CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 1.1.. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Luận án t
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
1.1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu
1.1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Sự phát triển quy mô của các công ty kéo theo sự tách biệt
giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty một mặt tạo ra
tác động tích cực trong việc huy động các nguồn vốn trong xã hội để
phát triển hoạt động kinh doanh trong các công ty này, nhưng mặt
khác lại gây ra mâu thuẫn về lợi ích của cổ đông và người quản lý,
về lâu dài những xung đột lợi ích này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến kết
quả hoạt động kinh doanh của công ty Các sáng kiến trong hoạt
động quản lý công ty nhằm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa cổ đông
và người quản lý, nâng cao hiệu quả tài chính của công ty đã hình
thành nên cơ chế quản trị công ty (QTCT) QTCT tốt có ý nghĩa
quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa Hội
đồng quản trị (HĐQT), Ban giám đốc (BGĐ), các cổ đông và các
bên có quyền lợi liên quan trong công ty, từ đó tạo nên định hướng
và sự kiểm soát quá trình phát triển của công ty QTCT tốt sẽ thúc
đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các
nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị
công ty, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho công ty và nền
kinh tế (Nguyễn Trường Sơn, 2010)
Như vậy, QTCT hiệu quả được xem là một trong những biện
pháp nhằm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa cổ đông và người quản
lý, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của công ty nói chung,
hiệu quả tài chính (HQTC) của công ty nói riêng Chính vì thế, cần
thiết phải có một nghiên cứu thực nghiệm về mức độ tác động của
QTCT đến HQTC của công ty, từ đó cung cấp bằng chứng thực
nghiệm về sự ảnh hưởng của QTCT tới HQTC
Trong các công ty đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay thì các công ty niêm yết là các công ty có quy mô vốn lớn, trong đó nhóm các công ty phi tài chính niêm yết chiếm đa số trên thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) Bên cạnh đó, do đặc thù hoạt động kinh doanh khác nhau giữa nhóm các công ty phi tài chính và nhóm các công ty tài chính, nên việc áp dụng QTCT giữa hai nhóm này là khác nhau Ngoài ra, đối với nhóm các công ty tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại thì việc áp dụng QTCT ngoài các quy định theo luật doanh nghiệp 2014, Luật Chứng khoán, Thông tư 121/2012/TT-BTC, thì còn được quy định thêm trong Luật các Tổ chức tín dụng, Thông tư 06/2010/TT-NHNN, và ngoài bộ nguyên tắc về QTCT của
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thì các ngân hàng thương mại còn có thể áp dụng bộ nguyên tắc QTCT riêng do Uỷ ban Basel cung cấp Trong khi đó, đối với nhóm các công ty phi tài chính các quy định về QTCT còn hạn chế Do đó, cần khảo sát thực tế về mối liên hệ giữa QTCT với HQTC ở các công ty phi tài chính đang niêm yết trên TTCKVN để giúp cho công ty và các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn thực tế hơn, từ đó giúp cho việc áp dụng, xây dựng, và ban hành các quy định về QTCT một cách có hiệu quả Xuất phát từ những phân tích trên, tác giả đề xuất đề tài
“Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Kiểm định mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm hai chức vụ chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành với HQTC của các công
ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
- Kiểm định mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và HQTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
- Kiểm định mối quan hệ giữa thành viên nữ trong HĐQT và HQTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
Trang 2soát (BKS) và HQTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên
TTCKVN
- Kiểm định mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ
đông lớn với HQTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên
TTCKVN
- Trên cơ sở kiểm định các mối quan hệ, đề xuất những
khuyến nghị về chính sách QTCT nhằm nâng cao HQTC trong các
công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt
Nam
1.1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận án tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
về QTCT, HQTC và sự tác động của QTCT tới HQTC của các công
ty phi tài chính được niêm yết trên TTCKVN Các yếu tố thuộc
QTCT được nghiên cứu bao gồm sự kiêm nhiệm hai chức vụ chủ
tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành, quy mô HĐQT, thành viên
nữ trong HĐQT, tính độc lập của thành viên BKS, và sự sở hữu cổ
phần của cổ đông lớn Đối với HQTC của công ty, luận án sử dụng
thước đo ROA và Tobin’s Q để đo lường
Phạm vi nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu 187 công ty phi tài chính niêm yết trên
TTCKVN, trong 4 năm (từ năm 2011 đến năm 2014), tạo thành
bảng 748 quan sát
1.1.4 Kết cấu của luận án
Chương 1: Giới thiệu đề tài và tổng quan nghiên cứu về sự
tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính
Chương 2: Cơ sở lý luận về sự tác động của của quản trị
công ty đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Chương 3: Giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu
quản trị công ty tới hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị
và kết luận
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về sự tác động của quản trị công
ty đến hiệu quả tài chính của công ty phi tài chính
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty chủ yếu tập trung vào một số đặc điểm của QTCT (Davis và công sự (1997); Klein (1998); Gillan (2006) Guest (2009); Bhagat and Bolton (2009); Roodposhti and Chasmi (2011); Hassan and Ahmed (2012); Tornyeva and Wereko (2012)), chẳng hạn như:
Thứ nhất, đặc điểm của HĐQT, bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên
môn của các thành viên, số lượng thành viên nữ, quy mô HĐQT, và
quyền kiêm nhiệm Thứ hai, cấu trúc sở hữu, bao gồm: sở hữu của các
thành viên HĐQT, sở hữu của BGĐ, sở hữu của nhà đầu tư lớn, sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài Thứ ba, đặc điểm của BKS, bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn và số lượng thành viên BKS Thứ
tư, cơ chế khen thưởng dành cho thành viên HĐQT, BGĐ
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển về khuôn khổ pháp lý cho QTCT cũng như hoạt động tích cực của các cơ quan quản lý trong việc tăng cường QTCT, số lượng các nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu về QTCT nói chung, công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty nói riêng đang không ngừng tăng lên Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đa dạng, phong phú về
cả phạm vi nghiên cứu, về các đặc điểm của QTCT, tiêu chí đo lường HQTC của công ty và cả về phương pháp nghiên cứu
Trang 31.2.3 Xác định “khoảng trống” nghiên cứu
Thứ nhất, các nghiên cứu về QTCT tác động đến kết quả
kinh doanh chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, hoặc các
nước đang phát triển nhưng có thị trường chứng khoán ra đời từ lâu
và hoạt động ổn định, môi trường pháp lý hoàn thiện Còn ở Việt
Nam, QTCT còn tương đối mới mẻ Vì vậy, cần có thêm nhiều
nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam
Thứ hai, kết luận của các nghiên cứu thực nghiệm về mối
quan hệ giữa nhóm đặc điểm của HĐQT bao gồm: quy mô HĐQT,
thành viên nữ trong HĐQT, sự kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT
và tổng giám đốc điều hành với hiệu quả hoạt động của công ty tại
Việt Nam còn chưa được thống nhất Vậy, cần thiết phải tiến hành
thêm nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này
Thứ ba, các nghiên cứu về nhóm cấu trúc sở hữu của tất cả
các cổ đông nói chung đã được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu
trong nước, tuy nhiên, nghiên cứu riêng về nhóm cổ đông lớn mà
được phân chia theo từng đối tượng sở hữu còn hạn chế Do đó, cần
nghiên cứu thêm sự tác động của cổ đông lớn mà được phân chia
theo từng đối tượng sở hữu đến HQTC của các công ty
Thứ tư, các nghiên cứu trong nước về nhóm tính chất của
BKS, chủ yếu chỉ tập trung vào số lượng thành viên BKS, tỷ lệ sở
hữu của thành viên BKS mà chưa nghiên cứu về tính độc lập của
thành viên BKS Do vậy khi nghiên cứu tác động của QTCT đến
HQTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng
khoán ở Việt Nam, yếu tố tính độc lập của thành viên BKS cần được
xem xét
Thứ năm, ít các công trình thực nghiệm trong nước nghiên
cứu về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty mà có sử
dụng kết hợp hai chỉ tiêu đo lường HQTC Do đó, cần thiết phải tiến
hành thêm nghiên cứu sự tác động của QTCT tới HQTC của công ty
mà được được đo lường bởi nhiều chỉ tiêu tài chính khác nhau
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG
TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Lý luận chung về quản trị công ty
2.1.1 Khái niệm quản trị công ty
Luận án đề xuất định nghĩa QTCT là biện pháp được dùng
để giám sát, kiểm soát tình hình hoạt động của công ty, thông qua
đó, công ty được vận hành hiệu quả nhằm đáp ứng quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan đến công ty
2.1.2 Các nguyên tắc quản trị công ty
Từ năm 1999, OECD đã đưa ra các nguyên tắc QTCT được dùng để làm chuẩn đánh giá mức độ tuân thủ các tiêu chí QTCT của các quốc gia trong tổ chức Những nguyên tắc này sau đó được sửa đổi, bổ sung trong phiên bản mới năm 2004 có tựa đề “Các nguyên tắc QTCT của OECD” Cho đến nay, bộ nguyên tắc này được coi là chuẩn mực quốc tế đầu tiên về QTCT nhằm giúp các chính phủ các nước thành viên và không thành viên của OECD, trong đó có Việt Nam, đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản lý cho QTCT ở quốc gia của họ và cung cấp các hướng dẫn và khuyến nghị cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, công ty và các bên khác có vai trò trong quá trình phát triển QTCT tốt
2.1.3 Nội dung quản trị công ty
Ở mỗi quốc gia, khuôn mẫu QTCT được phát triển khác nhau nhằm giải quyết phần nào các bê bối trong nền kinh tế của quốc gia đó, trong đó, phát triển mạnh mẽ nhất là các khuôn mẫu QTCT ở quốc gia có nền kinh tế phát triển sớm, đó là Anh và Mỹ Theo khuôn mẫu QTCT ở Anh (2014)1
, nội dung QTCT bao gồm 5 cấu
1
The UK corporate governance code 2014 The Financial Reporting Council London, The UK
Trang 4quan hệ với cổ đông
Tại Mỹ, từ năm 2002, Đạo luật Sarbanes-Oxley được ban
hành, đã làm thay đổi cơ bản khuôn mẫu QTCT tại Mỹ, theo đó, các
công ty phải cải thiện sự đảm bảo và tin tưởng vào các báo cáo, các
thông tin tài chính công khai, và xác định rõ vai trò trách nhiệm đối
với những người có liên quan đến công ty
Tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý về QTCT về cơ bản đã được
đề cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật Căn cứ theo Thông tư
số 121/2012/TT-BTC, đã quy định khá đầy đủ và cụ thể các nội dung
hay yếu tố cấu thành của QTCT niêm yết
2.1.4 Lý thuyết về quản trị công ty
2.1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện giả định con người có tính tư lợi và khuynh
hướng cá nhân, vì vậy người quản lý không phải lúc nào cũng hành
động vì lợi ích cao nhất của người chủ sở hữu Do đó, học giả theo
trường phái này thường khuyến nghị các công ty nên gia tăng tính độc
lập của thành viên trong BKS Bởi sự gia tăng này sẽ giúp BKS giám
sát thành viên HĐQT, các nhà quản lý công ty một cách sát sao hơn,
giúp cho công ty giảm bớt xung đột do vấn đề đại diện gây ra, từ đó
giảm được chi phí đại diện (Wang and Huynh, 2013)
Bên cạnh đó, lý thuyết này còn khuyến nghị cấu trúc lãnh
đạo cần phải được phân tách cụ thể, công ty cần phải tách bạch chức
danh chủ tịch HĐQT với tổng giám đốc điều hành Sự tách bạch này
sẽ phát huy được tối đa vai trò giám sát đội ngũ quản lý của chủ tịch
HĐQT, từ đó bảo vệ được lợi ích của các cổ đông (Fama and Jensen,
1983) Bên cạnh đó, một HĐQT phải đảm bảo được sự tách biệt giữa
vai trò giám sát và điều hành công ty, bằng cách gia tăng thành viên
độc lập, tức là thành viên không tham gia vào điều hành hoạt động
của công ty Bởi họ được cho rằng có nhiều động lực hơn trong việc
bảo vệ lợi ích của các cổ đông, họ thực hiện tốt vai trò giám sát hơn
so với những thành viên HĐQT mà có tham gia điều hành hoạt động của công ty (Fama and Jensen (1983); Daily and Dalton (1993)) Ngoài ra, số lượng thành viên HĐQT cũng cần phải được hạn chế Bởi nếu công ty có quy mô HĐQT lớn sẽ khiến cho việc hoạch định, điều phối công việc, ra quyết định và tổ chức các cuộc họp định kỳ khó khăn hơn Do đó, việc hạn chế số lượng thành viên HĐQT sẽ giảm được chi phí đại diện và gia tăng hiệu quả hoạt động của công
ty (Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thủy, 2013)
2.1.4.2 Lý thuyết quản gia (Stewardship theory)
Trái ngược với giả định của lý thuyết đại diện về hành vi của người quản lý là theo chủ nghĩa cá nhân và luôn mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì lý thuyết quản gia giả định người quản lý luôn có xu hướng hành động theo chủ nghĩa tập thể và luôn mong muốn được tự khẳng định mình để đạt được lợi ích thông qua sự thành công của tổ chức, do đó người quản lý sẽ hành động vì lợi ích tốt nhất của người chủ sở hữu Do đó, học giả theo trường phái lý thuyết quản gia khuyến nghị vị trí chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành nên được nắm giữ bởi một người Vì khi tổng giám đốc cũng là chủ tịch HĐQT, người đó sẽ sẵn lòng làm việc nhiều hơn cho công ty Bên cạnh đó, việc kết hợp hai vị trí sẽ hỗ trợ tốt cho việc ra quyết định, đặc biệt là trong hoàn cảnh cấp bách, và giúp HĐQT nắm bắt thông tin của công ty một cách nhanh nhất
2.1.4.3 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)
Lý thuyết các bên liên quan là một lý thuyết mở rộng của lý thuyết đại diện Thay vì tập trung vào mối quan hệ giữa người chủ sở hữu (cổ đông) và người đại diện (người quản lý), lý thuyết các bên liên quan còn nhắc đến mối quan hệ giữa công ty và các nhóm liên quan khác nhau
Trang 5thể là đề cao vai trò của thành viên nữ trong HĐQT Theo đó, sự đa
dạng giới tính trong HĐQT mang lại những lợi thế cho công ty, giúp
cho việc giám sát BGĐ hiệu quả hơn, bởi vì sự đa dạng này làm tăng
tính độc lập của HĐQT (Ayuso and Argandona, 2007) Bên cạnh đó,
việc tham gia của nữ giới vào HĐQT sẽ góp phần tạo nên sự sáng
tạo, nâng cao năng suất, lợi thế cạnh tranh cũng như hiệu quả quản lý
và giám sát cao hơn, từ đó, nâng cao được hiệu quả hoạt động của
công ty
Ngoài ra, lý thuyết các bên liên quan còn đề cập đến cấu trúc
HĐQT cân bằng, theo đó, thành viên HĐQT cần phải bao gồm các
thành viên do cổ đông đề cử (cổ đông lớn, cổ đông thiểu số), các
thành viên độc lập và đảm bảo các thành viên kết hợp đủ các kỹ
năng, có kinh nghiệm, có trình độ học vấn, tuổi tác, văn hoá, đa dạng
về quan điểm Bởi sự cân bằng cấu trúc này sẽ góp phần thúc đẩy
tính hiệu quả của chức năng giám sát của HĐQT, bảo vệ lợi ích của
các cổ đông và những người có liên quan đến công ty, từ đó nâng cao
được kết quả hoạt động của công ty
2.1.5 Thước đo quản trị công ty
QTCT có thể được xem xét theo hai góc độ: quản trị bên
trong và quản trị bên ngoài công ty, trong đó quản trị bên ngoài công
ty là cách thức ứng xử với các chủ thể bên ngoài như chủ nợ, nhà
cung cấp và những chủ thể khác bên ngoài công ty; còn quản trị bên
trong công ty tập trung vào HĐQT, BGĐ, và lợi ích của cổ đông
(Nguyễn Mạnh Hà, 2016)
Quản trị bên ngoài công ty còn được đo lường thông qua các
bộ thẻ điểm hoặc bộ chỉ số QTCT Tuy nhiên, do sự khó khăn trong
việc thu thập số liệu, những bộ thẻ điểm, chỉ số này ít được sử dụng
(Cremers and Nair, 2005) Chính vì vậy, các thước đo riêng lẻ
thường được sử dụng nhiều hơn trong nghiên cứu thực nghiệm về
liên quan đến quản trị bên trong công ty (Nguyễn Mạnh Hà, 2016) Các thước đo riêng lẻ này được Edward and Clough (2005) tổng hợp bao gồm: sự tách biệt giữa hai vị trí chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành, quy mô HĐQT, tính độc lập của thành viên HĐQT, BKS và các ban khác, sự cân bằng giữa kỹ năng và năng lực của giám đốc, và cơ chế khen thưởng cho tổng giám đốc Ngoài ra, một
số các nghiên cứu của các tác giả khác sử dụng thước đo QTCT khác khi phân tích mối quan hệ giữa QTCT và HQTC, chẳng hạn như: sự kiêm nhiệm, số lượng thành viên nữ trong HĐQT, tính độc lập, trình
độ chuyên môn của thành viên HĐQT, sở hữu của thành viên HĐQT, sở hữu của BGĐ, sở hữu của nhà đầu tư lớn, sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, tính độc lập của thành viên BKS, trình độ chuyên môn của thành viên BKS, số lượng thành viên BKS, và cơ chế khen thưởng dành cho thành viên HĐQT, BGĐ
2.2 Lý luận chung về hiệu quả tài chính của công ty 2.2.1 Khái niệm hiệu quả tài chính
Luận án đề xuất định nghĩa HQTC là một phạm trù kinh tế
phản ánh những lợi ích đạt được thông qua hoạt động kinh doanh của các công ty
2.2.2 Các tiêu chí đo lường hiệu quả tài chính
HQTC của công ty niêm yết là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các bên liên quan như cổ đông, BGĐ, chủ nợ, nhà cung cấp trong việc ra quyết định kinh doanh hoặc đầu tư HQTC thể hiện kết quả hoạt động của công ty dựa trên các chỉ báo mà phản ánh mục tiêu kinh tế bao gồm nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và nhóm các chỉ số phản ánh giá trị thị trường (Venkatraman và Ramanujam, 1986)
Trong các nghiên cứu khoa học, HQTC thường được tiếp cận thông qua các hướng tiếp cận thị trường, tiếp cận từ báo cáo tài
Trang 6chính và tiếp cận kết hợp (Phạm Quốc Việt, 2010) Và thường được
đo lường bởi rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau Các chỉ tiêu này được
chia thành hai nhóm chính, bao gồm: (1) nhóm các chỉ tiêu phản ánh
khả năng sinh lời, (2) nhóm các chỉ số phản ánh giá trị thị trường
2.3 Sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính
Các nghiên cứu về sự tác động của QTCT đến HQTC
thường tiếp cận theo hai hướng: Thứ nhất, nghiên cứu sự tác động
của QTCT đến HQTC thông qua đánh giá thẻ điểm hoặc chỉ số về
QTCT Thứ hai, nghiên cứu sự tác động của các yếu tố thuộc QTCT
đến HQTC
Các nghiên cứu về sự tác động của QTCT đến HQTC thông
qua đánh giá thẻ điểm hoặc chỉ số về QTCT cho kết quả rất đa dạng
do phụ thuộc vào thời gian thu thập dữ liệu và thể chế luật pháp cũng
như văn hoá, đặc tính của từng quốc gia
Đối với các nghiên cứu về sự tác động của QTCT đến HQTC
mà tiếp cận thông qua một số yếu tố đại diện cho QTCT tác động
đến HQTC thường tập trung vào các yếu tố thuộc nhóm: Thứ nhất,
đặc điểm của HĐQT, bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn
của các thành viên, số lượng thành viên nữ, quy mô HĐQT, và quyền
kiêm nhiệm Thứ hai, cấu trúc sở hữu, bao gồm: sở hữu của các
thành viên HĐQT, sở hữu của BGĐ, sở hữu của nhà đầu tư lớn, sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài Thứ ba, đặc điểm của BKS, bao
gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn và số lượng thành viên BKS
Thứ tư, cơ chế khen thưởng dành cho thành viên HĐQT, BGĐ Như
đã trình bày trong phần tổng quan các công trình nghiên cứu, về cơ
bản các nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố đại diện cho QTCT
đến HQTC của các công ty cho kết quả chưa thống nhất và thậm chí
là trái ngược nhau
CHƯƠNG 3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Sự kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT và tổng giám
đốc điều hành có mối tương quan thuận chiều với HQTC của công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
Giả thuyết 2: Quy mô HĐQT mối tương quan ngược chiều
với HQTC của công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
Giả thuyết 3: Thành viên nữ trong HĐQT có mối tương
quan thuận chiều với HQTC của công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
Giả thuyết 4: Tính độc lập của các thành viên trong BKS có
mối tương quan thuận chiều với HQTC của công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
Riêng đối với giả thuyết nghiên cứu thứ 5 về ảnh hưởng của
tỷ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn tới HQTC luận án chia làm bốn giả thuyết nhỏ như sau:
Giả thuyết 5a: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà
nước có mối tương quan thuận chiều với HQTC của các công ty phi
tài chính niêm yết trên TTCKVN
Giả thuyết 5b: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà
đầu tư nước ngoài có mối tương quan thuận chiều với HQTC của các
công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
Giả thuyết 5c: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là tư
nhân trong nước có mối tương quan thuận chiều với HQTC của các
công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
Giả thuyết 5d: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là
thành viên BGĐ của công ty có mối tương quan thuận chiều với HQTC của công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 73.2.1 Mô hình nghiên cứu
Mô hình 3.1: Mô hình nghiên cứu sự tác động của quản trị công
ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tính độc lập của Ban
kiểm soát
Quy mô Hội đồng
quản trị
Sự kiêm nhiệm
Thành viên nữ trong
Hội đồng quản trị
Cổ đông lớn
- Nhà nước
- Nước ngoài
- Tư nhân trong nước
- Thành viên BGĐ
Hiệu quả tài chính
- ROA
- Tobin’s Q
BIẾN KIỂM SOÁT
- Quy mô công ty
- Đòn bẩy tài chính
- Yếu tố lạm phát
+
-
+
+
+
3.2.2 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ bản cáo bạch, báo cáo thường niên, và báo cáo tài chính của 187 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKVN trong 4 năm liên tục (từ 2011 đến 2014)
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Luận án sử dụng mô hình hồi quy với dữ liệu bảng để đo lường và đánh giá sự tác động của QTCT đến HQTC Các mô hình được đề xuất sử dụng là FEM và REM Sau khi có kết quả ước lượng
mô hình hồi quy, luận án thực hiện các kiểm định sự phù hợp cho mô hình, kiểm định khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy Để lựa chọn mô hình phù hợp nhất nhằm ước lượng mô hình hồi quy đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC, luận án sử dụng kiểm định Hausman Test và giá trị hệ số R2
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 4.1 Tổng quan về công ty phi tài chính niêm yết và đặc điểm quản trị công ty tại Việt Nam
4.1.1 Công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4.1.2 Đặc điểm quản trị công ty tại Việt Nam 4.1.3 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả tài chính trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4.2 Thống kê mô tả các biến 4.3 Phân tích tương quan
Trang 84.4 Kết quả xử lý phương trình hồi quy
4.4.1 Ước lượng mô hình hồi quy đo lường sự tác động của quản
trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu ROA
4.4.1.1 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác
động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng
chỉ tiêu ROA
Bảng 4.3: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định
khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình FEM đo
lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ
tiêu ROA)
R2
FStatistic Prob
(F-statistic)
Durbin - Watson
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Bảng 4.4: Ước lượng mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác động
của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA
Biến số Hệ số ước
lượng (β)
Sai số chuẩn (SE)
Giá trị T
4.4.1.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy REM đo lường sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu ROA
Bảng 4.5: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ
tiêu ROA)
R2
FStatistic Prob
(F-statistic)
Durbin -Watson
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Bảng 4.6: Ước lượng mô hình hồi quy REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA Biến số Hệ số ước lượng (β) Sai số chuẩn (SE) Giá trị T
INFLATION -0.0162 0.0044 -3.6818(***)
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Trang 9Bảng 4.7: Kiểm định Hausman Test
Correlated Random Effects - Hausman Test
Equation: EQ_ROA
Test cross-section random effects
Test Summary Chi-Sq Statistic Chi-Sq d.f Prob
Cross-section random 11.597220 11 0.3947
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Kết quả thực hiện kiểm định Hausman Test cho thấy giá trị
Prob = 0,3947 > 5% nên chưa có cơ sở để bác bỏ H0, do đó nên sử
dụng mô hình REM để phân tích sự tác động của QTCT tới HQTC
được đo lường bằng chỉ tiêu ROA Ngoài ra, khi so sánh hệ số R2
của hai mô hình FEM và REM, thì hệ số R2
của mô hình REM là 0,78 lớn hơn so với hệ số R2 của FEM là 0,74 Điều này cho thấy mô hình
REM có khả năng giải thích ảnh hưởng của biến độc lập đến biến
phụ thuộc tốt hơn
Như vậy, mô hình REM là mô hình hồi quy phù hợp nhất
để đo lường sự ảnh hưởng của QTCT tới HQTC được đo lường
bằng chỉ tiêu ROA Do đó, tác giả sử dụng kết quả ước lượng của
mô hình REM để thảo luận kết quả nghiên cứu, giả thuyết nghiên
cứu, từ đó đưa ra đánh giá về các yếu tố thuộc QTCT mà có ảnh
hưởng đến HQTC (ROA)
4.4.1.4 Lý giải kết quả nghiên cứu với mô hình REM
- Các biến phản ánh đặc điểm QTCT có tác động ngược
chiều tới chỉ số ROA của công ty: DUAL, SIZE, GENDER
- Các biến phản ánh đặc điểm QTCT có tác động thuận chiều
tới chỉ số ROA của công ty: INDEP, OWN_GOV, OWN_INTER,
OWN_MAN, OWN_PRIVA
Ngoài các biến độc lập có tương quan với biến phụ thuộc,
các biến kiểm soát cũng có tương quan với biến phụ thuộc Kết quả
ước lượng mô hình hồi quy chỉ ra rằng, quy mô công ty có mối tương
và INFLATION có mối tương quan âm với HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA
4.4.2 Ước lượng mô hình hồi quy đo lường sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q
4.4.2.1 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q
Bảng 4.8: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC đo lường bằng chỉ tiêu
Tobin’s Q)
(F-statistic)
Durbin -Watson
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Bảng 4.9: Ước lượng mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q Biến số Hệ số ước lượng (β) Sai số chuẩn (SE) Giá trị T
INFLATION -0.2466 0.0315 -7.8266(***)
Trang 10động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng
chỉ tiêu Tobin’s Q
Bảng 4.10: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định
khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình REM đo
lường sự tác động của QTCT tới HQTC đo lường bằng chỉ tiêu
Tobin’s Q)
R2
FStatistic Prob (F-statistic) Durbin - Watson
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Bảng 4.11: Ước lượng mô hình hồi quy REM đo lường sự tác
động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s
Q Biến số Hệ số ước lượng (β) Sai số chuẩn (SE) Giá trị T
INFLATION -0.0512 0.0161 -3.1801(**)
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Bảng 4.12: Kiểm định Hausman Test
Correlated Random Effects - Hausman Test Equation: EQ_TOBINQ
Test cross-section random effects
Test Summary Chi-Sq Statistic Chi-Sq d.f Prob
Cross-section random 33.990937 10 0.0002
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả)
Kết quả thực hiện kiểm định Hausman Test cho thấy giá trị Prob = 0,0002 < 5% nên bác bỏ H0, do đó nên sử dụng mô hình FEM để phân tích sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q Ngoài ra, khi so sánh hệ số R2
của hai mô hình FEM và REM, thì hệ số R2
của mô hình FEM là 0,67 lớn hơn so với hệ số R2
của REM là 0,64 Điều này cho thấy mô hình FEM có khả năng giải thích ảnh hưởng của biến độc lập đến biến phụ thuộc tốt hơn
Như vậy, mô hình FEM là mô hình hồi quy phù hợp nhất
để đo lường sự ảnh hưởng của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q Do vậy, tác giả sử dụng kết quả ước lượng
mô hình FEM để thảo luận kết quả nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, từ đó đưa ra đánh giá về các yếu tố thuộc QTCT mà có ảnh hưởng đến HQTC (Tobin’s Q)
4.4.2.4 Lý giải kết quả nghiên cứu với mô hình FEM
- Các biến phản ánh đặc điểm QTCT có tác động ngược chiều tới chỉ số Tobin’s Q của công ty: DUAL, SIZE, GENDER
- Các biến phản ánh đặc điểm QTCT có tác động thuận chiều tới chỉ số Tobin’s Q của công ty: INDEP, OWN_GOV, OWN_INTER, OWN_MAN