1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

148 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 9,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 1.1. Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu 1.1.1. Lý do lựa chọn đề tài Trong suốt thập kỷ vừa qua, thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã có những bước tiến dài và hoạt động như một kênh huy động vốn tập trung và dài hạn cho sự phát triển kinh tế của cả nước. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam cả về quy mô lẫn số lượng các công ty niêm yết, nhận thức về vai trò của quản trị công ty cũng được nâng cao và thu hút được nhiều sự quan tâm của cộng đồng các công ty niêm yết, các nhà đầu tư và các nhà xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Sự phát triển quy mô của các công ty kéo theo sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty một mặt tạo ra tác động tích cực trong việc huy động các nguồn vốn trong xã hội để phát triển hoạt động kinh doanh trong các công ty này, nhưng mặt khác lại gây ra mâu thuẫn về lợi ích của cổ đông và người quản lý, về lâu dài những xung đột lợi ích này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Các sáng kiến trong hoạt động quản lý công ty nhằm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa cổ đông và người quản lý, nâng cao hiệu quả tài chính của công ty đã hình thành nên cơ chế quản trị công ty. Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong công ty, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát quá trình phát triển của công ty. Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị công ty, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho công ty và nền kinh tế (Nguyễn Trường Sơn, 2010). Như vậy, quản trị công ty hiệu quả được xem là một trong những biện pháp nhằm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa cổ đông và người quản lý, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của công ty nói chung, hiệu quả tài chính của công ty nói riêng. Chính vì thế, cần thiết phải có một nghiên cứu thực nghiệm về mức độ tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty, từ đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính. Trong các công ty đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay thì các công ty niêm yết là các công ty có quy mô vốn lớn, trong đó nhóm các công ty phi tài chính niêm yết chiếm đa số trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh đó, do đặc thù hoạt động kinh doanh khác nhau giữa nhóm các công ty phi tài chính và nhóm các công ty tài chính, nên việc áp dụng quản trị công ty giữa hai nhóm này là khác nhau. Ngoài ra, đối với nhóm các công ty tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại thì việc áp dụng quản trị công ty ngoài các quy định theo luật doanh nghiệp 2014, Luật Chứng khoán, Thông tư 121/2012/TT-BTC, thì còn được quy định thêm trong Luật các Tổ chức tín dụng, Thông tư 06/2010/TT-NHNN, và ngoài bộ nguyên tắc về quản trị công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thì các ngân hàng thương mại còn có thể áp dụng bộ nguyên tắc quản trị công ty riêng do Uỷ ban Basel cung cấp. Trong khi đó, đối với nhóm các công ty phi tài chính các quy định về quản trị công ty còn hạn chế. Do đó, cần khảo sát thực tế về mối liên hệ giữa quản trị công ty với hiệu quả tài chính ở các công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để giúp cho công ty và các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn thực tế hơn, từ đó giúp cho việc áp dụng, xây dựng, và ban hành các quy định về quản trị công ty một cách có hiệu quả. Xuất phát từ những phân tích trên, tác giả đề xuất đề tài “Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học kinh tế quốc dânTrường đại học kinh tế quốc dânTrường đại học kinh tế quốc dân

-            -

PHạM THị KIềU TRANG

PHÂN TíCH TáC Động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường

chứng khoán việt nam

CHUYÊN NGàNH: kế toán, kiểm toán và phân tích

Mã Số: 62340301

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS nguyễn hữu ánh

Hà nội - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC MÔ HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 1

1.1 Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu 1

1.1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.1.4 Giả thuyết nghiên cứu 3

1.1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.1.6 Khung nghiên cứu 6

1.1.7 Kết cấu của luận án 8

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty phi tài chính 9

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 10

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

1.2.3 Xác định “khoảng trống” nghiên cứu 24

Tóm tắt chương 1 25

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 27

2.1 Lý luận chung về quản trị công ty 27

2.1.1 Khái niệm quản trị công ty 27

2.1.2 Các nguyên tắc quản trị công ty 28

2.1.3 Nội dung quản trị công ty 29

2.1.4 Lý thuyết về quản trị công ty 32

2.1.5 Thước đo quản trị công ty 39

2.2 Lý luận chung về hiệu quả tài chính của công ty 42

2.2.1 Khái niệm hiệu quả tài chính 42

2.2.2 Các tiêu chí đo lường hiệu quả tài chính 43

Trang 3

2.3 Sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính 45

Tóm tắt chương 2 48

CHƯƠNG 3: GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

3.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 49

3.1.1 Sự kiêm nhiệm vị trí chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành 49

3.1.2 Quy mô hội đồng quản trị 50

3.1.3 Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị 50

3.1.4 Tính độc lập của Ban kiểm soát 51

3.1.5 Cổ đông lớn 52

3.2 Phương pháp nghiên cứu 54

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 54

3.2.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 58

3.2.3 Dữ liệu nghiên cứu 59

3.2.4 Tổng thể và mẫu nghiên cứu 60

3.2.5 Mô tả biến phụ thuộc, các biến độc lập và các biến kiểm soát 61

3.2.6 Phương pháp phân tích số liệu 63

Tóm tắt chương 3 67

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 68

4.1 Tổng quan về công ty phi tài chính niêm yết và đặc điểm quản trị công ty tại Việt Nam 68

4.1.1 Công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 68

4.1.2 Đặc điểm quản trị công ty tại Việt Nam 69

4.1.3 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả tài chính trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 70

4.2 Thống kê mô tả các biến 71

4.3 Phân tích tương quan 73

4.4 Kết quả xử lý phương trình hồi quy 73

4.4.1 Ước lượng mô hình hồi quy đo lường sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu ROA 74

4.4.2 Ước lượng mô hình hồi quy đo lường sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 87

4.5 Kết luận rút ra từ việc phân tích mô hình hồi quy với hai biến phụ thuộc là ROA và Tobin’s Q 101

Tóm tắt chương 4 102

Trang 4

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, MỘT SỐ KHUYẾN

NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 103

5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 103

5.2 Một số khuyến nghị 110

5.2.1 Khuyến nghị với công ty 110

5.2.2 Khuyến nghị với cơ quan quản lý nhà nước 113

5.2.3 Khuyến nghị với cổ đông 115

5.3 Đóng góp của luận án 116

5.3.1 Đóng góp về mặt lý luận 116

5.3.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 117

5.4 Hạn chế của luận án 117

KẾT LUẬN 118

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 133

Trang 5

7 HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

8 HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh

9 HQTC Hiệu quả tài chính

10 IFC Tổ chức Tài chính Quốc tế tại Việt Nam

11 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

12 QTCT Quản trị công ty

13 REM Mô hình tác động ngẫu nhiên

14 ROA Return on assets - Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

15 ROE Return on equity - Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở

hữu

16 VCP Vốn cổ phần

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng quan lý thuyết đại diện của Eisenhard (1989) 33

Bảng 2.2: So sánh sự khác nhau giữa lý thuyết đại diện và lý thuyết quản gia 36

Bảng 2.3: Tổng hợp các thước đo quản trị bên trong công ty 40

Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến đo lường được sử dụng trong nghiên cứu 62

Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến phụ thuộc, các biến độc lập và các biến kiểm soát 71

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan cặp giữa các biến độc lập và các biến kiểm soát được sử dụng trong mô hình hồi quy 73

Bảng 4.3: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA) 74

Bảng 4.4: Ước lượng mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 75

Bảng 4.5: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA) 76

Bảng 4.6: Ước lượng mô hình hồi quy REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 77

Bảng 4.7: Kiểm định Hausman Test 78

Bảng 4.8: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q) 88

Bảng 4.9: Ước lượng mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 89

Bảng 4.10: Kiểm định sự phù hợp cho mô hình và kiểm định khuyết tật tự tương quan trong hàm hồi quy (Mô hình REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q) 90

Bảng 4.11: Ước lượng mô hình hồi quy REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 91

Bảng 4.12: Kiểm định Hausman Test 92

Bảng 4.13: Kiểm định Wald 93

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 4.1: Biểu đồ so sánh giá trị bình quân ROA giữa hai nhóm công ty có kiêm

nhiệm và không kiêm nhiệm 80Hình 4.2: Đồ thị biểu thị tác động của sự kiêm nhiệm tới HQTC được đo lường bằng

chỉ tiêu ROA 80Hình 4.3: Đồ thị biểu thị tác động của quy mô HĐQT tới HQTC được đo lường bằng

chỉ tiêu ROA 81Hình 4.4: Biểu đồ so sánh giá trị bình quân ROA giữa hai nhóm công ty có thành viên

nữ tham gia HĐQT và không có thành viên nữ tham gia HĐQT 82Hình 4.5: Đồ thị biểu thị tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC được đo

lường bằng chỉ tiêu ROA 82Hình 4.6: Đồ thị biểu thị tác động của tính độc lập của BKS tới HQTC được đo lường

bằng chỉ tiêu ROA 83Hình 4.7: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà

nước tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA 84Hình 4.8: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà đầu

tư nước ngoài tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA 85Hình 4.9: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là tư nhân

trong nước tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA 86Hình 4.10: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là thành

viên BGĐ tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu ROA 87Hình 4.11: Biểu đồ so sánh giá trị bình quân Tobin’s Q giữa hai nhóm công ty có kiêm

nhiệm và không kiêm nhiệm 95Hình 4.12: Đồ thị biểu thị tác động của sự kiêm nhiệm tới HQTC được đo lường bằng

chỉ tiêu Tobin’s Q 95Hình 4.13: Đồ thị biểu thị tác động của quy mô HĐQT tới HQTC được đo lường bằng

chỉ tiêu Tobin’s Q 96Hình 4.14: Biểu đồ so sánh giá trị bình quân Tobin’s Q giữa hai nhóm công ty không

có thành viên nữ tham gia HĐQT và có thành viên nữ tham gia HĐQT 97Hình 4.15: Đồ thị biểu thị tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC được đo

lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 97

Trang 8

Hình 4.16: Đồ thị biểu thị tác động của tính độc lập của BKS tới HQTC được đo lường

bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 98Hình 4.17: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà

nước tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 99Hình 4.18: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà

đầu nước ngoài tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 99Hình 4.19: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là thành

viên BGĐ tới HQTC được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 100

Trang 9

DANH MỤC MÔ HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Mô hình 3.1: Mô hình nghiên cứu sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 59

Mô hình 4.1: Mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được

đo lường bằng chỉ tiêu ROA 74

Mô hình 4.2: Mô hình hồi quy REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được

đo lường bằng chỉ tiêu ROA 74

Mô hình 4.3: Mô hình hồi quy FEM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được

đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 88

Mô hình 4.4: Mô hình hồi quy REM đo lường sự tác động của QTCT tới HQTC được

đo lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q 88

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án 7

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 1.1 Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu

1.1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong suốt thập kỷ vừa qua, thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã có những bước tiến dài và hoạt động như một kênh huy động vốn tập trung và dài hạn cho sự phát triển kinh tế của cả nước Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam cả về quy mô lẫn số lượng các công ty niêm yết, nhận thức về vai trò của quản trị công ty cũng được nâng cao và thu hút được nhiều sự quan tâm của cộng đồng các công ty niêm yết, các nhà đầu tư và các nhà xây dựng pháp luật ở Việt Nam

Sự phát triển quy mô của các công ty kéo theo sự tách biệt giữa quyền sở hữu

và quyền quản lý trong các công ty một mặt tạo ra tác động tích cực trong việc huy động các nguồn vốn trong xã hội để phát triển hoạt động kinh doanh trong các công ty này, nhưng mặt khác lại gây ra mâu thuẫn về lợi ích của cổ đông và người quản lý, về lâu dài những xung đột lợi ích này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Các sáng kiến trong hoạt động quản lý công ty nhằm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa cổ đông và người quản lý, nâng cao hiệu quả tài chính của công

ty đã hình thành nên cơ chế quản trị công ty Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong công ty, từ đó tạo nên định hướng

và sự kiểm soát quá trình phát triển của công ty Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị công ty, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho công ty và nền kinh tế (Nguyễn Trường Sơn, 2010)

Như vậy, quản trị công ty hiệu quả được xem là một trong những biện pháp nhằm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa cổ đông và người quản lý, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của công ty nói chung, hiệu quả tài chính của công ty nói riêng Chính vì thế, cần thiết phải có một nghiên cứu thực nghiệm về mức độ tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty, từ đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính

Trong các công ty đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay thì các công ty niêm yết

là các công ty có quy mô vốn lớn, trong đó nhóm các công ty phi tài chính niêm yết chiếm đa số trên thị trường chứng khoán Việt Nam Bên cạnh đó, do đặc thù hoạt động

Trang 11

kinh doanh khác nhau giữa nhóm các công ty phi tài chính và nhóm các công ty tài chính, nên việc áp dụng quản trị công ty giữa hai nhóm này là khác nhau Ngoài ra, đối với nhóm các công ty tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại thì việc áp dụng quản trị công ty ngoài các quy định theo luật doanh nghiệp 2014, Luật Chứng khoán, Thông tư 121/2012/TT-BTC, thì còn được quy định thêm trong Luật các Tổ chức tín dụng, Thông tư 06/2010/TT-NHNN, và ngoài bộ nguyên tắc về quản trị công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thì các ngân hàng thương mại còn có thể áp dụng bộ nguyên tắc quản trị công ty riêng do Uỷ ban Basel cung cấp Trong khi đó, đối với nhóm các công ty phi tài chính các quy định về quản trị công ty còn hạn chế Do đó, cần khảo sát thực tế về mối liên hệ giữa quản trị công ty với hiệu quả tài chính ở các công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để giúp cho công ty và các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn thực tế hơn, từ đó giúp cho việc áp dụng, xây dựng, và ban hành các quy định về quản trị công ty một cách có hiệu quả

Xuất phát từ những phân tích trên, tác giả đề xuất đề tài “Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đo lường và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố thuộc quản trị công ty (bao gồm: sự kiêm nhiệm hai chức vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành; quy mô Hội đồng quản trị; thành viên nữ trong Hội đồng quản trị; tính độc lập của Ban kiểm soát; và tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn) tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Kiểm định mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm hai chức vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Kiểm định mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Kiểm định mối quan hệ giữa thành viên nữ trong Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Kiểm định mối quan hệ giữa tính độc lập của Ban kiểm soát và hiệu quả tài

Trang 12

chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Kiểm định mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Trên cơ sở kiểm định các mối quan hệ, đề xuất những khuyến nghị về chính sách quản trị công ty nhằm nâng cao hiệu quả tài chính trong các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam

1.1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu đã nêu, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

Câu hỏi 1: Ảnh hưởng của sự kiêm nhiệm hai chức vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam như thế nào?

Câu hỏi 2: Ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam như thế nào?

Câu hỏi 3: Ảnh hưởng của thành viên nữ trong Hội đồng quản trị tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam như thế nào?

Câu hỏi 4: Ảnh hưởng của tính độc lập của Ban kiểm soát tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam như thế nào?

Câu hỏi 5: Ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam như thế nào?

Câu hỏi 6: Các chính sách quản trị công ty nhằm nâng cao hiệu quả tài chính trong các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam là gì?

1.1.4 Giả thuyết nghiên cứu

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã nêu trên, những giả thuyết nghiên cứu dưới đây được luận án xây dựng và kiểm định:

Giả thuyết 1: Sự kiêm nhiệm chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành có mối quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Giả thuyết 2: Quy mô Hội đồng quản trị có mối tương quan ngược chiều với

Trang 13

hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Giả thuyết 3: Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị có mối quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Giả thuyết 4: Tính độc lập của các thành viên trong Ban kiểm soát có mối quan

hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Riêng đối với giả thuyết nghiên cứu thứ 5 về ảnh hưởng của tỷ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn tới hiệu quả tài chính, luận án chia làm bốn giả thuyết nhỏ như sau:

Giả thuyết 5a: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà nước có mối tương quan thuận chiều với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam

Giả thuyết 5b: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà đầu tư nước ngoài

có mối tương quan thuận chiều với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính

niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Giả thuyết 5c: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là tư nhân trong nước có mối tương quan thuận chiều với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm

yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Giả thuyết 5d: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là thành viên Ban giám đốc của công ty có mối tương quan thuận chiều với hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.1.5.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị công ty, hiệu quả tài chính và sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các yếu tố thuộc quản trị công ty được nghiên cứu bao gồm sự kiêm nhiệm hai chức vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành, quy mô Hội đồng quản trị, thành viên

nữ trong Hội đồng quản trị, tính độc lập của thành viên Ban kiểm soát, và sự sở hữu cổ phần của cổ đông lớn Đối với hiệu quả tài chính của công ty, luận án sử dụng thước

đo ROA và Tobin’s Q để đo lường

Trang 14

1.1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt không gian:

Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều là các công ty

có quy mô vốn lớn, có nghĩa vụ tuân thủ Quy chế quản trị công ty và xây dựng Điều lệ theo Điều lệ mẫu áp dụng riêng cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Nội dung Quy chế quản trị công ty và Điều lệ mẫu này tuân thủ theo những nguyên tắc

cơ bản về quản trị công ty do văn bản quy phạm pháp luật và do tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề xuất, do đó, có thể nói đây là nhóm công ty phù hợp để kiểm định sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty

Xét theo góc độ cung cầu vốn trong nền kinh tế thì các công ty được chia làm hai nhóm: nhóm các công ty tài chính kinh doanh tiền tệ (bao gồm: các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm, ngân hàng ) và nhóm các công ty phi tài chính kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thông thường Do đặc thù trong hoạt động kinh doanh và hệ thống kế toán (hệ thống tài khoản, chế độ chứng từ, sổ kế toán, hệ thống báo cáo tài chính) giữa hai nhóm này tương đối khác nhau, do đó việc so sánh, đánh giá các chỉ tiêu tài chính của hai nhóm công ty này cũng khác nhau Bên cạnh đó, việc thu thập số liệu, phân tích và đánh giá các chỉ tiêu tài chính của công ty phi tài chính là phổ biến và dễ dàng hơn Vì vậy luận án lựa chọn đối tượng khảo sát là các công ty phi tài chính

Vậy phạm vi nghiên cứu về không gian của luận án là các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Về mặt thời gian:

Kể từ năm 2000 đến nay, kinh tế thế giới có những biến động lớn, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm tụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và khiến lạm phát tăng cao ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam Đỉnh điểm là năm 2008,

tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam lên đến 22,3% đạt mức cao nhất kể từ năm 2000 trở lại đây, gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế quốc dân Do đó, chính phủ đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm tạo ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, những năm sau đó, tỷ

lệ lạm phát giảm không đáng kể Từ năm 2011, chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến một chính sách tiền tệ mới – chính sách lạm phát mục tiêu mà theo đó duy trì mức lạm phát hợp lý ổn định trở thành mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ Đây là một thành công trong việc duy trì mức lạm phát của Việt Nam ổn định trong những năm tiếp theo Nền kinh tế Việt Nam đã được cải thiện và tương đối ổn định Lạm phát đã giảm từ mức 2 con số năm 2011 (18,13%) xuống mức 1 con số (6,81% năm 2012;

Trang 15

6,04% năm 2013; và 4,09% năm 2014) Năm 2011 lạm phát của Việt Nam ở mức 18,13% cao nhất kể từ năm 2008, khiến nhiều công ty, đặc biệt là những công ty vừa

và nhỏ rơi vào tình trạng hết sức khó khăn Nhưng kể từ năm 2012 đến nay, nền kinh

tế trong nước có vẻ khả quan hơn, ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì vững chắc, tăng trưởng kinh tế phục hồi rõ nét và đồng đều, thị trường tài chính có những chuyển biến tích cực, cân đối ngân sách được cải thiện, khó khăn của các công ty cũng được giảm bớt (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, 2014) Như vậy, từ năm 2011 - 2014, dưới sự tác động của nền kinh tế vĩ mô, tỷ lệ lạm phát có những biến động lớn, điều này có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty Do đó, luận án lựa chọn khoảng thời gian này để thu thập dữ liệu, có thể sẽ phát hiện tác động của tỷ lệ lạm phát đến hiệu quả tài chính của công ty

Vậy phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian của luận án là 4 năm, từ năm 2011 đến năm 2014

- Về mặt nội dung:

Luận án phân tích, đo lường sự tác động của các đặc điểm thuộc quản trị công

ty tới hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các đặc điểm thuộc quản trị công ty đó là: sự kiêm nhiệm hai chức

vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành, quy mô Hội đồng quản trị, thành viên nữ trong Hội đồng quản trị, tính độc lập của thành viên Ban kiểm soát, và

sự sở hữu cổ phần của cổ đông lớn Đối với hiệu quả tài chính của công ty, luận án

sử dụng thước đo ROA và Tobin’s Q để đo lường

1.1.6 Khung nghiên cứu

Để thực hiện nội dung nghiên cứu của luận án, khung nghiên cứu được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:

Trang 16

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án

Nguồn: Tác giả xây dựng

Khung lý thuyết, tổng quan tình hình nghiên cứu liên

quan đến đề tài

Khoảng trống nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

Hiệu quả tài chính

- ROA

- Tobin’s Q

Sự kiêm nhiệm hai chức vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành

Quy mô Hội đồng

quản trị

Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị

Tính độc lập của Ban kiểm

soát

Cổ đông lớn

- Nhà nước

- Nước ngoài

- Tư nhân trong nước

- Thành viên Ban giám đốc

Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận

Trang 17

Trên cơ sở khung lý thuyết về quản trị công ty và hiệu quả tài chính, kết hợp với tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, luận án đã chỉ ra được khoảng trống nghiên cứu từ các công trình nghiên cứu trước đây và xây dựng giả thuyết nghiên cứu Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), luận án tiến hành kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về sự tác động của sự kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành; quy mô Hội đồng quản trị; thành viên nữ trong Hội đồng quản trị; tính độc lập của Ban kiểm soát; và cổ đông lớn đại diện cho nhân tố quản trị công ty tới hiệu quả tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu ROA và Tobin’s Q Dựa theo kết quả xử lý dữ liệu, luận án tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và đưa

ra các khuyến nghị, đề xuất tới các đối tượng như: nhà quản trị công ty, cơ quan quản

lý nhà nước, và cổ đông

1.1.7 Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài và ổng quan nghiên cứu về sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính

Trong chương 1, luận án trình bày lý do lựa chọn đề tài và xác định mục tiêu nghiên cứu bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, phạm vi nghiên cứu, và đối tượng nghiên cứu Các mục tiêu nghiên cứu được luận án cụ thể hoá thành các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Bên cạnh đó, luận án còn trình bày khái quát khung nghiên cứu của luận án bằng sơ đồ

Ngoài ra, trong chương này luận án cũng trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty phi tài chính, từ đó chỉ ra được khoảng trống của các công trình nghiên cứu trước đây

Chương 2: Cơ sở lý luận về sự tác động của của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp

Trong chương 2, luận án trình bày cơ sở lý luận về quản trị công ty, và những lý thuyết nền tảng về quản trị công ty với mục đích làm cơ sở để giải thích sự ảnh hưởng của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính Bên cạnh đó, luận án cũng nêu rõ cơ sở lý luận về hiệu quả tài chính của công ty Ngoài ra, sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính cũng được làm rõ trong chương này

Chương 3: Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu

Trang 18

Kế thừa cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu ở chương 1 và chương 2, trong chương 3 này, luận án tiến hành xây dựng giả thuyết nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu với thiết kế nghiên cứu, xây dựng

mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu, tổng thể mẫu nghiên cứu, và phương pháp phân tích dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sự tác động của quản trị công ty tới hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trong phần đầu của chương 4, luận án trình bày sơ lược về các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và đặc điểm quản trị công ty tại Việt Nam Trong phần tiếp theo của chương 4, luận án trình bày sơ lược thống kê mô tả số liệu và phân tích tương quan cho các biến độc lập và biến kiểm soát được sử dụng trong mô hình Tiếp theo, luận án trình bày cụ thể kết quả hồi quy và các kiểm định khuyết tật của mô hình

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị và kết luận

Trên cơ sở kết quả kiểm chứng thực nghiệm trong chương 4, luận án tiến hành luận giải và thảo luận kết quả nghiên cứu Tiếp theo, luận án sẽ đưa ra các đề xuất, khuyến nghị cho các nhà quản trị công ty, các cơ quan quản lý nhà nước và các cổ đông của công ty Cuối cùng, luận án nêu ra những hạn chế trong quá trình nghiên cứu

và đề xuất khả năng nghiên cứu tiếp theo

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty phi tài chính

Theo lý thuyết đại diện, trong công ty luôn tồn tại sự xung đột lợi ích giữa người chủ sở hữu và người quản lý, do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty (Jensen and Meckling 1976) Người quản lý thường có xu hướng theo đuổi các chiến lược tăng quy mô doanh thu trong khi đó các chủ sở hữu (cổ đông) lại mong muốn tối đa hóa lợi nhuận Bên cạnh đó, người quản lý cũng thường có xu hướng hành động để tối đa hóa những gì cá nhân họ nhận được trên chi phí của chủ sở hữu, do đó, người quản lý luôn tìm cơ hội tự điều chỉnh các thông tin kế toán Điều này gây ảnh hưởng xấu đến giá trị của công ty cũng như hiệu quả tài chính (HQTC) của công ty (Healy (1985); Klein (2002)) Để giải quyết vấn đề đại diện Shleifer and Vishny (1997) đã đưa ra phương pháp giải quyết đó là bằng một cơ chế quản trị công ty (QTCT)

Trang 19

QTCT được xem là một trong những nhân tố giúp hoàn thiện kết quả hoạt động kinh doanh của công ty (Flavianus, 2015) Bởi vì, thứ nhất, QTCT tốt sẽ là công cụ giúp các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh nhìn rõ hơn về sự phát triển ổn định cũng như sự tin cậy của công ty, từ đó giúp gia tăng lòng tin của nhà đầu tư, đối tác kinh doanh đối với công ty Thứ hai, một công ty được quản trị tốt có xu hướng hoạt động hiệu quả hơn và có khả năng tạo ra dòng tiền kỳ vọng trong tương lai cao hơn (Jensen and Meckling, 1976)

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty chủ yếu tập trung vào một số đặc điểm của quản trị công ty (Davis và công sự (1997); Klein (1998); Gillan (2006) Guest (2009); Bhagat and Bolton (2009); Roodposhti and Chasmi (2011); Hassan and Ahmed (2012); Tornyeva and Wereko (2012)), chẳng hạn

như: Thứ nhất, đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT), bao gồm: tính độc lập, trình

độ chuyên môn của các thành viên, số lượng thành viên nữ, quy mô HĐQT, và quyền

kiêm nhiệm Thứ hai, cấu trúc sở hữu, bao gồm: sở hữu của các thành viên HĐQT, sở

hữu của Ban giám đốc (BGĐ), sở hữu của nhà đầu tư lớn, sở hữu của nhà đầu tư nước

ngoài Thứ ba, đặc điểm của BKS, bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn và số lượng thành viên BKS Thứ tư, cơ chế khen thưởng dành cho thành viên HĐQT, BGĐ

1.2.1.1 Đặc điểm Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính

Một trong những đặc điểm của HĐQT được cho là gây nhiều tranh luận nhất đó

là sự kiêm nhiệm - một người giữ hai vị trí: chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành công ty (Ho and Wong (2001); Gul and Leung (2004)) Theo lý thuyết đại diện việc kiêm nhiệm thường dẫn đến tác động tiêu cực cho hoạt động của công ty vì người chịu trách nhiệm điều hành và người kiểm soát, đánh giá hoạt động điều hành của công ty là một người và dẫn đến việc đánh giá hoạt động công ty là không khách quan,

về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công ty (Gillan (2006); Raluca (2013)) Ủng hộ quan điểm trên, nghiên cứu của Bhagat and Bolton (2008) cũng đưa

ra bằng chứng về tác động tiêu cực giữa việc kiêm nhiệm và HQTC của công ty Tuy nhiên, lý thuyết người quản gia lại cho rằng việc kiêm nhiệm có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của công ty vì người được giữ chức vụ kiêm nhiệm này có thể điều hành và giám sát công ty một cách rõ ràng, và có sự thống nhất trong lãnh đạo công ty (Davis và công sự (1997); Adams và cộng sự (2005)) Cùng quan điểm với lý thuyết quản gia, Brickley và cộng sự (1997) đã khẳng định chủ tịch HĐQT nên kiêm nhiệm

vị trí tổng giám đốc điều hành, vì như vậy ông ta mới có thể phối hợp hành động của

Trang 20

HĐQT với việc thực hiện các chiến lược của công ty một cách nhanh chóng hơn, tạo cho công ty những lợi thế cạnh tranh, đặc biệt là trong điều kiện kinh doanh khó khăn Trong nghiên cứu của Yang and Zhao (2014) về các công ty của Mỹ giai đoạn 1979 -

1998 dưới sự tác động của thỏa thuận thương mại tự do giữa Mỹ và Canada năm 1989 (FTA) đã đưa ra bằng chứng việc kiêm nhiệm giúp công ty hoạt động hiệu quả hơn là việc tách biệt nhất là khi sự cạnh tranh ngày một khó khăn, vì sự kiêm nhiệm giúp giảm chi phí thông tin và chi phí giám sát

Nghiên cứu của Guest (2009) về sự tác động của quy mô HĐQT tới HQTC của

2746 công ty được niêm yết và hoạt động tại Anh từ năm 1981 đến 2002, đã tìm thấy bằng chứng về sự tác động ngược chiều của quy mô HĐQT đến HQTC của công ty được đo lường bằng Tobin’s Q, tỷ số khả năng sinh lời, lợi nhuận cổ phiếu và sự tác động ngược chiều này được phản ánh rõ nhất trong các công ty lớn, có quy mô HĐQT lớn Điều này có thể được lý giải dựa theo quan điểm của Lipton and Lorsch (1992), Jensen (1993) như sau: ban đầu khi quy mô HĐQT gia tăng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy chức năng của HĐQT, tuy nhiên sự gia tăng này cũng dẫn đến tính ỷ lại, chủ quan trong công việc giám sát của HĐQT, và đồng thời sự trao đổi thông tin giữa các thành viên HĐQT cũng trở nên phức tạp hơn, việc ra quyết định cũng bị kéo dài và kém hiệu quả, dẫn đến hiệu quả hoạt động của công ty cũng bị suy giảm Lipton and Lorsch (1992), Jensen (1993) đề xuất quy mô HĐQT không nên nhiều hơn 8 đến 9 thành viên Trái ngược với quan điểm trên, Klein (1998) cho rằng quy mô HĐQT lớn

sẽ hỗ trợ người quản lý tốt hơn khi môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp Bên cạnh đó quy mô HĐQT lớn sẽ dễ dàng thu thập các thông tin và nắm bắt các thông tin hơn, do đó dẫn đến tăng hiệu quả hoạt động của công ty (Adams and Mehran (2005); Dalton và cộng sự (1999))

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC của công ty cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT với HQTC của công ty (Erhardt và cộng sự (2003); Carter và cộng sự (2003)) Theo Erhardt và cộng sự (2003) về cơ bản, những công ty có nhiều thành viên

nữ trong HĐQT sẽ gia tăng HQTC cho công ty Báo cáo “Đa dạng giới và hiệu quả doanh nghiệp” của ngân hàng Thuỵ Sĩ Credit Suisse phản ánh kết quả đầy ấn tượng của cuộc điều tra do Credit Suisse tiến hành trong vòng 6 năm (2005-2011) khảo sát 2.360 công ty tại 46 nước cho thấy những công ty có phụ nữ tham gia HĐQT đạt ROE cao hơn (trung bình 4%) và tỷ lệ tăng trưởng cũng cao hơn (trung bình 4%) so với các công ty không có phụ nữ tham gia HĐQT Báo cáo kết luận các công ty có phụ nữ tham gia HĐQT có sự gia tăng ổn định trong hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận (Tôn

Trang 21

Nữ Thị Ninh, 2014) Tuy nhiên, Jianakoplos and Bernasek (1998) lại cho rằng sự đa dạng giới tính khiến phản ứng với rủi ro của các thành viên HĐQT khác nhau, gây bất lợi vì làm gia tăng khả năng mâu thuẫn nội bộ, làm chậm quá trình ra quyết định (Hambrick và cộng sự, 1996) Adams and Ferreira (2009) đã kết luận mối tương quan

âm giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT và chỉ số Tobin’s Q khi phân tích các doanh nghiệp tại Mỹ Tuy nhiên, vẫn có những bằng chứng thực nghiệm cho thấy kết quả khác nhau, chẳng hạn như Rose (2007), sử dụng dữ liệu của tất cả các công ty niêm yết tại Đan Mạch từ năm 1998 đến 2001, cho thấy có một mối quan hệ không đáng kể giữa tỷ lệ

nữ giới trong HĐQT và HQTC

Các nghiên cứu về tính độc lập, trình độ chuyên môn (trình độ học vấn) của thành viên HĐQT tới HQTC của công ty cũng được tìm hiểu trong rất nhiều công trình nghiên cứu (Hayes and Lee (1999); Jalbert và cộng sự (2002); Perry and Shivdasani (2005)) Mặc dù các quan điểm về sự tác động này còn gây nhiều tranh luận Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trên đều chỉ ra sự tác động tích cực của những yếu tố này đến kết quả hoạt động của công ty

1.2.1.2 Cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính

Nghiên cứu của Jensen and Meckling (1976) kết luận tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên BGĐ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty, theo đó tỷ lệ này càng lớn, thì người quản lý càng có xu hướng quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, vì điều này cũng đồng nghĩa với việc tối đa hóa lợi ích của họ Bhagat and Bolton (2009) nghiên cứu 1.500 công ty của Mỹ từ năm 1998 đến năm 2007 (được chia thành 2 giai đoạn chính là trước năm 2002 và sau năm 2002), cũng đã tìm thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa sự sở hữu cổ phần của thành viên BGĐ và HQTC của công ty trong cả hai giai đoạn và kết luận sự sở hữu cổ phần của thành viên BGĐ là thước đo đáng tin cậy của QTCT Tuy nhiên, tại một mức sở hữu cổ phần nào đó, người quản lý sẽ có đủ quyền lực để tự theo đuổi mục tiêu riêng của mình, tối đa hóa lợi ích của mình trên chi phí của các cổ đông mà không sợ bị kiểm soát bởi HĐQT (Fama and Jensen (1983); Demsetz (1983)) Mcconnell and Servaes (1990) biểu diễn

đồ thị mối tương quan giữa mức độ sở hữu của thành viên BGĐ và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty, cho thấy đồ thị là đường cong lồi, có nghĩa là đầu tiên kết quả hoạt động của công ty sẽ gia tăng và sau đó sẽ tụt giảm khi mức độ sở hữu của thành viên BGĐ được tập trung nhiều hơn Tuy nhiên, với cơ chế QTCT hợp lý (tỷ lệ sở hữu

cổ phần của BGĐ phù hợp) thì lợi ích của người quản lý và người giám sát sẽ hội tụ, điều này có nghĩa là QTCT sẽ có tác động thuận chiều với kết quả hoạt động của công

ty (Hassan and Ahmed 2012)

Trang 22

Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư lớn cũng là một yếu tố thuộc QTCT có tác động tới HQTC của công ty bởi vì họ là những cổ đông lớn, có cơ hội, nguồn lực và khả năng tác động đến việc quản lý và ra quyết định của công ty (Roodposhti and Chasmi 2011) Do đó, sự có mặt của các nhà đầu tư lớn này trong công ty sẽ có tác động tích cực đến HQTC của công ty (McConnell and Servaes (1990); Bethel và cộng sự (1998); Hassan and Ahmed (2012)) Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Chaganti and Damanpour (1991), lại tìm thấy rất ít bằng chứng về sự tương quan giữa nhà đầu tư lớn và HQTC của công ty Còn trong nghiên cứu của Daily và cộng sự (1996); Seifert

và cộng sự (2005) thì hoàn toàn không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa nhà đầu tư lớn và HQTC của công ty Sự khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu này có thể được giải thích dựa theo nghiên cứu của Jensen and Merkling (1976) là do quyền sở hữu của các nhóm nhà đầu tư khác nhau thì có tác động khác nhau đến hiệu quả hoạt động của công ty Pound (1988) đã khám phá và đề xuất ba giả thuyết để giải thích về mối quan hệ giữa nhà đầu tư lớn và hiệu quả hoạt động của công ty, bao gồm: (1) giả thuyết “năng lực và giám sát”, theo giả thuyết này những nhà đầu tư lớn thường có trình độ chuyên môn cao và có khả năng quản lý với chi phí thấp, do đó lập luận này chỉ ra sự tác động tích cực của nhà đầu tư lớn đến hiệu quả hoạt động của công ty (2) giả thuyết “xung đột lợi ích” lập luận các nhà đầu tư lớn bị buộc phải ủy thác cổ phần của họ cho người quản lý Do đó việc gây áp lực cho người quản lý có thể ảnh hưởng không tốt đến cổ phần của họ, trái lại nếu họ thuận theo người quản lý thì sẽ không bị ảnh hưởng gì Vì vậy, giả thuyết này chỉ ra sự tác động tiêu cực của nhà đầu tư lớn đến hiệu quả hoạt động của công ty Tương tự như giả thuyết “xung đột lợi ích”, giả thuyết

“chiến lược – liên kết” cũng chỉ ra sự tác động tiêu cực của nhà đầu tư lớn đến hiệu quả hoạt động của công ty Pound (1988) kết luận các nhà đầu tư lớn thuộc nhóm

“chịu áp lực – nhạy cảm” (ví dụ như: các ngân hàng, công ty bảo hiểm) thường có mối quan hệ kinh tế với công ty, do đó họ hành động thuận theo người quản lý Điều này phản ánh sự xuất hiện của các nhà đầu tư lớn có thể ảnh hưởng không tốt hoặc không

có ảnh hưởng gì đến hiệu quả hoạt động của công ty Trái lại, các nhà đầu tư lớn thuộc nhóm “chịu áp lực – không nhạy cảm” (ví dụ như: các quỹ hỗ trợ, quỹ hưu trí) có thể gây áp lực cho người quản lý và giám sát hành vi của người quản lý, do đó sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty

Các nghiên cứu về sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài cũng đã được tìm hiểu trong rất nhiều công trình nghiên cứu (Cooper and Kaplains (1991); Stulz (2005); Mangena and Tauringana (2007); Marashdeh (2014)) Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu

về mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài với HQTC của công ty

Trang 23

chưa được thống nhất Trong một số trường hợp tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có tác động tích cực đến HQTC của công ty, điều này được lý giải là do địa bàn nghiên cứu có sự phân biệt giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài (Mangena and Tauringana (2007); Marashdeh (2014)) Trong một số trường hợp khác địa bàn nghiên cứu có đặc trưng là tư bản được tự do dịch chuyển qua biên giới và không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước, thì tìm thấy mối quan hệ ngược chiều, hoặc không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài với HQTC của công ty (Cooper and Kaplains (1991); Stulz (2005))

Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu của thành viên HĐQT đến HQTC của công ty đều được thực hiện ở các nước đã phát triển như Mỹ và Anh (Fauzi and Locke, 2012) Tuy nhiên, sự khác nhau về hệ thống thể chế, khung khổ pháp lý, nền kinh tế cho các kết quả nghiên cứu khác nhau về ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu của thành viên HĐQT đến HQTC Về cơ bản, mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của thành viên HĐQT và HQTC được biểu thị như một đường cong lồi, theo đó HQTC sẽ tăng lên khi tỷ lệ sở hữu của thành viên HĐQT đạt đến một mức

độ nhất định nào đó, sau đó HQTC sẽ giảm dần khi tỷ lệ sở hữu của thành viên HĐQT tăng lên và đạt đến 100% vốn chủ sở hữu (Keasey và cộng sự, 1994)

1.2.1.3 Đặc điểm của Ban kiểm soát và hiệu quả tài chính

Thành viên của BKS bao gồm cả thành viên độc lập và không độc lập Trong một vài quốc gia, ví dụ như Úc yêu cầu các công ty phải có ít nhất 3 thành viên độc lập trong BKS Klein (2002) chỉ ra rằng nếu công ty có số lượng thành viên độc lập trong BKS đạt trên 50% thì BKS của công ty đó có tỷ lệ độc lập cao, và điều này sẽ giúp các công ty giảm được chi phí đại diện; nghiên cứu còn khẳng định số lượng thành viên độc lập trong BKS càng cao thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty càng lớn Ngoài ra, các nghiên cứu của Erickson và cộng sự (2005), Yasser và cộng sự (2011), Ghabayen (2012), Tornyeva and Wereko (2012) cũng tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ thuận chiều giữa tính độc lập của thành viên BKS với HQTC của công ty; khẳng định tính độc lập của thành viên BKS giúp cho công ty giảm bớt xung đột do vấn đề đại diện gây ra, từ đó nâng cao HQTC của công ty Khác với các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Wang and Huynh (2013) phân tách hiệu quả hoạt động của công

ty thành hai mảng khác nhau, đó là hiệu quả hoạt động phi tài chính và HQTC, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa tính độc lập của BKS, HQTC và hiệu quả hoạt động phi tài chính; trong đó tính độc lập của BKS đóng vai trò điều tiết sự tác động của hiệu quả hoạt động phi tài chính tới HQTC Tính độc lập của BKS càng cao thì sự ảnh hưởng của hiệu quả hoạt động phi tài chính tới HQTC càng mạnh Trái với nghiên cứu

Trang 24

của Wang and Huynh (2013), Aldamen và cộng sự (2012) đi sâu vào nghiên cứu một mảng của hiệu quả hoạt động của công ty đó là: HQTC cũng đã tìm thấy bằng chứng

về mối quan hệ thuận chiều giữa số lượng thành viên độc lập trong BKS với HQTC của công ty

Theo Zabojnikova (2016) sự gia tăng số lượng thành viên BKS giúp cho việc thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của BKS được hiệu quả hơn và từ đó giúp công

ty tăng kết quả hoạt động kinh doanh Nhưng mặt khác, sự gia tăng số lượng thành viên BKS lại khiến cho việc quản trị kém hiệu quả, dẫn đến giảm kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của số lượng thành viên BKS và HQTC của công ty cũng cho các kết quả nghiên cứu khác nhau Chẳng hạn như nghiên cứu Bozec (2005); Moilah and Talukdar (2007); Al-Matari và cộng sự (2012) mặc dù nghiên cứu ở quốc gia khác nhau, số lượng mẫu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng đều tìm thấy bằng chứng về sự tác động ngược chiều giữa số lượng thành viên BKS và HQTC của công ty Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả Bauser và cộng sự (2009); Reddy và cộng sự (2010); Gondrige và cộng sự (2012) lại cho kết quả về sự tác động thuận chiều giữa số lượng thành viên BKS và HQTC của công ty

Bên cạnh những nghiên cứu về tính độc lập, số lượng thành viên BKS, nghiên cứu của Chan and Li (2008) còn bổ sung thêm khía cạnh khác của tính chất BKS cũng tác động tới hiệu quả hoạt đông của công ty đó là trình độ chuyên môn của thành viên BKS, nghiên cứu khẳng định thành viên của BKS có trình độ chuyên môn càng cao thì càng làm tăng giá trị của công ty Hầu hết các nghiên cứu về mối quan hệ giữa trình độ chuyên môn của BKS với HQTC của công ty đều kết luận các công ty có thành viên BKS có trình độ chuyên môn cao thì kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cao hơn so với các công ty có thành viên BKS có trình độ chuyên môn thấp (Rashidah and Fairuzana (2006); Hamid and Aziz (2012)) Theo đó, trình độ chuyên môn của thành viên BKS là một trong những yếu tố cấu thành nên chất lượng của BKS BKS với nhiều thành viên có trình độ chuyên môn về kế toán, kiểm toán sẽ giúp cho việc kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa và phát hiện các gian lận cũng như sai sót trong báo cáo tài chính của công ty một cách hữu hiệu

1.2.1.4 Cơ chế khen thưởng và hiệu quả tài chính

Cơ chế khen thưởng cho thành viên BGĐ với kì vọng họ sẽ gắn kết lợi ích của

họ với lợi ích của cổ đông, theo đó tăng kết quả hoạt động của công ty Wallsten (2000) lập luận cổ đông thường bảo vệ tài sản của họ bằng việc đa dạng hóa danh mục

Trang 25

đầu tư bằng cách bỏ vốn đầu tư vào các loại chứng khoán có độ rủi ro khác nhau, do

đó họ sẽ ít sợ rủi ro hơn so với giám đốc người mà tập trung hết tài sản của họ vào một công ty Ví dụ, cổ đông luôn mong muốn người giám đốc sẵn sàng chấp nhận dự án có

độ rủi ro cao có khả năng sinh lời lớn trong tương lai, trong khi đó người giám đốc có thể quyết định không đầu tư nguồn lực vào dự án này vì làm như vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận trong ngắn hạn của họ Lợi ích của người giám đốc thường gắn trực tiếp với thu nhập nhận được, họ có xu hướng thực hiện những hành vi hay quyết định nhằm tối

đa hóa lợi ích cho cá nhân của mình, nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của cổ đông Do

đó, một cơ chế khen thưởng có hiệu quả cho giám đốc sẽ khuyến khích họ chấp nhận rủi ro để tăng giá trị của công ty

Theo cơ chế khen thưởng này, người quản lý sẽ nhận được khoản khen thưởng bằng tiền, cổ phiếu, hoặc bằng quyền chọn cổ phiếu, hoặc sẽ nhận được tất cả Thông thường cơ chế này sẽ được trao tặng theo hình thức trả theo thành tích đạt được (Hassan and Ahmed 2012) Tuy nhiên mỗi loại khen thưởng lại có tác động khác nhau đến việc ra quyết định của người quản lý Cụ thể, trả thù lao bằng tiền mặt (lương cứng), người quản lý có thể nhận được một khoản tiền cao khi công ty làm ăn tốt, nhưng vẫn nhận được khoản tiền này khi công ty làm ăn không tốt Do đó mức lương cứng dù có cao cũng không tạo nhiều động lực để người quản lý làm việc chăm chỉ hay đưa ra những quyết định sáng suốt vì lợi ích của công ty Người quản lý có thể nhận tiền thưởng đều hàng năm nếu hiệu quả hoạt động công ty tăng Tuy nhiên, việc tăng nhiều hay tăng ít cũng không ảnh hưởng gì đến phần thưởng của họ, do đó họ có

xu hướng chuyển dịch lợi nhuận của năm nay sang năm sau nhằm mục đích duy trì lợi nhuận tăng hàng năm để nhận phần tiền thưởng Về bản chất khoản tiền thưởng này cũng chỉ là một mức lương cứng, do đó không khuyến khích được người quản lý hành động để tối đa hóa lợi ích của công ty

Quyền chọn cổ phiếu cũng là một cách gắn kết lợi ích tài chính của người quản

lý với lợi ích của cổ đông Tuy nhiên quyền chọn mua cổ phiếu còn nhiều hạn chế Ví

dụ, khi giá cổ phiếu tăng người quản lý có thể kiếm được một khoản lớn nhờ các quyền chọn cổ phiếu, nhưng khi giá giảm cổ đông lại chịu thiệt hại còn họ thì không Bên cạnh đó việc nâng cao giá cổ phiếu sẽ khiến cho người quản lý chỉ tập trung vào quý tiếp theo mà không để ý đến lợi ích lâu dài của cổ đông

Trả thưởng bằng cổ phiếu được xem là biện pháp hữu hiệu nhất gắn lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông (Gerakos và cộng sự (2007); Carter và cộng sự (2009); Kuang and Qin (2009); Bettis và cộng sự (2010)) Tuy nhiên số lượng cổ phiếu

mà người quản lý nắm giữ có những tác động khác nhau đến hiệu quả hoạt động của

Trang 26

công ty (Jensen and Meckling (1976); Fama and Jensen (1983)) Về mặt tích cực, khi người quản lý nắm giữ cổ phiếu của công ty càng nhiều, họ càng có khuynh hướng ra các quyết định nhằm tối đa hoá lợi nhuận cho chủ sở hữu, điều này đồng nghĩa với việc tối đa hoá lợi nhuận cho chính họ Mặt khác, với số lượng cổ phiếu nắm giữ nhiều

ở mức độ nào đó, người quản lý có đủ quyền lực để theo đuổi những mục tiêu riêng nhằm tối đa hóa lợi ích của mình tại chi phí của các cổ đông thiểu số (Bulan và cộng

sự, 2010) Bulan và cộng sự (2010) kết luận các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của cơ chế trả thưởng bằng cổ phiếu tới HQTC công ty còn gây nhiều tranh luận; trong một vài trường hợp trả thưởng bằng cổ phiếu làm tăng HQTC của công ty, nhưng trong trường hợp khác thì lại không

Cơ chế khen thưởng dành cho thành viên HĐQT được xem là động lực khích lệ thành viên HĐQT vận hành công ty một cách hiệu quả và thực hiện nhiệm vụ giám sát thành viên BGĐ một cách cẩn trọng hơn, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty (Brickley và cộng sự, 1988) Ủng hộ quan điểm của Brickley và cộng sự (1988), nghiên cứu của Miyienda và cộng sự (2012) về mối quan hệ giữa cơ chế khen thưởng cho thành viên HĐQT và HQTC (được đo lường ROE, Tobin’s Q, lợi nhuận sau thuế) của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) trong giai đoạn 2006 - 2010, đã tìm thấy bằng chứng về mối tương quan dương giữa cơ chế khen thưởng cho HĐQT và HQTC của công ty Tương tự như kết quả nghiên cứu của Miyienda và cộng sự (2012), Yatim (2013) nghiên cứu về cơ chế khen thưởng cho HĐQT (bằng lương, hoa hồng, hay các khoản phúc lợi khác) và HQTC của các công ty ở Malaysia cũng cho kết quả về mối tương quan dương giữa cơ chế khen thưởng cho HĐQT và HQTC của công ty Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu khác không tìm thấy bằng chứng hoặc tìm thấy mối tương quan âm giữa cơ chế khen thưởng cho HĐQT và HQTC của công ty (Doucouliagos và cộng sự (2006); Barontini and Bozzi(2009))

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển về khuôn khổ pháp lý cho QTCT cũng như hoạt động tích cực của các cơ quan quản lý trong việc tăng cường quản trị công ty,

số lượng các nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu về quản trị công ty nói chung, công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty và HQTC của công ty nói riêng đang không ngừng tăng lên Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đa dạng, phong phú về cả phạm vi nghiên cứu, về các đặc điểm của QTCT, về tiêu chí đo lường HQTC của công ty và cả về phương pháp nghiên cứu

Trang 27

1.2.2.1.Về phạm vi nghiên cứu

* Xét về phạm vi không gian nghiên cứu

Hầu hết các nghiên cứu chủ yếu sử dụng dữ liệu trên bản cáo bạch, báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trong các công ty niêm yết, một số nghiên cứu thực hiện phân chia các công ty vào các nhóm như: nhóm các công ty tài chính, nhóm các công ty phi tài chính, hoặc phân chia cụ thể hơn như: ngân hàng thương mại, hoặc các công ty thuộc nhóm chỉ số VN30 (Dao and Hoang (2012), Dao and Hoang (2014)); Nguyen và công

sự (2015), Vo and Phan (2013), Vo and Nguyen (2014)) Ngoài ra, một số nghiên cứu lại chỉ tập trung vào các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (HOSE), hoặc các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) (Phạm Quốc Việt (2010), Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013)), hoặc cũng có nghiên cứu gộp chung các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014), Vo and Nguyen (2013)

Bên cạnh đó, cũng có tác giả sử dụng dữ liệu được trích xuất từ bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê để nghiên cứu nhóm các công ty sau khi tư nhân hoá (Tran, 2006)

Như vậy, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và kết quả hoạt động kinh doanh nói chung, HQTC nói riêng ở trong một lĩnh vực, một ngành cụ thể thì sẽ phục

vụ cho các đối tượng quan tâm đến lĩnh vực đó, ngành đó mà chưa thể bao quát cho toàn thị trường, và do đó chưa thể đáp ứng nhu cầu cần cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế

* Xét về phạm vi thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu về ảnh hưởng của QTCT đến HQTC của công ty chủ yếu được thực hiện trong khoảng thời gian từ 3 đến 6 năm và bắt đầu sớm nhất là từ năm 2000, chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Tran (2006) sử dụng bộ dữ liệu 5 năm từ năm 2000 đến năm 2004 Tiếp theo là nghiên cứu của các tác giả sử dụng dữ liệu sau năm 2006, chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Phạm Quốc Việt (2010) sử dụng bộ dữ liệu 3 năm từ năm 2006 đến năm 2008; tác giả Vo and Phan (2013) sử dụng bộ dữ liệu 6 năm

từ năm 2006 đến năm 2011; và gần đây nhất là nghiên cứu của các tác giả Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014) thực hiện nghiên cứu với bộ dữ liệu 6 năm từ 2007 đến năm 2012; tác giả Vo and Nguyen (2014) thực hiện nghiên cứu với bộ dữ liệu 5 năm

từ năm 2008 đến 2012 Nhìn chung, các nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu trước năm

2006 chủ yếu tập trung vào nhóm các công ty sau khi tư nhân hoá, hoặc nhóm các

Trang 28

công ty sau khi cổ phần hoá; còn đối với các nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu sau năm

2006 chủ yếu tập trung vào nhóm các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Điều này có thể được giải thích là vì trước thời gian này, các công ty niêm yết rất ít và chưa bắt buộc áp dụng các nguyên tắc QTCT

Như vậy, các nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu khá đa dạng ở các năm, bắt đầu sớm nhất là từ năm 2000 và gần đây nhất là đến năm 2012 Trong thời đại kinh tế phát triển có nhiều thay đổi, biến động khó lường như hiện nay, thì rất cần các nghiên cứu

sử dụng dữ liệu được thu thập trong những năm gần đây để cung cấp thông tin phù hợp với thời đại mới

1.2.2.2.Về các đặc điểm của quản trị công ty

Các đặc điểm của QTCT có thể chia thành các nhóm:

* Nhóm thứ nhất, đặc điểm Hội đồng quản trị

Trong các công trình nghiên cứu về đặc điểm HĐQT tác động đến HQTC của công ty, thì đặc điểm HĐQT được tiếp cận theo nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau như: Sự kiêm nhiệm, quy mô HĐQT, thành viên nữ trong HĐQT, thành viên HĐQT độc lập, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm làm việc của HĐQT

Nghiên cứu của các tác giả Phạm Quốc Việt (2010), Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013), Vo and Phan (2013), Vo and Nguyen (2014) về tác động của sự kiêm nhiệm đến HQTC đều kết luận những công ty có Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm tổng giám đốc điều hành sẽ tác động tích cực đến HQTC của công ty Tuy nhiên, cũng

có những công trình nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng hoặc tìm thấy bằng chứng

về sự tác động tiêu cực của sự kiêm nhiệm đến HQTC của công ty (Đoàn Ngọc Phúc

và Lê Văn Thông (2014); Dao and Hoang (2014))

Ảnh hưởng của quy mô HĐQT đến HQTC của công ty cũng được nhiều học giả nghiên cứu và thừa nhận Tuy nhiên, nghiên cứu của các tác giả cũng cho các kết quả khác nhau như nghiên cứu của các tác giả Vo and Phan (2013), Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013) cho kết quả về sự tác động tiêu cực của quy mô HĐQT đến HQTC Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Việt Hoà (2013), Dao and Hoang (2014) lại cho kết quả về sự tác động tích cực của quy mô HĐQT đến HQTC

Các tác giả Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013) cho rằng thành viên nữ được đại diện cho tính đa dạng trong HĐQT và tính đa dạng này tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động công ty Cùng quan điểm với các tác giả Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013), nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Trâm (2015) cũng cho bằng

Trang 29

chứng về sự tác động tích cực thành viên nữ trong HĐQT đến hiệu quả hoạt động của công ty Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Trần Đặng Vĩnh Hảo (2014) lại cho kết quả

về sự đa dạng giới tính trong HĐQT không có tác động đáng kể đến giá trị công ty Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về sự tác động của thành viên nữ trong HĐQT đến HQTC của công ty (Nguyễn Việt Hoà, 2013)

Tương tự như kết quả của các nghiên cứu trên, nghiên cứu về ảnh hưởng của thành viên HĐQT độc lập, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm làm việc của HĐQT đến HQTC của công ty cũng cho những kết quả nghiên cứu khác nhau (Võ Hồng Đức

và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013); Nguyễn Việt Hoà (2013); Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014); Vo and Nguyen (2014))

Nhìn chung, các nghiên cứu của các tác giả về ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT đến HQTC của công ty cho kết quả không thống nhất Do tầm quan trọng của HĐQT ngày càng gia tăng, cho nên rất cần thiết phải xác định các đặc điểm HĐQT với mục đích bảo đảm cho HĐQT hoạt động tốt hơn, từ đó giúp gia tăng kết quả kinh doanh của công ty nói chung, HQTC của công ty nói riêng

* Nhóm thứ hai, cấu trúc sở hữu

Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và HQTC của công ty, thường tập trung vào sự sở hữu của các đối tượng như: HĐQT, BGĐ, nhà nước, nước ngoài, cổ đông lớn, cổ đông là tổ chức

Nghiên cứu của các tác giả Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014), Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013), Vo and Nguyen (2014) cho kết quả về tỷ lệ

sở hữu vốn của HĐQT tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty Ngoài ra, nghiên cứu các tác giả Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011), Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013), Vo and Nguyen (2014) còn tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT với hiệu quả hoạt động Theo các tác giả Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013), Vo and Nguyen (2014) ban đầu khi tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT tăng từ 0% - 30% (0% - 35%) dẫn đến hiệu quả hoạt động công ty giảm; sau đó, khi tỷ lệ sở hữu vốn tăng vượt mức 30% (35%) thì hiệu quả hoạt động công ty gia tăng Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của hai tác giả Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011) thì ngược lại, theo đó tỷ lệ sở hữu của HĐQT tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt động khi tỷ lệ sở hữu của HĐQT nhỏ hơn 59,1%; sau đó, khi tỷ lệ sở hữu của HĐQT cao hơn 59,1% thì hiệu quả hoạt động lại thay đổi theo tỷ lệ nghịch với

tỷ lệ sở hữu của HĐQT

Trang 30

Tương tự như nghiên cứu về tỷ lệ sở hữu của HĐQT, nghiên cứu về tỷ lệ sở hữu của BGĐ cũng cho kết quả về mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ lệ sở hữu của BĐG với hiệu quả hoạt động (Phạm Quốc Việt (2010), Vo and Nguyen (2014), Phạm Thị Tường Vi (2015)) Theo tác giả Phạm Quốc Việt (2013) tỷ lệ sở hữu của BGĐ ở mức thấp hơn 12,26% thì sẽ có tác động nghịch chiều với hiệu quả hoạt động, ngược lại khi

tỷ lệ sở hữu cao hơn 12,26% thì sẽ có tác động thuận chiều với hiệu quả hoạt động Trong khi đó, theo tác giả Vo and Nguyen (2014) tỷ lệ sở hữu của BGĐ tăng từ 0% - 30% thì dẫn đến hiệu quả hoạt động của công ty được gia tăng, ngược lại khi tỷ lệ sở hữu cao hơn 30% thì hiệu quả hoạt động của công ty sẽ giảm Còn trong nghiên cứu của Phạm Thị Tường Vi (2015) thì lại cho kết quả tỷ lệ sở hữu cổ phần của BGĐ tỷ lệ nghịch với giá trị công ty khi tỷ lệ sở hữu này dưới 17% và trên 54%, và tỷ lệ thuận khi tỷ lệ sở hữu này nằm trong khoảng từ 17% đến 54%

Ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến HQTC của công ty được xem là vấn đề hết sức phức tạp, bởi việc xác định tỷ lệ sở hữu của nhà nước tác động đến giá trị của công ty như thế nào còn gặp nhiều khó khăn (Phạm Hữu Hồng Thái, 2013) Các nghiên cứu thực nghiệm về sở hữu nhà nước đến HQTC của công ty cho các kết quả trái ngược nhau Theo đó, nghiên cứu của tác giả Lê Đức Hoàng (2015) kết luận sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của công ty Trái lại, nghiên cứu của tác giả Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011), Võ Thị Hồng Diễm (2013) lại tìm thấy bằng chứng về tỷ lệ sở hữu nhà nước có ảnh hưởng thuận với hiệu quả hoạt động của công ty Ngoài ra, một số nghiên cứu lại không tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động của công ty (Phạm Quốc Việt (2010), Phạm Hữu Hồng Thái (2013))

Tác động của sở hữu nước ngoài đến HQTC của công ty cũng đã được nhiều học giả nghiên cứu và thừa nhận Nghiên cứu của các tác giả Phạm Hữu Hồng Thái (2013), Võ Thị Hồng Diễm (2013), Lê Đức Hoàng (2015) cho thấy sở hữu nước ngoài

có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của công ty Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Quốc Việt (2010) lại cho thấy tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty

Kết quả nghiên cứu về sự tác động của sở hữu của cổ đông lớn, sở hữu của cổ đông là tổ chức hầu hết đều cho thấy các công ty có sở hữu của cổ đông lớn, sở hữu của tổ chức càng cao thì hiệu quả hoạt động và giá trị công ty càng cao (Võ Xuân Vinh (2014), Dao and Hoang (2014)) Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011) lại cho kết quả là tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức không

có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty

Trang 31

Nhìn chung, các nghiên cứu của các tác giả về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến HQTC của công ty cho kết quả chưa được thống nhất Do tầm quan trọng của cấu trúc sở hữu và sự đa dạng của cấu sở hữu trong các công ty hiện nay, thì rất cần các nghiên cứu về cấu trúc sở hữu của các công ty với mục đích xác định mức độ ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến HQTC cũng như giá trị công ty

* Nhóm thứ ba, đặc điểm của Ban kiểm soát

Trong các nghiên cứu về đặc điểm BKS tác động đến HQTC của công ty, thì đặc điểm BKS được tiếp cận theo các góc độ nghiên cứu khác nhau như: Số lượng thành viên BKS, tỷ lệ sở hữu của BKS

Nghiên cứu của tác giả Phạm Quốc Việt (2010) về tỷ lệ sở hữu của thành viên BKS cho kết luận về mối tương quan dương giữa tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên BKS với hiệu quả hoạt động của công ty trong nhóm công ty có sở hữu nhà nước kiểm soát và nhóm công ty có quy mô vốn nhỏ Trong khi đó, nghiên cứu của tác giả Dao and Hoang (2014) về số lượng thành viên BKS lại không tìm thấy bằng chứng về sự tác động của số lượng thành viên BKS đến hiệu quả hoạt động của công ty

Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm về đặc điểm của BKS và sự tác động của nó đến HQTC của công ty còn hạn chế Với vai trò quan trọng của BKS trong việc thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát, thì rất cần các nghiên cứu về đặc điểm của BKS nhằm mục đích bảo đảm cho BKS hoạt động tốt hơn, từ đó giúp gia tăng kết quả kinh doanh của công ty nói chung, HQTC của công ty nói riêng

Như vậy, các nghiên cứu về đặc điểm của QTCT và sự tác động của chúng đến HQTC của các công ty cho kết quả chưa thống nhất và thậm chí là trái ngược nhau Điều này có thể lý giải là do các nghiên cứu này được thực hiện trong các bối cảnh khác nhau, thời điểm khác nhau Do đó, đề tài nghiên cứu về đặc điểm của QTCT và

sự tác động của chúng đến HQTC của các công ty vẫn luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều bên liên quan như nhà đầu tư, nhà lập pháp và các nhà nghiên cứu trong suốt nhiều năm qua

1.2.2.3.Về tiêu chí đo lường HQTC của công ty

Các nghiên cứu về sự tác động của QTCT đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty nói chung, HQTC của công ty nói riêng, đều tập trung chủ yếu vào các chỉ tiêu tài chính như: ROA, ROE (đại diện cho nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời) và Tobin’s Q (đại diện cho nhóm các chỉ số phản ánh giá trị thị trường) Trong đó,

có một số nghiên cứu chỉ sử dụng một chỉ tiêu để đo lường HQTC (Phạm Quốc Việt (2010); Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013), Vo and Phan (2013), Dao and

Trang 32

Hoang (2014)), nhưng cũng có nghiên cứu sử dụng kết hợp từ hai, ba chỉ tiêu trở lên

để đo lường HQTC (Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011), Vo and Nguyen (2014), Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014))

Nhìn chung, các chỉ tiêu tài chính được sử dụng trong các nghiên cứu để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh hay HQTC của công ty chưa được đa dạng, phong phú Tuy nhiên, đối với các nghiên cứu có sử dụng kết hợp các chỉ tiêu đại diện cho hai nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và nhóm các chỉ số phản ánh giá trị thị trường thì việc đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh công ty đã phần nào bao quát được HQTC trong quá khứ cũng như tiềm năng lợi nhuận và tăng trưởng tương lai của công ty

1.2.2.4.Về phương pháp nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) để tìm ra mối tương quan giữa biến độc lập phản ánh đặc điểm QTCT với biến phụ thuộc HQTC (Phạm Quốc Việt (2010), Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011), Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thuỷ (2013), Vo and Nguyen (2014), Dao and Hoang (2014)) Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy phức tạp hơn như hồi quy tác động cố định (FEM) và hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) (Võ Thị Diễm Hồng (2013), Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014)) Đối với các nghiên cứu sử dụng các mô hình hồi quy FEM và hồi quy REM thì thường phải thực hiện thêm các kiểm định khác để lựa chọn ra mô hình hồi quy phù hợp nhất chẳng hạn như kiểm định Hausman, kiểm định sự phù hợp của hàm hồi quy (dựa trên

hệ số xác định R2)

Nhìn chung, các nghiên cứu về sự tác động của QTCT đến HQTC của công ty

đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp rất thuyết phục nhằm đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Mỗi phương pháp hồi quy đều có ưu điểm riêng, tuỳ theo dữ liệu thu thập được để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp Tuy nhiên, đối với dữ liệu bảng (dữ liệu bao gồm cả hai chiều không gian và thời gian) thường được sử dụng khi nghiên cứu về sự tác động của QTCT đến HQTC, thì việc sử dụng phương pháp hồi quy OLS sẽ không thể hiện được HQTC có thay đổi giữa các công ty và thay đổi theo thời gian hay không Do đó, việc áp dụng phương pháp hồi quy FEM và REM sẽ khắc phục được nhược điểm này của OLS

Tóm lại, tính đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của QTCT đến kết quả hoạt động của công ty nói chung, HQTC của công ty nói riêng Những nghiên cứu đó được thực hiện trong bối cảnh kinh tế - xã hội khác nhau,

Trang 33

ở các quốc gia khác nhau nên các đặc điểm của QTCT và tiêu chí đo lường HQTC được lựa chọn để nghiên cứu là không giống nhau và cho dù có giống nhau thì kết quả thu được cũng có thể khác nhau Do đó, các nghiên cứu sau chỉ kế thừa những nghiên cứu trước về mặt học thuật mà không kế thừa về mặt kết quả nghiên cứu Vì vậy, trong những bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể thì sẽ cần có những nghiên cứu cụ thể phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội đó

1.2.3 Xác định “khoảng trống” nghiên cứu

Qua việc hệ thống hóa và tổng quan tài liệu các công trình nghiên cứu đã trình bày, vẫn còn tồn tại một số “khoảng trống” của các nghiên cứu trước đây, cụ thể như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu về QTCT tác động đến kết quả kinh doanh chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, hoặc các nước đang phát triển nhưng có thị trường chứng khoán ra đời từ lâu và hoạt động ổn định, môi trường pháp lý hoàn thiện Còn ở Việt Nam, QTCT còn tương đối mới mẻ Bên cạnh đó, quy mô thị trường chứng khoán còn nhỏ, và rất nhiều công ty ở Việt Nam trước đây là công ty gia đình hoặc doanh nghiệp nhỏ, sau đó được nâng cấp để được giao dịch trên thị trường chứng khoán, do đó các kỹ năng về QTCT còn hạn chế Bản thân các cổ đông ở Việt Nam cũng chưa am hiểu về quyền hạn của mình Vì vậy, cần có thêm nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam để có cơ sở giúp các công ty, các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện cơ chế QTCT Từ đó giúp các công ty nâng cao kết quả hoạt động, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông

Thứ hai, kết luận của các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa nhóm đặc điểm của HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty tại Việt Nam còn chưa được thống nhất, gây nhiều tranh luận giữa các học giả, cụ thể: quy mô HĐQT, thành viên

nữ trong HĐQT, sự kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành Vậy, cần thiết phải tiến hành thêm nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quy

mô HĐQT, thành viên nữ trong HĐQT, sự kiêm nhiệm với hiệu quả hoạt động của công ty tại Việt Nam; để xác định những đặc điểm nào có tác động tích cực đến HQTC của công ty, từ đó làm cơ sở để đề xuất những khuyến nghị hướng đến các nhà hoạch định chính sách và các công ty

Thứ ba, các nghiên cứu về nhóm cấu trúc sở hữu của tất cả các cổ đông nói chung đã được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu trong nước, tuy nhiên, nghiên cứu riêng về nhóm cổ đông lớn mà được phân chia theo từng đối tượng sở hữu như nhà đầu tư là nhà nước, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư là tư nhân trong nước, nhà đầu

tư là thành viên BGĐ còn hạn chế Trong khi đó, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế

Trang 34

giới chỉ ra tầm ảnh hưởng của các cổ đông lớn này đến HQTC của công ty Do đó, cần nghiên cứu thêm sự tác động của cổ đông lớn mà được phân chia theo từng đối tượng

sở hữu đến HQTC của các công ty

Thứ tư, các nghiên cứu trong nước về nhóm tính chất của BKS, chủ yếu chỉ tập trung vào số lượng thành viên BKS, tỷ lệ sở hữu của thành viên BKS mà chưa nghiên cứu về tính chất khác của BKS, ví dụ như: tính độc lập của thành viên BKS Trong khi

đó mối quan hệ giữa tính độc lập của thành viên BKS và hiệu quả hoạt động của công

ty đã được nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu và đưa ra bằng chứng về sự tồn tại của mối quan hệ này, do vậy khi nghiên cứu tác động của QTCT đến HQTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam, yếu tố tính độc lập của thành viên BKS cần được xem xét

Thứ năm, ít các công trình thực nghiệm trong nước nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty mà có sử dụng kết hợp hai chỉ tiêu đại diện cho nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và nhóm các chỉ số phản ánh giá trị thị trường để đo lường HQTC Vậy liệu rằng mỗi chỉ tiêu này có đưa ra các kết luận khác nhau về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty? Do đó, cần thiết phải tiến hành thêm nghiên cứu sự tác động của QTCT tới HQTC của công ty mà được được đo lường bởi nhiều chỉ tiêu tài chính khác nhau

Tóm tắt chương 1

Trong chương này, luận án đã trình bày được lý do lựa chọn đề tài và xác định mục tiêu nghiên cứu bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, phạm vi nghiên cứu, và đối tượng nghiên cứu

Bên cạnh đó, luận án cũng đã trình bày được tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về sự tác động của QTCT đến HQTC của công ty Theo đó, tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước chủ yếu tập trung vào bốn nhóm yếu

tố thuộc đặc điểm QTCT, cụ thể: Thứ nhất, đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT),

bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn của các thành viên, số lượng thành viên

nữ, quy mô HĐQT, và quyền kiêm nhiệm Thứ hai, cấu trúc sở hữu, bao gồm: sở hữu

của các thành viên HĐQT, sở hữu của Ban giám đốc (BGĐ), sở hữu của nhà đầu tư

lớn, sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Thứ ba, đặc điểm của BKS, bao gồm: tính độc lập, trình độ chuyên môn và số lượng thành viên BKS Thứ tư, cơ chế khen thưởng

dành cho thành viên HĐQT, BGĐ Đối với tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước, luận án nhận thấy các nghiên cứu trong nước về sự tác động của QTCT đến

Trang 35

HQTC của công ty phi tài chính khá đa dạng, phong phú về cả phạm vi nghiên cứu, về các đặc điểm của QTCT, về tiêu chí đo lường HQTC của công ty và cả về phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, luận án đã chỉ ra được khoảng trống nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu về QTCT tác động đến kết quả kinh doanh chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, hoặc các nước đang phát triển nhưng có thị trường chứng khoán ra đời từ lâu và hoạt động ổn định, môi trường pháp lý hoàn thiện Còn ở Việt Nam, QTCT còn tương đối mới mẻ Vì vậy, cần có thêm nhiều nghiên cứu

về vấn đề này ở Việt Nam

Thứ hai, kết luận của các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa nhóm đặc điểm của HĐQT bao gồm: quy mô HĐQT, thành viên nữ trong HĐQT, sự kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành với hiệu quả hoạt động của công ty tại Việt Nam còn chưa được thống nhất Vậy, cần thiết phải tiến hành thêm nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này

Thứ ba, các nghiên cứu về nhóm cấu trúc sở hữu của tất cả các cổ đông nói chung đã được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu trong nước, tuy nhiên, nghiên cứu riêng về nhóm cổ đông lớn mà được phân chia theo từng đối tượng sở hữu còn hạn chế Do đó, cần nghiên cứu thêm sự tác động của cổ đông lớn mà được phân chia theo từng đối tượng sở hữu đến HQTC của các công ty

Thứ tư, các nghiên cứu trong nước về nhóm tính chất của BKS, chủ yếu chỉ tập trung vào số lượng thành viên BKS, tỷ lệ sở hữu của thành viên BKS mà chưa nghiên cứu về tính độc lập của thành viên BKS Do vậy khi nghiên cứu tác động của QTCT đến HQTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam, yếu tố tính độc lập của thành viên BKS cần được xem xét

Thứ năm, ít các công trình thực nghiệm trong nước nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và HQTC của công ty mà có sử dụng kết hợp hai chỉ tiêu đo lường HQTC

Do đó, cần thiết phải tiến hành thêm nghiên cứu sự tác động của QTCT tới HQTC của công ty mà được được đo lường bởi nhiều chỉ tiêu tài chính khác nhau

Trang 36

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN

HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

2.1 Lý luận chung về quản trị công ty

2.1.1 Khái niệm quản trị công ty

QTCT là một chủ đề rộng với tất cả các khía cạnh có liên quan đến cổ đông, các nhà quản lý, các kiểm toán viên của một công ty QTCT bao gồm việc thiết lập các mối quan hệ giữa cơ cấu quản lý công ty, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác; cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty được thực hiện và đưa ra những biện pháp để đạt được những mục tiêu đó

Định nghĩa về QTCT có thể tìm thấy trong các Quy chế hay Điều lệ về QTCT ở

cả cấp độ quốc gia và quốc tế Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định nghĩa riêng của họ về QTCT, chẳng hạn như: Parkinson (1994) định nghĩa QTCT là quá trình giám sát và kiểm soát được thực hiện nhằm đảm bảo việc quản lý và điều hành công ty được diễn ra phù hợp với lợi ích của các cổ đông Shleifer and Vishny (1997) định nghĩa QTCT như một công cụ đảm bảo cho các nhà cung cấp tài chính cho công ty sẽ nhận được phần lợi nhuận từ khoản đầu tư của họ Trong khi đó, Gillan and Starks (1998) lại định nghĩa QTCT là hệ thống các luật lệ, các quy tắc, và các yếu tố

mà kiểm soát tình hình hoạt động tại một công ty

Nhìn chung, các định nghĩa của các tác giả đã đưa ra đều hướng QTCT đến việc giám sát, kiểm soát tình hình hoạt động của công ty và đảm bảo lợi ích cho các cổ đông của công ty

Bên cạnh những định nghĩa của các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về QTCT, chẳng hạn như: Tổ chức Tài chính Quốc tế tại Việt Nam (IFC)1 định nghĩa QTCT một cách ngắn gọn là “những cơ cấu

và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty” Tài liệu “các nguyên tắc QTCT” mà OECD2 đã xuất bản năm 1999 và được chỉnh sửa năm 2004 đã đưa ra một định nghĩa chi tiết: “QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa BGĐ, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra

1 “Cẩm nang Quản trị công ty” năm 2010 của Tổ chức Tài chính Quốc tế tại Việt Nam (IFC).

2 “Nguyên tắc Quản trị công ty” năm 2004 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), được Tổ chức Tài chính Quốc tế tại Việt Nam (IFC) dịch năm 2010

Trang 37

các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu

đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được BGĐ và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích vủa công

ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn”

Nhìn chung, các định nghĩa về QTCT mà tài liệu của các tổ chức quốc tế đã đưa

ra đều cho rằng QTCT là những cơ cấu, biện pháp được xây dựng với mục đích định hướng việc điều hành và kiểm soát công ty một cách hiệu quả nhằm đảm bảo lợi ích cho các bên có liên quan đến công ty

Tóm lại, không có một khái niệm, định nghĩa duy nhất về QTCT mà có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế Những khái niệm khác nhau về QTCT hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào các tác giả, thể chế luật pháp cũng như đặc tính quốc gia hay văn hoá và sự phát triển của thị trường tại mỗi nước

Từ những phân tích trên, luận án đề xuất định nghĩa QTCT là biện pháp được

dùng để giám sát, kiểm soát tình hình hoạt động của công ty, thông qua đó, công ty được vận hành hiệu quả nhằm đáp ứng quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan đến công ty

2.1.2 Các nguyên tắc quản trị công ty

Từ năm 1999, OECD đã đưa ra các nguyên tắc QTCT được dùng để làm chuẩn đánh giá mức độ tuân thủ các tiêu chí QTCT của các quốc gia trong tổ chức Những nguyên tắc này sau đó được sửa đổi, bổ sung trong phiên bản mới năm 2004 có tựa đề

“Các nguyên tắc QTCT của OECD” Cho đến nay, bộ nguyên tắc này được coi là chuẩn mực quốc tế đầu tiên về QTCT nhằm giúp các chính phủ các nước thành viên và không thành viên của OECD, trong đó có Việt Nam, đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản lý cho QTCT ở quốc gia của họ và cung cấp các hướng dẫn

và khuyến nghị cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, công ty và các bên khác có vai trò trong quá trình phát triển QTCT tốt

Các nguyên tắc QTCT của OECD bao gồm những nội dung sau:

- Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả: thúc đẩy tính minh bạch

và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, cơ quan quản lý và cưỡng chế thực thi;

- Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản: bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông;

Trang 38

- Đối xử bình đẳng đối với cổ đông: đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi

cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm;

- Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT: công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và ổn định tài chính cho doanh nghiệp;

- Công bố thông tin và tính minh bạch: đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời

và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và QTCT;

- Trách nhiệm của HĐQT: đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của HĐQT và trách nhiệm của HĐQT đối với công ty

- Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;

- Đảm bảo quyền lợi của cổ đông;

- Đối xử công bằng giữa các cổ đông;

- Đảm bảo vai trò của những người có liên quan đến công ty;

- Minh bạch trong hoạt động của công ty;

- HĐQT và BKS lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả

2.1.3 Nội dung quản trị công ty

Đối với mỗi quốc gia có nền kinh tế, thị trường chứng khoán khác nhau, việc tăng cường QTCT có thể phục vụ cho nhiều mục đích chính sách công quan trọng QTCT tốt giúp giảm thiểu khả năng tổn thương trước các khủng hoảng tài chính, củng

cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển Bên cạnh đó, QTCT tốt giúp tăng trưởng mạnh đối với giá trị

3 Thông tư số 121/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 26/7/2012 về việc Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng

Trang 39

kinh tế gia tăng của các công ty, năng suất cao hơn và giảm rủi ro tài chính hệ thống cho quốc gia Ngược lại QTCT yếu sẽ làm giảm mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư, không khuyến khích đầu tư từ bên ngoài, và kìm hãm sự phát triển lành mạnh của các chủ thể trong nền kinh tế nói chung4

QTCT xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong công ty, bao gồm: HĐQT, BGĐ, BKS, cổ đông, và những người có liên quan đến công ty Từ đó, giúp ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực chức vụ, giảm thiểu những rủi ro không cần thiết cho công ty

Ở mỗi quốc gia, khuôn mẫu QTCT được phát triển khác nhau nhằm giải quyết phần nào các bê bối trong nền kinh tế của quốc gia đó, trong đó, phát triển mạnh mẽ nhất là các khuôn mẫu QTCT ở quốc gia có nền kinh tế phát triển sớm, đó là Anh và

Mỹ Theo khuôn mẫu QTCT ở Anh (2014)5, nội dung QTCT bao gồm 5 cấu phần chính: lãnh đạo, hiệu quả, trách nhiệm, cơ chế đãi ngộ, và mối quan hệ với cổ đông

Cụ thể:

Một là, lãnh đạo nêu rõ mỗi công ty nên được điều hành bởi một HĐQT hiệu quả chịu trách nhiệm chung cho sự thành công lâu dài của công ty Nội dung của cấu phần lãnh đạo bao gồm: vai trò của HĐQT; phân công trách nhiệm; chủ tịch HĐQT;

và giám đốc không điều hành

Hai là, hiệu quả phản ánh HĐQT và các ủy ban nên có sự cân bằng thích hợp giữa kỹ năng, kinh nghiệm, sự độc lập và sự am hiểu về tình hình của công ty để họ có thể thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm của họ một cách hiệu quả nhất Bao gồm nội dung: thành phần HĐQT; bổ nhiệm; cam kết; phát triển; thông tin và hỗ trợ; đánh giá; tái bầu cử

Ba là, trách nhiệm nêu rõ HĐQT phải đưa ra được bản đánh giá công bằng, ổn định và dễ hiểu về vị trí và triển vọng phát triển của công ty Nội dung bao gồm: báo cáo tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh; quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ; Ban kiểm toán và kiểm toán viên

Bốn là, cơ chế đãi ngộ phản ánh cơ chế khen thưởng cho BGĐ điều hành cần được thiết kế phù hợp để thúc đẩy sự thành công lâu dài của công ty Sự trả lương

4 Đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam Báo cáo về tình hình tuân thủ Chuẩn mực

và Nguyên tắc (ROSC) Quản trị công ty Ngân hàng thế giới Tháng 6/2006.

5 The UK corporate governance code 2014 The Financial Reporting Council London, The

UK

Trang 40

thưởng theo thành tích đạt được cần phải minh bạch, lâu dài và áp dụng một cách nghiêm túc Bao gồm nội dung: mức độ và loại hình khen thưởng; trình tự

Năm là, mối quan hệ với các cổ đông nêu rõ HĐQT phải có trách nhiệm thực hiện cuộc đối thoại trực tiếp với tất cả các cổ đông của công ty dựa trên sự hiểu biết chung về mục tiêu Nội dung bao gồm: đối thoại với các cổ đông; cuộc họp thường niên

Tại Mỹ, từ năm 2002, Đạo luật Sarbanes-Oxley được ban hành, đã làm thay đổi

cơ bản khuôn mẫu QTCT tại Mỹ, theo đó, các công ty phải cải thiện sự đảm bảo và tin tưởng vào các báo cáo, các thông tin tài chính công khai, và xác định rõ vai trò trách nhiệm đối với những người có liên quan đến công ty

Về cơ bản, nội dung QTCT tại Mỹ bao gồm 5 cấu phần chính: quyền của cổ đông; luật giao dịch nội gián; vai trò của các bên liên quan đến công ty; công khai và minh bạch báo cáo và công bố thông tin; trách nhiệm của HĐQT

Tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý về QTCT về cơ bản đã được đề cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật Căn cứ theo Thông tư số 121/2012/TT-BTC, đã quy định khá đầy đủ và cụ thể các nội dung hay yếu tố cấu thành của QTCT niêm yết, cụ thể:

- Các vấn đề liên quan đến cổ đông và đại hội đồng cổ đông, bao gồm: quyền

và nghĩa vụ cổ đông; trách nhiệm của cổ đông lớn; điều lệ công ty; quy chế nội bộ về QTCT; cuộc họp Đại hội đồng cổ đông; báo cáo hoạt động của HĐQT tại Đại hội đồng cổ đông thường niên; báo cáo hoạt động của BKS tại Đại hội đồng cổ đông thường niên

- Các vấn đề liên quan đến thành viên HĐQT và HĐQT, bao gồm: Ứng cử và

đề cử thành viên HĐQT; tư cách thành viên HĐQT; thành viên độc lập HĐQT; nhiệm

kỳ của thành viên HĐQT và thành phần HĐQT; quyền của thành viên HĐQT; trách nhiệm và nghĩa vụ của thành viên HĐQT và của HĐQT; họp HĐQT, các tiểu ban của HĐQT; ban kiểm toán nội bộ; thư ký công ty; thù lao của HĐQT

- Các vấn đề liên quan đến BKS và kiểm soát viên, bao gồm: Ứng cử và đề cử kiểm soát viên; tư cách kiểm soát viên, quyền của kiểm soát viên; trách nhiệm và nghĩa vụ của BKS; thù lao của BKS

- Các vấn đề liên quan đến ngăn ngừa các xung đột lợi ích, bao gồm: trách nhiệm trung thực và tránh các xung đột về quyền lợi của các thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm toán nội bộ, kiểm soát viên, giám đốc điều hành, cán bộ quản lý khác; giao dịch với các bên có liên quan; giao dịch với cổ đông, thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm toán nội bộ, kiểm soát viên, giám đốc, cán bộ quản lý khác và người có liên quan; đảm bảo quyền hợp pháp của các bên có quyền lợi liên quan đến công ty

Ngày đăng: 22/08/2017, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của luận án (Trang 16)
Hình 4.1: Biểu đồ so sánh giá trị bình quân ROA giữa hai nhóm công ty có kiêm - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.1 Biểu đồ so sánh giá trị bình quân ROA giữa hai nhóm công ty có kiêm (Trang 89)
Hình 4.2: Đồ thị biểu thị tác động của sự kiêm nhiệm tới HQTC được đo lường - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.2 Đồ thị biểu thị tác động của sự kiêm nhiệm tới HQTC được đo lường (Trang 89)
Hình 4.3: Đồ thị biểu thị tác động của quy mô HĐQT tới HQTC được đo lường - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.3 Đồ thị biểu thị tác động của quy mô HĐQT tới HQTC được đo lường (Trang 90)
Hình 4.5: Đồ thị biểu thị tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.5 Đồ thị biểu thị tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC (Trang 91)
Hình 4.6: Đồ thị biểu thị tác động của tính độc lập của BKS tới HQTC được đo - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.6 Đồ thị biểu thị tác động của tính độc lập của BKS tới HQTC được đo (Trang 92)
Hình 4.7: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.7 Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà (Trang 93)
Hình 4.8: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.8 Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là nhà (Trang 94)
Hình 4.9: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là tư - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.9 Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là tư (Trang 95)
Hình 4.10: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.10 Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là (Trang 96)
Hình 4.11: Biểu đồ so sánh giá trị bình quân Tobin’s Q giữa hai nhóm công ty có - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.11 Biểu đồ so sánh giá trị bình quân Tobin’s Q giữa hai nhóm công ty có (Trang 104)
Hình 4.13: Đồ thị biểu thị tác động của quy mô HĐQT tới HQTC được đo lường - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.13 Đồ thị biểu thị tác động của quy mô HĐQT tới HQTC được đo lường (Trang 105)
Hình 4.15: Đồ thị biểu thị tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.15 Đồ thị biểu thị tác động của thành viên nữ trong HĐQT tới HQTC (Trang 106)
Hình 4.16: Đồ thị biểu thị tác động của tính độc lập của BKS tới HQTC được đo - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.16 Đồ thị biểu thị tác động của tính độc lập của BKS tới HQTC được đo (Trang 107)
Hình 4.17: Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là - Phân tích tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 4.17 Đồ thị biểu thị tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông lớn là (Trang 108)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w