Hiện tại theo khảo sát của tác giả chưa có một nghiên cứu nào tại Việt Nam về đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn ODA bằng các phương pháp định lượng dưới góc độ tiếp
Trang 1! "
!"#$%"%&
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TRIỂN KHAI DỰ ÁN SỬ DỤNG ODA VÀO PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ 14
1.1 Một số vấn đề lý luận về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 14
1.1.1 Khái niệm về ODA 14
1.1.2 Đặc điểm của ODA 15
1.1.3 Phân loại ODA 17
1.1.4 Các nguồn cung cấp ODA trên thế giới 19
1.1.5 Tác động của ODA 19
1.2 Hiệu quả triển khai dự án phát triển hạ tầng sử dụng vốn ODA 23
1.2.1 Khái niệm hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA 23
1.2.2 Dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông 24
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA 25
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA 27
1.3 Kinh nghiệm sử dụng vốn ODA, phát triển hạ tầng, phát triển đường sắt đô thị trên thế giới 31
1.3.1 Kinh nghiệm sử dụng và quản lý ODA 31
1.3.2 Kinh nghiệm huy động vốn phát triển đường sắt đô thị 33
Tóm tắt chương 1 35
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 36
2.1.1 Mô hình nghiên cứu 36
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 37
Trang 32.2 Quy trình nghiên cứu 40
2.3 Thiết kế nghiên cứu 43
2.3.1 Phát triển mô hình nghiên cứu 43
2.3.2 Phát triển các thang đo cho các nhân tố trong mô hình 44
2.3.3 Chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu 56
2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 58
2.4.1 Phân tích dữ liệu thứ cấp 58
2.4.2 Phân tích dữ liệu sơ cấp định tính 58
2.4.3 Phân tích dữ liệu sơ cấp định lượng 60
2.5 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 65
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 67
3.1 Thực trạng triển khai các dự án đường sắt đô thị 67
3.1.1 Về quy hoạch phát triển hệ thống đường sắt đô thị 67
3.1.2 Thực trạng triển khai các tuyến đường sắt thí điểm hiện nay 70
3.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 81
3.3 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo 82
3.3.1 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “năng lực tài chính” 82
3.3.2 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo “năng lực tổ chức” 83
3.3.3 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “năng lực điều hành” 84
3.3.4 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “tầm nhìn của lãnh đạo” 85
3.3.5 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo “khả năng thích nghi” 85
3.3.6 Kết quả đánh giá sơ bộ thang do nhân tố “quản trị rủi ro” 87
3.3.7 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo biến phụ thuộc “hiệu quả dự án” 87
3.4 Kết quả đánh giá chính thức thang đo 88
3.4.1 Kết quả phân tích khẳng định nhân tố bằng mô hình đo lường 89
3.4.2 Kết quả phân tích khẳng định nhân tố theo cặp khái niệm nghiên cứu 93
3.4.3 Kết quả phân tích khẳng định nhân tố mô hình tới hạn 95
Trang 43.5 Kết quả phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính và kiểm định giả
thuyết 99
3.5.1 Kết quả phân tích mô hình SEM và kiểm định giả thuyết 99
3.5.2 Kiểm định tính vững của mô hình bằng phương pháp bootstrap 103
3.6 So sánh sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố tới hiệu quả dự án theo các biến phân loại 104
3.6.1 So sánh sự khác biệt theo dự án 105
3.6.2 So sánh sự khác biệt về mức độ hiệu quả theo tính chất công việc 108
3.7 Đánh giá mức độ hiệu quả thực hiện dự án và các nhân tố ảnh hưởng 112
3.7.1 Mức độ hiệu quả dự án 112
3.7.2 Đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “năng lực tài chính” 113
3.7.3 Đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “năng lực tổ chức” 113
3.7.4 Đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “năng lực điều hành” 114
3.7.5 Đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “tầm nhìn của lãnh đạo” 115
3.7.6 Đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “khả năng thích nghi” 116
3.7.7 Đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “quản trị rủi ro” 117
3.8 Thảo luận kết quả nghiên cứu 118
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 126
CHƯƠNG 4: CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM 127
4.1 Định hướng sử dụng vốn ODA cho các dự án đường sắt đô thị 127
4.1.1 Đa dạng hóa nguồn vốn vay khác bên cạnh nguồn vốn ODA 127
4.1.2 Huy động và sử dụng vốn ODA gắn với hiệu quả và đảm bảo an ninh tài chính 128
4.1.3 Đảm bảo việc huy động và sử dụng một cách minh bạch, bền vững 129
4.1.4 Xây dựng lộ trình cho việc không sử dụng nguồn vốn ODA thay thế bằng các nguồn vốn khác và cung cấp ODA cho các nước kém phát triển hơn 130
Trang 54.2 Các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong quá
trình triển khai các dự án đường sắt đô thị 131
4.2.1 Khuyến nghị về việc nâng cao hiệu quả điều hành dự án 131
4.2.2 Khuyến nghị nâng cao khả năng thích nghi trong quá trình triển khai dự án 137
4.2.3 Khuyến nghị nâng cao năng lực tài chính khi triển khai dự án 142
4.2.4 Một số khuyến nghị khác 145
4.3 Kiến nghị 146
4.3.1 Kiến nghị với Bộ Kế hoạch và Đầu tư 147
4.3.2 Kiến nghị với Bộ Giao thông vận tải 147
4.3.3 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 147
4.3.4 Kiến nghị với Ban quản lý đường sắt đô thị 148
4.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 148
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 149
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 162
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn thang đo đánh giá 47
Bảng 2.2 Kết quả đánh giá lựa chọn thang đo 48
Bảng 2.3 Kích cỡ mẫu cho kích thước tổng thể khác nhau 57
Bảng 3.1 Tổng hợp thông tin về các dự án đường sắt đô thị triển khai thí điểm tại Hà Nội 71
Bảng 3.2 Tiến độ giải ngân theo tổng mức đầu tư điều chỉnh dự án Cát Linh – Hà Đông 72
Bảng 3.3 Tiến độ giải ngân dự án đường sắt đô thị Nhổn – Ga Hà Nội 76
Bảng 3.4 Kết quả phân loại đối tượng điều tra mẫu 82
Bảng 3.5 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “năng lực tài chính” 83
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “năng lực tổ chức” 84
Bảng 3.7 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “năng lực điều hành” 84
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “tầm nhìn của lãnh đạo” 85
Bảng 3.9 Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố “khả năng thích nghi” lần thứ nhất 86
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo “khả năng thích nghi” lần thứ hai 86
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo nhân tố “quản trị rủi ro” 87
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo biến phụ thuộc “hiệu quả dự án” 88
Bảng 3.13 Kết quả phân tích khẳng định nhân tố theo cặp khái niệm nghiên cứu 94
Bảng 3.14 Hiệp phương sai, tương quan giữa các biến 97
Bảng 3.15 Hệ số tin cậy tổng hợp và phương sai trích các nhân tố trong mô hình 98
Bảng 3.16 Kết quả ước lượng quan hệ giữa các biến nghiên cứu lần thứ nhất 101
Bảng 3.17 Kết quả ước lượng mô hình cuối cùng 103
Bảng 3.18 Kết quả đánh giá tính vững của mô hình bằng phương pháp bootstrap 104
Bảng 3.19 Kết quả ước lượng mô hình khả biến theo dự án 105
Bảng 3.20 Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình theo dự án 108
Trang 7Bảng 3.21 Kết quả ước lượng mô hình khả biến theo tính chất công việc 108
Bảng 3.22 Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình theo vị trí công việc 111
Bảng 3.23 Kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện dự án của các thành viên tham gia 112
Bảng 3.24 Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “năng lực tài chính” 113
Bảng 3.25 Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “năng lực tổ chức” 114
Bảng 3.26 Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “năng lực điều hành” 115
Bảng 3.27 Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng nhân tố “tầm nhìn của lãnh đạo” 116
Bảng 3.28 Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “khả năng thích nghi” 117
Bảng 3.29 Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng về nhân tố “quản trị rủi ro” 118
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cách thức đo lường thành công của dự án xây dựng qua thời gian 26
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 37
Hình 2.2 Quy trình nghiên cứu 41
Hình 2.3 Chu trình phát triển thang đo 44
Hình 2.4 Mô tả lấy mẫu nghiên cứu 45
Hình 2.5 Quy trình phân tích dữ liệu định tính 58
Hình 2.6 Quy trình phân tích dữ liệu định lượng 60
Hình 3.1 Bản đồ quy hoạch phát triển các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội tới năm 2030 68
Hình 3.2 Bản đồ quy hoạch phát triển đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh đến sau năm 2020 70
Hình 3.3 Tổ chức Ban quản lý dự án đường sắt đô thị Hà Nội 77
Hình 3.4 Phân tích CFA mô hình đo lường nhân tố “năng lực tài chính” 89
Hình 3.5 Phân tích CFA mô hình đo lường nhân tố “năng lực tổ chức” 90
Hình 3.6 Phân tích CFA mô hình đo lường nhân tố “năng lực điều hành” 91
Hình 3.7 Phân tích CFA mô hình đo lường nhân tố “tầm nhìn của lãnh đạo” 91
Hình 3.8 Phân tích CFA mô hình đo lường nhân tố “khả năng thích nghi” 92
Hình 3.9 Phân tích CFA mô hình đo lường nhân tố “hiệu quả dự án” 93
Hình 3.10 Phân tích CFA mô hình tới hạn (chuẩn hóa) 96
Hình 3.11 Kết quả phần tích mô hình SEM (chuẩn hóa) lần thứ nhất 100
Hình 3.12 Kết quả phân tích SEM (chuẩn hóa) lần hai khi loại đi các biến ORG, OPE và RIS 102
Hình 3.13 Mô hình khả biến tuyến Cát Linh – Hà Đông 106
Hình 3.14 Mô hình khả biến tuyến Nhổn – Ga Hà Nội 106
Hình 3.15 Mô hình bất biến theo dự án 107
Hình 3.16 Mô hình khả biến theo nhóm lao động trực tiếp 109
Hình 3.17 Kết quả phân tích mô hình khả biến nhóm lao động gián tiếp 110
Hình 3.18 Kết quả phân tích mô hình bất biến theo nhóm lao động 111
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc sử dụng phương tiện giao thông cá nhân đang tạo áp lực lên hệ thống hạ tầng giao thông và đô thị hiện nay tại nước ta Tính đến năm 2014 cả nước có 45 triệu xe máy, 2.7 triệu ô tô các loại và gần 70 nghìn xe máy được đăng ký mới hàng quý (UBANGTQG, 2016) Điều này đã gây ra tình trạng tắc nghẽn giao thông phổ biến, từ đó dẫn đến nhiều thiệt hại về kinh tế và môi trường Tính riêng cho Hà Nội thiệt hại do tiêu hao nhiên liệu và công lao động do tắc nghẽn giao thông lên đến
600 triệu USD/năm (Phan Duy Toàn, 2012), hàng ngàn tấn CO2 bị thải vào không khí (Nguyễn Nga, 2012), gây tác động xấu đến sức khỏe của cộng đồng như làm tăng gấp ba lần nguy cơ nhồi máu cơ tim (Thu Hương, 2004)
Để giải quyết bài toán về vấn đề giao thông đô thị cần giảm được mật độ phương tiện cá nhân và cải thiện hệ thống hạ tầng giao thông đô thị Điều này có thể làm được thông qua việc xây dựng hạ tầng cho giao thông và phát triển các dịch vụ giao thông công cộng trong đó có đường sắt đô thị Đường sắt đô thị là phương thức vận tải hành khách với khối lượng lớn, tốc độ cao, sử dụng không gian ngầm, nổi đô thị Đường sắt đô thị đã góp phần chuyên chở một lượng hành khách lớn tại các đô thị lớn trên thế giới như đô thị của Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Pháp, Nga,
vv Các tính toán cho thấy mạng lưới hệ thống đường sắt đô thị hoạt động hiệu quả
sẽ làm giảm 30% nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân và có thể cao hơn nữa Bởi vậy, xu hướng sử dụng đường sắt đô thị trong vận tải hành khách công cộng là xu hướng tất yếu của các đô thị hiện đại, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài xu hướng này
Việc xây dựng hạ tầng cho hệ thống giao thông đòi hỏi nguồn vốn lớn, đặc biệt là với hệ thống đường sắt đô thị Với các quốc gia kém hoặc đang phát triển như Việt Nam, việc huy động những nguồn vốn lớn cho những dự án như vậy là một trở ngại Để giải quyết vấn đề này thì việc huy động và sử dụng nguồn vốn như ODA là cần thiết Theo tính toán của WB (World Bank) nếu có chính sách hợp lý thì tăng 1% ODA sẽ giúp nền kinh tế tăng được 0.5% GDP Tại Việt Nam trong 20
Trang 10năm qua cũng đã nhận một lượng vốn ODA lớn từ các nước phát triển, đặc biệt là Nhật Bản Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2014 tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã ký kết với nhà tài trợ đạt khoảng 5 tỷ USD
Dù số vốn nhận được luôn đứng hàng đầu, hạ tầng giao thông lại luôn ở nhóm cuối về giải ngân (Tổng cục đường bộ Việt Nam, 2016), trong đó 4 dự án đường sắt
đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai chậm trễ nghiêm trọng
Sự chậm trễ trong giải ngân xuất phát từ hiệu quả kém trong khâu triển khai dự án Hậu quả dẫn đến là khó khăn cho huy động vốn trong tương lai do hình thành tâm lí ngần ngại trong các nhà đầu tư Bởi vậy, việc cải thiện hiệu quả triển khai dự án có
sử dụng vốn ODA đóng vai trò rất quan trọng và cấp thiết, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA
Mặc dù các nghiên cứu cho thấy việc sử dụng ODA một cách hợp lý có tác động tích cực đối với nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển (WB) Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu đánh giá một cách tổng thể ảnh hưởng của ODA tới tăng trưởng của cả nền kinh tế (Hansen & Tarp, 2001; Karras, 2006; Adam & Asu, 2014) Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng việc thu hút vốn ODA và đề xuất các giải pháp thu hút vốn ODA cho các nhóm dự (Phạm Thị Túy, 2007; Nguyễn Minh Hải, 2009, Vương Thanh Hà, 2009) Các nghiên cứu này sửu dụng chủ yếu là các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh bằng các nghiên cứu định tính mà thiếu các nghiên cứu định lượng đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố quản
lý tới hiệu quả triển khai các dự án Hiện tại theo khảo sát của tác giả chưa có một nghiên cứu nào tại Việt Nam về đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn ODA bằng các phương pháp định lượng dưới góc độ tiếp cận hiệu quả dự án là hiệu quả của quá trình triển khai dự án, không phải các giả định hiệu quả khi lập dự án, trong đó có các dự án sử dụng vốn ODA về đường sắt đô thị Do đó, tác giả quyết định
lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ODA vào phát
triển đường sắt đô thị ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình các dự án phát triển đường sắt ở thành phố Hà Nội)“ làm nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 11Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ODA theo khía cạnh triển khai dự án, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA bằng cách nâng cao hiệu quả triển khai dự án
sử dụng vốn ODA vào phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về ODA, dự án và hiệu quả triển khai
Thứ tư, thông qua đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả triển khai
dự án sử dụng vốn ODA và kinh nghiệm trước đó, đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA cho các dự án đường sắt đô thị
3 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
(1) Những nhân tố chính nào ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn ODA ở khía cạnh triển khai dự án?
(2) Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả triển khai dự án đường sắt
đô thị có sử dụng vốn ODA tại Việt Nam?
(3) Làm thế nào để nâng cao hiệu quả triển khai dự án ODA nói chung và các
dự án sử dụng vốn ODA trong phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam nói riêng?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Về nội dung luận án đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA vào phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam, đi sâu phân tích các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội Cụ thể luận án chỉ tập trung vào
Trang 12việc phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả sử dụng vốn ODA ở khía cạnh triển khai dự án
Phạm vi nghiên cứu:
• Về không gian: Hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA vào phát triển
đường sắt đô thị tại Việt Nam (thông qua nghiên cứu trường hợp các dự án tại
Hà Nội)
• Về thời gian: Đánh giá thực trạng triển khai các dự án đường sắt đô thị tại
Hà Nội đã và đang triển khai trong giai đoạn 2010 – 2016, khảo sát điều tra thực hiện trong năm 2015
5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận án
5.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Đối với các nghiên cứu tại các nước đang phát triển khác các tác giả cũng đưa ra rất nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng tới việc sử dụng hiệu quả nguồn ODA
Nghiên cứu của Hansen & Tarp (2001) về ảnh hưởng của ODA tới tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển cho thấy mối quan hệ tích cực giữa viện trợ và tăng trưởng GDP bình quân Tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian đánh giá tác động ở khía cạnh vĩ mô của nền kinh tế, những tác động này là tác động tổng hợp mà không xét đến khía cạnh hiệu quả cho từng dự án
Nghiên cứu của Iimi (2006) tiếp cận ODA theo hướng cải cách hiệu quả bằng phương pháp đấu giá Sử dụng dữ liệu đấu thầu mua sắm cho các dự án ODA
từ Nhật Bản, tác giả đã đưa ra ước lượng cho hàm số giá đấu thầu cân bằng Hàm
số này cho thấy khi số lượng người tham gia đấu giá tăng 1%, giá đấu thầu cân bằng sẽ giảm 2% Kết quả này cho thấy nếu tăng cường khả năng cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu cho mua sắm sẽ làm giảm giá của hợp đồng và từ đó giảm nhẹ gánh nặng nợ cho các quốc gia đang nhận viện trợ từ nguồn vốn ODA Gợi ý được đưa ra trong nghiên cứu là sử dụng phương pháp đấu thầu điện tử cùng mở rộng các tiêu chuẩn nhằm khuyến khích các doanh nghiệp địa phương tham gia hoạt
Trang 13động này
Nghiên cứu của Karras (2006) đánh giá ảnh hưởng dài hạn của ODA với dữ liệu từ giai đoạn 1960 – 1997 của 71 nền kinh tế trên thế giới cho thấy viện trợ ODA có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và thực sự có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của ODA tới tăng trưởng có sự khác biệt giữa các nền kinh tế Đây là một nghiên cứu tốt về đánh giá ảnh hưởng của ODA tới phát triển kinh tế, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của ODA với các nước kém phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, cách tiếp cận của nghiên cứu ở khía cạnh vĩ mô nên không giúp ích cho việc đánh giá hiệu quả của ODA ở khía cạnh từng dự án
Nghiên cứu của Chanboreth & Hach (2008) tại Campuchia cho thấy việc nâng cao hiệu quả sử dụng ODA phụ thuộc vào việc: (1) cung cấp các dự án rõ ràng, ưu tiên các dự án chiến lược quốc gia và đảm bảo quy trình ngân sách ODA; (2) củng cố và cải cách triệt để quản lý hành chính công nhằm đem lại hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA một cách triệt để; (3) ưu tiên đầu tư dự án một cách riêng lẻ không tập trung, tránh chồng chéo gây đến ách tắc triển khai dự án; (4) thực hiện
kế hoạch thống kê lại các nguồn viện trợ chính phủ nhằm quản lý tốt việc giải ngân cũng như thực hiện dự án; (5) đảm bảo việc trao đổi giữa hai bên viện trợ và nhận viện trợ nhằm nâng cao chất lượng dự án Nhìn chung, nghiên cứu đánh giá tổng quát việc thực hiện các dự án ODA mà không đi sâu vào việc đánh giá kiểm chứng ảnh hưởng của từng nhân tố quản lý liên quan đến việc triển khai và kết quả triển khai dự án
Nghiên cứu của Sankar & Schneider (2013) đã có những đánh giá về phương hướng sử dụng hiệu quả ODA của Nhật Bản tại Lào: Chính phủ Nhật Bản đặc biệt quan tâm tới sự phát triển xã hội, dân sinh, giới tính của Lào nên mọi việc làm trong quá trình triển khai dự án ODA của Nhật luôn luôn chú trọng tới các khía cạnh sau: (1) xem xét ngay từ ngay giai đoạn đầu của dự án có ảnh hưởng xấu tới môi trường hoặc xã hội Cần có xác nhận không có các tác động xấu hoặc chắc chắn rằng áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu vấn đề liên quan tới môi
Trang 14trường, xã hội; (2) đảm bảo hệ thống chính trị trong đó các chính sách phản ánh tiếng nói của người dân; (3) luôn luôn thực hiện các dự án theo pháp luật; (4) công
bố đầy đủ các thông tin của chính phủ; (5) phòng ngừa tăng cường kiểm soát công tác chống tham nhũng Nghiên cứu chủ yếu đánh giá về phương hướng và những ảnh hưởng của các dự án ODA tới vấn đề phát triển kinh tế xã hội và đề xuất một vài giải pháp để đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Bởi vậy, nghiên cứu không đi vào lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện dự án
Cùng với các nghiên cứu về ODA, các nghiên cứu về dự án và hiệu quả dự
án cũng được triển khai nhiều trên thế giới, xoay quanh nhiều vấn đề trong đó có các tính chất của dự án, cách thức đo lường và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả dự án, vai trò của giai đoạn triển khai dự án trong thành công của dự án Nghiên cứu của Ika (2009) là một nghiên cứu tổng hợp về sự thành công của
dự án thông qua khảo sát các nghiên cứu có liên quan trước đó Theo tác giả, khái niệm về sự thành công của dự án là không thống nhất do có nhiều quan điểm, tuy nhiên không để đánh đồng hiệu quả của dự án và hiệu suất thực hiện dự án Ngoài
ra, các nhân tố chính để đánh giá thành công của một dự án theo quan niệm cổ điển và có giá trị đến ngày nay là thời gian, chi phí và chất lượng Bên cạnh các nhân tố chính, một số chỉ tiêu khác cũng được đưa vào để đánh giá thành công của một dự án, bao gồm sự hài lòng của người sử dụng cuối cùng, lợi ích dành cho nhà đầu tư, lợi ích dành cho đối tác, mục tiêu chiến lược, vv Nhìn chung, bên cạnh quá trình lập kế hoạch cho dự án, quá trình triển khai dự án đóng vai trò quan trọng đến thành công của dự án
Nghiên cứu của Lauras & cộng sự (2010) trình bày về cách thức đo lường kết quả triển khai của dự án dưới góc độ doanh nghiệp Theo các tác giả, việc đo lường hiệu quả triển khai của một dự án là phức tạp bởi có quá nhiều chỉ tiêu để đánh giá như chi phí, thời gian, chất lượng, rủi ro, vv Do đó, các nhân tố thuộc về hiệu quả của dự án, hay còn gọi là các chỉ tiêu đo lường hiệu quả dự án, cần được tổng hợp để kiểm soát dự án tốt hơn Nghiên cứu đã đưa ra một cách thức để làm
Trang 15điều này, tức đánh giá hiệu quả triển khai của dự án, bằng cách tiếp cận đa thành phần Cách thức này tập trung vào ba vấn đề chính để phân tích một dự án là (1) nhiệm vụ của dự án, (2) các hạng mục đánh giá hiệu quả của dự án và (3) bộ ba chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả hoạt động gồm hiệu suất, hiệu quả và sự phù hợp Bên cạnh những nghiên cứu về triển khai dự án, một số nghiên cứu cũng tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án Nghiên cứu của Dvir & cộng sự (2003) kết luận rằng trong các yếu tố thuộc về việc lên kế hoạch, yếu tố thuộc về việc xác định yêu cầu rõ ràng và mô tả kĩ thuật chi tiết có ảnh hưởng tích cực đến thành công của một dự án Nghiên cứu của Belout & Glauvreau (2004) chứng minh rằng yếu tố nguồn nhân lực dưới góc độ nhân lực quản lý dự án có ảnh hưởng đến thành công của dự án Nghiên cứu của Aloini & cộng sự (2007) cho thấy rằng việc quản trị rủi ro tốt có ảnh hưởng tích cực đến quá trình thực thi
dự án và từ đó nâng cao hiệu quả của dự án
Nghiên cứu của Jugdev & Muller (2005) tập trung vào hiệu quả của dự án và
cơ sở đánh giá xem một dự án có thành công hay không Nghiên cứu đã tổng hợp các cơ sở lí luận về sự thành công hay tính hiệu quả của dự án theo trình tự thời gian và theo các giai đoạn của một dự án Theo đó, cách thức cổ điển nhất để đánh giá hiệu quả của dự án là đánh giá hiệu quả giai đoạn triển khai dự án Theo thời gian, cách thức đánh giá hiệu quả của dự án còn mở rộng cho giai đoạn lập kế hoạch, vận hành và quản trị chiến lược nói chung từ khi hình thành cho đến kết thúc dự án Tác giả giải thích sở dĩ đo lường hiệu quả dự án thông qua hiệu quả triển khai dự án là vì thời gian triển khai dự án là thời gian dài sử dụng nhiều nguồn lực nhất trong vòng đời của một dự án Đối với giai đoạn này, các yếu tố thường được sử dụng cho đo lường hiệu quả là thời gian, chi phí và các chi tiết mang tính kĩ thuật đặc trưng của từng dự án Tác giả lí giải cho việc sử dụng những nhân tố này là do tính dễ kiểm soát và dễ đo lường của chúng, đặc biệt đối với các biến số về thời gian và chi phí Khi hiệu quả dự án được tiếp cận theo hướng kĩ thuật như vậy, một dự án có thành công hay không dựa trên việc đạt được mục tiêu về thời gian, tài chính và sản phẩm cuối cùng
Trang 165.2 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Oanh (2002) về đánh giá các giải pháp chủ yếu
sử dụng có hiệu quả vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại Việt Nam Trong luận án này tác giả tập trung vào phân tích tổng quan về ODA, vai trò của ODA, quá trình phát triển của nguồn vốn ODA trên thế giới Phân tích của luận án tập trung vào việc đánh giá thực trạng sử dụng vốn ODA theo hai giai đoạn từ 1975 – 1990 và sau
1990 Tác giả đã đánh giá được những tồn tại, hạn chế và những mặt làm được trong công tác sử dụng vốn ODA tại Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại
ở đánh giá về thực trạng việc sử dụng vốn ODA và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA mà chưa có những phân tích một cách có hệ thống vào đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng ODA ở khía cạnh triển khai như việc phát triển mô hình và các giả thuyết nghiên cứu, sử dụng
dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để kiểm định các giả thuyết khoa học đặt ra Các kết quả dừng lại ở mức đánh giá bằng những nhận định cá nhân
Nghiên cứu của Tôn Thanh Tâm (2005) về nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam Nghiên cứu tập trung vào giới thiệu tổng quan về ODA, một số chỉ tiêu đánh giá về định tính và định lượng liên quan đến quản lý ODA Luận án tập trung vào phân tích thực trạng chế tài thanh tra, kiểm tra, giám sát tại các chương trình, dự án dựa trên cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về ODA với nhau dẫn đến các tiêu cực trong quản lý vốn ODA cho các chương trình, dự án Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về ODA cho các chương trình dự án Nhìn chung, đây là một nghiên cứu tốt đã đề xuất được được các giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về ODA Tuy nhiên, cách tiếp cận nghiên cứu truyền thống có tính nghiệp vụ của các cơ quan quản lý nên nghiên cứu mới dừng lại ở việc đánh giá thực trạng, đưa ra những đề xuất mà thiếu vắng việc thiết lập những mô hình nghiên cứu có thể đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý nhà nước dựa trên các khảo sát thực chứng, thiếu vắng việc thiết lập các mô hình nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra
Trang 17Nghiên cứu của Lương Mạnh Hùng (2008) đánh giá hiệu quả các dự án ODA tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chia thành hai yếu tố ảnh hưởng là (1) nhân tố khách quan bao gồm: Tình hình kinh tế, chính trị của quốc gia tài trợ, các chính sách, quy chế của nhà tài trợ và môi trường cạnh tranh; (2) nhân tố chủ quan bao gồm: tình hình kinh tế, chính trị của quốc gia tiếp nhận viện trợ, quá trình xây dựng dự án, quy trình và thủ tục của nước tiếp nhận viện trợ, năng lực tài chính của nước tiếp nhận ODA, năng lực và đạo đức của cán bộ quản lý và sử dụng ODA, sự cam kết mạnh mẽ, chỉ đạo sát sao và tham gia rộng rãi của các bên liên quan, theo dõi và kiểm tra giám sát việc thực hiện dự án Nghiên cứu đã thành công trong việc đánh giá những nhân tố ác động tới các dự án ODA Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chưa mô hình hóa được tác động của các nhân tố này tới các dự án ODA, không thiết lập được các giả thuyết nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu qua
dữ liệu thực nghiệm Bởi vậy, nghiên cứu cũng mới dừng lại ở mô tả và phân tích một số số liệu có tính chất mô tả đến hiệu quả thực hiện các dự án ODA mà chưa trả lời được câu hỏi mức độ tác động của các nhân tố theo phân loại của tác giả tác động như thế nào đến hiệu quả sử dụng vốn ODA
Nghiên cứu của Lê Thị Mai Anh (2008) đối với thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản đưa ra khuyến nghị về các nhân tố: (1) Cần tích cực đẩy mạnh tốc độ giải ngân nguồn vốn ODA Về phía Việt Nam cần đơn giản hóa văn bản pháp lý và thủ tục liên quan đến ODA Về phía nhà tài trợ hài hòa và đơn giản hóa quy trình thủ tục với chính phủ Việt Nam cũng như cần thiết nhằm đảm bảo tiến trình thực hiện hiệu quả; (2) Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án ODA: Cần xây dựng kế hoạch hợp
lý cho việc phân cấp ODA nhằm tránh tình trạng ách tắc trong quá trình triển khai nhiều dự án ODA; (3) Xây dựng hệ thống thông tin hữu hiệu về ODA: Các thông tin thu được phải đảm bảo yêu cầu chính xác, đầy đủ và kịp thời; (4) Tăng cường công tác đào tạo và điều phối bố trí cán bộ trong quản lý và sử dụng ODA: Cần có các chương trình huấn luyện rộng rãi để tạo ra những thay đổi về nhận thức, thái độ
và nâng cao trình độ cán bộ ở tất cả các cấp từ trung ương xuống địa phương Nghiên cứu đã đưa ra được các giải pháp chính yếu liên quan đến việc thu hút và sử
Trang 18dung vốn ODA Tuy nhiên, cũng giống như các nghiên cứu trước nghiên cứu cũng chưa mô hình hóa được quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút và sử dụng vốn ODA để đưa ra các giải pháp ưu tiên hay các thuộc tính của giải pháp cần hướng dẫn
Các nghiên cứu khác về đánh giá hiệu quả sử dụng ODA như:
Nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2010) đánh giá việc sử dụng ODA cho thấy có 8 nhân tố cần chú ý để thu hút và sử dụng hiệu quả ODA là (1) nâng cao nhận thức và hiểu đúng về bản chất của ODA; (2) sử dụng ODA có chọn lọc, phù hợp và kết hợp hài hòa với các nguồn đầu tư khác; (3) đẩy mạnh tốc độ giải ngân ODA; (4) tối đa hóa hiệu quả và tốc độ lan tỏa của ODA; (5)
mở rộng diện thụ hưởng ODA tới khu vực tư nhân để thực hiện các chương trình và
dự án phục vụ các lợi ích cộng đồng; (6) xây dựng kế hoạch hợp lý cho việc phân cấp ODA; (7) tăng cường theo dõi và quản lý ODA; (8) xây dựng kế hoạch giảm dần theo thời gian trả nợ ngắn hạn và gắn với điều kiện chặt chẽ
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vũ (2010) cho rằng các yếu tố để nâng cao hiệu quả sử dụng ODA tại Việt Nam là: (1) phải có quan niệm đúng đắn về nguồn vốn ODA; (2) luôn tính tới yếu tố trượt giá của đồng VNĐ để thỏa thuận lãi suất cho phù hợp; (3) cần khắc phục tính ỷ lại, trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước; (4) Thu hút đầu tư ODA một cách hợp lý, tránh đầu tư giàn trải, manh mún nhưng cũng không nên tập trung quá nhiều vào một số địa phương và một số ngành dẫn tới mất cân đối trong quá trình phát triển bền vững quốc gia; (5) cần phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư để nâng cao tỷ lệ giản ngân trên cơ sở đẩy mạnh nhanh tiến độ thực hiện dự án, rút ngắn thời gian xây dựng nhanh chóng đưa công trình vào khai thác, sử dụng là một việc làm hết sức quan trọng để tận dụng thời gian ân hạn và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
Nghiên cứu của Lê Bá Khởi (2012) đối với nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam cho thấy việc sử dụng hiệu quả ODA phụ thuộc vào (1) khả năng kiểm soát các dự án; (2) công tác quản lý xét thầu; (3) quản lý hành chính và (4) áp dụng tiêu chuẩn đánh giá môi trường chung
Trang 19Nghiên cứu của Hà Thị Thu (2014) về thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển hính thức (ODA) vào nông nghiệp, nông thôn tại khu vực duyên hải miền Trung Nghiên cứu này tập trung vào phân tích hệ thống cơ sở lý luận của nguồn vốn ODA đối với nông nghiệp, phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA tại khu vực duyên hải miền Trung đưa ra một số hạn chế trong việc thu hút và sử dụng ODA như: thiếu định hướng tổng thể thu hút vốn ODA cho nông nghiệp, nông thôn, tình trạng về ban quản lý ODA không chuyên và tính kiêm nhiệm trong quản lý, bố trí vốn đối ứng không kịp thời, khung thể chế chưa hài hòa giữa Chính phủ Việt Nam và nhà tài trợ, Từ đó đưa ra một số đề xuất về phương án phê duyệt đề án thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và nông thôn đến năm 2020, áp dụng mô hình cơ quan quản lý chuyên nghiệp, hoàn thiện văn bản pháp lý liên quan đến ODA và nhận thức đúng bản chất cho vay của ODA
Nhìn chung, các nghiên cứu này tiếp cận ở khía cạnh ngành, vĩ mô mà không phải cho từng dự án Mặt khác nghiên cứu vẫn tập trung vào những phân tích có tính chất nghiệp vụ quản lý hơn là thiết lập và kiểm định các giả thuyết khoa học thông qua dữ liệu nghiên cứu
6 Khoảng trống nghiên cứu
Nhìn chung, các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam về đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA tập trung đánh giá thực trạng và kiến nghị các giải pháp nhằm thu hút và sử dụng ODA có hiệu quả Một số nghiên cứu khác đi vào đánh giá cho từng nhóm dự án nhưng vẫn tập trung ở khía cạnh vĩ mô mà không phải các khía cạnh khi triển khai dự án Các nghiên cứu tại nước ngoài cũng chủ yếu đánh giá ở khía cạnh vĩ mô và tác động vĩ mô của vốn ODA tới tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển Do đó, có thể thấy các nghiên cứu trước đây còn để lại một số khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu cả tại Việt Nam và trên thế giới tập trung nhiều vào tác động của ODA tới nền kinh tế ở khía cạnh vĩ mô và thường không xem xét cho từng dự án cụ thể và khái quát hóa những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả trong quá trình triển khai dự án Thiếu vắng các nghiên cứu và mô hình đánh giá tác động của
Trang 20các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA nói chung và
dự án ODA cho đường sắt đô thị nói riêng
Thứ hai, các nghiên cứu tại Việt Nam tập trung vào hoạt động đánh giá nghiệp vụ quản lý, đánh giá về công tác thu hút và sử dụng vốn ODA cho một số ngành, lĩnh vực
mà thiếu các nghiên cứu mô hình hóa, lượng hóa được ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả thực hiện dự án ở cả khía cạnh triển khai lẫn khía cạnh hiệu quả toàn dự án Thứ ba, một số nghiên cứu đưa ra được các chỉ tiêu cho đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu đánh giá các nhân tố quản lý trong quá trình triển khai dự án và ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả sử dụng vốn ODA tiếp cận ở khía cạnh triển khai dự án như thế nào
Thứ tư, theo khảo sát của tác giả hiện nay chưa có một nghiên cứu nào xây dựng được một cách hệ thống mô hình nghiên cứu đánh giá tác động của các nhân
tố tới hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA ở khía cạnh điều hành, đặc biệt là đối với những dự án đường sắt đô thị
Đây là những khoảng trống nghiên cứu cần được bổ sung và nghiên cứu này
có nhiệm vụ thiết lập, phát triển và kiểm chứng mô hình đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA ở khía cạnh điều hành thông qua nghiên cứu trường hợp các dự án đường sắt đô thị tại Việt Nam (Hà Nội)
7 Đóng góp mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án đem lại những đóng góp cả về mặt học thuật
và thực tiễn
Về mặt học thuật, nghiên cứu đã xác định được khoảng trống nghiên cứu về sự thiếu vắng mô hình các nhân tố tác động đến hiệu quả dự án ở khía cạnh triển khai Kết quả tác giả đã dựa vào cách tiếp cận trong kinh doanh để đề xuất một mô hình xây dựng các nhân tố tác động tới hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA và tiến hành kiểm định sự tin cậy của nó qua dữ liệu điều tra thực nghiệm Từ mô hình được phát triển bao gồm sáu nhân tố là (1) năng lực tài chính;(2) năng lực tổ chức; (3) năng lực điều hành; (4) tầm nhìn của lãnh đạo; (5) khả năng thích nghi và (6) quản trị rủi ro Kết quả kiểm nghiệm từ dữ liệu thực nghiệm cho thấy có ba nhân tố
Trang 21có ảnh hưởng thực sự đến sự đến hiệu quả triển khai dự án là (1) năng lực tài chính; (2) năng lực điều hành và (3) khả năng thích nghi
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu đã đưa ra những gợi ý để nâng cao hiệu quả thực hiện dự án đường sắt đô thị một cách khoa học dựa trên cơ sở nghiên cứu tập trung vào ba nhóm giải pháp chính (1) cải thiện năng lực quản trị tài chính dự án; (2) nâng cao hiệu quả điều hành dự án từ lãnh đạo và (3) cải thiện khả năng thích nghi của các bộ phận thực hiện dự án trước các biến đổi từ bên ngoài
8 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo và các phụ lục luận án được kết cấu thành bốn chương như sau: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA vào phát triển đường sắt đô thị
Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong quá trình triển khai các dự án đường sắt đô thị tại Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TRIỂN KHAI DỰ ÁN SỬ DỤNG ODA VÀO
PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
1.1 Một số vấn đề lý luận về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA: Official Develoment Assistance) là nguồn vốn vay hỗ trợ các nước kém phát triển và đang phát triển để phát triển kinh tế- xã hội, trong đó phần vốn viện trợ không hoàn lại tối thiểu là 25%
Lịch sử ra đời của nguồn vốn vay ODA bắt đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai Để hỗ trợ đồng minh của mình tái thiết đất nước, Mỹ thực hiện kế hoạch Marshall hỗ trợ các nước đồng minh sau chiến tranh (Fuhrer, 1993) Đến những năm 1970, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đề nghị các nước tài trợ dành ra một khoản 0.7% GNP để tạo nguồn viện trợ cho các nước nghèo Ngày nay, ODA đã trở thành một nguồn tài trợ lớn cho nhiều nước nghèo, các nước đang phát triển
Nghiên cứu về ODA đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu và mỗi tổ chức đưa ra định nghĩa về ODA không thống nhất với nhau Điểm thống nhất với nhau giữa các định nghĩa là về mức hỗ trợ không hoàn lại tối thiểu là 25% mới được gọi là ODA Đầu thập niên 1970, OECD đưa ra định nghĩa đầu tiên về ODA như sau “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”
(OECD, 1972) Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa “ODA là một phần của tài
chính phát triển chính thức, trong đó có chủ yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiến ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA” (WB, 2001) Tại Việt Nam theo quy định của nghị định số 16/2016/NĐ-CP, Chính phủ Việt Nam coi ODA là hoạt động hợp tác và phát triển giữa nhà nước
Trang 23Việt Nam với nhà tài trợ nước ngoài, bao gồm: Chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, tổ chức chính phủ được chính phủ nước ngoài ủy quyền Các hình thức cung cấp ODA bao gồm (a) ODA không hoàn lại, (b) ODA cho vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%
Như vậy, quan niệm về ODA có thể được định nghĩa khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở khía cạnh yếu tố viện trợ không hoàn lại phải đạt ít nhất 25% Có thể định nghĩa vốn ODA tại Việt Nam như sau “Nguồn vốn vay hỗ trợ chính thức (ODA)
là các nguồn vốn hỗ trợ của các nhà tài trợ nước ngoài có tính chất ưu đãi có hoàn lại hoặc không hoàn lại, trong đó phần vốn hỗ trợ không hoàn lại phải chiếm ít nhất 25%”
Bản chất của ODA là nguồn vay hỗ trợ phát triển có ưu đãi đối với nước tiếp nhận nhằm phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn và giảm nghèo Ngoài yếu tố về
ưu đãi, hỗ trợ nguồn vốn ODA còn gắn với các mục đích chính trị trong ngắn hạn của tổ chức, nhà nước tài trợ
Thứ nhất, ODA là nguồn vốn hỗ trợ tăng trưởng dài hạn và giảm nghèo cho các nước kém phát triển và đang phát triển Với mục đích giúp các nước kém phát triển và đang phát triển có nguồn vốn đầu tư cho các dự án phát triển xã hội dài hạn nguồn vốn ODA thường hướng tới trợ giúp các nước thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn và giảm nghèo ODA cũng có tính chất đầu tư, tức là đem lại cả lợi ích cho bên hỗ trợ và bên nhận hỗ trợ Do có tính chất đầu tư nên các nguồn vốn vay ODA thường được sử dụng vào các mục đích sau:
(1) Điều chỉnh hoàn thiện cơ cấu kinh tế Đối với những nước kém phát triển
nguồn vốn ODA có thể được sử dụng đề bù đắp cho thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế Điều này giúp cho việc quản lý ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh tế tốt hơn
(2) Tăng nguồn vốn trong nước để chính phủ các nước kém phát triển, đang
phát triển có thể thực hiện các chương trình đầu tư quốc gia, đặc biệt là hệ thống đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế, tạo tiền đề cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo hiệu ứng cho các khu vực vốn tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển
Trang 24(3) Cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân các nước kém phát triển và đang phát triển thông qua các chương trình hỗ trợ giảm nghèo, cải cách giáo dục, y
tế, bảo vệ môi trường,
(4) Trợ giúp chính phủ các nước nhận hỗ trợ thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hoạch định chính sách hay cung cấp thông tin cho đầu tư tư nhân qua điều tra khảo sát, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội ở nước tiếp nhận ODA
Nhìn chung, ODA có tính chất đầu tư nhưng không sinh lời trực tiếp trong ngắn hạn mà hướng tới các mục tiêu có tính chất dài hạn, khả năng thu hồi vốn chậm nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập môi trường cho sự phát triển của các khu vực đầu tư khác, tăng cường sự hợp tác giữa nước cấp vốn ODA và nước tiếp nhận ODA
Thứ hai, vốn ODA thường kèm theo lợi ích chiến lược và chính trị ngắn hạn từ phía nhà tài trợ Ngoài các mục tiêu hỗ trợ các nước đang phát triển việc cung cấp ODA của các nước và tổ chức còn có những mục đích riêng khác như (i) lợi ích kinh tế từ khoản vay ODA; (ii) mở rộng hợp tác quốc tế; (iii) mở rộng thị trường xuất khẩu của nước cung cấp ODA thông qua các điều khoản hợp tác và (iv) đảm bảo an ninh, quốc phòng hoặc các mục tiêu chính trị khác Các biểu hiện để đạt được các mục tiêu của bên cung cấp ODA thường thông qua các phương thức:
(1) Thông qua hợp đồng kí kết các nước tiếp nhận phải thực hiện những yêu cầu nhất định theo hướng có lợi cho bên viện trợ Xu hướng thế giới cho thấy các nhà tài trợ giảm các khoản viện trợ không hoàn lại và tăng các khoản vay ưu đãi qua các điều kiện ràng buộc với nước tiếp nhận ODA như phải mua sản phẩm, lựa chọn nhà thầu từ nước cung cấp ODA
(2) Vốn ODA có sự phân biệt giữa các nước tiếp nhận cần đáp ứng tiêu chuẩn
có tính chất cá nhân từ các nhà tài trợ. Chỉ những nước đáp ứng được các yêu cầu của nhà tài trợ mới được đầu tư các dự án ODA Ngược lại, các nước không có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn từ nhà tài trợ nhưng thực sự cần vốn hỗ trợ phát triển lại không được thực hiện đầu tư
(3) Với những những hình thức viện trợ có tính chất ràng buộc, nước tiếp nhận vay có thể chịu mức lãi suất cao Chính vì vậy, ngoài nguồn vốn vay có được để đầu tư
Trang 25phát triển, nước tiếp nhận cũng gánh thêm khoản lãi suất cần phải trả cho nước viện trợ Vấn đề này cũng là một áp lực lớn trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA nếu không muốn dẫn tới tình trạng nợ ODA với các dự án không hiệu quả
Phân loại vốn ODA có nhiều cách khác nhau tùy vào từng tiêu chí phân loại
Có bốn cách phân loại chính đối với các hình thức ODA (Nguyễn Thị Hoàng Oanh, 2006; Vũ Chí Lộc, 2012)
1.1.3.1 Phân loại theo phương thức hoàn trả
phải hoàn trả cho bên tài trợ Có thể coi viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu của ngân sách Nhà nước, được sử dụng theo hình thức Nhà nước cấp phát lại cho các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% trong tổng số vốn ODA trên Thế giới Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng: Hỗ trợ kỹ thuật và viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
ODA vay ưu đãi: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền, với các điều kiện ưu đãi về lãi suất (thấp hơn lãi suất thị trường), thời gian ân hạn và thời gian trả nợ; hoặc không chịu lãi mà chỉ chịu chi phí dịch vụ Vay ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn vay ODA trên Thế giới, là nguồn thu phụ thêm để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước
ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại
Nhìn chung hiện nay các nước cung cấp ODA đang có chiều hướng giảm viện trợ không hoàn lại; tăng hình thức tín dụng ưu đãi và ODA hỗn hợp
1.1.3.2 Phân loại theo nguồn cung cấp
ODA song phương: Là các khoản tài trợ phát triển chính thức từ nước này cho nước kia (nước phát triển cho nước đang hoặc kém phát triển) thông qua Hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ Trong tổng số ODA lưu chuyển trên thế giới, phần tài trợ song phương chiếm tỷ trọng lớn, có khi lên tới 80%, lớn hơn nhiều so với tài trợ đa phương
Trang 26ODA đa phương: Là các khoản tài trợ phát triển chính thức của một số tổ chức tài chính quốc tế và khu vực như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), …; hoặc các tổ chức phát triển của Liên hợp quốc như: Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP), Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức nông lương thế giới (FAO),…; hoặc Liên minh Châu Âu (EU), các tổ chức thuộc Liên minh Châu Âu, và các tổ chức phi chính phủ (NGOs)…cho các nước đang hoặc kém phát triển
1.1.3.3 Phân loại theo mục đích sử dụng ODA
của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: Chuyển giao tiền tệ hoặc hiện vật cho nước nhận ODA; Hỗ trợ nhập khẩu (tài trợ hàng hoá): Chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ
Hỗ trợ theo chương trình: Là hỗ trợ theo khuôn khổ đạt được bằng hiệp định với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA trong một khoảng thời gian
mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ sử dụng như thế nào Đây
là loại hình ODA trong đó các bên lồng ghép một hay nhiều mục tiêu với tập hợp nhiều dự án, hay nhiều hợp phần
Hỗ trợ theo dự án: Là khoản hỗ trợ, trong đó nước nhận hỗ trợ phải chuẩn bị chi tiết dự án Loại hình hỗ trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn ODA và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, kinh tế – xã hội Trị giá vốn của các
dự án đầu tư thường lớn hơn và thời gian thực hiện dài hơn các loại dự án khác
Hỗ trợ kỹ thuật: Là loại hình thường tập trung chủ yếu vào chuyển giao kiến thức hoặc tăng cường cơ sở, lập kế hoạch, tư vấn, nghiên cứu tình hình thực tiễn, nghiên cứu tiền khả thi…Vốn của dự án hỗ trợ kỹ thuật dành chủ yếu cho thuê tư vấn quốc tế, tư vấn trong nước, tổ chức đào tạo, nghiên cứu khảo sát và mua sắm thiết bị văn phòng Trị giá vốn của các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường không lớn
1.1.3.4 Phân loại theo điều kiện ODA
Theo điều kiện ODA được chi thành 3 loại: ODA không ràng buộc; ODA có
Trang 27ràng buộc (gồm ODA ràng buộc bởi nguồn sử dụng và ODA ràng buộc bởi mục đích sử dụng) và ODA ràng buộc một phần
ODA trên thế giới được cung cấp chủ yếu theo hai dạng song phương và đa phương:
1.1.4.1 Các đối tác cung cấp ODA song phương
Các đối tác cung cấp ODA song phương chủ yếu bao gồm các nước công nghiệp phát triển thuộc DAC, các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), ODA song phương còn được cung cấp bởi Liên Xô và một số nước Đông Âu khác Tại Việt Nam, trong những năm trở lại đây nguồn cấp ODA được cấp chủ yếu từ Nhật Bản Trong năm 2014 các nhà tài trợ lớn bao gồm: Nhật Bản (JICA) hơn 1,770 tỷ USD, Ngân hàng Thế giới (WB) gần 1,390 tỷ USD, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) 1,058 tỷ USD (Bộ tài chính, 2015)
1.1.4.2 Các đối tác cung cấp ODA đa phương
Bên cạnh việc cung cấp ODA song phương, ODA còn được chuyển giao thông qua các tổ chức viện trợ đa phương bao gồm: Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: gồm Ủy ban châu Âu (EC) và các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc; Các định chế tài chính và các quỹ gồm: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),…; Các tổ chức phi chính phủ (NGOs như Greenpeace, Amnesty International, Human Rights Watch, Oxfam, Tổ chức chữ thập đỏ và lưỡi liềm đỏ quốc tế, World Vision,…
1.1.5 Tác động của ODA
Vốn ODA là nguồn vốn hỗ trợ ưu đãi của các nước phát triển dành cho các nước kém phát triển và đang phát triển Mặc dù có tính chất ưu đãi và có ý nghĩa lớn đối với các nước nhận hỗ trợ từ các nhà tài trợ ODA nhưng bên cạnh đó ODA cũng phục vụ mục đích về kinh tế hay chính trị của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ ODA có tác động khác nhau cả tích cực và tiêu cực đến nước tiếp nhận và nước tài trợ
Trang 281.1.5.1 Tác động của ODA với các nước tiếp nhận tài trợ
* Tác động tích cực
Thứ nhất, ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước kém phát triển và đang phát triển đảm bảo chi đầu tư cho phát triển, giảm gánh nặng ngân sách cho nguồn ngân sách eo hẹp của các nước nghèo Vốn vay ODA thường có thời hạn vay dài từ 10 đến 30 năm và có mức lãi suất vay thấp hơn các nguồn vay khác Do đó, ODA được xem là nguồn vốn có tính “nhân đạo“ đối với các nước kém phát triển
và đang phát triển Chỉ với nguồn vốn lớn với điều kiện vay ưu đãi như vậy chính phủ các nước kém phát triển và đang phát triển mới có thể tập trung cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội như hệ thống giao thông, điện, giáo dục, y tế, nông nghiệp xóa đói, giảm nghèo Những cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các nước nghèo Theo tính toán của các chuyên gia của WB, đối với các nước đang phát triển có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng thêm 0,5%
Thứ hai, ODA giúp các nước kém phát triển và đang phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ
và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước kém phát triển và đang phát triển Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc
tế, các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình
Thứ ba, ODA giúp các nước kém phát triển và đang phát triển thực hiện việc xóa đói, giảm nghèo Xoá đói nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9%
Trang 29tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh Và nếu như các nước giàu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo
Thứ tư, nguồn vốn ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước kém phát triển và đang phát triển Đa phần các nước kém phát triển và đang phát triển rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ
Thứ năm, nguồn vốn ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực
bổ sung cho đầu tư tư nhân Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ Tuy nhiên, không phải lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân Ở những nền kinh tế có môi trường bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung mà còn “loại trừ” đầu tư tư nhân Điều này giải thích tại sao các nước đang phát triển mắc nợ nhiều, mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc tiếp nhận được rất ít vốn FDI
Thứ sáu, vốn ODA giúp các nước kém phát triển và đang phát triển tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế
* Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực từ ODA tới phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển và kém phát triển ODA cũng có thể có tác động tiêu cực đến các nước tiếp nhận ODA
Thứ nhất, ODA là vốn hỗ trợ nhưng bản chất là vốn vay do đó nó làm tăng nợ của các quốc gia tiếp nhận Mặc dù được ưu đãi vay và hỗ trợ không hoàn lại một phần vốn vay nhưng ODA cũng là một khoản vay và phải trả Do đó, nó làm tăng mức nợ công của các quốc gia tiếp nhận
Trang 30Thứ hai, ODA có ràng buộc có thể làm các quốc gia chấp nhận lệ thuộc về kinh tế đối với các nước Mặc dù được vay ưu đãi và hỗ trợ không hoàn lại nhưng ODA cũng
có thể làm cho các nước nhận viện trợ bị lệ thuộc về kinh tế Vốn ODA thường kèm theo những điều kiện có lợi cho các nhà thầu của nước cấp vốn như phải tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật, lựa chọn nhà thầu của nước tài trợ Những tác động này đủ lớn có thể làm cho nền kinh tế bị lệ thuộc vào một số nước cấp ODA lớn
Thứ ba, ODA có thể không hiệu quả so với nguồn vốn khác do đội vốn Các
dự án ODA trên thế giới và Việt Nam đều có xu hướng đội vốn, tăng tổng mức đầu
tư so với khi lập dự án Điều này làm tính hiệu quả của dự án giảm do vấn đề quản
lý vốn kém hiệu quả
Thứ tư, ODA có thể làm tăng tình trạng tham nhũng ở các nước nhận tài trợ Nếu cơ chế quản lý kém hiệu quả việc sử dụng nguồn vốn ưu đãi có thể làm tăng khả năng tham nhũng của các cơ quan tham gia để trục lợi Bên nhận vốn và các nhà thầu của bên cấp vốn có thể thông đồng để trục lợi từ việc thiếu vắng cơ chế giám sát việc thực hiện nguồn vốn được cấp
1.1.5.2 Tác động của ODA đối với các nước tài trợ
* Tác động tích cực
Đứng ở khía cạnh của các nhà tài trợ ODA, nguồn vốn vay ODA cũng đem lại những lợi ích kinh tế và chính trị nhất định:
Thứ nhất, thông qua cho vay ODA các nước tài trợ thu được các nguồn lợi ích
có tính chất kinh tế từ việc bán hàng hóa và dịch vụ trong nước thông qua các ràng buộc trong hiệp định cho vay với các nước nhận tài trợ Khoản vay ODA cũng chính là khoản hỗ trợ doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường, bán được hàng hóa, dịch vụ, chuyển giao các công nghệ lạc hậu từ các nước cho vay tới nước nhận tài trợ Trong thực tế, các khoản vay ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc
và nguồn vốn có xu hướng quay trở lại chính nước tài trợ
Thứ hai, thông qua các khoản vay ODA nước tài trợ gia tăng được vị thế kinh
tế, ảnh hưởng tới kinh tế và chính trị của các nước nhận viện trợ và nâng cao được
vị thế quốc gia của mình trên trường quốc tế
Trang 31Thứ ba, trong dài hạn nguồn vốn ODA giúp các nước tài trợ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đối với hàng hóa, dịch vụ của nước mình
Thư tư, vốn ODA cũng tham gia việc rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu –nghèo giữa các nước, giúp giải quyết mẫu thuẫn về lợi ích giữa các nước giàu và các nước nghèo
* Tác động tiêu cực
Nhìn chung, đối với các nước cấp vốn với các điều kiện đi kèm thường đem lại lợi ích nhiều hơn cho các quốc gia cho vay ODA Tuy nhiên, nó có thể có những tác động tiêu cực với các quốc gia cho vay
Thứ nhất, nuôi dưỡng các doanh nghiệp kém hiệu quả Do các rằng buộc về mua bán hàng hóa, sử dụng công nghệ hay lựa chọn nhà thầu nên một số nước có xu hướng sử dụng ODA như một khoản bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên điều này có thể dẫn đến việc nuôi dưỡng các doanh nghiệp kém hiệu quả do việc bảo hộ lợi ích mà thiếu tính cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế
Thứ hai, ODA có thể làm tăng các bất ổn về chính trị Việc sử dụng vốn ODA cấp cho các nước kém phát triển hơn từ các nước phát triển là từ tiền thuế của người dân Do đó, khi sử dụng ODA kém hiệu quả hay không đúng mục đích tại các nước tiếp nhận có thể làm tăng nguy cơ bất ổn chính trị do những đòi hỏi về giải trình của công chúng với việc sử dụng ngân sách
1.2 Hiệu quả triển khai dự án phát triển hạ tầng sử dụng vốn ODA
1.2.1 Khái niệm hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA
Hiệu quả việc đạt được chính xác mục tiêu đã đề ra (Ostroff & Schmitt,
bởi hiệu suất là việc đạt được mục tiêu đã đề ra một cách tối ưu nhất trong phạm vi nguồn lực (Ika, 2009) Đối với dự án cũng vậy, hiệu quả của dự án là việc đạt được những mục tiêu mà dự án đề ra (Ika, 2009) Giai đoạn triển khai dự án là giai đoạn dài nhất và sử dụng nhiều nguồn lực nhất, do đó đánh giá hiệu quả dự án có thể thông qua đánh giá hiệu quả triển khai dự án (Jugdev & Muller, 2005) Hiệu quả triển khai dự án là việc đạt được các mục tiêu của giai đoạn triển khai, trong đó bao gồm các mục tiêu về tiến độ, chất lượng, chi phí
Trang 32Trong một dự án ODA có nhiều bộ phận tham gia từ chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, nhà thầu giám sát, nhà thầu thi công và mỗi bộ phận có những mục tiêu khác nhau Ở khía cạnh điều hành, triển khai dự án có thể xem hiệu quả dự án là hiệu quả của từng bộ phận Hiệu quả của cả dự án là hiệu quả tổng thể của từng bộ phận tham gia vào quá trình triển khai dự án Đối với các dự án phát triển cơ sở hạ tầng hiệu quả dự án được thể hiện qua ba khía cạnh chủ yếu (1) chất lượng; (2) chi phí và (3) tiến độ Ngoài ra còn có thể có những mục tiêu cụ thể khác nữa
Xuất phát từ những quan niệm kể trên, trong luận án này hiệu quả triển khai
dự án sử dụng vốn ODA được định nghĩa như sau:“Hiệu quả triển khai dự án sử
dụng vốn ODA là việc đạt được các mục tiêu của tất cả các bộ phận tham gia triển khai dự án, đạt được các mục tiêu chiến lược của từng bộ phận về chất lượng công việc, chi phí, tiến độ và các mục tiêu khác“1 Như vậy, trong luận án này hiệu quả triển khai dự án được hiểu là việc thực hiện thành công các mục tiêu của từng bộ phận trong giai đoạn triển khai
1.2.2 Dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
Hạ tầng giao thông vận tải thuộc về hệ thống hạ tầng kỹ thuật của một khu vực, quốc gia (Nguyễn Đăng Sơn, 2014), trong đó bao gồm các hệ thống các công trình giao thông vận tải hàng hóa và hành khách (như đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường hàng không, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật cho giao thông) Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải là phát triển hệ thống các công trình kể trên Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đóng một vai trò trọng yếu trong đời sống kinh tế, xã hội của đô thị; là động lực để đô thị phát triển
Các dự án phát triển hạ tầng giao thông vận tải đòi hỏi nguồn vốn lớn, đầu tư dài hạn nhưng lại có thời gian thu hồi vốn chậm Theo Bộ Kế hoạch – Đầu tư, tại một số đô thị của nước ta để đầu tư cho hạ tầng giao thông đã kêu gọi nguồn lực trong cả xã hội theo phương cách hợp tác công tư Tuy nhiên, mục tiêu của nhà đầu
quá trình triển khai dự án nên hiệu quả chỉ xem xét ở khía cạnh triển khai dự án mà không đánh giá tính hiệu quả sau khi thực hiện dự án và cũng không xét đến phương pháp đánh giá hiệu quả khi lập dự án Bởi hiệu quả dự án khi lập dự án là “hiệu quả giả định tương lai” đã được tiến hành đánh giá và hiệu quả sau khi hoàn thành dự án là hiệu quả vận hành
Trang 33tư là lợi nhuận, khai thác thu hồi vốn nhanh Vì vậy, việc huy động vốn cho những
dự án này không phải điều dễ dàng và dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải sử dụng vốn ODA vẫn phổ biến Theo tính toán của Bộ GTVT, nguồn vốn thu hút và đầu tư vào ngành GTVT hiện có vốn nước ngoài chiếm 32%, trong đó vốn ODA là chủ yếu với 28%
Theo Tổng cục giao thông đường bộ, việc giải ngân vốn ODA cho các công trình phát triển hạ tầng giao thông của Việt Nam còn chậm chạp, hầu như không đạt được tiến độ đề ra Sự chậm chạp này khiến các nhà tài trợ buộc phải đưa ra ý định rút vốn Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả và sự hoàn thành của các công trình trong ngắn hạn, mà còn ảnh hưởng đến uy tín và khả năng huy động vốn vay trong dài hạn của quốc gia Như đã phân tích ở trên, vốn ODA có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng của nước ta, và vì vậy nghiên cứu cho nâng cao hiệu quả của các dự án hạ tầng sử dụng ODA là rất cần thiết
Theo Hiệp hội quản trị dự án, dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông cũng như các dự án xây dựng khác khác có thể chia thành 4 giai đoạn trong vòng đời (Jugdev & Muller, 2005) Các giai đoạn bao gồm: (1) xem xét tính khả thi, (2) lập
kế hoạch và thiết kế, (3) công trình, (4) vận hành và khai thác Đối với mỗi giai đoạn, cách thức đánh giá hiệu quả và sự thành công của dự án là khác nhau
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA
Nhìn nhận dự án phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng vốn ODA dưới góc độ một dự án xây dựng thông thường, các chỉ tiêu đánh giá sự thành công của dự án trong các nghiên cứu có sự thay đổi theo thời gian (hình 1.1)
Vòng đời của dự án Xác định tính
khả thi
Lập kế hoạch và
Vận hành và khai thác
1960 – 1980 Quá trình
triển khai và bàn giao
dự án: Tam giác thép (gồm tiến độ, chi phí, chất lượng)
Trang 341980 – 1990 Danh sách các yếu tố quan trọng
trong đánh giá thành công của dự án (các yếu tố không được đánh giá trong tương quan với nhau tùy vào dự án):
Tam giác thép
Sự hài lòng của khách hàng Lợi ích cho tổ chức
Sự hài lòng của người sử dụng Lợi ích cho nhà đầu tư và các bên liên quan Lợi ích cho nhân viên của dự án
1990 – 2000 Khung mô hình các yếu tố quan trọng trong đánh giá
thành công của dự án (các yếu tố được đánh giá trong tương quan với nhau tùy vào dự án):
Tam giác thép
Sự hài lòng của khách hàng
Lợi ích cho tổ chức
Sự hài lòng của người sử dụng
Lợi ích cho nhà đầu tư và các bên liên quan
Lợi ích cho nhân viên của dự án
Thế kỉ 21Quản trị chiến lược dự án:
Tam giác thép
Mục tiêu chiến lược của tổ chức khách hàng và thành công của doanh nghiệp
Sự hài lòng của người sử dụng
Lợi ích cho nhà đầu tư và các bên liên quan
Lợi ích cho nhân viên của dự án và việc đánh giá thành công/thất bại theo cách tượng trưng, khái quát
Hình 1.1: Cách thức đo lường thành công của dự án xây dựng qua thời gian
Nguồn: Phát triển từ Jugdev & Muller, 2005 và Ika, 2009
Theo đó, mặc dù theo thời gian các yếu tố được dùng để đánh giá thành công của dự án có sự thay đổi, tuy nhiên Tam giác thép (Iron Triangle) trong đánh giá kết quả của dự án không có sự thay đổi Tam giác thép này xét đến ba khía cạnh là tiến độ, chi phí và hiệu quả (Atkinson, 1999)
Tiến độ là mức độ tiến triển công việc trong một khoảng thời gian nhất định Một dự án được coi là hiệu quả xét đến tiền độ nếu hoàn thành được trong khoảng thời gian xác định trước Quá trình triển khai dự án được coi là hiệu quả nếu đạt được tiến độ đề ra, hay hoàn thành các công việc trong các giai nhất định
Trang 35theo kế hoạch ban đầu
Chi phí là những nguồn lực được bỏ ra được tính bằng tiền để hoàn thành công việc Một dự án được coi là hiệu quả xét đến chi phí nếu hoàn thành trong giới hạn ngân sách đã đề ra, Quá trình triển khai dự án được coi là hiệu quả nếu các giai đoạn triển khai dự án không khiến chi phí bị đội lên Thời gian và chi phí thường được theo dõi thông qua dữ liệu thứ cấp như các báo cáo
Chất lượng của công trình là những chỉ tiêu đề ra trước mang tính kĩ thuật trong đánh giá một công trình Tùy vào công trình mà việc đánh giá chất lượng
có sự thay đổi Tuy nhiên, nhìn chung một dự án được coi là hiệu quả nếu đạt được các chỉ tiêu mang tính kĩ thuật trong kế hoạch
Trong phạm vi luận án, việc đánh giá tính hiệu quả của một dự án là theo khía cạnh triển khai dự án Tính hiệu quả của giai đoạn triển khai dự án thường được đánh giá dựa trên Tam giác thép các chỉ tiêu định lượng, cụ thể là: (1) chỉ tiêu liên quan đến chất lượng thực hiện dự án bao gồm các chỉ tiêu về tiêu chuẩn
kỹ thuật của từng hạng mục công việc, chỉ tiêu về tiêu chuẩn kỹ thuật cho công trình, thiết bị lắp đặt; (2) chỉ tiêu về chi phí dự án như khả năng chuyển vốn, chi phí theo dự toán; các chỉ tiêu tài chính của dự án dựa trên giả định về nguồn chi
và thu khi kết thúc và đưa dự án vào khai thác (NPV, IRR, B/C);(3) các chỉ tiêu liên quan đến thời gian thực hiện và khai thác của dự án như tiến độ thực hiện từng phần dự án, chu kỳ khai thác dự án khi đưa vào hoạt động
Trong luận án này, đứng ở khía cạnh nghiên cứu về hiệu quả dự án trong quá trình triển khai các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án được tập trung vào các nhóm (1) chất lượng công việc khi tham gia dự án; (2) chi phí cho từng công việc khi tham gia dự án; (3) tiến độ thực hiện công việc khi tham gia dự án và (4) các mục tiêu chiến lược khác của từng đơn vị tham gia dự án
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA
Hiệu quả dự án sử dụng vốn ODA chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau Tùy vào góc độ đánh giá có thể thấy hiệu quả sử dụng vốn ODA được xem ở cả khía cạnh quản lý chung (quản lý vĩ mô) và khía cạnh của từng dự án Trong luận
án này xem xét hiệu quả dự án, hay hiệu quả sử dụng vốn trên khía cạnh triển khai
Trang 36dự án nên tác giả tập trung vào nhóm nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả triển khai dự
án Định nghĩa về hiệu quả là việc đạt được mục tiêu chiến lược đặt ra, hiệu quả triển khai dự án là hiệu quả tổng hợp của từng bộ phận tham gia vào quá trình triển khai dự án
Xuất phát từ quan điểm hiệu quả dự án ODA cũng giống như hiệu quả của các dự án kinh doanh Hiệu quả sử dụng vốn ODA cho các dự án ở quá trình triển khai là việc đạt được các mục tiêu chiến lược đặt ra, một dự án triển khai tốt, có hiệu quả đồng nghĩa với việc làm tăng hiệu quả sử dụng vốn ODA Cách xác định hiệu quả trong doanh nghiệp có nhiều cách phụ thuộc vào nhiều tiêu chí khác nhau như hiệu quả tài chính, việc đạt được các mục tiêu kinh doanh (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) Quan niệm về hiệu quả này được xuất phát các nhà nghiên cứu cho rằng hiệu quả là việc đạt được các mục tiêu, kết quả được đánh giá dựa trên mức độ đạt được các mục tiêu hay không (Buzzell & Gale, 1987; Cyer & March, 1992; Hult và cộng sự, 2004; Keh và cộng sự, 2007) Đối với dự án phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng vốn ODA tác giả quan niệm hiệu quả triển khai dự án giống với hiệu quả một dự án xây dựng cho kinh doanh Cũng giống như trong đánh giá hiệu quả kinh doanh trong luận án này tác giả thông qua phân tích từ các nghiên cứu trước xem xét 06 nhân tố chủ yếu tác động tới hiệu quả triển khai dự án là (1) năng lực tài chính; (2) khả năng tổ chức; (3) năng lực điều hành; (4) tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo; (5) năng lực thích ứng và (6) quản trị rủi ro Trong đó:
(1) Năng lực tài chính: Năng lực tài chính là nguồn lực tài chính của dự án,
là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền một cách hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động của dự án được tiến hành bình thường Đối với các
dự án ODA thì việc cung cấp tài chính đầy đủ, kịp thời theo từng giai đoạn của dự
án giúp cho quá trình triển khai dự án được thuận lợi, không bị gián đoạn Mỗi giai đoạn của dự án đều bắt buộc sử dụng một nguồn vốn nhất định đã được định sẵn từ dự toán Do vậy, việc cung cấp tài chính đầy đủ và đúng thời điểm sẽ làm cho chất lượng công trình được đảm bảo như kế hoạch ban đầu: tiền chi trả cho nhân sự cũng được duy trì ổn định tránh tình trạng nợ lương dẫn đến trì trệ tiến độ
Trang 37dự án; dòng tiền ổn định sẽ làm cho hệ thống từ điều hành tới thi công được triển khai một cách thuận lợi, không gặp khó khăn về vấn đề liên quan đến chi phí về nguyên vật liệu dự án hay là tiến độ giải phóng mặt bằng của dự án ODA Các nghiên cứu trong kinh doanh cho thấy năng lực tài chính có ảnh hưởng tới kết quả của tổ chức (Baral, 2005; Kouser và cộng sự, 2011) Cũng giống như vậy đối với
dự án ODA thì năng lực tài chính của dự án cũng là một nhân tố đảm bảo tính hiệu
quả của dự án
(2) Khả năng tổ chức: Khả năng tổ chức là khả năng phối hợp, gắn kết các
hoạt động để triển khai và thực hiện và đạt được các mục tiêu đặt ra Chất lượng tổ chức, phối hợp được xem là một yếu tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện (Becker & Gerhart, 1996; Huselid, 1995) Ngoài ra chất lượng kết nối các hoạt động cũng có ảnh hưởng tới kết quả thực hiện (Walter, Auer & Ritter, 2006) Năng lực tổ chức còn có tác động tới việc quản trị khủng hoảng (Grewal & Tansuhaj, 2001) Đối với một dự án ODA khả năng tổ chức từ ban đầu sẽ giúp cho việc thực hiện các mục tiêu và kế hoạch diễn ra thuận lợi Trong suốt quá trình vận hành của dự án năng lực tổ chức cũng có ảnh hưởng tới kết quả thực hiện Ngoài ra, khả năng tổ chức còn có thể sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả nhất, giảm thiểu được những sai sót và lãng phí trong điều hành cũng như thi công dự án
(3) Năng lực điều hành: Năng lực điều hành là khả năng chỉ đạo của các
lãnh đạo cấp trên đối với cấp dưới Việc điều hành tốt của lãnh đạo sẽ truyền cảm hứng cho nhân viên, nhân viên biết làm như thế nào là tốt nhất và có thể đẩy nhanh tiến độ thực hiện công việc Điều hành không những là chỉ đạo mà còn là truyền cảm hứng làm việc cho các cấp dưới sẽ giúp cho họ có động lực lao động hơn, dẫn tới hiệu quả lao động cũng từ đó mà tăng lên Năng lực điều hành cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá năng lực lãnh đạo Năng lực điều hành cũng được kiểm chứng cho thấy có ảnh hưởng tới kết quả thực hiện hay hiệu suất của tổ
chức (Krasnikov & Jaynchandran, 2008; Kim, 2006)
(4) Tầm nhìn lãnh đạo: Tầm nhìn lãnh đạo chính là tầm nhìn của bản thân
đối với tổ chức mà họ là người đứng đầu Nếu để mô tả, có thể nói rằng tầm nhìn
Trang 38là điểm giao nhau giữa tiềm năng của một tổ chức và năng lực tối đa mà người lãnh đạo có thể đạt được Đối với các tổ chức thì tầm nhìn và chiến lược của lãnh đạo có ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và kết quả kinh doanh của tổ chức (Porter, 2009) Tầm nhìn và chiến lược của tổ chức được xem như một phần năng lực quản trị của tổ chức (AIM, 2013) Đối với các dự án ODA nếu lãnh đạo có tầm nhìn đúng đắn được mọi người trong tổ chức chia sẻ, người lãnh đạo có thể thuyết phục được những người trong tổ chức đồng lòng theo mình vượt qua những khó khăn, thách thức để thực hiện được mục tiêu của tổ chức cũng như nâng cao hiệu quả dự án Lãnh đạo có những chiến lược rõ ràng sẽ giúp việc triển khai công việc
dễ dàng hơn nhờ tính sát thực, chi tiết cụ thể Bên cạnh đó, tầm nhìn của lãnh đạo còn có thể tìm ra các rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thực hiện dự án, từ đó
có các biện pháp ứng phó trước hoặc khi rủi ro đó xảy ra; điều này giúp tiến độ dự
án không bị ảnh hưởng bởi các lý do khách quan cũng như chủ quan từ phía dự án
(5) Khả năng thích nghi: là khả năng mà tổ chức phối hợp và định dạng lại
các nguồn lực của mình để đáp ứng những thay đổi của môi trường (Gibson & Birkinshaw, 2004; Sapienza và các cộng sự, 2006; Zhou & Li, 2010) Đối với doanh nghiệp khả năng thích nghi là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh (Zhou & Li, 2010) Đối với dự án ODA để đạt hiệu quả cũng cần
có khả năng thích nghi với những biến động từ môi trường bên ngoài Đó có thể là khả năng ứng phó khi có tình trạng giải ngân chậm, tiến độ hay chất lượng gặp khó khăn Khả năng thích ứng tốt sẽ làm cho bộ máy có thể vẫn hoạt động một
cách bình thường khi gặp những thay đổi từ môi trường bên ngoài
(6) Khả năng quản trị rủi ro: Khả năng quản trị rủi ro là việc dự đoán và ứng
phó với các rủi ro xảy ra khi thực hiện dự án (Ward & Chaman, 2003; Larson & Gray, 2011; Schoroeder và cộng sự, 2011) Quản trị rủi ro của dự án có thể thực hiện thông qua việc dự đoán được khả năng xảy ra bất chắc cho dự án, từ đó có các quyết định thực hiện phù hợp nhằm tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại có thể mang lại cho dự án Ngoài vấn đề dự đoán rủi ro trong trường hợp chưa xảy ra sự cố, quản trị rủi ro còn được thể hiện qua các kế hoạch đối phó với các sự cố đã xảy ra, tổ chức chấp nhận rủi ro này và có các cách khắc phục tối ưu nhất giúp đảm bảo hiệu quả
Trang 39của dự án đang thực hiện
1.3 Kinh nghiệm sử dụng vốn ODA, phát triển hạ tầng, phát triển đường sắt đô thị trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm sử dụng và quản lý ODA
Một số nước kém và đang phát triển đã thành công trong việc sử dụng vốn ODA để hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội Trong đó Malaysia và Indonesia là hai nước trong khu vực có sự tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội với nước ta và là hai nước có kinh nghiệm sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả Hai nước
đã xây dựng được một hệ thống quản lý ODA phù hợp theo mô hình quản lý tập trung đi đôi với phân cấp trách nhiệm Hai quốc gia này vẫn đang hoàn thiện khung thể chế pháp lý về ODA
Đối với Malaysia, các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý được phân định rõ ràng Các cơ quan liên quan có sự phối hợp chặt chẽ và trên quan điểm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các ban quản lý dự án để thực hiện các dự án đúng tiến độ, áp dụng các thủ tục trình duyệt nhanh gọn nhằm giảm bớt phí cam kết Lấy
ví dụ, Chính phủ Malaysia chủ động đề nghị với nhà tài trợ hủy bỏ đối với hợp phần khó thực hiện trong dự án Thêm vào đó, công nghệ thông tin được áp dụng khá thành công trong công tác theo dõi, giám sát các cơ quan liên quan đến quản lý vốn ODA Một trong những kinh nghiêm của Malaysia là đưa toàn bộ các đề nghị thanh toán lên mạng Bằng cách làm như vậy, Malaysia trở thành một trong những quốc gia tiêu biểu về chống tham nhũng Mặt khác, việc phân cấp trong quản lý tài chính hiệu quả cũng là một lý do dẫn đến sự thành công của Malaysia trong việc thu hút, quản lý và sử dụng ODA Ban công tác phát triển bang và hội đồng phát triển quận, huyện chịu trách nhiệm xử lý những vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án, chứ không phải trình lên tận Chính phủ, hay các bộ chủ quản Tiếp đó, các đơn vị này sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp về sai sót xảy ra trong quá trình thanh tra với chủ
dự án Sự rõ ràng trong phân chia quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng giúp nâng cao hiệu quả của đồng vốn ODA, đồng thời giúp nâng cao trình độ quản lý của các cán
bộ ở cấp địa phương Bên cạnh đó, còn những nguyên nhân khác dẫn tới thành công trong quản lý và sử dụng ODA ở Malaysia, bao gồm: (1) Sự phối hợp giữa nhà tài
Trang 40trợ và nước nhận viện trợ trong trong hoạt động kiểm tra, giám sát các dự án ODA,
mà nội dung đánh giá tập trung chủ yếu vào việc so sánh hiệu quả của dự án với kế hoạch, chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện và chú trọng vào kết quả; (2) Có sự tham gia của khu vực tư nhân vào thực thi dự án đặc biệt trong các
dự án kết cấu hạ tầng, năng lượng và công nghiệp và (3) Văn hóa chịu trách nhiệm của các cán bộ quản lý ở Malaysia là tốt
Tại Indonesia, hàng năm các bộ, ngành chủ quản phải lập danh mục các dự án cần hỗ trợ ODA, gửi đến Bộ Kế hoạch quốc gia (BAPPENAS) để tổng hợp Bộ Kế hoạch quốc gia thẩm định các dự án ODA dựa trên quan điểm độc lập với bộ chủ quản khi xem xét về lợi ích tổng thể của quốc gia Đến nay, rất nhiều dự án bị Bộ
Kế hoạch quốc gia từ chối, đã thể hiện rõ tính độc lập, chủ quyền của Indonesia trong quan hệ quốc tế Ngay cả địa điểm ký các dự án ODA cũng thay đổi Nếu trước đây thường ký tại Hoa Kỳ (trụ sở của WB) hoặc Philippines (trụ sở của ADB), thì đến nay hầu hết các dự án đều được ký tại Jakarta để tránh việc đoàn đàm phán của Indonesia bị đối tác nước ngoài gây ảnh hưởng Ngoài ra, Chính phủ cũng thuê các luật sư giỏi để tư vấn trong quá trình đàm phán, thu hút và sử dụng ODA, đặc biệt đối với các dự án ODA có sử dụng vốn vay lớn Nguyên tắc của chính phủ Indonesia là chỉ vay tiếp dự án mới khi đã thực hiện xong dự án cũ nhằm quyết tâm
sử dụng thật sự hiệu quả và giải ngân đúng tiến độ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức Bên cạnh đó, Chính phủ cũng nhấn mạnh nguyên tắc, vay ODA phải đảm bảo
độ an toàn cao Đối với các dự án ODA có sử dụng vốn lớn, yêu cầu phải có chuyên gia tư vấn là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo tính hiệu quả của dự án Mặt khác,
Bộ Tư pháp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút, quản lý và sử dụng các
dự án ODA, vì Bộ Tư pháp là cơ quan đưa ra ý kiến về pháp lý đối với các dự thảo Hiệp định vay vốn nước ngoài Mục đích của cơ chế điều phối này là tránh sự trùng lặp trong hoạt động hợp tác Để khắc phục tình trạng tham nhũng, tháng 12/2003, Indonesia đã thành lập Ủy ban quốc gia về chống tham nhũng, ngân sách hoạt động chủ yếu do Nhà nước cấp, ngoài ra còn thu hút được sự quan tâm tài trợ của nhiều đối tác nước ngoài