Vìvậy, trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ huyện Hà Trung rất coi trọng nhiệm vụ lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm vừa cấp bách, vừa lâu
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Mã số: 60220315
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ TÌNH
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,trích dẫn trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luậnkhoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2016
Tác giả
Phạm Văn Cường
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Thị Tìnhvà các thầy các cô trongkhoa Lịch sử Đảng, khoa Sau đại học, cùng cáclãnh đạo Huyện ủy, HĐND,UBND huyện, cán bộ ngành Lao động-Thương binh và Xã hội huyện đã giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BIỂU v
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:ĐẢNG BỘ HUYỆN HÀ TRUNG LÃNH ĐẠOCÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 9
1.1.Vấn đề đói nghèo và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác xóa đói giảm nghèo 9
1.1.1 Quan niệm về nghèo đói: Error! Bookmark not defined 1.1.2 Quan điểm và chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về xóa đói giảm nghèo: Error! Bookmark not defined 1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hà Trung ảnh hưởng đến công tác xóa đói, giảm nghèo 39
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội: Error! Bookmark not defined. 1.3 Chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện Hà Trung lãnh đạo tổ chức thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010 42 1.3.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Hà Trung đối với công tác xóa đói
giảm nghèo: Error! Bookmark not defined 1.3.2 Đảng bộ huyện Hà Trung tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo: Error! Bookmark not defined 1.1.2 Quan niệm về xoá đói giảm nghèo Error! Bookmark not defined.
1.1.2.1 Khái niệm xoá đói giảm nghèo Error! Bookmark not defined 1.1.2.2 Nội dung của xoá đói giảm nghèo Error! Bookmark not defined 1.1.2.3 Lực lượng tham gia xoá đói giảm nghèo Error! Bookmark not defined.
Trang 71.2.2 Thực trạng đói, nghèo của huyện Hà Trung trước năm 2000 và những vấn đề đạt ra: Error! Bookmark not defined Tiểu kết chương Error! Bookmark not defined Chương 2:ĐẢNG BỘ HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA LÃNH
ĐẠOCÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
52
2.1 Thực trạng công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ Huyện Hà Trung .Error! Bookmark not defined 2.1 Quan điểm của Đảng và Chủ trương, chính sách của Đảng về công tác xóa đói giảm nghèo 52
2.2 Chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện lãnh đạo tổ chức thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010 Error! Bookmark not defined. 2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa về công tác xóa đói giảm nghèo: Error! Bookmark not defined 2.2.2 Quá trình tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2000 đến năm 2010: 86
Tiểu kết chương 2 97
Chương 3:KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 100
3.1 Kết quả đạt được và một số vấn đề tồn tại 100
3.1.1 Kết quả đạt được: 100
3.1.2 Những vấn đề tồn tại 112
3.1.3 Nguyên nhân: 115 4.1.4 Một số giải pháp trong công tác xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới: Error! Bookmark not defined 4.1.5 Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chính sách của Đảng và Nhà nước
về xoá đói giảm nghèo Error! Bookmark not defined 4.1.6 Các giải pháp trực tiếp hỗ trợ xã nghèo, hộ nghèo, người nghèo Error!
Bookmark not defined.
Trang 84.1.7 Một số kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo trong công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Hà Trung 119 KẾT LUẬN 126 Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIÁ Error! Bookmark not defined.
DỰ KIẾN MỘT SỐ PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 9DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu.Xóa đói,giảm nghèo là tiêu chí quan trọng hàng đầu để đánh giá một đất nước, một chế
độ có phát triển văn minh hay không Do vậy, dù ở bất kỳ thời đại nào, các nhànướcđều có những hướng giải pháp để làm sao có thể xóa được đói, giảm đượcnghèo và từng bước đưa đất nước phát triển
Ở Việt Nam, vấn đề xóa đói, giảm nghèo chiếm vị trí quan trọng trongcác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Từ rất sớm, Đảng,Chính Phủ đã rất coi trọng việc xóa đói, giảm nghèo Ngay sau khi Cáchmạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đượcthành lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp thiết, trong đó có nhiệm vụ
“diệt giặc đói” Tuy nhiên, do điều kiện đất nước có chiến tranh, cho nên vấn
đề đói nghèo trong thời kỳ này chưa thực hiện được một cách triệt để bởi vìchúng ta phải tập trung mọi nguồn lực cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lậpthống nhất đất nước
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề xóa đói giảm nghèo càng trở nên hết sứcquan trọng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), chủ trương xóa đói,giảm nghèođược coi là quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiệnmục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Chủtrương này phù hợp với nguyện vọng của nhân dânvà được toàn xã hội ủng hộcho nên chỉ trong thời gian ngắn, công tác xóa đói, giảm nghèo đã trở thànhphong trào sâu rộng ở tất cả các địa phương trong cả nước và đã đem lại kếtquả thiết thực với một bộ phận lớn dân cư xóa được đói, giảm được
Trang 11nghèo.Việt Nam đã được Liên Hiệp Quốc đánh giá là quốc gia có nhiều sángkiến kinh nghiệm và làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo.Xóa đói giảmnghèo là một chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, song thực tếcho thấy mức độ thành công ở từng địa phương không như nhau; ngoài nhữngnguyên nhân khách quan, sự thành công và chưa thành công của công tác lãnhđạo xóa đói giảm nghèo còn phụ thuộc vào sự vận dụng đường lối của Đảng,chính sách của Nhà nước vào thực tế của từng địa phương Vì thế, bên cạnhnhững thành tựu được thế giới công nhận nói trên, ở nước ta vẫn còn một bộphận không nhỏ dân cư, nhất là cư dân ở vùng nông thôn, vùng cao, vùng sâu,vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng miền núi hải đảo vẫn phải chịu cảnhsống đói nghèo, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
Nằm ở phía Bắc tỉnh Thanh Hoá, đến năm 2000, Hà Trung vẫn là mộthuyện nghèo Đời sống của nhân dân trong huyện hết sức khó khăn, năng suấtlao động thấp, tỷ lệ đói nghèo năm 2000 chiếm tỷ lệ 15,7% [8, tr.555] Vìvậy, trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ huyện Hà Trung rất coi trọng nhiệm
vụ lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo, coi đây là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm vừa cấp bách, vừa lâu dài, là một trong những chính sách xã hội
cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ chính sách phát triển kinh tế - xã hội
và là nhiệm vụ công tác thiết thực trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đạihóa của huyện Trong những năm đầu thế kỷ XXI, nhờ được Đảng bộ huyệnquan tâm, thực hiện đồng bộ,công tác xóa đói, giảm nghèo và đã đem lại hiệuquả thiết thực với nhiều kinh nghiệm quý báu Tuy nhiên, việc thực hiệnChương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN ở Hà Trung gặp nhiều hạn chế như
tỉ lệ hộ nghèo còn cao, khoảng cách giàu nghèo giữa các xãvà các nhóm dân
cư chưa được thu hẹp, tiến độ xoá đói, giảm nghèo chậm, kết qủa đạt đượcchưa bền vững… Vì vậy, việc nghiên cứu sự lãnh đạo công tác xoá đói, giảmnghèo của Đảng bộ huyện Hà Trung từ năm 2000 đến năm 2010, đánh giá
Trang 12những ưu điểm, chỉ ra những hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng bộhuyện là việc làm có ý nghĩa thiết thực, nhằm rút ra những kinh nghiệm thựctiễn làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và giải pháp nâng cao hiệu quảlãnh đạo công tác xoá đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện trong giai đoạn tiếptheo.
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Hà Trung,
tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010” làm Luận văn Thạc sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xóa đói giảm nghèo là một vấn đề luôn được các nhà khoa học trong
và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Cho đếnnay đã có rất nhiều công trình khoa học, tác phẩm, bài viết về vấn đề đóinghèo được công bố ở trong và ngoài nước như:
- Thứ nhất, các nghiên cứu lý luận chung về xóa đói, giảm nghèo và thực
trạng công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam từ các học giả và các tổ chức
nước ngoài như: "Poverty in VietNam" (Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam) của A
Report for SIDA, Canbera, April.1995 đã cho thấy những đổi mới hướngtiếp cận phát triển xã hội gần đây của Đảng và Chính phủ Việt Nam, đặc biệt
là vấn đề xóa đói giảm nghèo; Đại học Harvard - Chương trình Châu Á.2007:
"Lựa chọn thành công bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam", đã phân tích những vấn đề tiềm ẩn nguy cơ xung đột xã hội ở Việt Nam
dưới tác động của toàn cầu hóa, của các chính sách phát triển thiếu hợp lý
trong thời gian qua, đặt ra nguy cơ tái nghèo đói; Fong, Monica S, Giới và nghèo ở Việt Nam, tài liệu thảo luận, Ngân hàng thế giới, 1994; Công ty Aduki, Vấn đề nghèo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1996; Grady, Heather; Một thoáng nhìn vào cảnh nghèo ở Việt Nam, ActionAid Việt Nam,
Trang 131993; Báo cáo nghiên cứu của chính sách của Ngân hàng thế giới,Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo, Nhà xuất bản Văn hóa -
thông tin, 2004…
- Thứ hai, các công trình nghiên cứu về đói nghèo của các nhà khoa học trong nước: TS Trần Thị Hằng, Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Thống kê, H, 2001; TS Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001; Vũ Ngọc Phùng, Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn
đề xói đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999; TS Đàm Hữu Đắc - TS Nguyễn Hải Hữu, Những định hướng chiến lược của chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Nxb Lao động
xã hội, H, 2004; Lê Thị Quế, Việt Nam qua hơn một thập niên xóa nghèo, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 12 - 2004; Nguyễn Quốc Dương, Giải pháp dân vận góp phần thúc đẩy thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo,
Tạp chí Dân vận, số 7 - 2003; TS Nguyễn Hải Hữu (cùng tập thể tác giả) Cụcbảo trợ xã hội, Bộ Lao động - thương binh và xã hội, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Luận cứ khoa học xây dựng chiến lược giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2020;
TS.Trần Hữu Trung (cùng tập thể tác giả) Cục bảo trợ xã hội, Bộ Lao động
-thương binh và xã hội, Đề tài khoa học cấp Bộ, Báo cáo nghiên cứu xu hướng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Ngoài
ra còn nhiều bài báo, tạp chí viết về đề tài xóa đói giảm nghèo, như: TS Tạ
Thị Lệ Yên, Nâng cao hiệu quả của hoạt động ngân hàng chính sách xã hội với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, Tạp chí Ngân hàng số 11-2005; TS Đàm Hữu Đắc, Cuộc chiến chống đói nghèo ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp,
Tạp chí Lao động và Xã hội số 272 tháng 10 - 2005
- Thứ ba, các công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương trong cả nước thời kỳ đổi mới: Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói
Trang 14giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 1997; Lê
Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo vùng dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999; Bùi Minh Đạo, Xóa đói giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu
số ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H, 2003; Lê Hải Đường, Xóa đói giảm nghèo, vấn đề và giải pháp ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Nông nghiệp,
H, 2004; Võ Minh Cường, Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang, Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; Đinh Văn Hùng, Ninh Bình phát triển kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo, Tạp chí Cộng sản, số 11 - 2006; Lê
Kỳ Công, Quảng Trị với việc thực hiện cuộc vận động xóa đói giảm nghèo, Tạp chí Dân vận, số 03 - 2006; Lê Như Nhất, Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H, 2007; Trương Nhã Quyên, Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2005, Luận văn thạc sỹ Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2011; Hoàng Thị Ngọc Hà, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến 2010, Luận văn thạc sỹ, 2012…
- Thứ tư, công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Thanh Hóa Trước hết là tác phẩm Công tác xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc tỉnh Thanh Hóa - thực trạng và giải pháp Đây là công trình nghiên cứu khoa
học đề cập đến công tác thực hiện các chính sách của Nhà nước về hỗ trợngười nghèo đối với các dân tộc ít người của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh
Hóa Tiếp đó là các luận văn thạc sĩ của Tào Bằng Huy (1999), Những giải pháp nhằm XĐGN ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001-2010, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội; Đỗ Thế Hạnh (2000), Thực trạng
và giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo ở vùng định canh định cư
Trang 15tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Mai Thị Hà (2012), Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010, Luận
văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN, Đại học quốc gia HàNội Các công trình này đã nghiên cứu về quá trình lãnh đạo công tác xóa đóigiảm nghèo của các Đảng bộ cũng như ở một vài địa phương trong tỉnh, ởmột số giai đoạn nhất định
Có thể nói, các công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở Việt Namrất phong phú và những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp những luận cứkhoa học, thực tiễn cho việc xây dựng, triển khai công tác xóa đói giảm nghèo
và cung cấp nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu về nghèo đói và xóa đói,giảm nghèo Tuy nhiên, chưa có công trình nào đã được công bố nghiên cứutrực tiếp, có hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam về vấn đề Đảng bộ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo công tác
xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010.Những công trình nghiên
cứu nói trên là nguồn tư liệu quý để tác giả tiếp thu, kế thừa trong quá trìnhthực hiện luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộhuyện Hà Trung từ năm 2000 đến năm 2010, đánh giá những ưu điểm và hạnchế, qua đó rút ra một số kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo của Đảng bộhuyện Hà Trung nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xóa đói, giảmnghèo ở địa phương trong thời kỳ mới
3.2.Nhiệm vụ nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày khái quát chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010
Trang 16- Khái quát các nhân tố tác động đến sự lãnh đạo công tác xoá đói giảmnghèo của Đảng bộ huyện Hà Trung từ năm 2000 đến năm 2010, đồng thờinêu bật thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Hà Trung trước năm 2000.
- Làm rõ chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện công tác xóa đói,giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010, trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét,đồng thời đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộhuyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hà Trung, tỉnhThanh Hóa trong công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu về công tác xóa đói giảm nghèo
trên địa bàn huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Hà Trung,
tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giảiquyết các vấn đề xã hội, trực tiếp là xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sốngcho nhân dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử, phươngpháp logic Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích,
Trang 17tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, điền dã, khảo sát thực tiễn,phương pháp chuyên gia Các phương pháp này được sử dụng phù hợp vớiyêu cầu của từng nội dung Luận văn.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy môn Xây dựng Đảng, lịch sử Đảng bộ địa phương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6tiết
Chương 1: Chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện công tác xoá đóigiảm nghèo của Đảng bộ huyện Hà Trung (2000-2005)
Chương 2: Quá trình lãnh đạo đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèocủa Đảng bộ huyện Hà Trung (2005-2010)
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 18Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN HÀ TRUNG
(2000-2005)
1.1 Các nhân tố tác động đến sự lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Hà Trung và thực trạng xóa đói giảm nghèo ở
Hà Trung trước năm 2000
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo
Tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á - Thái BìnhDương do Ủy ban kinh tế - xã hội châu Á và Thái Bình Dương của Liên hợpQuốc (ESCAP) tổ chức vào tháng 9- 1993 đã tập trung bàn về khái niệm, cáctiêu chí đánh giá sự đói nghèo và các giải pháp về XĐGN tại khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương, Hội nghị đã đưa ra khái niệm được nhiều quốc gia chấp
nhận và sử dụng trong những năm qua: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận
dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mànhững nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh
tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương
Từ khái niệm này, người ta chia nghèo đói thành 2 loại: “nghèo tuyệt đối”
và “nghèo tương đối”
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu (ăn, mặc, ở, nhu cầu văn hóa, y tế, giáo dục vàgiao tiếp) để duy trì cuộc sống
Nghèo tương đối: là tình trạng bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương
Khái niệm nghèo tuyệt đối được sử dụng để so sánh mức độ nghèo khổ
Trang 19giữa các quốc gia Trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm quốc gia nghèo làđất nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, nguồn lực hạn hẹp, cơ sở
hạ tầng và môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu vớicộng đồng quốc tế
Trong đấu tranh chống nạn nghèo đói người ta dùng khái niệm “nghèotương đối”
Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính tương đối cả về không gian
và thời gian
Từ định nghĩa của ESCAP, qua nhiều cuộc khảo sát nghiên cứu, cácnhà khoa học và quản lý ở các bộ ngành nước ta đã thống nhất khái niệm vềđói nghèo của Việt Nam là:
“Nghèo”: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn
một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng vớimức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện
“Đói”: là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu, không bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
Khái niệm đói cũng có hai dạng: “Đói kinh niên” và “đói cấp tính”
+ Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời
điểm đang xét
+ Đói cấp tính (đói gay gắt): là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói
đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thờiđiểm đang xét
Xem xét quan niệm nghèo và đói cho thấy: đóilà khái niệm dùng đểphân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư Giữa đói và nghèo cũng
có quan hệ mật thiết với nhau, nó phản ánh cấp độ và mức độ khác nhau,
"nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là một tình trạng hiển nhiên củanghèo"
Trang 20Vùng nghèo, vệt nghèo: Là nơi có tỉ lệ nghèo cao hơn nhiều và mức
sống dân cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước, trong cùngmột thời điểm
Quốc gia nghèo: Là một đất nước có thu nhập trung bình rất thấp,
nguồn lực (tài nguyên) cực kỳ hạn hẹp (về vật chất, lao động, tài chính) cơ sở
hạ thầng môi trường thấp kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu vớicộng đồng quốc tế
Một số khái niệm khác như: Nghèo không gian, nghèo thời gian, nghèomôi trường, nghèo lứa tuổi, nghèo giới tất cả chỉ là xác định rõ hơn đặcđiểm, mức độ, nguyên nhân của các đối tượng nghèo và từ đó sẽ có nhữnggiải pháp thích hợp cho từng đối tượng nghèo khác nhau
Chuẩn nghèo (đường nghèo, ngưỡng nghèo, tiêu chí nghèo): Là công
cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo, đồng thời là công cụ để
đo lường, giám sát nghèo đói Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặcchi tiêu Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thunhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo Những người có mức thu nhậphoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc đã vượt nghèo,thoát nghèo
Chính sách xoá đói, giảm nghèo: Là hệ thống các giải pháp và công
cụ xác định vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội trong việcphân phối hợp lý các hành động của mình để nâng cao mức sống cho ngườidân nghèo, tạo cho họ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằngchính lao động của bản thân
Khái niệm này được thâu tóm một cách cô đọng kinh nghiệm thực tiễngiảm bớt đói nghèo của các nước trong khu vực và trên thế giới, nó có ý nghĩa
tư vấn và chỉ đạo quá trình tìm kiếm con đường và cách thức xoá đói giảmnghèo ở Việt Nam
Trang 21Xoá đói, giảm nghèo bền vững: Là một nội dung của phát triển bền
vững về mặt xã hội Phát triển bền vững về mặt xã hội thể hiện ở mức độ bảođảm dinh dưỡng, chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; mọi người đều
có cơ hội được học hành; giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cáchgiàu nghèo giữa các tầng lớp và các nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội;nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên của
xã hội và giữa các thế hệ của một xã hội; duy trì và phát huy tính đa dạng vàbản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh của đờisống vật chất và tinh thần…
Xoá đói, giảm nghèo bền vững là một hệ thống các giải pháp và công cụđồng bộ xác định rõ vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội giúpngười dân vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo đói mà không làm ảnh hưởng đếnmôi trường xung quanh, không bị nguy cơ tái đói nghèo đe doạ
Trên đây là những khái niệm có tính chất công cụ khi nghiên cứu vềvấn đề xóa đói, giảm nghèo
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Hà Trung là một huyện đồng bằng trung du nằm ở phía bắc tỉnh ThanhHoá, phía Bắc tiếp giáp với TX Bỉm Sơn, TX.Tam Điệp - Ninh Bình; phíaNam giáp huyện Hậu Lộc, huyện Hoằng Hóa; phía Tây giáp huyện Vĩnh Lộc,huyện Thạch Thành; phía Đông giáp huyện Nga Sơn
Hà Trung có diện tích tự nhiên gần 24.450.000ha, trong đó diện tíchrừng khoảng 7.000 ha chiếm gần 30% diện tích tự nhiên
Hà Trung có mạng lưới sông suối phân bổ tương đối dày và đều khắp ởtrong huyện,đường sông có tuyến Sông Lèn, Sông Hoạt, Sông Kênh Nga và 8.5
Km tuyến đường sắt Bắc-Nam
Trang 22Ðịa hình huyện Hà Trung là núi cao, chia cắt phức tạp, có nhiều đồi núibao bọc, chen lẫn với các mảnh bán bình nguyên cổ, giữa chúng là các thunglũng dạng xâm thực, bồi tụ hoặc thung lũng lũ tích thành đồng thấp trũngquanh năm ngập nước bị chia cắt manh mún bởi đại hình núi – song, nằmtrong vùng khí hậu nhiệt đới - gió mùa Người dân xứ Thanh từ lâu vẫn gọiđây là vùng đất trũng “chiêm khê mùa thối”.
Nhiệt độ bình quân năm là 23oC, cao tuyệt đối 41oC, thấp tuyệt đối 6oC,tổng nhiệt hàng năm 8.500 - 8.700oC, biên độ nhiệt giữa các ngày từ 6 - 7oC
Độ ẩm không khí: Bình quân năm từ 85 - 87%, cao nhất 92% vào các tháng1;tháng 2, thấp nhất vào tháng 6; 7
Lượng mưa trung bình năm: 1.700 mm, năm mưa lớn nhất 2800 mm,lượng mưa thấp nhất 1100 mm Lượng mưa phân bố không đều giữa cáctháng trong năm làm ảnh hưởng đến xản xuất nông nghiệp
Hàng năm mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bìnhkhoảng 250 - 270mm/tháng, mưa tập trung ở các tháng 8, 9, 10, có nhữngnăm tháng 9 lượng mưa lớn đạt 700 - 800 mm Mùa khô kéo dài từ tháng 11đến tháng 4 năm sau, hầu hết lượng mưa chỉ đạt 15% tổng lượng mưa hàngnăm, tháng 1 mưa nhỏ nhất có khi chỉ đạt 10 mm Sương mù: Số ngày cósương mù trong năm từ 22 - 26 ngày, thường xuất hiện tập trung vào các tháng
10, 11, 12 làm tăng độ ẩm không khí và đất Những năm rét nhiều, sương muốixuất hiện vào tháng 1 và tháng 2 gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài
nguyên khoáng sản và tài nguyên du lịch
Về tài nguyên đất:Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện 24.450,48 ha,
đang được sử dụng vào các mục đích: Đất nông nghiệp: 15.197,35 ha; Đất phinông nghiệp: 5.747,95 ha; Đất chưa sử dụng: 3.505,18 ha
Trang 23Hà Trung là huyện có diện tích rừng khá lớn, đủ các chủng loại rừng.Tổng diện tích đất lâm nghiệp tính đến 01/01/2009 là: 5.430,78 ha
Trong đó: Đất rừng sản xuất là: 3.436,39 ha.Đất rừng phòng hộ là: 1.701,53ha.Đất rừng đặc dụng (Rừng sến quốc gia) là: 292,86 ha Nguồn tài nguyênrừng có ý nghĩa rất lớn về môi trường và phát triển du lịch sinh thái
Hà Trung có nguồn khoáng sản đa dạng, dễ khai thác và đang có thịtrường tiêu thụ tốt: Quặng Silic, Spilit, quặng sắt làm nguyên vật liệu phụ gia
xi măng, đá ốp lát, đá xây dựng… Nguồn tài nguyên này được phân bố rộng ở
17 xã đó là: Hà Đông, Hà Sơn, Hà Lĩnh, Hà Ngọc, Hà Lâm, Hà Phú, Hà Lai,
Hà Thái, Hà Châu, Hà Vinh, Hà Thanh, Hà Dương, Hà Tân, Hà Tiến, HàBình, Hà Long, Hà Ninh
Hà Trung nằm trong tiểu vùng hạ lưu sông Mã, nguồn nước mặt có 2con sông chính là sông Lèn và sông Hoạt, chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều
và một số hồ, đập chứa nước, đủ khả năng cung cấp nước cho sản xuất và sinhhoạt
Với vị trí địa lý có đường Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam đi qua cáctỉnh đã tạo cho Hà Trung một lợi thế quan trọng trong việc phát triển kinh tế,giao lưu hàng hóa, mở rộng thị trường Đây là điều kiện quan trọng để ngườidân phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập
Có diện tích núi đá rộng lớn, hệ thống sông suối dày đặc là tiềm nănglớn để phát triển hệ thống thủy lợi phục vụ cho phát triển sản xuất
Nguồn nhân lực rẻ, dồi dào, cần cù chịu khó trong lao động, sản xuất,giá nhân công thấp
Những thuận lợi trên đã tạo điều kiện cho Hà Trung tiềm năng lớn đểđẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần tíchcực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện nếu như có nhữngchính sách phù hợp
Trang 24Bên cạnh những thuận lợi nói trên, điều kiện tự nhiên có những tácđộng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của Hà Trung.
Hà Trung có địa hình phức tạp, một vùng nhiều đồi núi bao bọc, chenlẫn với các mảnh bán bình nguyên cổ, giữa chúng là các thung lũng dạng xâmthực, bồi tụ hoặc thung lũng lũ tích thành đồng thấp trũng quanh năm ngậpnước bị chia cắt manh mún bởi địa hình núi – sông.Người dân xứ Thanh từlâu vẫn gọi đây là vùng đất trũng “chiêm khê mùa thối”.Khí hậu Hà Trung hếtsức khắc nghiệt, mùa mưa thì ngập úng, mùa khô thì thiếu nước nghiêmtrọng, mùa hè có thì đợt mưa kéo dài gây lũ quét, sạt lở…ảnh hưởng xấu đếnsản xuất và đời sống của nhân dân Nhân dân rất dễ bị rơi vào tình trạngnghèo đói khi gặp phải những điều kiện rủi ro này
1.1.2.2 Đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội
Về lịch sử, huyện Hà Trung được hình thành từ rất sớm, là một trong
những cái nôi của dân tộc Việt Nam: Thời thuộc Hán, là miền đất thuộchuyện Dư Phát Thời Tam Quốc - Lưỡng Tấn - Nam Bắc triều, là miền đấtthuộc huyện Kiến Sơ Thời Tuỳ - Ðường, là miền đất thuộc huyện Nhật Nam
và một phần thuộc huyện Sùng Bình Thời Trần - Hồ, huyện Hà Trung thuộcchâu Ái, trấn Thanh Ðô; phần đất phía Bắc huyện Hà Trung ngày nay nằmtrong huyện Tống Giang Thời thuộc Minh, là phần đất chủ yếu của huyệnTống Giang Thời Lê, đổi Tống Giang thành Tống Sơn và đặt phủ Hà Trunggồm 4 huyện : Tống Sơn, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Nga Sơn Trong đó, huyệnTống Sơn là huyện Hà Trung ngày nay Thời Nguyễn, huyện Tống Sơn dophủ Hà Trung kiêm lý Tống Sơn là đất xuất tích của triều Nguyễn Năm GiaLong thứ 3, Tống Sơn được gọi là quý huyện, Gia Miêu được gọi là quýhương Về sau, huyện Tống Sơn được đổi thành phủ Hà Trung
Sau năm 1945, phủ Hà Trung được đổi thành huyện Hà Trung Năm
1977, sáp nhập hai huyện Hà Trung và Nga Sơn thành huyện Trung Sơn
Trang 25Năm 1982, lại tách thành hai huyện như trước đây và lấy lại tên huyện HàTrung, tách một phần đất của huyện để thành lập thị xã Bỉm Sơn, trực thuộctỉnh.Từ năm 1982huyện Hà Trung có 25 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 24
xã và 01 thị trấn, trong đó có 6 xã miền núi
Hà Trung là một vùng đất địa linh nhân kiệt, là quê hương bản quáncủa các Chúa Nguyễn và các vương triều Nguyễn Trải qua các thời kỳ lịch
sử, người dân Hà Trung luôn đoàn kết, gắn bó, cần cù lao động, anh dũng đấutranh, bám đất, bám làng xây dựng và bảo vệ quê hương
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Hà Trung là một trong 5 huyệnđầu tiên của tỉnh Thanh Hoá có chi bộ Đảng Cộng sản vào năm 1930 TrongCách mạng giải phóng dân tộc, mặc dù tổ chức đảng còn non trẻ, song, chi bộđảng Hà Trung đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền thắng lợi ngay trongngày 19/8/1945
Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống ngoại xâm của dân tộc(1945-1975), Đảng bộ và nhân dân đã đóng góp nhiều sức người và sức củanhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Trong thời kỳ cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới đất nước,Đảng bộ và nhân dân Hà Trung đã vượt lên những khó khăn, thách thức, liêntục đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tạo vị thế vàdiện mạo mới cho Hà Trung ngày càng khởi sắc
Trong thành tựu chung đó, Đảng bộ Hà Trung ngày càng lớn mạnh.Tính đến tháng 6/2000, toàn Đảng bộ có 53 tổ chức cơ sở đảng, với tổng số6.485 đảng viên [8, tr.619] Đảng bộ Hà Trung thực sự là hạt nhân lãnh đạocác cấp chính quyền, đoàn thể và nhân dân trong huyện
Về kinh tế, trước đổi mới, kinh tế Hà Trung chủ yếu là nông – lâm
nghiệp, sản xuất hàng hóa nhỏ, nhiều vùng còn sản xuất độc canh, tự cấp tự
Trang 26túc, kinh tế chậm phát triển Từ khi đổi mới đến năm 2000 kinh tế Hà Trung đã
có sự chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng (GDP) từ 246 tỷ đồng năm
1995 tăng lên 186,8 tỷ đồng năm 2000 Tốc độ tăng bình quân 6% năm Cơcấu kinh tế trong GDP : Nông, lâm nghiệp năm 1995 bằng 53,7%, đến năm
2000 bằng 49,53% Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp năm 1995 bằng 14,7%,đến năm 2000 bằng 15,6% Dịch vụ năm 1995 bằng 31,59%, năm 2000 là34,87% Thu nhập bình quân đầu người năm 1995 bằng 167 USD, năm 2000tăng lên 198 USD
Về sản xuất nông, lâm nghiệp: tổng sản lượng lương thực năm 2000 đạttrên 52.000 tấn; Bình quân lương thực đầu người từ 363 kg năm 1995 tăng lên
450 kg năm 2000 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm là 6% Trong 5năm đã trồng mới được 1.790 ha rừng
Về sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-dịch vụ thương mại: Tốc
độ tăng trưởng bình quân đối với công nghiệp và xây dựng là 6,7%; dịch vụ là7,5% Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bướcđầu đời sống nhân dân đã có thay đổi rõ rệt: 95% số hộ đã dùng điện sản xuất
và tiêu dùng; có 80-100% các khâu làm đất, vận tải, vò lúa, xay xát, tưới tiêu,sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến gỗ…đã được cơ giới hóa, điện khí hóa;giao thông nông thôn ngày càng phát triển
Trong 5 năm (1996-2000) các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện đã
có bước phát triển tích cực Tổng giá trị (GDP) từ 264 tỷ đồng năm 1995 tănglên 186,8 tỷ đồng năm 2000 Tốc độ tăng bình quân 6% năm Cơ cấu kinh tếtrong GDP: Nông nghiệp, lâm nghiệp đạt năm 1995 bằng 53,7%, năm 2000bằng 49,53%; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1995 bằng 14,7%, năm
2000 bằng 15,6%; Dịch vụ năm 1995 bằng 31,59%, năm 2000 bằng 34,87%.Thu nhập bình quân đầu người năm 1995 bằng 167 USD, năm 2000 bằng198USD, có thể nói sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
Trang 27nông thôn bước đầu đời sống nhân dân đã có thay đổi rõ rệt: 95% số hộ đãdùng điện sản xuất và tiêu dùng; có 80-100% các khâu làm đất, vận tải, vòlúa, xay xát, nghiền thức ăn gia súc, tưới tiêu, sản xuất vật liệu xây dựng, chếbiến gỗ… đã được cơ giới hóa; giao thông nông thôn ngày càng phát triển.
Trong 5 năm (1996-2000) Đảng bộ và nhân dân huyện Hà Trung đãphát huy tốt nội lực, tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài đã đầu tư xây dựng
cơ bản hàng năm tăng 14,7% Cụ thể, năm 1995 đầu tư xây dựng cư bản16.287 tỷ đồng, năm 1999 tăng lên 28 tỷ đồng; trong đó, đầu tư phát triểnthủy lợi 25%, giao thông 5%, phúc lợi công cộng 40,8% Trong giai đoạn này
đã kiên cố hóa kênh mương gần 100 km, nhựa hóa 60/115 km đường giaothông; 21/25 xã xây dựng được trạm bưu điện văn hóa xã; 100% xã có điệnthoại với 850 máy; nâng cấp hệ thống điện phục vụ sản xuất và đời sống
Về giao thông vận tải, Hà Trung có quốc lộ 1A, quốc lộ 217; tỉnh lộ
522, tỉnh lộ 523, tỉnh lộ 508, tỉnh lộ 527c, tỉnh lộ 522b đi qua; khoảng gần10Km đường liên xã trong huyện; đường sông có tuyến Sông Lèn, Sông Hoạt,Sông Kênh Nga và 8.5 Km tuyến đường sắt Bắc-Nam thuận lợi cho việc giaothông, đi lại của người dân và phát triển kinh tế
Mạng lưới bưu chính viễn thông: Số lượng bưu cục và dịch vụ là 02
bưu cục và 25 điểm bưu điện văn hóa xã; số máy điện thoại là đưa tổng số lên33.000 máy, bình quân đạt 26,5 máy/100 dân
Mạng lưới điện: có 25 xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ có điện là
100%, trong đó tỷ lệ hộ có điện lưới quốc gia là 100%
Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Hệ thống cấp nước sạch sinh hoạt với
tổng số vốn đầu tư ban đầu là 12,9 tỷ đồng, công suất 2.000m2/ngày đêm hiệntại phục vụ cho 1.500 hộ dân trên địa bàn thị trấn
Về văn hóa - xã hội
Trang 28Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, huyện Hà Trung có tổng số nhân
hộ khẩu có 32.159 hộ (gần 11.000 vạn dân); nhân khẩu là người dân tộcMường có 389 hộ bằng 1.695 nhân khẩu; các dân tộc khác có 13 nhân khẩu(chuyển từ nơi khác về); Hộ theo Đạo Thiên Chúa là 1.642 hộ (6.859 nhânkhẩu); một số xã có vị trí ở xa trung tâm như xã Hà Long, Hà Lĩnh, Hà Vinh,nhất là khu vực xã Hà Long một số thôn chủ yếu nhân khẩu là dân tộcMường, có trình độ văn hóa thấp, sống tập trung ở khu vực rừng núi, cònmang nặng phong tục tập quán, nên công tác tuyên truyền pháp luật gặp nhiềukhó khăn
Hà Trung có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, văn hoá lịch sử phongphú: quần thể lăng miếu triều Nguyễn, Ly cung nhà Hồ, đền Trần Hưng Đạo,đền Lý Thường Kiệt, chùa Long Cảm, chùa Ban Phúc, đền Hàn Sơn, Địabàn huyện có 06 chùa, 04 nhà thờ Đạo Thiên Chúa Những di tích đó khôngchỉ góp phần làm đẹp cho vùng đất Hà Trung, mà còn là tiềm năng phát triển
du lịch - văn hoálà nơi thuận lợi cho phát triển du lịch
Năm 2000, toàn huyện có 60% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa, có30/147 làng đăng ký xây dựng làng văn hóa, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụcác hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao phát triển khá từ xã, thị trấnđến thôn làng; Hệ thống truyền thanh được mở rộng; có 10/25 xã có hệ thốngtruyền thanh; 80% số thôn làng có hệ thống phóng thanh; 60% hộ có ti vi,24/25 xã có nhà bưu điện văn hóa xã
Giữ vững phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS Chấtlượng dạy và học không ngừng được nâng cao Số học sinh đậu đại học, caođẳng là 1259 em, tăng 452 em so với năm học trước Có 322 học sinh đạt loạigiỏi cấp tỉnh, tăng 57 em so với năm học trước Giáo viên đạt trình độ chuẩn ởcác bậc cao hơn bình quân chung của tỉnh: Mầm non đạt 100%, tiểu học đạt100%, THCS đạt 98,4% (tỷ lệ bình quân cả tỉnh tương ứng là: 99 - 98,75 -
Trang 2996,81) Công tác dạy nghề ngày càng được quan tâm hơn Cơ sở vật chất, trangthiết bị dạy học được tăng cường, tỷ lệ phòng học kiên cố, bán kiên cố chiếm83%, đạt 100% KH; có 5 trường được công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia,đưa tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 37 trường, chiếm 46% tổng sốtrường trong huyện
Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên, đã khám, điều trị cho162.185 lượt người, đạt 111% KH và tăng 10,5% so với năm 2007 Khởi côngxây dựng nhà khám chữa bệnh chất lượng cao, nhà kỹ thuật hồi sức, cấpcứu Hoạt động y dược tư nhân được quản lý, thực hiện đúng pháp luật.Tiếptục giữ vững và nâng cao chất lượng xã chuẩn Quốc gia về y tế Trang thiết
bị các trạm y tế xã được tăng cường.Có 187/202 thôn có y tế thôn, 1 số xãhiện nay chưa đủ cán bộ y tế thôn (Hà Phú, Hà Lâm, Hà Vinh…) Công táctruyền thông dân số và KHHGĐ được chú trọng, tỷ lệ sinh con ngoài kếhoạch giảm 0,5%, xuống còn 9,5%
Mặc dù đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân ngày càng được nângcao so với trước đây, song, khoảng cách về mức sống giữa các vùng, miền;giữa nông thôn với thành thị khá xa; trình độ dân trí giữa các xã trong huyệnchưa đồng đều; các dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao chưa có
Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của Hà Trung vừa cónhững thuận lợi, vừa có những khó khăn ảnh hưởng tới sự lãnh đạo công tácxóa đói, giảm nghèo của huyện
Về thuận lợi, do vị trí địa lý có quốc lộ 1A, 217, đường sắt Bắc – Nam
đi qua đã tạo cho Hà Trung một lợi thế quan trong trong việc phát triển kinh
tế, giao lưu trao đổi hàng hóa, mở rộng thị trường trong và ngoài huyện Đây
là điều kiện quan trọng để người dân phát triển sản xuất hàng hóa, nâng caothu nhập
Trang 30Hệ thống di tích, danh lam thắng cảnh dày đặc lợi thế cho phát triển dulịch sinh thái, tâm linh, du lịch cộng đồng.
Nhiều hệ thống sông ngòi là tiềm năng về thủy lợi để phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội của huyện Nguồn lực trẻ, dồi dào, con người cần cù chịu khótrong lao động sản xuất, giá nhân công thấp
Những thuận lợi trên đã tạo cho Hà Trung tiềm năng lớn để đẩy mạnhphát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần tích cực vàocông tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện nếu như có những chính sáchphù hợp
Bên cạnh những thuận lợi nói trên, những tác động tiêu cực của yếu tố
tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với công tác XĐGN ở Hà Trung không nhỏ:
Diện tích 2/3 là đồi núi, khí hậu khắc nghiệt, mùa khô thường thiếunước nghiêm trọng còn mưa hè lại có những đợt mưa kéo dài gây lũ lụt, sạtlở…ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân Nhân dân rất dễ bịrơi vào tình trạng nghèo đói thiếu ăn khi gặp phải những điều kiện rủi ro này
Kết cấu hạ tầng thấp kém, mạng lưới giao thông, điện nước, thông tinliên lạc còn thiếu, chưa đồng bộ nên mức độ tiếp cận dịch vụ công cộng củanhân dân, các hộ nghèo ở miền núi, dân tộc, vùng xa so với người dân ở thịtrấn, miền xuôi khoảng cách ngày càng xa
Cơ cấu dân số phân bố không đồng đều, chủ yếu sống ở nông thôn,miền núi và làm nông nghiệp là chủ yếu, điều kiện sống còn khó khăn, phongtục tập quán lạc hậu gây cản trở cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội, làmchậm quá trình XĐGN của Đảng bộ và nhân dân Hà Trung
Những khó khăn này là bài toán đặt ra cho Đảng huyện Hà Trung trongnhững giai đoạn tiếp theo: làm thế nào để thực hiện có hiệu quả công tác xóađói giảm nghèogóp phần đưa Hà Trung trở thành huyện giàu mạnh [8, tr.564]
Trang 311.1.3 Thực trạng xóa đói giảm nghèo của huyện Hà Trung trước năm 2000
Đến trước năm 2000, Hà Trung vẫn là một huyện nghèo vì vậy trongquá trình lãnh đạo, Đảng bộ huyện Hà Trung rất coi trọng nhiệm vụ lãnh đạoxóa đói, giảm nghèo, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm củachiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài,
là một trong những chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộchính sách phát triển kinh tế - xã hội và là nhiệm vụ công tác thiết thực trongquá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của huyện
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Hà Trung lần thứ XVII (nhiệm kỳ1996-2000) đã xác định bằng mọi cách phải đưa huyện Hà Trung thoát khỏinguy cơ tụt hậu về kinh tế và đặt nền móng cho bước phát triển mở đầu củaquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với tinh thần đó, toàn huyện phảitranh thủ thời cơ, điều kiện thuận lợi để khai thác và phát huy các lợi thế củađịa phương, đẩy lùi khó khăn, vượt lên thử thách để thực hiện thắng lợi kếhoạch 5 năm 1996-2000 là: Phát huy tối đa những thành tựu đã đạt được, khaithác và vận dụng tốt nhất các nguồn lực để đạt tới tốc độ phát triển kinh tế caohơn, bảo đảm ổn định vững chắc về kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng, nângcao đời sống nhân dân và chuẩn bị vào giai đoạn mới sau năm 2000
Nghị quyết Đại hội xác định: trong thời gian tới phải tạo được tốc độphát triển kinh tế cao, trên cơ sở tích lũy từ nội bộ nền kinh tế và đảm bảocông bằng xã hội Trước mắt tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện, giảiquyết những vấn đề lương thực, tạo sự ổn định cho quá trình phát triển.Đồngthời, phải tăng nhanh các sản phẩm khác, nâng cao đời sống nhân dân
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Hà Trung lần thứ XVII được triểnkhai đồng bộ, có hiệu quả đã tổ chức động viên được toàn thể cán bộ, đảng
Trang 32viên và nhân dân trong huyện nỗ lực phấn đấu và đạt được những kết quảquan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
Các chính sách, giải pháp giảm nghèo đã được triển khai thực hiện và
đi vào cuộc sống người dân đến từng hộ gia đình, hạn chế đói nghèo, mở ra
cơ hội cho hàng ngàn người nghèo có vốn sản xuất, có việc làm để tăng thunhập, từng bước cải thiện đời sống, vật chất cũng như tinh thần góp phần vào
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện Các chính sách an sinh xã hộiđược nâng lên, Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em được chú trọng và đạt kếtquả tốt, là huyện dẫn đầu trong tỉnh về các phong trào: xây dựng xã phù hợpvới trẻ em, xã chuẩn quốc gia về y tế, trường chuẩn quốc gia Chương trìnhgiảm nghèo đã khơi dậy và phát huy được truyền thống tốt đẹp của nhân dân,được nhân dân hưởng ứng một cách mạnh mẽ và mang tính xã hội hoá cao
Công tác xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm của huyện HàTrung đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội Từ năm 1996 đến năm 2000, toàn huyện có 34 dự án vay vốn và đãgiải quyết việc làm cho 1.500 lao động góp phần XĐGN Tỷ lệ hộ nghèogiảm nhanh Số hộ đói, nghèo năm 1996 ở Hà Trung chiếm tỷ lệ 26% Đếnnăm 2000 giảm xuống còn 15,7% [8, tr.555] Các chính sách hỗ trợ ngườinghèo được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng mục tiêu, đúng đối tượng.Qua đó củng cố được lòng tin của nhân dân trong huyện đối với Đảng và Nhànước
Mặc dù đã đạt được những thành công nhất định, song, công tác xóađói giảm nghèo của huyện trước năm 2000 còn nhiều bất cập cần được giảiquyết:
- Công tác lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hà Trung còn chung chung,công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chưa thường xuyên… các văn bản chỉ
Trang 33đạo chưa đồng bộ, việc đề ra một số chỉ tiêu, giải pháp xóa đói giảm nghèochưa cụ thể, thiết thực
- Ở một số xã, cấp ủy đảng và chính quyền đôi khi lúng túng, thiếu chủđộng trong việc xây dựng và thực hiện chương trình Đội ngũ cán bộ làmcông tác xóa đói giảm nghèo thiếu, đa phần là cán bộ kiêm nhiệm, trình độchuyên môn còn yếu, vì vậy đã tác động phần nào đến kết quả của công tácxóa đói giảm nghèo của địa phương
- Tỷ lệ đói nghèo của huyện đã giảm so với trước, song, còn rất cao sovới các địa phương trong tỉnh Số hộ đói, nghèo năm 1996 chiếm tỷ lệ 26%(tổng số hộ đói, nghèo toàn tỉnh Thanh Hóa là 176.451 hộ, chiếm 23,77%);năm 2000 chiếm tỷ lệ 15,7% (của tỉnh Thanh Hóa tổng số hộ đói nghèo là105.776 hộ, chiếm 13,72%); so với các huyện Vĩnh Lộc có 3.358 hộ, chiếm tỷ
lệ 16,20%; huyện Thiệu Hóa có 6.538 hộ chiếm tỷ lệ 14,34%, huyện YênĐịnh có 6.174 hộ chiếm 15,83% [70, 15]
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng chưa đảm bảo tính bền vững, chưa có sựđồng đều giữa các khu vực, nguy cơ tái nghèo cao tập trung chủ yếu ở các xã,thôn đặc biệt khó khăn, xã miền núi và những khu vực thường xuyên xảy rathiên tai lũ lụt Việc nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả,
mô hình điểm còn nhiều hạn chế
- Một bộ phận hộ nghèo chưa có quyết tâm cao để vượt qua đói nghèo,nhiều hộ có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp của nhà nước, hoặc thiếukiến thức làm ăn…
Những khó khăn, bất cập nói trên là bài toán đặt ra cấp bách đối vớiĐảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện Hà Trung trong giai đoạn tiếp theo
1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về xóa đói giảm nghèo
1.2.1.Chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo
Trang 34Trước đổi mới, với cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, mặc dùthu nhập và đời sống của các tầng lớp dân cư phần nào được cải thiện, nhưngvẫn có hơn 70% dân số nghèo Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, kinh tếnước ta tăng trưởng nhanh, đời sống đại bộ phận nhân dân đã được nâng lênmột cách rõ rệt XĐGN từ phong trào (giai đoạn 1990-1997) đến năm 1998 đãtrở thành một chương trình mục tiêu quốc gia Qua 7 năm thực hiện phongtrào và 10 năm thực hiện chương trình XĐGN, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảmđáng kể, bình quân mỗi năm giảm 2% Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏdân cư, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn đang chịu cảnhđói nghèo, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống.
Trên cơ sở xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xãhội, và khẳng định nghèo đói ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định chính trị, kinh
tế, xã hội và môi trường, Đảng và Nhà nước coi xóa đói giảm nghèo là mộtchủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xãhội
Sau 10 năm tiến hành đổi mới, tháng 6/1996 Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII của Đảng rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnhđạo công cuộc đổi mới Trong công tác xóa đói giảm nghèo, Báo cáo chính trịtại Đại hội đã khẳng định: “Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cảithiện Số hộ có thu nhập bình quân và hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm…”,
“phong trào xóa đói giảm nghèo, các hoạt động từ thiện ngày càng mở rộng,đang trở thành nét đẹp mới trong xã hội ta…” Bên cạnh đó, Đại hội cũng chỉ
ra một số khuyết điểm: “Sự phân hóa giữa giàu nghèo giữa các vùng, giữathành thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh Đời sống một
bộ phận nhân dân nhất là ở một số vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ,vùng đồng bào dân tộc, còn quá khó khăn…” [36,64-65]
Trang 35Để khắc phục những hạn chế trên, trong giai đoạn 1996 – 2000 Đại hộiVIII chủ trương: “Xóa đói, tiếp tục giảm nghèo Cải thiện điều kiện ăn, ở, họchành, chữa bệnh, đi lại, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa nhân dân, các vùngnông thôn, miền núi”[36, tr.83] “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi vớitích cực xóa đói giảm nghèo Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển,
về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư”[36, tr.114].Nhiệm vụ trước mắt trong công tác xóa đói giảm nghèo được Đại hội VIII chỉ
rõ: “Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với các vùng
căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Xây dựng và phát triểnquỹ xóa đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lýchặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả”[36, tr 115] Xóa đói giảmnghèo được Đảng, Chính phủ xác định là 1 trong 11 chương trình và lĩnh vựcphát triển, với mục tiêu là: “Giảm tỷ lệ nghèo đói trong tổng số hộ của cảnước từ 20 – 25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quângiảm 300.000 hộ/năm Trong 2 - 3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trungxóa về cơ bản nạn đói kinh niên”[36, tr.222]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Đảng và Chính Phủ đã từng bước
ra các Chỉ thị, Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng Ngày29/11/1997, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 23/CT-TW về việc Lãnh đạo thựchiện công tác xóa đói giảm nghèo Chỉ thị đưa ra 6 giải pháp chỉ đạo: chínhsách ruộng đất đối với nông dân đặc biệt là hộ nông dân nghèo; phát độngphong trào tiết kiệm tập trung nguồn lực vào công tác xóa đói giảm nghèo; đề
ra cơ chế, chính sách khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống ởnông thôn, hỗ trợ nông dân sản xuất; tăng cường hoạt động của thương nghiệpquốc doanh và kinh tế hợp tác xã ở nông thôn; thực hiện miễn giảm về y tế,giáo dục cho con em và cho các hộ nghèo…
Trang 36Ngày 23/7/1998, Chính phủ ra Quyết định số 133/QĐ-TTg phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2000
(gọi tắt là Chương trình 133) Chương trình 133 chỉ rõ: Nhà nước và các cấp
Bộ ngành sẽ tiến hành hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho xã nghèo; giải quyếtđất canh tác, định cư, di dân vào vùng kinh tế mới; hỗ trợ đồng bào đặc biệtkhó khăn; hỗ trợ sản xuất phát triển ngành nghề; hỗ trợ người nghèo tronggiáo dục và đào tạo; hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo kết hợp vớikhuyến nông, khuyến ngư; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo;tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo
Tiếp đó, ngày 31/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
135/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135)
nêu rõ: mục tiêu của giai đoạn từ năm 1998 – 2000 về cơ bản không còn các
hộ đói kinh niên, mỗi năm giảm được 4 – 5% hộ nghèo; bước đầu cung cấpcho đồng bào có nước sinh hoạt, thu hút phần lớn trẻ em trong độ tuổi đếntrường; kiểm soát được một số bệnh hiểm nghèo, có đường giao thông dânsinh đến các trung tâm cụm xã, phần lớn đồng bào được hưởng thụ văn hóathông tin Chương trình 135 có đóng góp rất quan trọng vào việc nâng cao đờisống vật chất, tinh thần cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện thuậnlợi để các vùng này từng bước thoát khỏi tình trạng đói, nghèo, lạc hậu, chậmphát triển, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc phòng Đểđạt được mục tiêu đó, trước hết phải thực hiện 5 nhiệm vụ chủ yếu là: Quyhoạch dân cư; phát triển sản xuất; xây dựng trung tâm cụm xã; xây dựng cơ
sở hạ tầng thiết yếu; đào tạo cán bộ
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tổng kếtkinh nghiệm 5 năm tiến hành thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo theo
Trang 37Nghị quyết Đại hội VIII.Về nhiệm vụ XĐGN, Báo cáo chính trị của BanChấp hành Trung ương khóa VIII trình Đại hội IX của Đảng nêu rõ:
Thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo thông quanhững biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương,sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộnghèo Tiếp tục tăng tổng nguồn vốn xoá đói, giảm nghèo,
mở rộng các hình thức tín dụng trợ giúp người nghèo sảnxuất, kinh doanh Có chính sách trợ giá nông sản, phát triểnviệc làm và nghề phụ nhằm tăng thu nhập của các hộ nôngdân Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộcsống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã hội đốivới người lao động thuộc các thành phần kinh tế, cứu trợ xãhội những người gặp rủi ro, bất hạnh [37, tr.106]
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 được Đại hội
thông qua, công tác XĐGN của Đảng được xác định bằng những nhiệm vụnhư sau:
Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng cườngđầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đạonghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡtiêu thị sản phẩm đối với những vùng nghèo, xã nghèo vànhóm dân cư nghèo Chủ động di dời một bộ phận nhân dânkhông có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ởnhững vùng còn tiềm năng Nhà nước tạo môi trường thuậnlợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chínhđáng và giúp đỡ người nghèo Thực hiện trợ cấp xã hội đốivới những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự laođộng, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng
Trang 38Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo,Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói, giảm nghèo [37,tr.211-212].
Đại hội đề ra Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 Trong phần định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội,
công tác XĐNG được xác định cụ thể như sau:
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng
nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trụcgiao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với các trung tâm củanhững vùng khác, nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho vùngnghèo vùng khó khăn để phát triển Đi đôi với việc xây dựngkết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo ra nguồn lực cầnthiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sảnxuất, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập Phấn đấu đến năm
2005 về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn khoảng 10% số hộthuộc diện nghèo [37, tr.299]
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu trên, Đảng, Chính phủ phảithường xuyên quan tâm, đề ra những định hướng, giải pháp cụ thể để pháttriển kinh tế - xã hội Đồng thời, cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả chươngtrình xóa đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng cho các khu vực, xãnghèo tạo điều kiện cho khu vực khó khăn phát triển; coi trọng việc tạo nguồnlực cần thiết cho dân cư các khu vực, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển
đa dạng các ngành nghề để nhanh chóng thoát nghèo
Thực hiện chủ trương nghị quyết Đại hội IX về xóa đói giảm nghèo,Chính phủ và các Bộ, Ban, Ngành đã có nhiều quyết định, thông tư, hướngdẫn, tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo (giai đoạn 2001 – 2005)
Trang 39với một số văn bản quan trọng như: Quyết định 71/QĐ-TTg ngày 4/5/2001của Thủ tướng Chính phủ về các chương trình mục tiêu quốc gia; Quyết định
số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệtChương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 –2005; Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 15/01/2002 của Thủ tướngChính phủ về khám, chữa bệnh cho người nghèo; Thông tư liên tịch số14/2002TTLT/BYT-BTC ngày 16/12/2002 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướngdẫn tổ chức khám, chữa và lập, quản lý, sử dụng, thanh, quyết toán quỹ khám,chữa bệnh cho người nghèo;…
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc (tháng 3-2003) đã đề ra mục tiêu đến năm 2020,
trong đó chỉ rõ: “Phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sốngđồng bào dân tộc Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản khôngcòn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng cách chênhlệch mức sống giữa các dân tộc, các vùng; trên 90% hộ dân có đủ điện, nướcsinh hoạt; xóa tình trạng nhà tạm, nhà dột nát; 100% số xã có đường ô tô đếntrung tâm xã; cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn; hoàn thành cơ bản côngtác định canh, định cư; chấm dứt tình trạng di cư tự do; giải quyết cơ bản vấn
đề đất sản xuất cho nông dân thiếu đất; ngăn chặn tình trạng suy thoái môitrường sinh thái” [38; tr.22]
Những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vềcông tác xóa đói giảm nghèo chính là cơ sở lý luận quan trọng để các địaphương trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mình mà đề ra chủtrương biện pháp XĐGN phù hợp
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về xóa đói giảm nghèo
Trang 40Thanh Hoá là một tỉnh đông dân, có hơn 3,7 triệu người, với 27 huyện,thị xã, thành phố, 634 xã, phường thị trấn; có 11 huyện với 197 xã miền núi
và hơn 1 triệu dân
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đóigiảm nghèo, Thanh Hóa tập trung lãnh đạo về công tác xóa đói, giảm nghèođạt được những kết quả quan trọng, tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể, từ 27,3%cuối năm 1993 đến năm 1996 còn 23,77%, đến năm 2000 giảm xuống còn13,72% (theo chuẩn cũ)
Nhận thức đúng đắn chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác xoáđói giảm nghèo và tầm quan trọng của việc “đầu tư cho xoá đói giảm nghèo làđầu tư cho phát triển”, Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh Nghị quyết lãnh đạo thực hiệnchương trình xoá đói giảm nghèo với mục tiêu mỗi năm giảm 3% tỷ lệ hộnghèo; Ban thường vụ Tỉnh uỷ ra Chỉ thị số 08-CT/TU về cuộc vận động toàndân hỗ trợ, năm 2002, giúp đỡ hộ nghèo chưa có nhà ở, đang ở tạm bợ, dộtnát và ổn định đời sống đồng bào sinh sống trên sông và Thông báo số235/TB-TU về việc phân công các sở ban ngành cấp tỉnh, tổ chức đoàn thểtheo dõi giúp đỡ các bản Mông ổn định cuộc sống UBND tỉnh đã ban hànhchiến lược xoá đói giảm nghèo của Thanh Hoá thời kỳ 2001 - 2010 và quyếtđịnh thành lập Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo các cấp từ tỉnh đến xã,phường, thị trấn
Chỉ thị số 08-CT/TU nêu rõ chủ trương của Tỉnh ủy Thanh Hóa vềcông tác xóa đói, giảm nghèo như sau:
Công cuộc XĐGN là trách nhiệm của mọi người, của toàn xã hội, trướchết là trong người nghèo, giải quyết đói nghèo phải coi trọng hiệu quả và pháttriển bền vững
Gắn công tác XĐGN với giải quyết mối quan hệ: Giữa phát triển kinh
tế với các nhân tố xã hội; giữa chính sách kinh tế với các chính sách xã hội