

sẽ làm giảm thu nhập khả dụng và hạn chế khả năng mua hàng hoá và dịch vụ mới,

do đó làm giảm hoặc hạn chế mức độ hoạt động kinh tế Ngoài ra, thu nhập bìnhquân thực được giả thuyết là một hàm gia tăng với chất lượng điều hành của chínhphủ khi chính phủ tạo điều kiện phát triển kinh doanh cho khu vực tư nhân và giảm

sự hạn chế phát triển kinh tế thị trường Các lý thuyết cũng như những nghiên cứuthực nghiệm gần đây về vấn đề này đã cho thấy những bằng chứng có ý nghĩa vềviệc khẳng định các mối quan hệ, giả thuyết được đặt ra bên trên và làm cơ sở chobài nghiên cứu được thực hiện

Trang 20

2.1.1 Mối quan hệ giữa tự do kinh tế và thu nhập bình quân đầu người

2.1.1.1 Tổng quan về tự do kinh tế

Sự tăng trưởng, phát triển kinh tế là mục tiêu theo đuổi của các quốc gia trên thếgiới với rất nhiều chỉ số được quan tâm đánh giá nhằm mục tiêu nâng cao thu nhậpcũng như chất lượng sống cho quốc gia Với mô hình kinh tế thị trường mà cốt lõi là

mở rộng sự tự do kinh tế đã có những tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực kinh tế

xã hội, gia tăng việc làm, ổn định tiền tệ, nâng cao mức sống tại nhiều quốc gia trênthế giới Đã có những tranh luận tương tự rằng gia tăng tự do kinh tế sẽ nâng cao sựtăng trưởng/ tốc độ của các hoạt động kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc,đầu tư, tiết kiệm, quyết định kinh doanh dựa trên thị trường và chấp nhận rủi rotrong một nền kinh tế thị trường

Năm tiêu chí đánh giá nền kinh tế thị trường của EC

1 Mức độ ảnh hưởng của Chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và cácquyết định của doanh nghiệp, bất kể là trực tiếp hay gián tiếp, chẳng hạn như thôngqua việc áp dụng giá cả do Nhà nước ấn định, hoặc phân biệt đối xử trong chế độthuế, thương mại hoặc tiền tệ

2 Không có hiện tượng Nhà nước can thiệp bóp méo hoạt động của các doanhnghiệp liên quan đến khu vực tư nhân hoá Không sử dụng cơ chế thương mại phithị trường hoặc các hệ thống đền bù (ví dụ như thương mại hàng đổi hàng)

3 Ban hành và thực thi luật doanh nghiệp minh bạch và không phân biệt đối xử,đảm bảo quản lý doanh nghiệp một cách thích hợp (áp dụng các tiêu chuẩn kế toánquốc tế, bảo vệ cổ đông, đầy đủ thông tin chính xác về doanh nghiệp)

4 Ban hành và áp dụng một hệ thống luật thống nhất, hiệu quả và minh bạchđảm bảo tôn trọng quyền sở hữu tài sản và đảm bảo sự vận hành của quy chế phásản doanh nghiệp

5 Tồn tại một khu vực tài chính đích thực hoạt động độc lập với Nhà nước, vớiđầy đủ các quy định về các biện pháp đảm bảo tín dụng và giám sát điều chỉnh vềmặt pháp luật cũng như trên thực tế

Trang 21

Sáu tiêu chí đánh giá nền kinh tế thị trường của Bộ Thương mại Hoa Kỳ

1 Khả năng chuyển đổi của đồng tiền

2 Tự do thoả thuận mức lương

3 Đầu tư nước ngoài

4 Sở hữu hoặc quản lý của Nhà nước đối với các ngành sản xuất

5 Quản lý của Nhà nước đối với sự phân bổ các nguồn lực

6 Các yếu tố thích hợp khác

Dựa trên các tiêu chí trên có thể thấy một nền kinh tế thị trường được ưu tiên bởi sựhạn chế can thiệp của chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau, thì trường hoạtđộng hiệu quả, đồng tiền lưu động tự do trong thị trường vốn, khu vực tài chínhminh bạch cao

Mấu chốt chính của nền kinh tế thị trường nói chung là sự tự do kinh tế ở nhiều mặt

Tư tưởng tự do và lý tưởng tư bản chủ nghĩa đã có từ thời Adam Smith, John Lockehay Milton Friedman Cơ chế kinh tế của nền kinh tế thị trường được Adam Smith

ví như “bàn tay vô hình” điều tiết nền kinh tế, làm gia tăng giàu có cho các quốc gia

Tự do thương mại là công cụ để tạo ra tăng trưởng kinh tế (David Ricardo,1821-1912) Milton Friedman cũng đã nhấn mạnh rằng tự do kinh tế thực sự đãmang lại hiệu quả về mặt kinh tế nhiều hơn so với phương pháp khác trong việckiểm soát hoạt động kinh tế (Gwartney, 1996)

Khi nói đến kinh tế thị trường là nói đến nguyên tắc “tự do kinh tế”, bao gồm quyền

tự do trong kinh doanh, tự do thương mại, tự do về thuê lao động, lựa chọn côngviệc, tự do tiêu dùng, … Nền kinh tế khi đó hội tụ đủ các yếu tố có thể đạt đến sự

“tự do kinh tế” và hạn chế sự can thiệp vào thị trường tự nhiên cũng như hoạt độngkinh doanh của tư nhân Đồng thời, chính phủ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, tạohành lang pháp lý hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh doanh tư nhân Tự do kinh tếkhông có nghĩa là không có sự can thiệp của chính phủ tuyệt đối, đó là sự tự dodưới pháp luật của chính phủ (Friedrich Hayek, Hiếp pháp tự do 1960)

Trang 22

Tự do kinh tế là quyền cơ bản của mỗi con người trong việc kiểm soát lao động vàtài sản của chính mình Trong một xã hội kinh tế tự do, cá nhân được tự do để làmviệc, sản xuất, tiêu thụ và đầu tư theo bất kỳ cách nào họ muốn Trong xã hội kinh

tế tự do, chính phủ cho phép lao động, vốn, và hàng hóa di chuyển tự do, và khôngđược ép buộc hoặc hạn chế về tự do vượt ra ngoài phạm vi cần thiết để bảo vệ vàduy trì sự tự do của chính nó Tự do kinh tế mang lại sự thịnh vượng hơn Tài liệu

về chỉ số Tự do Kinh tế cho thấy các mối quan hệ tích cực giữa tự do kinh tế và mộtloạt các mục tiêu xã hội và kinh tế Tự do kinh tế lý tưởng liên quan chặt chẽ vớicác xã hội lành mạnh, môi trường sạch hơn, của cải trên đầu người lớn hơn, conngười phát triển, dân chủ và xoá đói giảm nghèo (Báo cáo của The HeritageFoundation 2016 diễn giải sự tự do kinh tế - Economic Freedom) Tự do kinh tế sẽtồn tại khi các cá nhân được quyền lựa chọn tham gia các giao dịch mà không gâytổn hại về người hoặc tài sản cho đối tượng khác (Báo cáo của Economic Freedom

of the World 2016 của James Gwartney, Robert Lawson, Joshua Hall)

Tóm lại, tự do kinh tế là một yếu tố quan trọng, có vai trò lớn trong nền kinh tế thịtrường, mang lại sự tự do nhiều mặt cho các cá nhân dưới quy định tạo điều kiệncủa chính phủ Hành động của chính phủ là cần thiết khi bảo vệ quốc gia, thúc đẩyphát triển hòa bình và tạo điều kiện kinh doanh hợp lý

2.1.1.2 Các thước đo tự do kinh tế

Về cơ bản, có 4 thước đo tự do kinh tế:

The Fraser Institute - Gwartney et al (1996) được công bố lần đầu tiên vào năm

1996 trong Economic Freedom of the World đo lường về mức độ của các chínhsách và thể chế tại các quốc gia ủng hộ cho sự tự do kinh tế Cơ sở của tự do kinh tế

là tự do cá nhân, trao đổi tự nguyện, thị trường linh hoạt, tự do cạnh tranh và quyền

sở hữu tư nhân được đảm bảo Tiêu chuẩn đo lường của thước đo này gồm kíchthước của chính phủ; cơ cấu pháp lý và đảm bảo quyền sở hữu; quyền về tiền tệ; tự

do trao đổi với nước ngoài và cuối cùng là quy định, tín dụng và kinh doanh

Trang 23

Thước đo Heritage Foundation của tạp chí The Wallstreet Journal và The

Heritage Foundation được công bố hàng năm Đây là thước đo được sử dụng khánhiều trong nghiên cứu với ưu điểm dữ liệu tổng hợp từ nhiều quốc gia và trongthời gian dài từ 1995 Ngoài ra, dữ liệu luôn được cập nhật, cải tiến và liên tục đápứng nhu cầu nghiên cứu hiệu quả và nó chủ yếu dựa trên các biến số chính sách màchính phủ có thể thực sự kiểm soát (Heckelman 2000) Năm 2016, 10 chỉ số tự dokinh tế được công bố cho 186 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cùng nhữngđánh giá khách quan, sát thực cho thấy một cái nhìn tổng thể về chỉ số tự do kinh tếcủa các quốc gia và khu vực Các chỉ số tự do kinh tế này tập trung vào bốn khíacạnh quan trọng của môi trường kinh tế mà các chính phủ thường tiến hành cácchính sách kiểm soát gồm quy định của pháp luật (quyền tư hữu, tự do không bịtham nhũng), vai trò hạn chế của chính quyền (tự do tài khóa, độ lớn của nhà nước),hiệu quả quản lý (tự do kinh doanh, tự do lao động, tự do tiền tệ), sự mở cửa của thịtrường (tự do thương mại, tự do đầu tư, tự do tài chính) Đây là thước đo mà bàinghiên cứu này sử dụng vì những ưu điểm của nó và sự công bố số liệu hàng nămthay vì năm năm một lần như chỉ số Fraser

Thước đo Freedom House với một loạt các chỉ số từ 1982 đến 1996 được thực

hiện bởi Wright (1982) và Messick (1996) tiếp cận tự do kinh tế theo hướng tậptrung vào quyền chính trị và tự do dân sự so với hai thước đo trên

Thước đo Scully và Slottje (1991) là thước đo đầu tiên của Freedom House từ năm

1980 với 144 quốc gia gồm mười lăm chỉ số khác nhau là tự do chế độ ngoại tệ, tự

do từ dự thảo quân sự, tự do tài sản, tự do di chuyển, tự do thông tin, chỉ số tự dodân sự của Gastil, phân loại các hệ thống kinh tế Gastil - Wright, tự do in ấn, truyềnthông, tự do phát sóng, tự do du lịch nội bộ, tự do du lịch nước ngoài, tự do tập hợphòa bình, tự do giấy phép lao động, tự do tìm kiếm không cần giấy phép và tự dogiữ bất động sản

Trang 24

2.1.1.3 Mối quan hệ giữa tự do kinh tế và thu nhập bình quân đầu người

Như các lý thuyết trên cũng như những giả thuyết đang được điều tra trong nghiêncứu này, mức thu nhập thực tế bình quân đầu người được dự kiến sẽ là một hàmngày càng tăng của các chỉ số quyền tự do kinh tế, với các yếu tố khác không đổi.Bằng chứng trong các hình thức khác nhau đã cho thấy tác động tích cực của mức

độ tự do kinh tế lên thu nhập bình quân đầu người Trong hàng chục năm qua, nhiềunghiên cứu đã được thực hiện để điều tra tác động rõ ràng của tự do kinh tế đến tăngtrưởng kinh tế Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng tồn tại một tácđộng tích cực mạnh mẽ của tự do kinh tế, đặc biệt là tự do kinh tế tổng thể, đến tỷ lệtăng trưởng kinh tế (Tortensson, 1994; Goldsmith, 1995; Ali, năm 1997; Norton,1998; Farr, Lord và Wolfenbarger năm 1998; Gwartney, Lawson, và Holcombe,1999; Heckelman và Stroup, 2000; Heckelman, 2000; De Haan và Strum, năm 2000;Ali và Crain, 2001, 2002; Dawson, 1998, 2003; Powell, 2003; Cole, năm 2003;Cebula và Alexander, 2006; Holcombe, và Lawson, 2006; Clark và Lawson, 2008;Gwartney, Liu và Riyanto, 2009; Cebula, 2010, 2011; Mathers và Williamson, 2011;Easterly, 2011; Cebula, Clark, và Mixon, năm 2013; Mulholland vàHernandez-Julian, năm 2013; Ashby, Bueno, và Martinez, 2013; Belasen và Hafer,năm 2013), …

Cụ thể, có thể đề cập đến một nghiên cứu tiêu biểu bởi Islam (1996) tại các quốc gianăm 1992 Các ước tính của Islam (1996) tìm thấy một tác động trực tiếp của tự dokinh tế lên thu nhập bình quân đầu người ở các nước thu nhập thấp và nhóm tất cảcác nước được thực hiện Nghiên cứu khác từ đồ thị phân tích cơ bản xuyên quốcgia bởi Grubel (1997, tr 289-291, đặc biệt Hình 1), cho thấy rằng các quốc gia cómức độ tự do kinh tế cao hơn sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn.Nghiên cứu của Farr, Lord, và Wolfenbarger (1998) sử dụng nhân quả Granger đểkiểm tra cho thấy có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tự do và phát triển kinh tế.Nghĩa là, theo nhân quả Granger, tự do kinh tế gây ra mức độ của tình trạng kinh tếtăng trưởng và ngược lại mức độ kinh tế tốt (tăng trưởng) có nguyên nhân từ tự do

Trang 25

kinh tế Điển hình nữa là nghiên cứu của Gwartney, Lawson và Holcombe (1999),khi họ đánh giá cao tầm quan trọng của các tổ chức thị trường và tự do kinh tế như

là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế, bài nghiên cứu đã chứng minh đượcrằng tự do kinh tế là một yếu tố quyết định quan trọng đến tăng trưởng kinh tế, ngay

cả khi nguồn nhân lực, tài sản vật chất, và nhân khẩu học được đưa vào tính toán.Heckelman (2000) cũng xem xét mối quan hệ nhân quả giữa tự do kinh tế và tốc độphát triển kinh tế trong ngắn hạn với 147 quốc gia trong giai đoạn 1991 - 1997 bằngphương pháp Granger Tác giả đã sử dụng chỉ số Heritage Foundation vì nó chophép bộ đầy dữ liệu liên tục qua các năm để nghiên cứu trong ngắn hạn Nghiên cứukhác của Jkob de Haan và Ja-Egbert Sturm (2000) đặt trọng tâm vào hai chỉ số tự dokinh tế Heritage Foundation và Fraser Institute trong giai đoạn 1975-1990 tại 80quốc gia Kết quả thu được là sự tự do kinh tế cao hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế và mức độ tăng trưởng ổn định không bị ảng hưởng bởi mức độ tự do kinh tế Bàinghiên cứu của Jonh W Dawson (2002) cho thấy quan hệ nhân quả giữa các loạithể chế khác nhau gồm tự do chính trị và tự do kinh tế trong mối quan hệ với tăngtrưởng kinh tế dài hạn Bài nghiên cứu này cũng tiếp tục sử dụng Granger để xemxét quan hệ nhân quả của tự do với tốc độ tăng trưởng Kết quả cho thấy mức độtổng thể của tự do kinh tế gây ra sự tăng trưởng và sự thay đổi trong tự do sẽ tácđộng đến tốc độ tăng trưởng

Nghiên cứu của H Cole (2002) là hướng đi khác khi giải thích chỉ số tự do kinh tếthế giới (EFW) của Fraser Institute bằng nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế Bàinghiên cứu đánh giá sự hữu ích của chỉ số EFW giai đoạn 1980-1999 ước tính cho

106 quốc gia dưới các mô hình khác nhau Tuy nhiên, phân tích của tác giả cónhững hạn chế do dữ liệu bị phân tán thành nhóm tự do khác nhau, kết quả sai lệch

do bỏ sót biến và dường như kết quả trái ngược với dự đoán của mô hình tăngtrưởng tân cổ điển Khi đánh giá tác động của tự do kinh tế đến tăng trưởng kinh tếdưới khung lý thuyết thay thế, tự do kinh tế có liên quan mạnh mẽ đến những thayđổi chính trong tất cả các thông số kỹ thuật của mô hình và kết luận rằng tự do kinh

tế là một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, không phụ thuộc vào khuôn

Trang 26

khổ lý thuyết cơ bản (Cole, 2003) Mathers và Williamson (2011) kiểm tra nhữngảnh hưởng của văn hóa vào sự thành công của các tổ chức tư bản chủ nghĩa, đặcbiệt là tự do kinh tế, chứng minh được rằng văn hóa giúp tăng cường hiệu quả củachủ nghĩa tư bản và tiếp theo là tác động đến tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiêncứu của Easterly (2011) nhận thấy rằng bằng cách kiểm tra nhiều ví dụ về tăngtrưởng kinh tế nhanh chóng ở cả hai chế độ chuyên chế/ độc tài và dân chủ, chế độdân chủ tốt hơn đáng kể so với chế độ chuyên chế trong việc giảm những cú sốc từbên ngoài hệ thống chính trị và do đó tự do là quan trọng trong việc sản xuất tăngtrưởng hơn cả việc lãnh đạo độc tài tốt Hơn nữa, một nghiên cứu về tiểu bang ởHoa Kỳ cũng tìm thấy bằng chứng của một tác động tích cực của tự do kinh tế lênthu nhập bình quân đầu người (Wiseman và Young, 2011) Nghiên cứu của Henryk

và Lukasz Lach (2011) xem xét mối liên hệ giữa tự do kinh tế và tăng trưởng củacác thành viên mới trong EU 2000-2009 với 2 thước đo Heritage Foundation vàFraser Institute trong các báo cáo hàng năm của Economic Freedom of the World.Các kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực, đặc biệt là ở nhóm nước thu nhập trungbình và thu nhập thấp Các bằng chứng cho thấy tác động mạnh của tự do kinh tếtrong việc kích thích sự hội tụ giàu có của các nền kinh tế quốc gia EU, nhưng chiềungược lại thì không rõ ràng Hầu như tất cả các nghiên cứu đều cho thấy mối quan

hệ tích cực giữa tự do kinh tế và tăng trưởng kinh tế dựa trên các thước đo tự dođược xây dựng

Đặc biệt, bài nghiên cứu gần đây như nghiên cứu của Cebula và Mixon (2013) đánhgiá tác động của tự do kinh tế lên GDP thực ở các nước OECD giai đoạn 2002-2006.Kết quả cho thấy mối quan hệ tác động tích cực và có ý nghĩa giữa tự do kinh tế vàGDP thực bằng phương pháp hồi quy OLS với tác động cố định Bài nghiên cứu tìmthấy quan hệ tích cực của các biến tự do kinh doanh, tự do chống lại tham nhũng, tự

do đầu tư, tự do tiền tệ, tự do chính phủ, tự do thương mại và tự do quyền tư hữu.Trong khi đó, bài nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữaGDP thực và tự do tài chính, tự do lao động và tự do tài khóa Như vậy, rất nhiềunghiên cứu đã được thực hiện và dù có những sự khác biệt đáng kể trong các mô

Trang 27

hình tăng trưởng kinh tế khác nhau, tự do kinh tế dường như đóng một vai trò quantrọng trong việc nâng cao sự tăng trưởng đó và đây cũng là tác động kỳ vọng củabài nghiên cứu này.

2.1.2 Mối quan hệ giữa doanh thu thuế và thu nhập bình quân đầu người

Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế được phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau

đề cho thấy có những yếu tố quan trọng tác động đến tổng tăng trưởng của một nềnkinh tế Trong đó, yếu tố về thuế được ra đời dưới sự điều hành của chính phủ đểkiểm soát các vấn đề khác nhau vì lợi ích nào đó Thuế dường như tác động đến mọivấn đề trong kinh tế, xã hội, chi phối nhiều hoạt động kinh tế và là mối quan tâmcủa nhiều đối tượng, nhất là trong vấn đề thương mại, đầu tư, … Mối quan hệ đặcbiệt giữa thuế và tăng trưởng cũng được xem xét và có rất nhiều nghiên cứu đãđược tiến hành để kiểm định sự tác động qua lại giữa hai biến này Có thể kể đếnPadovano và Galli (2002), Holcombe và Lacombe (2004), Reed (2008) đã tìm thấymối quan hệ tiêu cực giữa thuế và tăng trưởng Nghiên cứu của Lee và Gordon(2005) về mối quan hệ giữa cấu trúc thuế và tăng trưởng kinh tế đã cho thấy mốitương quan nghịch chiều giữa cấu trúc thuế và tăng trưởng kinh tế

Thu nhập bình quân đầu người là một hàm số giảm với tỷ lệ thuế, khi các yếu tốkhác không đổi (Clark và Lawson, 2008; Yandle, 2013) Giả thuyết này cũng phùhợp với kết quả thực nghiệm trong nghiên cứu gần đây của Afonso và Jalles (2014,

tr 349), cho thấy nguồn thu của chính phủ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng vàphù hợp với các nghiên cứu gần đây của Indonesia bởi Parjiono, Beg, vàMonypenny (2013) về quan hệ tiêu cực giữa doanh thu thuế và tăng trưởng kinh tế.Tương tự, phân tích thực nghiệm của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD(2010) cũng chỉ ra rằng thuế TNDN có ảnh hưởng bất lợi nhất về tốc độ tăng GDPtheo sau thuế thu nhập và tiêu dùng cá nhân Từ những phân tích trên cho thấy kếtquả bài nghiên cứu được kỳ vọng là có xảy ra mối quan hệ tác động tiêu cực giữadoanh thu thuế đến thu nhập bình quân đầu người Tuy nhiên, trường hợp ngược lạicũng có thể xảy ra khi các quốc gia sử dụng nguồn thu ngân sách vào mục tiêu phát

Trang 28

triển hạ tầng, giáo dục, …, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển thì doanhthu thuế lại mang lại dấu hiệu tích cực, kỳ vọng làm tăng thu nhập bình quân đầungười.

2.1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng quy định của chính phủ và thu nhập bình

quân đầu người

Trong các giai đoạn lịch sử của nền kinh tế học, nhiều lý thuyết tăng trưởng về kinh

tế được ra đời và phát triển dần Một trong số đó là lý thuyết tăng trưởng kinh tếngắn hạn theo mô hình Keynes với sự quan trọng của cầu trong việc điều chỉnh nềnkinh tế Ngoài ra, lý thuyết tăng trưởng kinh tế trung dài hạn với mô hình của Solowcho thấy nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng khi có sự tiến bộ về kỹ thuật và tốc độ tăngdân số Đã có những nghiên cứu thực nghiệm sau này về vấn đề sự tiến bộ của kỹthuật còn phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và chính trị Từ đó cho thấy một cái nhìnmới, phù hợp hơn và lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã ra đời vào những năm támmươi của thế kỷ trước Lý thuyết tăng trưởng nội sinh vẫn đánh giá cao vai trò củavốn sản xuất trong tăng trưởng kinh tế Chính yếu tố này sẽ tạo điều kiện cho tiến

bộ kỹ thuật và công nghệ (Boyer và Didier, 2000) Đồng thời, lý thuyết này cũngcho rằng vốn đầu tư là một kênh quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế giốngnhư lý thuyết tân cổ điển Tuy nhiên, khác với lý thuyết cũ, lý thuyết tăng trưởngnội sinh cho rằng đầu tư có thể khiến tăng trưởng liên tục và chất lượng phát triểntốt hơn Ngoài ra, nền kinh tế có những đặc thù riêng của từng quốc gia khác nhau

về tri thức, trao đổi hàng hóa, … và sự tăng trưởng của các quốc gia là khác nhau,việc điều hành của bộ máy chính phủ cho phù hợp với từng quốc gia là khác nhau.Các hành động, chính sách, các cơ chế của chính phủ có thể điều hành một đất nước

và tác động đến tốc độ tăng trưởng dài hạn của quốc gia đó như việc ban hành phápluật, xây dựng cơ sở hạ tầng, điều chỉnh thuế, đầu tư giáo dục, … Chính vì thế,theo lý thuyết này, chất lượng các quy định, việc điều hành của chính phủ có sự ảnhhưởng rất lớn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn tại các quốc gia Tác động này

Trang 29

có thể là tích cực cũng có thể là tiêu cực, tùy vào mỗi điều kiện của quốc gia đó vàchất lượng điều hành của chỉnh phủ như thế nào.

Như vậy, biến chất lượng điều hành của chính phủ là một chỉ số phản ánh "khả năngcủa chính phủ đưa ra các chính sách và quy định cho phép và khuyến khích khu vực

tư nhân phát triển "(Ngân hàng Thế giới, 2012, tr 9) Chỉ số này sẽ dẫn đến mức độhoạt động kinh tế lớn hơn và do đó mức thu nhập bình quân đầu người (GDP) sẽlớn hơn, các yếu tố khác không đổi (Upadhyaya, Raymond, và Mixon, 1997; Ugur,2009) Các nghiên cứu khác về sự hiệu quả của hai thị trường chứng khoán tiêu biểucủa hai nền kinh tế là thị trường chứng khoán Ba Lan (Warsaw Stock Exchange)với sự can thiệp chặt chẽ của chính phủ trong việc kiểm soát thị trường và thịtrường Công Hòa Séc (Prague Stock Exchanges) với ít sự giám sát của chính phủ

Có những kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường ít bị can thiệp mang lại hiệu quảtốt hơn (Neal và Davis, 2005; Stringham, 2003) Trong khi đó, vẫn có những lậpluận trái chiều quan tâm đến sự tác động của chính phủ thực sự cần thiết cho mộtnền thị trường mới nổi như Cộng Hòa Séc và đánh giá thị trường Warsaw là vượttrội hơn Tuy nhiên, thị trường vốn của Séc đã bị cản trở bởi chính phủ khi can thiệpquá sâu, hiệu quả cao của Ba Lan không có những bằng chứng chặt chẽ …(Clark,Boettke, và Stringham, 2008) Các biến được sử dụng để đo lường chất lượng điềuhành của chính phủ, phản ánh khả năng chính phủ của một quốc gia xây dựng vàthực hiện các quy định và chính sách mục tiêu một cách hợp lý và rõ ràng, khôngchỉ cho phép mà còn thúc đẩy sự phát triển và hiệu quả của khu vực tư nhân (Ngânhàng Thế Giới, 2012, tr 5) Nhiều chính sách khác của chính phủ có thể ảnh hưởngđến tỷ lệ hoạt động DN Chính phủ có thể sử dụng các hàng rào thuế quan và phithuế quan để bảo hộ các ngành hiệu hữu được ưu đãi, qua đó đặt các ngành khácvào mất lợi thế cạnh tranh Các rào cản gia nhập nêu trên càng lớn, số lượng hoạtđộng DN càng thấp và giả định sẽ làm chậm tỷ lệ tăng trưởng Điều này là vì cácquy định chất lượng tốt sẽ cản trở ít hơn đối với các hoạt động hiệu quả của một nềnkinh tế dựa trên thị trường (Clark, Boettke, và Stringham, 2008; Ugur, 2009;Upadhyaya, Raymond, và Mixon, 1997) Chính vì vậy, cách thức quản lý, ra quyết

Trang 30

định và các chính sách của chính phủ có kỳ vọng mang lại tác động tích cực đến thunhập bình quân đầu người khi các quy định này có mục tiêu rõ ràng, thúc đẩy hoạtđộng kinh tế, tạo điều kiện phát triển khu vực tư nhân nhưng vẫn dưới sự hỗ trợkiểm soát ổn định từ chính phủ, mang lại lợi ích cho nền kinh tế, thúc đẩy tăngtrưởng, nâng cao thu nhập bình quân đầu người.

2.1.4 Tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất thực, ổn định chính trị, thâm hụt ngân sách

và thu nhập bình quân đầu người

Ngoài giả thuyết tác động của tự do kinh tế, phần trăm các loại thuế trên GDP vàchất lượng điều hành của chính phủ đến thu nhập bình quân thực tế, nghiên cứu nàycòn quan tâm đến ba biến kiểm soát kinh tế và một biến kiểm soát chính trị nhưnhững kết quả thử nghiệm có ý nghĩa của các nghiên cứu trước đây Các biến kiểmsoát kinh tế có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế gồm tỷ lệ thất nghiệp trung bình(Cebula, Clark, và Mixon, 2013); tỷ lệ lãi suất thực trung bình dài hạn, (Cecchetti,2006; Mishkin, 2013; Taylor, 1999; Allison, 2013); và thâm hụt ngân sách trungương, thể hiện như một tỷ lệ phần trăm của GDP (Carlson và Spencer, 1975; Cebula,1978; Abrams và Schmitz, 1978) Biến kiểm soát chính trị là chỉ số ổn định chínhtrị

Biến kiểm soát đầu tiên, tỷ lệ thất nghiệp gây ảnh hưởng được dự kiến là tiêu cựcđến mức thu nhập thực tế bình quân đầu người Phần trăm lực lượng lao động thấtnghiệp càng lớn, thì mức thu nhập bình quân đầu người sẽ thấp hơn, khi các yếu tốkhác không đổi (Cebula, Clark, và Mixon, 2013) Tiếp theo, theo quan sát củaCecchetti (2006, tr 555), những quyết định về kinh tế của các hộ gia đình để tiếtkiệm hay các doanh nghiệp quyết định đầu tư phụ thuộc vào lãi suất thực Tương tựnhư vậy, Mishkin (2013, tr 609) nhận thấy rằng quan điểm truyền thống là sự sụtgiảm trong lãi suất thực, làm giảm chi phí vay vốn, gây ra một sự gia tăng trong chitiêu đầu tư và chi tiêu dùng bền vững nhiều hơn Với tỷ lệ lãi suất thực dài hạn caohơn, sẽ làm giảm giá trị đầu tư hiện tại của các doanh nghiệp và do đó làm giảm tỷ

lệ đầu tư vào nhà máy và thiết bị mới, khi các yếu tố khác không đổi Đặc biệt là

Trang 31

việc chi tiêu cho hàng hóa lâu bền (bao gồm cả nhà ở), có khả năng cũng là mộthàm giảm với lãi suất thực dài hạn, các yếu tố khác không đổi Như vậy, lãi suấtthực dài hạn cao hơn, dẫn đến mức độ hoạt động kinh tế thấp hơn và do đó làm hạthấp mức thu nhập bình quân thực tế Cuối cùng, thâm hụt ngân sách của chính phủcao hơn thường được lập luận sẽ dẫn đến sự "lấn át" đầu tư khu vực tư nhân và cácchi tiêu khác Do đó tạo ra một mức độ hoạt động kinh tế thấp hơn và GDP thực tếbình quân đầu người thấp, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi (Carlson vàSpencer, năm 1975; Cebula, 1978; Abrams và Schmitz, 1978).

Biến kiểm soát chính trị cho mỗi quốc gia, đó là một chỉ số của sự ổn định chính trị

và không có bạo lực ở những quốc gia này Giả thuyết rằng sự thịnh vượng của mộtnền kinh tế nói chung phải là một hàm đồng biến với sự ổn định chính trị, đưa raquyết định với ít rủi ro hơn, thúc đẩy trật tự và thị trường hoạt động hiệu quả caohơn trong một nền kinh tế có hệ thống và do đó cần phải hành động để nâng cao thunhập thực tế bình quân đầu người, các yếu tố khác không đổi Các biến được sửdụng để phản ánh sự ổn định chính trị, đo lường khả năng chính phủ của một quốcgia dễ bị tổn thương khi bị mất ổn định hoặc thậm chí lật đổ bởi một trong haihướng là hiến pháp hay bạo lực, kể cả bạo lực, động cơ chính trị hay khủng bố(Ngân hàng Thế giới, 2012, tr 9) Như vậy, một quốc gia có chính trị ổn định hơn,

sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững, hoạt động kinh tế diễn ra trôichảy, không bị cản trở và từ đó kỳ vọng mang lại mức thu nhập bình quân cao hơn

2.1.5 Mối quan hệ giữa hệ số tự do kinh tế, doanh thu thuế và chất lượng quy

định của chính phủ đối với thu nhập bình quân đầu người

Các nghiên cứu trước đây cho thấy cái nhìn sơ bộ về những bằng chứng cho thấy sựtương quan của các yếu tố tự do kinh tế, chất lượng quy định của chính phủ vàdoanh thu thuế đến sự tăng trưởng của quốc gia Đa số các nghiên cứu tập trung vàonhững yếu tố nhất định và xem xét từ những góc độ khác nhau Cũng có nhữngnghiên cứu quan tâm đến sự tác động đồng thời của ba yếu tố này cũng như nhữngyếu tố kiểm soát về kinh tế, chính trị của một quốc gia Việc phân tích mối quan hệ

Trang 32

giữa tự do và tăng trưởng kinh tế ở Ireland cũng cho thấy rằng khi tự do kinh tế tăng,Ireland đã tăng trưởng nhanh hơn (Powell, 2003), đồng thời những cải cách saucuộc khủng hoảng tài chính của Ireland đã làm giảm vai trò của chính phủ trong nềnkinh tế, giảm thâm hụt ngân sách lớn của chính phủ, tỷ lệ thuế và cải thiện môitrường thể chế, nơi các doanh nghiệp đang hoạt động, tự đó thể hiện một sự gia tăngtrong tăng trưởng của quốc gia này Trường hợp khác làm rõ hơn các nghiên cứutrên, Cebula và Clark (2014) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ tổnghợp giữa hệ số tự do kinh tế, doanh thu thuế và đặc biệt là chỉ số chất lượng quyđịnh với thu nhập bình quân đầu người tại các quốc gia OECD giai đoạn 2003-2007.Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực, có ý nghĩa của hệ số tự do kinh tế, chấtlượng quy định và tiêu cực của doanh thu thuế (tỷ lệ % trên GDP) đối với thu nhậpbình quân đầu người ở các nước OECD và được kiểm chứng tại nhóm nước OECDngoài G8 Đây là bài nghiên cứu điển hình trong nhiều bài nghiên cứu của Cebulacũng như những nghiên cứu của các tác giả khác về vấn đề tác động của các yếu tốđặc trưng đến tăng trưởng kinh tế thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người với dữliệu bảng (panel data) và thực nghiệm trên mô hình hiệu ứng cố định (Fixedeffects).

Mặc dù vẫn còn những hạn chế về thời gian, dữ liệu mẫu hay phương pháp nghiêncứu khác nhau, mô hình tác động khác nhau, nhưng nhìn chung, các nghiên cứutrước đây đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về tầm quan trọng của hệ số tự dokinh tế, tác động tiêu cực của doanh thu thuế và những ảnh hưởng tích cực từ hệthống chất lượng quy định của chính phủ tạo điều kiện cho khu vực kinh doanh tưnhân phát triển đối với sự tăng trưởng kinh tế Từ đó cho thấy mối quan tâm đáng

kể của các nhà nghiên cứu dành cho vấn đề liệu tự do kinh tế có là yếu tố quyết địnhđến tăng trưởng, tác động từ nguồn thu thuế sẽ thúc đẩy hay hạn chế thu nhập vàchất lượng quy định của chính phủ đang phát huy tác động tích cực ra sao để làm cơ

sở định hướng chính sách cho tương lai Đây là vấn đề quan trọng, thiết thực đối vớinền kinh tế các quốc gia và còn nhiều điều cần phải được phân tích, làm rõ hơn nữatrong bài nghiên cứu này với kỳ vọng chỉ số tự do kinh tế mang lại tác động tích cực,

Trang 33

chất lượng quy định của chính phủ cũng có tác động thúc đẩy, gia tăng thu nhậpbình quân Doanh thu thuế được kỳ vọng mang lại tác động ngược chiều với thunhập bình quân nhưng cũng không loại trừ những ảnh hưởng tích cực khi nguồn thungân sách này phát huy tác động cùng chiều đến nền kinh tế khi được chi tiêu mộtcách hợp lý.

2.2 Điểm khác biệt của bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu này tập trung vào nội dung tương tự các nghiên cứu trên, nhưngkhông giống hoàn toàn vì nó chú trọng đến tác động tiềm năng của mức độ tự dokinh tế cao hơn đến mức thu nhập thực tế, làm rõ hơn khi có đánh giá tác động củaphần trăm doanh thu thuế trên GDP và chất lượng quy định của chính phủ đối vớicác quốc gia trên thế giới một cách đồng thời Trong khi các nghiên cứu trước ít tậptrung về tác động của mức độ tự do kinh tế cao hơn trên mức thu nhập thực tế Đâykhông phải là trọng tâm chính của hầu hết các tài liệu liên quan và cũng ít nghiêncứu tiến hành đồng thời tác động của cả hệ số tự do kinh tế, chất lượng quy định củachính phủ và đặc biệt là phần trăm doanh thu thuế trên GDP đến thu nhập bình quânthực Bài phân tích thực nghiệm mới đây dựa trên dữ liệu của các quốc gia OECD(Cebula và Clark 2014) là một nghiên cứu điển hình chứng minh cho các giả thuyết

về sự tác động của hệ số tự do kinh tế theo Heritage Foundation (2013), phần trămcác nguồn thu thuế và chất lượng quy định của chính phủ đến tăng trưởng, thu nhậpthực tế bình quân đầu người Kết quả thu được thể hiện tác động nhất quán và có ýnghĩa của các biến trong mô hình Đồng thời, các phân tích cho thấy một cái nhìn,một hướng nghiên cứu sâu về chỉ số tự do kinh tế kết hợp với tác động của doanhthu thuế và chất lượng quy định của chính phủ lên thu nhập Chính vì vậy, bài luậnvăn không chỉ dựa trên những lý thuyết, mô hình cơ bản của nghiên cứu này mà cònkiểm định lại độ mạnh của kết quả dựa trên bộ dữ liệu bảng thay thế lớn hơn vớinhóm các quốc gia trên thế giới và giai đoạn nhiều năm hơn Ngoài ra, mô hìnhđược sử dụng ở đây còn thể hiện thêm sự tác động có ý nghĩa của các biến mới vàkhắc phục được hiện tượng nội sinh của hai biến quan trọng là biến doanh thu thuế

Trang 34

và biến trễ của biến thu nhập bình quân dựa vào phương pháp GMM (Generalizedmethod of moments) Đây là một điểm mới của bài nghiên cứu này mà các nghiêncứu trước đây chưa đề cập rõ.

Cụ thể, khác với hầu hết các tài liệu được công bố, nghiên cứu này điều tra về giảthuyết rằng một mức độ cao hơn về chỉ số tự do kinh tế tổng thể trong một nền kinh

tế sẽ thúc đẩy một mức độ cao hơn của hoạt động kinh tế và do đó sẽ mang lại mộtmức độ cao hơn cho thu nhập bình quân đầu người thực tế (GDP) trong nền kinh tế,khi các yếu tố khác không đổi Trường hợp nghiên cứu này chủ yếu khác với đa sốcác tài liệu có liên quan hiện nay là tập trung vào chỉ số tự do kinh tế tổng thể củaHeritage Foundation (2016), nhưng nghiên cứu này dựa trên chỉ số tự do kinh tếtổng thể chỉ với tám thành phần chứ không phải là mười thành phần để đo lường tự

do kinh tế; vì lý do được trình bày ở phần ba, hai thành phần đo lường tự do kinh tế

sẽ bị loại khỏi các đo lường tổng thể, cụ thể là, tự do tài khóa và tự do kinh doanh.Các nghiên cứu hiện nay về chỉ số tự do kinh tế chủ yếu dựa trên dữ liệu thống kê

từ Heritage Foundation Đây là chỉ số tự do được trích dẫn rộng rãi nhất trong nhiềunghiên cứu kinh tế học trước đó Các chỉ số tự do Heritage Foundation không chỉcung cấp dữ liệu cho nhiều nước hơn so với các chỉ số khác mà còn chứa các biếnđược tính toán hàng năm, bắt đầu từ năm 1995 và do đó nó sẽ cung cấp một tập hợp

dữ liệu hàng năm lớn hơn để so sánh Chỉ số này cũng cố gắng duy trì tính liên tụccủa dữ liệu theo thời gian bằng cách liên tục cập nhật, sửa đổi và cải tiến trong việc

sử dụng các phương pháp mới và dữ liệu mới Hơn nữa, với một cái nhìn rộng hơn,nghiên cứu này cũng điều tra thêm hai yếu tố quan trọng tác động đến thu nhập bìnhquân đầu người và còn bổ sung đại diện tốt cho hai thành phần tự do kinh tế bị loại

bỏ Đó là tổng thu thuế (%) so với GDP và chất lượng điều hành của chính phủ

Để cung cấp một bối cảnh đa dạng cho phân tích thực nghiệm của các giả thuyếttrên, không giống như hầu hết các nghiên cứu liên quan trước đó, bài luận văn nàytập trung vào tổng thể 56 quốc gia trên thế giới bắt đầu từ năm 2004 và kết thúc vào

2015 (theo bộ dữ liệu tập hợp đầy đủ thống kê được) Trong đó, nghiên cứu nàycung cấp một cuộc điều tra với một hàm số thể hiện mức độ chênh lệch về tự do

Trang 35

kinh tế, chênh lệch mức độ doanh thu thuế trên GDP, và những khác biệt trong chấtlượng điều hành của chính phủ sẽ gây ra sự khác biệt trong thu nhập thực tế mỗiquốc gia (sau khi đã được điều chỉnh ngang giá sức mua) Các phân tích bao gồmmột bộ dữ liệu bảng được ước tính chủ yếu bằng cách sử dụng mô hình hiệu ứng cốđịnh Một loạt các ước tính đặc điểm kỹ thuật được tính toán để kiểm định tính hiệuquả và tính thống nhất về những phát hiện có được từ mô hình cơ bản Ngoài ra,như một hướng phát triển và khắc phục hiện tượng tự tương quan cũng như các biếnnội sinh trong mô hình, phương pháp sử dụng biến công cụ GMM (Generalizedmethod of moments) được thực hiện và cho thấy những kết quả mở rộng khi có tácđộng của biến trễ thu nhập bình quân trong mô hình.

Tóm lại, một loạt các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế cũng như những nghiên cứuthực nghiệm trước đây cho thấy nhiều vấn đề còn gây tranh luận nhưng đa số chothấy có mối quan hệ tác động giữa tự do kinh tế, chất lượng quy định của chính phủ

và doanh thu thuế đến sự tăng trưởng của các quốc gia Bài nghiên cứu cũng dựatrên cơ sở đó để kiểm chứng và phân tích vấn đề tương tự một cách đồng thời vớiphương pháp nghiên cứu hạn chế các sai lệch để có kết quả đáng tin cậy Phần tiếptheo của bài luận văn sẽ trình bày chi tiết về dữ liệu thu nhập và phương phápnghiên cứu mô hình

Trang 36

CHƯƠNG III – DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nguồn dữ liệu

Bài nghiên cứu tập trung vào dữ liệu của đa số các nước trên thế giới trong giaiđoạn từ 2004-2015 để kiểm tra và nghiên cứu tác động tổng thể trên một mẫu lớn

Cụ thể là 56 quốc gia trên thế giới, tương ứng với 672 quan sát, do sự hiện hữu của

dữ liệu, một số quốc gia đã không được đưa vào nghiên cứu Các biến trong môhình được mô tả ở phần sau đây

3.1.1 Biến phụ thuộc:

RPCYj là mức độ thu nhập thực tế bình quân (GDP) đã được điều chỉnh ngang giá

sức mua (PPP) của nước j

Theo dữ liệu Ngân hàng Thế giới (World Bank Data - 2016), kết hợp cơ sở dữ liệucủa Chương trình So sánh Quốc tế (International Comparison Program - 2016),GDP bình quân đầu người dựa trên ngang giá sức mua tương đương trên thế giới(PPP) được tổng hợp PPP - GDP là tổng sản phẩm trong nước được chuyển đổisang đô la quốc tế sử dụng ngang giá sức mua Một đô la quốc tế GDP có sức muatương đương như đồng đô la Mỹ tại Hoa Kỳ GDP theo giá mua là tổng của giá trịgia tăng của tất cả các nhà sản xuất cư trú tại nền kinh tế cộng với thuế sản phẩm vàtrừ đi bất kỳ khoản trợ cấp không tính vào giá trị của sản phẩm

Trang 37

Thước đo thay thế hai chỉ số đó là tỷ lệ phần trăm các loại thuế so với GDP của mộtquốc gia và một thước đo chất lượng quy định của chính phủ, thành phần chủ yếucủa tự do tài khóa và tự do kinh doanh.

Các chỉ số tự do kinh tế này tập trung vào bốn khía cạnh quan trọng của môi trườngkinh tế mà các chính phủ thường tiến hành các chính sách kiểm soát :

- Quy định của pháp luật,

- Quy mô của Chính phủ,

- Hiệu quả quản lý, và

Phần sau sẽ mô tả chi tiết của các công thức và phương pháp luận đã sử dụng đểtính điểm cho mỗi thành phần của tự do kinh tế

QUY ĐỊNH VỀ LUẬT PHÁP

1 Quyền sở hữu (Property Rights)

Các thành phần trong quyền sở hữu là một đánh giá mang tính chất định tính vềmức độ mà khuôn khổ luật pháp của một nước cho phép cá nhân được tự do tích lũytài sản cá nhân, được bảo đảm bằng các luật rõ ràng và được thực thi một cách cóhiệu quả bởi Chính phủ Chỉ số này đo lường mức độ mà luật pháp của một quốcgia bảo vệ quyền sở hữu tư nhân và mức độ mà các các luật này được tôn trọng Nócũng đánh giá khả năng sở hữu tư nhân sẽ bị thu hồi bởi nhà nước và phân tích tínhđộc lập của ngành tư pháp, sự tồn tại của tham nhũng trong ngành tư pháp, và khảnăng thực hiện hợp đồng của các cá nhân và các doanh nghiệp

Với hiệu quả cao trong việc bảo vệ về mặt pháp lý các tài sản, thì quốc gia đó sẽ cóđiểm cao hơn Tương tự như vậy, các quốc gia sẽ có điểm số thấp hơn là những

Trang 38

quốc gia càng có khả năng chính phủ tước quyền sở hữu tài sản hoặc ít độc lập về tưpháp.

Điểm cho chỉ số quyền sở hữu của mỗi quốc gia được đánh giá theo các tiêu chísau:

- 100: Quyền sở hữu cá nhân được chính phủ bảo đảm Hệ thống tòa án thực thi cáchợp đồng một cách hiệu quả và nhanh chóng Hệ thống tư pháp trừng phạt nhữngngười tước đoạt tài sản cá nhân bất hợp pháp Không có tham nhũng hay tước đoạt

- 90: Quyền sở hữu cá nhân được chính phủ bảo đảm Hệ thống tòa án thực thi cáchợp đồng một cách hiệu quả và nhanh chóng Hệ thống tư pháp trừng phạt nhữngngười tước đoạt tài sản cá nhân bất hợp pháp Tham nhũng gần như không có và sựtước đoạt rất khó có khả năng xảy ra

- 80: Quyền sở hữu cá nhân được Chính phủ bảo đảm Hệ thống tòa án thực thi hợpđồng có hiệu quả nhưng với một số sự chậm trễ Tham nhũng là tối thiểu, và tướcđoạt là rất khó xảy ra

- 70: Quyền sở hữu cá nhân được Chính phủ bảo đảm Hệ thống tòa án có sự chậmtrễ và lỏng lẻo trong việc thực thi hợp đồng Tham nhũng là có thể xảy ra nhưnghiếm, và việc tước đoạt tài sản là khó xảy ra

- 60: Việc thực thi quyền sở hữu là lỏng lẻo và có sự chậm trễ Tham nhũng là cóthể có nhưng hiếm, và các cơ quan tư pháp có thể bị ảnh hưởng bởi các ngành kháccủa chính phủ Tước đoạt tài sản là khó xảy ra

- 50: Hệ thống tòa án không hiệu quả và thật sự chậm trễ Tham nhũng có thể cóxảy ra, và các cơ quan tư pháp có thể bị ảnh hưởng bởi các ngành khác của chínhphủ Tước đoạt là có thể nhưng hiếm

- 40: Hệ thống tòa án là rất không hiệu quả, và sự chậm trễ rất dài Tham nhũng có,

và cơ quan tư pháp chịu ảnh hưởng của các ngành khác của chính phủ Tước đoạt là

có thể

- 30: Quyền sở hữu tài sản được bảo vệ yếu ớt Hệ thống tòa án rất không hiệu quả.Tham nhũng là rộng lớn, và cơ quan tư pháp bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các ngànhkhác của chính phủ Tước đoạt là có thể

Trang 39

- 20: Các tài sản cá nhân được bảo vệ yếu ớt Hệ thống tòa án rất không hiệu quả vàtham nhũng được dàn xếp ở bên ngoài, quyền tài sản rất khó thực thi Tham nhũng

ở cơ quan tư pháp rộng lớn Tước đoạt là phổ biến

- 10: Quyền sở hữu cá nhân rất hiếm khi được bảo vệ, và gần như tất cả các tài sảnthuộc về nhà nước Đất nước này đang hỗn loạn (ví dụ, chiến tranh đang diễn ra),việc bảo vệ tài sản là gần như không thể thực thi Cơ quan tư pháp bị phá hỏng màtài sản không được bảo vệ một cách hiệu quả Tước đoạt là phổ biến

- 0: Tài sản tư nhân ở ngoài vòng pháp luật, và tất cả các tài sản thuộc về nhà nước.Mọi người không có quyền khởi kiện người khác và không thể tiếp cận các các tòa

án Tham nhũng là dĩ nhiên

Một số điểm trung gian như 75 hoặc 45 có thể là những nước có quyền sở hữu nằmgiữa hai loại liền kề

2 Tự do khỏi tham nhũng (Freedom from Corruption)

Tham nhũng làm xói mòn sự tự do kinh tế, đưa đến sự bất an và không chắc chắnvào các mối quan hệ kinh tế Nó cũng làm giảm sức sống kinh tế bằng cách tăng chiphí và chuyển nguồn lực vào các hoạt động không hiệu quả

Điểm số cho thành phần tự do kinh tế này được lấy trực tiếp từ chỉ số nhận thứctham nhũng minh bạch Quốc tế (CPI), đo lường cho mức độ tham nhũng ghi nhậntại 175 quốc gia Đối với các nước mà không có dữ liệu trong chỉ số CPI, sự tự dokhỏi tham nhũng được xác định bằng cách sử dụng các thông tin định tính từ đượcquốc tế công nhận và đáng tin cậy để xem xét mức độ tham nhũng chiếm ưu thếtrong một quốc gia. Trừ khi có ghi chú khác, chỉ số dựa trên các nguồn thông tin vềcác hoạt động thị trường không chính thức, theo thứ tự ưu tiên: TransparencyInternational, Corruption Perceptions Index; U.S Department of Commerce,Country Commercial Guide; U.S Department of State, Investment ClimateStatements; Economist Intelligence Unit, ViewsWire and Risk Briefing; FreedomHouse, Freedom in the World; Office of the U.S Trade Representative, NationalTrade Estimate Report on Foreign Trade Barriers; tin tức và tạp chí khác nhau; các

ấn phẩm chính thức của chính phủ mỗi nước

Trang 40

QUY MÔ CHÍNH PHỦ (GOVERNMENT Size)

3 Tự do tài khóa (Fiscal Freedom)

Thành phần tự do tài khóa là một thước đo tổng hợp của gánh nặng thuế, phản ánh

cả mức thuế suất cận biên và mức độ tổng thể của thuế, bao gồm các loại thuế trựcthu và gián thu áp đặt bởi tất cả các cấp chính quyền, theo một tỷ lệ phần trăm củatổng sản phẩm quốc nội (GDP) Điểm số của thành phần này có nguồn gốc từ bayếu tố định lượng:

- Các mức thuế suất cận biên trên của thuế thu nhập cá nhân,

- Các mức thuế suất cận biên trên của thuế thu nhập doanh nghiệp, và

- Tổng gánh nặng thuế như là một tỷ lệ phần trăm của GDP

Mỗi biến số có tỷ trọng như nhau Điểm tự do tài khóa được tính toán với một hàmchi phí bậc hai để phản ánh lợi nhuận doanh thu giảm dần với tỷ lệ thuế rất cao Dữliệu các yếu tố được chuyển đổi sang thang điểm 100 bằng cách sử dụng phươngtrình sau:

Fiscal Freedomij= 100 – α (Factorij)2

Fiscal Freedomijđại diện cho sự tự do tài khóa trong nước i cho yếu tố j; Factorijđạidiện cho các giá trị (theo một tỷ lệ phần trăm thể hiện trên thang điểm từ 0 đến 100)trong nước i cho yếu tố j; và α là hệ số thiết lập bằng 0,03 Điểm số tối thiểu chomỗi yếu tố con là số không

4 Chi tiêu chính phủ (Government Spending)

Thành phần chi tiêu chính phủ nắm bắt được những gánh nặng đối với các khoảnchi tiêu của chính phủ, trong đó bao gồm chi thường xuyên của nhà nước và tất cảkhoản chi chuyển giao liên quan đến các chương trình khác nhau

Không có mức độ nào là tốt nhất cho việc chi tiêu chính phủ Mức độ lý tưởng sẽthay đổi từ nước này sang nước khác, tùy thuộc vào nhiều yếu tố từ văn hóa đến địa

lý, về mức độ phát triển kinh tế Tuy nhiên, chi tiêu chính phủ sẽ trở thành một gánhnặng không thể tránh khỏi tại một số thời điểm khi mà chính phủ phát triển về phạm

vi và quy mô, kết quả là phân bổ sai các nguồn lực và mất hiệu quả kinh tế Khốilượng nghiên cứu đã chỉ ra rằng chi tiêu của chính phủ quá mức gây ra thâm hụt

Ngày đăng: 22/08/2017, 12:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w