1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam

197 290 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu nước ngoài ĐTC là một trong những lĩnh vực được quan tâm không chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế thực tiễn mà nó còn nhận được sự quan tâm của các nh

Trang 1

PHẠM MINH HÓA

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: KINH TẾ ĐẦU TƯ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS NGUYỄN THÀNH ĐỘ

2 PGS.TS ĐỖ VĂN THÀNH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận án không trùng với các công trình khoa học khác đã công bố

Nghiên cứu sinh

Phạm Minh Hóa

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận án "Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam” không thể hoàn

thành nếu không có sự hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của hai thầy hướng dẫn là: GS.TS Nguyễn Thành Độ và PGS.TS Đỗ Văn Thành và các thầy giáo, cô giáo của Khoa Đầu tư, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, các thầy giáo, cô giáo của Khoa Đầu tư đã tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn về nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học và tạo điều kiện giúp đỡ Nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thành Độ và PGS.TS Đỗ Văn Thành đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành thời gian trao đổi và định hướng cho Nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án

Nghiên cứu sinh xin cảm ơn gia đình đã thường xuyên động viên, khích lệ để Nghiên cứu sinh có thêm động lực để hoàn thành luận án

Do điều kiện chủ quan và khách quan, chắc chắn luận án còn có thiếu sót, Nghiên cứu sinh rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Phạm Minh Hóa

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu 6

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 14

1.1.3 Những kết luận rút ra và khoảng trống nghiên cứu 19

1.2 Phương pháp nghiên cứu 22

1.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 22

1.2.2 Phương pháp xử lý tài liệu, số liệu 23

1.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 23

CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG 29

2.1 Lý luận chung về ĐTC 29

2.1.1 Khái niệm 29

2.1.2 Đặc điểm của ĐTC 33

2.1.3 Mối quan hệ của ĐTC đối với tăng trưởng và giảm nghèo 35

2.2 HQĐT công 44

2.2.1 Khái niệm HQĐT công 44

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá HQĐT công 47

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến HQĐT công 52

2.3.1 Nhân tố khách quan 52

2.3.2 Nhân tố chủ quan 54

2.4 Kinh nghiệm của các nước về ĐTC và hiệu quả của ĐTC và bài học cho Việt Nam 62

2.4.1 Kinh nghiệm các nước về ĐTC và HQĐT công 62

2.4.2 Bài học cho Việt Nam 69

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM 71 3.1 Tổng quan về ĐTC tại Việt Nam 71

3.1.1 Quy mô ĐTC 71

3.1.2 Phân bổ và quản lý, sử dụng vốn ĐTC 73

3.1.3 ĐTC theo hình thức Hợp tác Công tư PPP 76

3.2 Thực trạng HQĐT công tại Việt Nam 78

3.2.1 Thực trạng hiệu quả kinh tế của ĐTC 78

3.2.2 Thực trạng hiệu quả xã hội của ĐTC qua thực hiện mục tiêu giảm nghèo 94

3.3 Đánh giá chung về HQĐT công tại Việt Nam 98

Trang 5

3.3.1 Kết quả đạt được 98

3.3.2 Tồn tại, hạn chế 102

3.3.3 Nguyên nhân 104

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM 119

4.1 Bối cảnh thế giới, trong nước và những vấn đề đặt ra 119

4.1.1 Bối cảnh thế giới 119

4.1.2 Bối cảnh trong nước 119

4.1.3 Những vấn đề đặt ra 121

4.2 Quan điểm định hướng nâng cao HQĐT công tại Việt Nam 122

4.2.1 HQĐT công cần phải gắn với thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi xã hội 122

4.2.2 Mức độ lan tỏa, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển là thước đo quan trọng của HQĐT công 123

4.2.3 Quản lý, kiểm soát chặt chẽ ĐTC là trọng tâm của chính sách ĐTC nhằm nâng cao HQĐT công 125

4.2.4 Tuân thủ triệt để quy hoạch, quyết định đầu tư đồng bộ với khả năng bố trí nguồn lực trên cơ sở bộ tiêu chí ưu tiên, thực hiện nghiêm túc kỷ luật tài khóa đảm bảo cho ĐTC đạt được hiệu quả 125

4.3 Giải pháp nâng cao HQĐT công ở Việt Nam 128

4.3.1 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, lập kế hoạch ĐTC 128

4.3.2 Nhóm giải pháp về điều chỉnh cơ cấu ĐTC 132

4.3.3 Nhóm giải pháp về cơ cấu lại NSNN, tăng cường kỷ luật tài khóa 137

4.3.4 Nhóm giải pháp về tăng cường quản lý ĐTC 141

4.3.5 Nhóm giải pháp về tăng cường, nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch trong ĐTC 144

4.4 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 146

4.4.1 Xây dựng hệ thống đánh giá chương trình, dự án ĐTC, nhà thầu, cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng vốn ĐTC 146

4.4.2 Thành lập cơ quan chuyên trách, độc lập thực hiện kiểm tra, giám sát ĐTC 147

4.4.3 Phát triển tổ chức tư vấn độc lập đánh giá, thẩm định trước khi phê duyệt, khi điều chỉnh chương trình, dự án ĐTC 148

4.4.4 Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển CSHT thông qua hình thức PPP 148

KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NCS

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BOT : Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao

BT : Xây dựng – chuyển giao

BTO : Xây dựng – chuyển giao – kinh doanh

CSHT : Xây dựng – chuyển giao – kinh doanh

ĐTC : Đầu tư công

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP : Tổng giá trị sản phẩm quốc dân

HDI : Chỉ số phát triển con người

HQĐT : Hiệu quả đầu tư

NSĐP : Ngân sách địa phương

WTO : Tổ chức thương mại quốc tế

VLHSS : Bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình

Trang 7

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU

HÌNH

Hình 2.1: Mối quan hệ giữa vốn ĐTC và sản lượng kinh tế 35

Hình 2.2: Đóng góp của ĐTC vào GDP 37

Hình 2.3: Mối quan hệ của ĐTC đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo 42

BẢNG Bảng 3.1 Quy mô ĐTC giai đoạn 2000-2015 71

Bảng 3.2 Cơ cấu đầu tư giai đoạn 2000-2014 72

Bảng 3.3 Cơ cấu ĐTC thực hiện phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2005-2013 73

Bảng 3.4 Cơ cấu vốn ĐTC theo phân cấp quản lý giai đoạn 2000-2015 75

Bảng 3.5 ĐTC và tăng trưởng kinh tế 78

Bảng 3.6: Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 81

Bảng 3.7: Kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến số với độ trễ là 2 81

Bảng: 3.8: Kiểm định đồng liên kết 82

Bảng 3.9: Kết quả hồi quy mô hình VECM 84

Bảng 3.10: Thống kê mô tả các biến 86

Bảng 3.11: Kết quả hồi quy mô hình 87

Bảng 3.12 Hệ số ICOR theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005-2014 88

Bảng 3.13 : Thống kê mô tả các biến 90

Bảng 3.14 : Kết quả hồi quy mô hình 90

Bảng 3.15 Tỷ lệ nghèo của Việt Nam 94

Bảng 3.16: Mối quan hệ tương quan giữa ĐTC với giảm nghèo 97

BIỂU Biểu 3.1: ĐTC và tăng trưởng kinh tế 79

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

HQĐT công luôn là một vấn đề thu hút được sự quan tâm không chỉ của Chính phủ, chuyên gia kinh tế, nhà nghiên cứu mà còn là của toàn xã hội, nhất là

ở các nước đang phát triển và kém phát triển Bởi lẽ ở những nước này, hoạt động ĐTC luôn được cho là kém hiệu quả do chất lượng lựa chọn dự án thấp, chậm trễ trong việc thiết kế và hoàn thành dự án, do tham nhũng, do chi phí luôn tăng so với quyết định đầu tư ban đầu, rất nhiều dự án không hoàn thành, các CSHT không hoạt động và được bảo dưỡng hiệu quả (Straub, 2008) HQĐT công thấp gây rất nhiều bức xúc cho người dân do nguồn vốn dành cho ĐTC phần lớn là từ thuế của người dân trong khi hàng hóa, dịch vụ công không đáp ứng được nhu cầu của người dân và phát triển của đất nước Theo Ngân hàng Thế giới (WB), 30% lợi ích tiềm năng của ĐTC trên thế giới đã bị mất do HQĐT thấp, ở các nước đang phát triển mất 40% lợi ích tiềm năng, ở các nước đang nổi lên mất 27% và các nước phát triển mất khoảng 13%

Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, ĐTC là một trong yếu tố đóng vai trò quan trọng và quyết định đối với tăng trưởng kinh tế ĐTC được tập trung chủ yếu vào xây dựng CSHT kinh tế kỹ thuật, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo Nguồn lực tài trợ cho ĐTC chủ yếu là từ NSNN, viện trợ từ nước ngoài (ODA) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi mà tỷ lệ tăng đầu tư nói chung và ĐTC nói riêng trên GDP ngày càng mở rộng tăng lên thì hiệu quả ngày càng giảm; tình trạng lãng phí, tham nhũng ngày càng phổ biến lên đến 20% - 30% Việc chấp nhận chủ trương đầu tư cũng như ra quyết định đầu tư vẫn chủ yếu dựa trên các yêu cầu phát triển KT-XH và khả năng huy động vốn Trong khi đó, các tiêu chuẩn về HQĐT chưa được xem là yếu tố quyết định đối với quyết định ĐTC và chưa quy định ràng buộc về mặt pháp

lý một cách chặt chẽ Cơ chế, chính sách, công cụ quản lý đầu tư tồn tại nhiều

Trang 9

hạn chế, bất cập, chậm được khắc phục

Vậy đâu là nguyên nhân của vấn đề? Phải chăng đó là do tồn tại thuộc về thể chế, bộ máy quản lý? Hay do sự can thiệp một cách quá mức không theo nguyên tắc thị trường của Chính phủ đối với ĐTC? Liệu có phải do nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực mà đáng nhẽ để cho khu vực tư nhân thực hiện đầu tư? Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét đánh giá một cách khách quan liệu có phải ĐTC thực sự kém hiệu quả ở tất cả lĩnh vực đầu tư (CSHT, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo…) hay chỉ ở một số lĩnh vực? Thất thoát là một trong tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của ĐTC nhưng liệu xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế thì ĐTC có tác động tích cực hay tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế? Đây có phải là thời điểm thoái lui của ĐTC để xác định vai trò của đầu tư khu vực tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Chính phủ đang nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc ĐTC, tái cơ cấu nợ công Tuy nhiên, câu trả lời cho hầu hết câu hỏi nêu trên đó chính là HQĐT công Khi ĐTC thực sự hiệu quả và

có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn và đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân, góp phần tích cực trong xóa đói giảm nghèo thì không có lý do gì để cắt giảm ĐTC hay coi ĐTC là nhân tố gây bất ổn kinh tế vĩ mô Mặc dù đến nay Luật ĐTC năm 2014

đã có hiệu lực thi hành nhưng trên thực tế vẫn tồn tại các quan điểm khác nhau, chưa thống nhất về ĐTC, HQĐT công Ngoài ra, theo cảnh báo của Bộ Tài chính, từ ngày 01/7/2017, Việt Nam sẽ không còn được hưởng ưu đãi về lãi suất

và thời gian trả nợ đối với nguồn vốn ODA và thực tế mức nợ công đã chạm mức trần an toàn; thu NSNN ngày càng khó khăn do đến thời điểm buộc phải cắt giảm các dòng thuế theo cam kết của các hiệp định thương mại tự do thì sử dụng

có hiệu quả từng đồng vốn cho ĐTC là giải pháp then chốt thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo ổn định tài chính vĩ mô

Vì vậy, với đề tài “Nâng cao hiệu quả ĐTC tại Việt Nam”, tác giả mong

muốn đóng góp một góc nhìn về ĐTC trong mối quan hệ với tăng trường kinh tế và

Trang 10

giảm nghèo trên cơ sở hệ thống lý luận và nghiên cứu thực trạng từ đó có thể đề xuất một số khuyến nghị về chính sách có liên quan đến vấn đề này

2 Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của Luận án là nghiên cứu, đánh giá HQĐT công tại Việt Nam giai đoạn 2000-2015 thông qua các chỉ tiêu hiệu quả được xem xét dưới góc độ thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo; từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao HQĐT công ở Việt Nam

Để thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, Luận án hướng tới giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:

- Hệ thống cơ sở lý luận về ĐTC, HQĐT công gắn với tăng trưởng kinh

tế và giảm nghèo

- Phân tích, đánh giá thực trạng ĐTC và HQĐT công ở Việt Nam thông qua việc tính toán và phân tích một số chỉ tiêu HQĐT công, mức độ ảnh hưởng đến tăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam

- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao HQĐT công tại Việt Nam

Các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết trong luận án gồm:

Một là, ĐTC và mối quan hệ của ĐTC với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo là gì?

Hai là, hiệu quả của ĐTC và các chỉ tiêu đánh giá HQĐT công là gì?

Ba là, các nhân tố tác động đến hiệu quả của ĐTC là gì?

Bốn là, thực trạng ĐTC và HQĐT công ở Việt Nam gắn với tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo thời gian qua như thế nào?

Năm là, làm thế nào để nâng cao HQĐT công ở Việt Nam trong thời gian tới?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

HQĐT công ở Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Trang 11

và giảm nghèo

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: phân tích, đánh giá HQĐT công về khía cạnh kinh

tế (mức độ tác động đến tăng trưởng kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy đầu

tư tư nhân) và khía cạnh xã hội (mức độ tác động đến giảm nghèo)

- Phạm vi về thời gian: Do hạn chế về nguồn và khả năng phân tách nên số liệu phục vụ nghiên cứu chủ yếu là số liệu thứ cấp theo nguồn chính thống (Niên gián thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính) và bắt đầu từ năm 2000 đến năm 2015 và số liệu từ 05 cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) các năm 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012

4 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của luận án được tác giả thể hiện qua sơ đồ sau:

5 Những đóng góp mới của Luận án

- Hệ thống hóa và góp phần luận chứng các vấn đề lý luận về ĐTC và

HQĐT công:

+ Các chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá HQĐT công + HQĐT công gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh

tế và giảm nghèo

Giải pháp nâng cao HQĐT công tại Việt Nam

Trang 12

HQĐT công: Khái niệm, đặc điểm, mối quan hệ của ĐTC với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo; Khái niệm, các chỉ tiêu đánh giá HQĐT công xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế gắn với mục tiêu của ĐTC (tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo) và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến HQĐT công gắn với quan điểm toàn diện về ĐTC

- Phân tích và đánh giá thực trạng HQĐT công của Việt Nam giai đoạn 2000-2015 thông qua một số chỉ tiêu tổng hợp; trong đó, có sử dụng một số công cụ kinh tế lượng để đánh giá HQĐT công gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Trên cơ sở đó, chỉ ra kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân

- Xác định quan điểm, định hướng và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao HQĐT công ở Việt Nam trong thời gian tới

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận án được chia làm 04 chương, gồm:

Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Lý luận chung về ĐTC và nâng cao HQĐT công

Chương 3: Thực trạng HQĐT công tại Việt Nam gắn với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo

Chương 4: Giải pháp nâng cao HQĐT công tại Việt Nam gắn với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

ĐTC là một trong những lĩnh vực được quan tâm không chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế thực tiễn mà nó còn nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới với những cách tiếp cận và giải quyết các vấn đề khác nhau với những phương pháp nghiên cứu khác nhau được áp dụng cho mỗi nghiên cứu, cụ thể:

Với các nhà nghiên cứu trên thế giới, ĐTC lần đầu tiên được đề cập đến như là một yếu tố của quá trình sản xuất (Arrow và Kurz (1970)), theo đó, tác giả đã khẳng định ĐTC có vai trò, đóng góp tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở kết luận này, các nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển các mô hình nghiên cứu về ĐTC và tiêu biểu là mô hình tăng trưởng nội sinh của nhóm tác giả Glomm và Ravikumar (1994),

và Fisher,W.H.,Turnovsky (1998) Khi nghiên cứu mô hình tăng trưởng một khu vực, với giả định hoạt động sản xuất chỉ diễn ra ở một khu vực, đó là khu vực kinh tế tư nhân, hàm sản xuất tổng hợp bao gồm vốn ĐTC, vốn đầu tư tư nhân và lao động nhưng vốn ĐTC có vai trò bổ sung, hỗ trợ cho khu vực kinh tế tư nhân tạo ra tăng trưởng kinh tế; đồng thời, nguồn lực cho ĐTC được tài trợ bởi thuế và vay nợ, tại công trình nghiên

cứu “Public versus private investment in human capital: endogenous growth and

tồn tại một trạng thái cân bằng cạnh tranh duy nhất được đặc trưng bởi phương trình Euler và thiết lập sự tồn tại của một kế hoạch ĐTC tối ưu

Trong khi đó, tác giả Turnovsky (1997) có cách tiếp cận khác khi sử dụng mô hình hai khu vực kinh tế, kết quả nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế là kết quả đóng góp tổng hợp của khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước Mục tiêu của khu vực kinh tế tư nhân là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của khu vực kinh tế nhà nước nhằm mục đích là sản xuất là một khối lượng hàng

Trang 14

hóa công cộng với mức chi phí thấp nhất Hàm sản xuất phụ thuộc cả vào vốn đầu

tư tư nhân và vốn ĐTC, cũng như phụ thuộc vào biến lao động nội sinh

Trong mô hình kinh tế mở, nguồn lực cho ĐTC ở các nước đang phát triển được tài trợ bởi vay nợ nước ngoài thông qua các khoản vay nợ song phương, đa phương hoặc những cam kết viện trợ phát triển chính thức (ODA) Trước đó, Brakman và Van Marrewijk (1998) đã chỉ ra trong thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới

II phần lớn vốn hỗ trợ phát triển chính thức được sử dụng để đầu tư vào CSHT và mối liên kết giữa viện trợ nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, điều hành kinh tế vĩ mô

là nguồn gốc của cuộc tranh luận kinh tế cũng như căng thẳng chính trị ở cả nước tài trợ và nhận viện trợ Tuy nhiên, để ĐTC được hiệu quả tối đa từ nguồn viện trợ,

trong tác phẩm "Aid, Policies, and Growth" của Burnside và Dollar (2000) cho rằng

các nước nhận viện trợ phải có chính sách kinh tế “tốt” nên kể cả nhà tài trợ cũng như nước nhận tài trợ cần phải thận trọng khi sử dụng nguồn vốn viện trợ cho ĐTC Nhưng trong nghiên cứu của các tác giả Dalgaard và Hansen (2001), Collier và Dehn (2001), Easterly (2003) các tác giả có ý kiến không đồng tình với kết luận của Burnside và Dollar mà chỉ ra nguyên nhân chủ yếu là do thông tin và dữ liệu phân tích, đánh giá Hidefumi Kasuga và Yuichi Morita (2011) rằng ở các nước nghèo, đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho phát triển CSHT và cải thiện thu nhập cho người, HQĐT công từ nguồn viện trợ phụ thuộc vào tốc độ tăng viện trợ hơn là hiệu quả hoạt động của Chính phủ Theo đó, chỉ cần một sự gia tăng nhỏ trong viện trợ cũng có thể cải thiện hiệu quả viện trợ theo các mục tiêu đã đề ra Mặc dù vậy, thực

tế nguồn vốn viện trợ nước ngoài cũng như chi tiêu công của Chính phủ không đủ

để đáp ứng nhu cầu về tài chính cho ĐTC ở những nước nghèo, nước đang phát triển mà cần phải có sự bổ sung từ khu vực tư nhân

Khi xét dưới góc độ tài chính, các Chính phủ, nhà nghiên cứu, định chế tài chính quốc tế đều thừa nhận rằng, khu vực kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường không thể lấp đầy khoảng trống về sự thiếu hụt của CSHT Ở các quốc gia đang phát triển, viện trợ của các định chế tài chính quốc tế góp phần tạo ra sự thiếu hụt CSHT (Lucioni, 2004), khi nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và ĐTC ở những nước mới nổi, IMF (2004) đã giải thích việc sụt giảm ĐTC thông qua việc mở rộng phạm vi của

Trang 15

ĐTC, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước Đồng thời, khuyến nghị các nước mới nổi nên quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của ĐTC và sử dụng cán cân vãng lai như là một chỉ dấu bổ sung cho cán cân tổng thể truyền thống, nâng cao năng lực thể chế để phát triển mô hình hợp tác Công tư (PPP) Có nhiều cách để khuyến khích, thúc đẩy ĐTC mà trước hết phải đề cập đến nguyên lý vàng trong quản lý chi tiêu công; theo đó, thu nhập hiện tại được sử dụng để chi tiêu thường xuyên và vay nợ được sử dụng để chi tiêu cho đầu tư, NSNN nên được chi thành hai bộ phận: chi tiêu thường xuyên và đầu tư Mặc dù, nguyên lý rất đơn giản nhưng việc áp dụng thực tế rất phức tạp, nhất là khi khu vực công không nhận được đầy đủ kết quả tài chính của hoạt động đầu tư và ĐTC làm tăng tài sản phi tài chính nên thực tế trong nhiều trường hợp ĐTC không thể đồng nghĩa với chi tiêu công

Khi xem xét tính hiệu quả của ĐTC, phân tích lợi ích-chi phí (CBAs) được coi

là phương pháp cơ bản nhưng không phải lúc nào, dự án nào cũng có thể sử dụng được do thiếu nguồn lực và thông tin; nhất là đối với những dự án mà đầu ra là những sản phẩm mang tính xã hội, liên quan đến con người Năm 1973 tác giả Dale W.Warnke trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng lương tâm xã hội của người lập kế hoạch hoặc ra quyết định; vốn kiến thức và những hạn chế của phân tích chi phí-lợi ích là những yếu tố quan trọng quyết định tính hiệu quả của ĐTC cũng như phân bổ nguồn lực tối ưu Do đó, các nhà nghiên cứu phát triển phương pháp đánh giá thay thế trong điều kiện ít thông tin cơ bản, chuyên sâu và không phải lúc nào cũng lượng hóa được lợi ích của ĐTC bằng các chỉ tiêu tài chính cụ thể Trong trường hợp này, phương pháp được lựa chọn đó là đánh giá hiệu quả chi phí thấp nhất và sử dụng mô hình cân bằng tổng thể Điều này cho phép phân tích kinh tế vĩ

mô định lượng của một lượng lớn các chính sách ĐTC Tuy nhiên, cần phải cải thiện khả năng tiếp cận cơ sở dữ liệu và thông tin hiện hữu để phục vụ đánh giá và

có một sự hiểu biết tốt về quá trình xây dựng chính sách để đảm bảo rằng thông tin

và phương pháp phù hợp cung cấp đầu vào liên quan đến hoạch định chính sách, định hướng trong lựa chọn ĐTC

Trang 16

Ngoài ra, có thể kể đến một số phương pháp tiếp cận khác như: quyết định ĐTC một cách tối ưu được xây dựng như là một vấn đề của điều khiển tối ưu đa tiêu thức của P K Rao và V.S.Rajamani (1974), Michel Beuthe và cộng sự (2000) đã đề xuất một phương pháp hỗ trợ quyết định đa tiêu thức đơn giản không chỉ có thể thực hiện được mà còn thực tế cho việc đánh giá các dự án ĐTC cộng, phương pháp được sử dụng để tính toán những yếu tố không chắc chắn đối với các giải pháp của dự án Phương pháp này làm giảm đáng kể những câu hỏi mà người ra quyết định phải trả lời Trong điều kiện ngân sách hạn chế, nghiên cứu của các tác giả này đã tìm cách hiệu chỉnh hàm lợi ích thông qua giá trị đồng tiền tương đương và cho thấy làm thế nào để tính toán một giá trị trong phân tích đa tiêu thức và tính toán chi phí đối với tính không chắc chắn của một dự án

Tiếp đó đến năm 2011, tác giả Era Dabla-Norris, Jim Brumby và cộng sự đã đề xuất một số chỉ số mới để đánh giá hiệu quả quản lý ĐTC qua bốn giai đoạn của quá trình: thẩm định dự án, lựa chọn dự án, thực hiện dự án và đánh giá dự án trên cơ sở khảo sát tại 71 quốc gia với 40 quốc gia có thu nhập thấp, và 31 quốc gia có thu nhập trung bình, kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số này có thể áp dụng để đánh giá chính sách ĐTC và so sánh giữa các quốc gia có điều kiện tương đồng và rất thích hợp đối với các quốc gia quan tâm đến cải cách và nâng cao HQĐT công

Một trong những khía cạnh cũng được sự quan tâm và khai thác của các nhà nghiên cứu đó là việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của ĐTC, năm

2008 tác giả Haque và Kneller đã chứng minh rằng yếu tố thể chế có ảnh hưởng lớn tới HQĐT công, nhóm tác giả cũng cho rằng: không giống như nguồn vốn sự nghiệp, việc sử dụng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và lựa chọn dự án đầu tư phát triển

bị ảnh hưởng bởi thái độ thất thường, tham nhũng của các chính trị gia và quan chức nhà nước Việc lựa chọn dự án đầu tư nhiều khi phụ thuộc vào số tiền các chủ đầu tư đưa cho các quan chức, nhiều hơn là ai sẽ là người đưa ra được mức giá và chất lượng dịch vụ tốt, một loạt các chương trình, dự án công được lựa chọn do nó

có thể tạo ra thu nhập bất hợp pháp cho nhiều người hơn là việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho mọi người Do vậy, ảnh hưởng của hệ thống thể chế về tổng vốn đầu

Trang 17

tư thường bị bóp méo dẫn đến hiệu quả thấp, lãng phí, hoặc tham nhũng Norris et al., 2011) Đối với nhiều quốc gia, ĐTC còn được coi là một công cụ để tìm kiếm lợi ích của các nhóm lợi ích khác nhau bao gồm các chính trị gia thuộc quốc hội, các bộ tổng hợp, bộ chuyên ngành và các địa phương (Grigoli, F & Mills, 2010) Đây cũng chính là những thách thức cho tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, trong quá trình cải cách hệ thống quản lý ĐTC (World Bank, 2010) Sự phân chia quyền lực giữa cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý các hoạt động ĐTC (Grigoli, F & Mills, 2010)

(Dabla-Hệ thống thể chế đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định đến hiệu quả của các hoạt động ĐTC (Grigoli & Mills, 2010) Hệ thống thể chế sẽ quy định rõ vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia vào hoạt động của các dự án ĐTC Hệ thống thể chế cũng cho thấy liệu rằng các dự án

có được phân tích chi phí/lợi ích một cách thoả đáng hay không? Liệu rằng các

dự án có được thực hiện theo đúng thời gian hay không? Esfahani & Ramieze (2003) và Haque & Kneller (2008) đã cho rằng hệ thống thể chế sẽ quyết định đến chất lượng của các quyết định đầu tư và chất lượng lựa chọn dự án, quản

lý, và thực hiện dự án; do vậy nó đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định

tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư và gia tăng lợi tức

Bên cạnh đó, ảnh hưởng của ĐTC tới kinh tế xã hội cũng đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, theo Eberts (1986), Garcia-Mila và McGuire (1988) và Aschauer (1989) đã chỉ ra rằng các yếu tố đầu vào công cộng như đường giao thông, cấp nước, sân bay, dịch vụ công cộng… có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng Việc thiếu hụt đầu tư cho phát triển CSHT chính là điểm nghẽn của tăng trưởng kinh tế

Xét về tính hiệu quả, nếu như Ford và Poret (1991) và Richmond (1993) cho rằng

vốn công cộng rất hiệu quả thì trong nghiên cứu Hulten và Schwab (1993), Eakin (1994), Holtz-Eakinvà Schwartz (1995) lại cho kết quả khác về vấn đề này, vốn công cộng không thực sự mang lại hiệu quả Mặc dù nhiều nghiên cứu thực nghiệm

Trang 18

Holtz-cho kết quả khác nhau, gây tranh cãi nhưng đều thống nhất rằng đầu tư phát triển CSHT là yếu tố quan trọng đối với năng lực sản xuất của nền kinh tế, vốn ĐTC là vốn

sản xuất thực sự

Ở các nước phát triển, phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy ĐTC có tác động tích cực đến tăng trưởng Khi xem xét tác động của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1960-1985, Barro (1991) đã chỉ ra ĐTC có tác động đến tăng trưởng kinh tế nhưng chưa thực sự rõ nét Nhưng khi coi ĐTC bao gồm đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và đầu tư của Chính phủ cũng như có sự phân biệt rõ ràng giữa đầu tư của khu vực nhà nước với đầu tư của các khu vực kinh tế khác, Easterly và Rebelo (1993) lại chỉ ra rằng ĐTC có tác động rõ nét đến tăng trưởng kinh tế, nhất là đầu tư vào phát triển CSHT

Tác giả Aschauer (1998) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ĐTC và tăng trưởng kinh tế tại 48 tiểu bang của Hoa Kỳ đã kiểm định lại các giả thuyết của mô hình tăng trưởng tân cổ điển trong đó vốn công được coi là bổ sung cho vốn tư nhân Tác giả cho rằng đa số những nghiên cứu trước đây cho kết luận vốn ĐTC không hiệu quả vì đã biểu thị mối quan hệ tuyến tính giữa vốn ĐTC và sản lượng,

vì thế không có khả năng đánh giá mức tối ưu của ĐTC Tác giả cho rằng mối quan

hệ giữa ĐTC và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ phi tuyến Tại các nước phát triển như Mỹ thì tăng trưởng kinh tế có thể tăng bằng cách gia tăng chi tiêu ĐTC do

tỷ lệ ĐTC đang thiếu hụt tại Mỹ Tăng ĐTC có thể có ảnh hưởng tích cực tĩnh và động đến tăng trưởng kinh tế Ảnh hưởng tĩnh là những tác động ban đầu về sản lượng, việc làm, năng suất lao động; phát sinh do sự gia tăng của năng suất vốn tư nhân và tăng trưởng trong lực lượng lao động do có sự cải thiện trong CSHT và khuyến khích đầu tư các ngành công nghiệp mới và thu hút lao động làm việc Cụ thể, khi lấy số liệu giai đoạn 1970 – 1980, tác giả nhận thấy 10% tăng trưởng vốn ĐTC dẫn tới 0,8% tăng trưởng sản lượng và 0,3% gia tăng việc làm mỗi năm Ảnh hưởng động của việc tăng vốn ĐTC phụ thuộc vào sự chuyển đổi ban đầu về sản lượng và việc làm, nghĩa là ảnh hưởng bởi tác động tĩnh của vốn ĐTC ban đầu Trong khi đó, Arslanalp và các cộng sự (2010) khi sử dụng hàm sản xuất ước lượng

Trang 19

cho 48 nước đang phát triển và phát triển (OECD & Non– OECD) trong giai đoạn 1960–2001 cho thấy mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa về mặt thống kê giữa vốn ĐTC và sản lượng tại các nước OECD

Bên cạnh các nghiên cứu về vai trò của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế, một số nghiên cứu tìm cách ước lượng tỷ lệ ĐTC tối ưu Khi nghiên cứu 98 nước sau chiến tranh thế giới thứ II (giai đoạn 1970 – 1985), Barro (1989) đã phân tích mô hình trong

đó tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ ĐTC/đầu tư tư nhân, theo đó, tác động của ĐTC lên tăng trưởng kinh tế có ba giai đoạn và đi theo hình chữ U ngược, và đỉnh của chữ U là tỷ lệ tối ưu ĐTC cho tăng trưởng Kamps (2005) đã ứng dụng mô hình phi tuyến để phân tích sự phụ thuộc của tăng trưởng kinh tế theo tỉ lệ ĐTC/đầu tư tư nhân

và tỉ lệ thất nghiệp, và xác định tỉ lệ ĐTC tối ưu cho tăng trưởng kinh tế là 33,65% ở các nước liên minh châu Âu

Ngoài ra, khi sử dụng các phương pháp kinh tế lượng khác nhau (GMM, WLS, SUR và GMM–HAC) với các biến số: thu nhập, tỉ trọng ĐTC và đầu tư tư nhân, tăng trưởng dân số và tốc độ tăng trưởng để đánh giá về ĐTC tại các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi thì tỉ lệ ĐTC tối ưu cho tăng trưởng là 9% đến 10% GDP, và tồn tại hiệu ứng ĐTC lấn át đầu tư tư nhân trong các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi

Khi xét dưới góc độ chi tiêu công, Devarajan (1996) chỉ ra rằng kết quả chi đầu tư của Chính phủ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng, ngược lại, dựa trên mô hình tăng trưởng tân cổ điển, vốn ĐTC hỗ trợ cho vốn đầu tư tư nhân, Milbourne (2003) trong nghiên cứu của mình đã kết luận ĐTC tác động tích cực đến tăng trưởng và hoàn toàn có ý nghĩa thống kê ĐTC cho phát triển CSHT kinh tế, giáo dục đào tạo có tác động đến tăng trưởng lớn hơn đầu tư cho nông nghiệp, y tế và một số lĩnh vực khác Nhưng chi tiêu công (bao gồm cả chi đầu tư) cho giáo dục, nông nghiệp, nhà ở, phúc lợi xã hội góp phần quan trọng trong thực hiện giảm nghèo được chứng minh trong nghiên cứu của Gomanee (2003)và của Mosley (2004) Ở các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển, phần lớn người nghèo sống ở khu vực nông thôn nên đây chính là

Trang 20

khu vực được Chính phủ quan tâm nhất trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo Khi nghiên cứu tại Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Uganda… Fan (1999, 2002, 2004) đã chỉ ra rằng chi đầu tư của Chính phủ vào giáo dục đào tạo, nghiên cứu nông nghiệp, đường giao thông có tác động lớn nhất đến giảm nghèo ở khu vực nông thôn

Một số nghiên cứu đã ước tính hiệu quả của chi tiêu công, bao gồm cả chi phí ĐTC vào đói nghèo Sử dụng dữ liệu xuyên quốc gia, Gomanee (2003) và Mosley (2004) đã ước tính ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ trong các lĩnh vực khác nhau đối với thu nhập bình quân đầu người trên một ngày Nghiên cứu cho thấy tác động chi tiêu chính phủ về giáo dục, nông nghiệp, nhà ở và tiện nghi (an ninh, nước, vệ sinh môi trường và xã hội) có ý nghĩa thống kê đối với vấn đề đói nghèo và cần phải thay đổi cách phân phối thu nhập theo hướng vì người nghèo Khi nghiên cứu trường hợp của Ấn Độ; Fan, Hazell và Thorat (1999) đã ước tính hiệu quả của chi tiêu công đối với mức độ đói nghèo ở nông thôn Theo đó, tác động của nghiên cứu R & D trong nông nghiệp, giao thông, giáo dục tới đói nghèo

ở nông thôn là có ý nghĩa thống kê Trong số này, chi tiêu công cho nghiên cứu R

& D trong nông nghiệp và phát triển hệ thống giao thông nông thôn có tác động lớn nhất tăng trưởng và giảm nghèo

Tương tự, khi nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc, Fan (2002) tiến hành phân tích hiệu ứng của chi tiêu công cho giáo dục nông thôn, viễn thông, thủy lợi, điện, nghiên cứu R & D trong nông nghiệp và giao thông nông thôn đối với đói nghèo ở Trung Quốc cho thấy chi tiêu công cho giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất đối với đói nghèo, sau đó là nghiên cứu R & D và chi tiêu phát triển giao thông nông thôn Ngoài ra, khi nghiên cứu các yếu tố quyết định giảm tỷ lệ nghèo đói ở Ấn Độ trong giai đoạn 1960-1994, Datt và Ravallion (2002) chứng minh rằng chi tiêu của chính phủ có ảnh hưởng lớn và có ý nghĩa thống kê về xóa đói giảm nghèo

Khi xem xét ảnh hưởng của dòng vốn công cộng đối với đói nghèo và bất bình đẳng, trong nghiên cứu của tác giả Calderon và Serven (2004) đã ước tính ảnh hưởng của các chỉ số về số lượng và chất lượng CSHT đối với bất bình đẳng, được

Trang 21

đo bằng hệ số Gini và chỉ ra rằng cả hai chỉ số có ảnh hưởng tiêu cực và có ý nghĩa thống kê về mức độ bất bình đẳng Deininger và Okidi (2003) cũng chỉ ra rằng các

hộ gia đình ở Uganda đã được kết nối với mạng lưới điện trong năm 1992 có tỷ lệ tăng trưởng thu nhập cao hơn nhiều trong giai đoạn 1992-1999 so với các hộ gia đình không được kết nối

Trong mối quan hệ giữa ĐTC – tăng trưởng kinh tế - giảm nghèo, Anderson,

P De Renzio, S Levy (2006) đã đưa ra cơ sở lý thuyết và giải thích cơ chế, vai trò, tác động của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo thông qua các kênh và ở góc độ vĩ mô cũng như vi mô Đồng thời, các tác giả đã đề xuất phương pháp thẩm định dự án ĐTC và sự phân bổ nguồn lực tối ưu giữa các vùng để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội phù hợp với từng thời kỳ

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Bên cạnh các nghiên cứu ở trên thế giới, tại Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đã dành sự quan tâm cho vấn đề này, khá nhiều nghiên cứu sử dụng phân tích định tính hoặc phân tích định lượng nhưng sử dụng phương pháp thống kê mô tả cho các nghiên cứu về ĐTC, các số liệu được thu thập từ các nguồn dữ liệu công bố chính thức của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Tổng cục thống kê…

Thêm vào đó, các nghiên cứu có chung quan điểm khi cho rằng, ĐTC luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội và có đóng góp vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế ở Việt Nam (World Bank, 2005) nhưng HQĐT công còn thấp và được thể hiện một cách tương đối đầy đủ, tổng quát tại công trình nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh (2010) Điều này được thể hiện ở hệ số ICOR trong khu vực công là cao nhất so với các khu vực khác như khu vực tư nhân trong nước

và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; đầu tư dàn trải, chưa chú trọng đến hiệu quả

về lợi ích-chi phí của từng chương trình, dự án ĐTC Bằng việc tính toán, xác định

hệ số ICOR giữa khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn từ 2000-2010, trong công trình nghiên cứu của Bùi Trinh (2011) cho thấy nếu tính theo giá trị tích lũy tài sản thì chỉ số ICOR hay hiệu quả vốn ĐTC của Việt Nam giai đoạn từ 2000-2005 (4,37) và giai

Trang 22

đoạn 2006-2010 (5,13) không phải quá thấp so với các quốc gia khác trong khu vực Tuy nhiên, một phần lớn vốn ĐTC không đi vào tích lũy tài sản nên chỉ số ICOR của Việt Nam trong giai đoạn này cao hơn rất nhiều và tăng mạnh qua các năm, tăng từ 6,94 (giai đoạn 2000-2005) lên 9,68 (giai đoạn 2006-2010) Điều này có nghĩa rằng ĐTC ở Việt Nam thời gian qua rất không hiệu quả, ít nhất là so với các nước trong khu vực có cùng trình độ phát triển

Cùng với việc đánh giá thông qua hệ số ICOR nêu trên, tác giả Nguyễn Công Nghiệp (2010) đã nghiên cứu và đề xuất tiêu chí đánh giá HQĐT công bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Tác giả Nguyễn Đình Cung (2011) đã chỉ ra rằng đầu tư của nhà nước đã và đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư xã hội nhưng lại dàn trải, kém hiệu quả gây bất ổn kinh tế vĩ mô và Việt Nam cần tính đúng và đủ các khoản chi đầu tư vào NSNN theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, không phân bố đầu tư nhà nước vào các ngành mà tư nhân trong nước có thể kinh doanh, lấy hiệu quả kinh tế làm thước

đo và tiêu chí chủ yếu để quyết định dự án đầu tư

Liên quan đến vấn đề HQĐT từ NSNN trong một số lĩnh vực, Trịnh Quân Được (2001) đã hệ thống hóa, phát triển lý luận về HQĐT phát triển công nghiệp từ nguồn vốn NSNN và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó, về thất thoát lãng phí trong ĐTC, Thái Bá Cẩn (2003) nghiên cứu về công tác quản lý tài chính đối với các dự án đầu tư của Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng và đã làm rõ những đặc trưng của hoạt động đầu tư xây dựng, chi phí đầu tư xây dựng, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm ngăn người thất thoát, lãng phí trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư

Khi đánh giá mối quan hệ giữa ĐTC với tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình hồi quy theo thời gian, Vũ Sỹ Cường và các cộng sự (2014) trong công trình nghiên cứu chỉ ra rằng ĐTC ở Việt Nam càng lớn thì càng làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP, gia tăng ĐTC tiếp tục có thể gia tăng sản lượng (do ĐTC là một yếu tố quan trọng của tổng cầu), nhưng do HQĐT công suy giảm và lãng phí nên tốc độ tăng trưởng do ĐTC mang lại có xu hướng giảm dần

Trang 23

Trong khi đó tác giả Tô Trung Thành (2011) lại tập trung đánh giá mối quan hệ giữa ĐTC, đầu tư tư nhân với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 1986-

2010 thông qua mô hình VECM cũng cho thấy hiệu ứng tích cực của ĐTC đối với GDP, tức là sự gia tăng vốn đầu tư có tác động làm tăng GDP Tuy nhiên, tác động của ĐTC lên GDP là rất thấp so với tác động của đầu tư tư nhân (1% tăng lên của đầu tư tư nhân có thể đóng góp 0.33% tăng trưởng, trong khi ĐTC chỉ đóng góp 0.23% tăng trưởng trong dài hạn) Từ đó, các nghiên cứu này đều đi đến kết luận cần giảm tỉ trọng ĐTC và tái cấu trúc lại ĐTC cho hợp lý, đồng thời, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng hiện tượng ĐTC lấn át đầu tư tư nhân là rõ nét và tác động của ĐTC đối với tăng trưởng kinh tế thấp hơn nhiều so với đầu tư của khu vực tư nhân Từ đó, đã đưa ra khuyến nghị cần phải giảm tỷ trọng nhưng cần phải nâng cao hiệu quả của ĐTC, đa dạng hóa nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đầu tư của nhà nước cần phải rút lui khỏi những lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân có thể đảm nhiệm được và đạt hiệu quả cao hơn, ĐTC chỉ mang tính chất “hỗ trợ” mà không nên nhằm mục đích “kinh doanh” Tuy nhiên, tác giả Phó Thị Kim Chi và cộng sự (2013) lại chỉ ra rằng ĐTC ở Việt Nam có tác động đến GDP trong ngắn hạn hơn là trong dài hạn và không có tác động

rõ nét trong thúc đẩy đầu tư tư nhân Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình ARDL, Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong (2014) , lại cho thấy tác động của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê, nhưng có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn Do đó, việc cắt giảm ĐTC để ổn định kinh tế vĩ mô có thể không gây ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong ngắn hạn Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ rõ mức độ tác động của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế là kém nhất so với đầu tư của khu vực tư nhân và khu vực FDI Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia (2013) đánh giá HQĐT của khu vực nhà nước đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế bằng việc sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas với chỉ số MP (sản phẩm cận biên của khu vực nhà nước) Kết quả ước lượng cho thấy MP nền kinh tế cao nhất trong giai đoạn từ năm 1995-1997, đạt mức trên 7% nhưng sau đó giảm dần đến nay Thời điểm năm 2010-2011, chỉ số

MP của khu vực nhà nước ở mức thấp, chỉ khoảng trên 3% Hệ số MP của khu vực cũng đang giảm dần và xu hướng tương tự cũng xảy ra đối với hệ số MP của toàn nền

Trang 24

kinh tế Tuy vậy nếu so MP của khu vực nhà nước và khu vực còn lại (tư nhân và FDI),

có thể nhận thấy MP của khu vực kinh tế nhà nước thấp hơn trong tất cả các giai đoạn Ngoài ra, khi xét dưới góc độ phân cấp ĐTC, trên cơ sở phân tích dữ liệu về ĐTC tại 31 địa phương bằng phương pháp hồi quy Pooled OLS, Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự (2010) chỉ ra rằng phải tăng tỷ trọng chi tiêu ngân sách vượt mức giới hạn nào đó thì mới ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của địa phương Điều này được lý giải bởi CSHT ở Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ và đầu tư giàn trải, nếu lượng đầu tư không đủ thì các khoản đầu tư đó sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Đồng thời, do đặc điểm của quản lý NSNN ở Việt Nam

là tập trung nhưng chi theo phân cấp Phần lớn các địa phương được trợ cấp từ ngân sách trung ương để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội Ngân sách địa phương luôn luôn trong trạng thái cân bằng, các khoản thâm hụt thì dồn về ngân sách trung ương Ngoài ra, liên quan đến vấn đề nâng cao hiệu quả chi tiêu công còn được đề cập khá đầy đủ, chi tiết tại Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Phú Hà (2007) và đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu NSNN phục vụ nhu cầu phát triển ở Việt Nam

Tuy nhiên, các mô hình kinh tế lượng nêu trên chưa đi sâu phân tích đóng góp của các khoản mục ĐTC đến tăng trưởng, do đó chưa đưa ra được kiến nghị cụ thể về việc tái cấu trúc ĐTC theo hướng nào và cần những điều kiện hỗ trợ gì về thể chế, chính sách để thực hiện được định hướng tái cấu trúc ĐTC đó Ngoài ra, mặc

dù các tác giả đều coi đầu tư dàn trải kém hiệu quả là căn bệnh kinh niên ở Việt Nam nhưng chưa đi sâu làm rõ vì sao hiện tượng đó lại chậm được khắc phục

Đối với vấn đề tái cấu trúc ĐTC, các tác giả đều xuất phát từ việc phân định rõ ràng chức năng của nhà nước đối với tăng trưởng Trần Du Lịch (2011) đã nêu rõ rằng ĐTC là một công cụ quan trọng của nhà nước để khắc phục ba khuyết tật lớn của thị trường, đó là (1) nguy cơ bất ổn định kinh tế; (2) coi nhẹ các hoạt động mang lại lợi ích

xã hội lớn, mặc dù lợi nhuận kinh doanh không cao; (3) giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo Từ đó, tác giả đã khẳng định vai trò dẫn dắt thị trường của lực lượng kinh

tế nhà nước, trước hết là các doanh nghiệp nhà nước phải tập trung vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng và các ngành kinh tế có hiệu quả sinh lời thấp, nhưng cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa như cơ khí chế tạo, công nghiệp phụ trợ, đầu tư cho thị trường bất động sản sơ cấp, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghiệp

Trang 25

công nghệ cao… Ở một góc độ khác, tác giả Vũ Tuấn Anh (2010) nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước sử dụng ĐTC như một công cụ kích thích phát triển những ngành được ưu tiên, thường là những ngành then chốt có tác dụng lôi kéo nền kinh tế mà khu vực tư nhân chưa thể hoặc không muốn đầu tư Ngoài ra, với tư cách là nhà đầu tư kinh doanh, nhà nước trực tiếp đầu tư vào hai lĩnh vực chính là phát triển kết cấu hạ tầng và các lĩnh vực kinh doanh nhằm phát triển các hàng hóa và dịch vụ công và những lĩnh vực mới có tác động lan tỏa đối với nền kinh tế Tuy vậy, những kiến nghị này chưa thực sự làm rõ khi nào thì nhà nước nên trực tiếp đầu tư và khi nào thì chỉ cần tạo môi trường hấp dẫn để thu hút đầu tư tư nhân vào cung câp các hàng hóa dịch vụ vốn trước đây là lĩnh vực truyền thống của ĐTC Điều này đặt ra yêu cầu phân định rõ “sân chơi” giữa nhà nước và khu vực tư nhân từ góc độ lý thuyết, từ đó áp dụng vào điều kiện của Việt Nam để trả lời những câu hỏi cơ bản như: Nhà nước sẽ đầu tư vào lĩnh vực nào, còn lĩnh vực nào kiên quyết chuyển sang cho khu vực tư nhân thực hiện hoặc chỉ cần tạo các cơ chế, chính sách khuyến khích các hình thức hợp tác công-tư thích hợp

Mặc dù vậy, từ quan điểm về vai trò nhà nước đã nêu trên, các nghiên cứu đã đưa ra nhiều kiến nghị khác nhau về định hướng tái cấu trúc ĐTC Về định hướng lâu dài đối với ĐTC, các nghiên cứu đều cho rằng nước ta còn phải thực hiện chính sách chủ động bội chi ngân sách bằng con đường vay nợ để đầu tư phát triển hạ tầng kĩ thuật

và xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước Đó là chính sách tài chính công tích cực trong điều kiện tích lũy của nền kinh tế còn thấp, tiết kiệm nội địa chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển bền vững Nhưng chính sách này phải kèm theo các điều kiện rất nghiêm ngặt như: phải có chiến lược nợ Chính phủ và nợ Quốc gia rõ ràng; những điều kiện bảo đảm hiệu quả trong đầu tư; khả năng trả nợ hàng năm; tuân thủ nguyên tắc “chi phí cơ hội” và tính đồng bộ trong đầu tư, chi tiêu nhà nước thật sự tiết kiệm; cơ chế phân bổ vốn đầu tư minh bạch; cơ chế giám sát dòng vốn đầu tư chặt chẽ (Trần Du Lịch, 2010)

Trong khi đó, khi nghiên cứu về quy mô đầu tư, các nghiên cứu đều thống nhất

ở quan điểm phải thu hẹp tỉ trọng ĐTC, nhưng quan điểm về thay đổi cấu trúc ĐTC lại có nhiều ý kiến khác nhau Để giảm tỉ trọng ĐTC, nhiều nghiên cứu cũng thừa nhận khó khăn trong việc xác định được những dự án đầu tư nào cần cắt giảm Liên quan đến vấn đề này,

Trang 26

các ý kiến tập trung vào việc đề nghị trước hết bắt đầu từ những khoản chi tiêu phi lý theo cách giới hạn đầu tư cứng trong khi chờ tiêu chí hay thời gian để loại bỏ những dự án không nên đầu tư có lẽ sẽ khả thi hơn (Nguyễn Thế Du, 2010 ), xây dựng các tiêu chí ĐTC khách quan, minh bạch (Nguyễn Đình Ánh, 2010) hay Nhà nước chỉ nên tập trung một số

dự án trọng điểm, thoái vốn ở những công trình không cần giữ vốn (Nguyễn Quang Thái, 2010) Về định hướng cho quá trình tái cấu trúc, hàng loạt các kiến nghị tập trung vào: (i) giảm tỉ trọng ĐTC vào kinh tế và tăng đầu tư vào xã hội, (ii) giảm đầu tư ngân sách cho các lĩnh vực “nhà nước kinh doanh” chuyển sang đầu tư cho lĩnh vực “nhà nước phúc lợi”; (iii) đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm và có tác dụng lan tỏa lớn Các tác giả Trần Du Lịch, Trần Đình Thiên (2011) chú trọng đến việc tái cấu trúc các DNNN Cụ thể, các doanh nghiệp nhà nước cần được tái cấu trúc để lực lượng này làm tốt vai trò tham gia điều tiết thị trường, cung cấp tốt hơn các loại hàng hóa và dịch vụ công cộng phục vụ mục tiêu phát triển bền vững

Đi kèm với các định hướng đó, các tác giả cũng đề xuất hàng loạt các kiến nghị về đổi mới cơ chế quản lý tài chính công, trong đó tập trung vào ban hành Luật ĐTC và sửa đổi, bổ sung Luật NSNN (đến nay đã được ban hành) theo hướng phân biệt 2 loại ngân sách: ngân sách quốc gia và ngân sách địa phương, phương thức phân

bổ ngân sách, thẩm định dự án ĐTC và cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm toán ĐTC

Khi xét ở góc độ hiệu quả xã hội hay tác động cải thiện phúc lợi của ĐTC, sau nghiên cứu định lượng của Phạm Hương Lan và Cộng sự (2006) về tác động của chi tiêu công đối với tăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam, đáng chú ý có kết quả nghiên cứu của Vũ Sỹ Cường và các cộng sự (2014) về tác động của ĐTC đối với giảm nghèo ở cấp độ tỉnh và giảm chênh lệch giữa các nhóm thu nhập Theo kết quả nghiên cứu này, ĐTC cấp tỉnh thiếu hiệu quả trong việc cải thiện thu nhập hộ gia đình

và giảm đói nghèo ở địa phương; cả ĐTC và đầu tư ngoài nhà nước đều không có tác đụng làm giảm chênh lệch giữa các nhóm thu nhập Đến nay, những phân tích định lượng tác động của ĐTC đối với vấn đề này cơ bản còn thiếu vắng, rời rạc và chủ yếu tập trung vào phân tích, đánh giá chính sách đầu tư đối với xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam thời gian qua

1.1.3 Những kết luận rút ra và khoảng trống nghiên cứu

Trang 27

1.1.3.1 Kết luận rút ra

ĐTC có tác động tích cực đến sản lượng của nền kinh tế Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu chỉ ra rằng không có bằng chứng về quan hệ giữa ĐTC với tăng trưởng việc làm hoặc sản lượng Thậm chí, một số nghiên cứu khác còn đưa ra kết luận trái ngược về mối quan hệ nghịch biến giữa ĐTC và tăng trưởng Nguyên nhân chủ yếu

là do sự khác nhau về dữ liệu, chuỗi số liệu, giả thiết, phương pháp nghiên cứu, bối cảnh và điều kiện cụ thể của đối tượng nghiên cứu Đây là vấn đề cần phải lưu ý khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá về tác động, tính hiệu quả của ĐTC trong từng tình huống cụ thể Nhưng tựu chung lại, ĐTC vào kết cấu hạ tầng và vốn con người một mặt có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác, nếu ĐTC được tài trợ bởi nguồn thu thuế hoặc vay nợ thì nó có thể “lấn át” đầu tư tư nhân, do đó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Vì thế, hiệu ứng tổng thể đến tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào mối quan hệ đánh đổi giữa HQĐT công và những tác động của thuế Câu trả lời cuối cùng sẽ tùy theo những nghiên cứu cụ thể đặt trong bối cảnh đặc thù của

từng quốc gia

một trong thước đo phản ánh tính hiệu quả của ĐTC Trong vòng hơn hai thập kỷ trở lại đây, các kết quả nghiên cứu hầu hết đều thống nhất ĐTC có vai trò quan trọng, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ĐTC một mặt bổ sung cho đầu tư

tư nhân nhưng đồng thời cũng trực tiếp tạo ra tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế làm tăng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân trên đầu người từ đó góp phần giảm tỷ

lệ đói nghèo Bên cạnh đó, ĐTC tạo ra công ăn việc làm, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển, từ đó tăng thu nhập cho người lao động, góp phần quan trọng trong thực hiện giảm đói nghèo Nhưng khi xét trong bối cảnh cụ thể về không gian, thời gian cũng như do sự hạn chế về số liệu nên trong nghiên cứu thực nghiệm không phải lúc nào ĐTC cũng có tác động tích cực như mong đợi đối với tăng trưởng kinh tế

và đói nghèo Thậm chí, với quan niệm về ĐTC, mô hình, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau trong một số trường hợp có thể cho những kết quả khác nhau

Trang 28

Phần lớn các công trình nghiên cứu tại Việt Nam cho đến nay khi xem xét vấn đề ĐTC đều coi ĐTC là hoạt động đầu tư phát triển do khu vực nhà nước thực hiện trên

cơ sở nguồn lực của nhà nước Dù xét dưới góc độ nào hay bằng phương pháp nghiên cứu nào đều cho kết quả là HQĐT công ở Việt Nam có xu hướng giảm dần, nhất là khi so với đầu tư của các khu vực kinh tế khác Tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, tham nhũng; công tác quản lý nhà nước về ĐTC nói chung và công tác lập, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện đầu tư và kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án yếu kém được xem như là những nguyên nhân chính dẫn đến HQĐT công thấp

1.1.3.2 Khoảng trống nghiên cứu

Từ tổng quan các nghiên cứu về ĐTC và HQĐT công ở nước ngoài và trong nước nêu trên, tác giả thấy rằng:

Khái niệm về ĐTC chưa được nhất quán, tùy thuộc vào mục đính, mục tiêu, bối cảnh nghiên cứu Mỗi mô hình, phương pháp nghiên cứu đều có ưu điểm và nhược điểm

và việc sử dụng phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Trong đánh giá HQĐT công ở Việt Nam phần lớn được xem xét, đánh giá theo phương pháp định tính và theo từng chương trình, dự án cụ thể và theo hệ số ICOR truyền thống Trong khi đó, phát triển kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội là mục tiêu của ĐTC và mức độ tác động của ĐTC đến các kết quả này cũng phản ánh tính hiệu quả của ĐTC thì chưa được xem xét cụ thể, có tính hệ thống trong bối cảnh của Việt Nam

Tính hiệu quả của ĐTC không chỉ dừng lại ở việc làm thế nào để không bị thất thoát, lãng phí mà còn thể hiện ở khía cạnh sử dụng vốn nhà nước một cách tối ưu trong mối quan hệ với các nguồn vốn khác và trong điều kiện nguồn lực nhà nước

bị giới hạn để đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất Đồng thời, do sự khác biệt trong khả năng thu hồi vốn giữa hàng hoá công cộng thuần tuý và hàng hoá công cộng không thuần tuý, không nhất thiết trong mọi trường hợp nhà nước là chủ thể duy nhất cung cấp trực tiếp hàng hoá công cộng, dịch vụ công đến tận tay người tiêu dùng Nhà nước có thể phối hợp với khu vực tư nhân, cộng đồng hoặc các đối tác khác trong việc thực hiện nhiệm vụ này Điều này hàm ý, hoạt động đầu tư trong việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng không chỉ dừng lại ở việc chủ thể thực

Trang 29

hiện duy nhất là nhà nước và nguồn vốn thực hiện chỉ là NSNN hoặc có nguồn gốc NSNN ĐTC hoàn toàn có thể tiếp cận theo một phương thức khác so với truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả Đây là vấn đề hiện nay chưa được giải quyết một cách thấu đáo

Từ khoảng trống nghiên cứu nêu trên, tại Luận án này, tác giả tập trung giải quyết một số nội dung sau:

- Khái niệm ĐTC, HQĐT công gắn với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo thông qua một số chỉ tiêu định lượng

- Phân tích, đánh giá thực trạng HQĐT công tại Việt Nam thời gian qua xét dưới góc

độ tăng trưởng kinh tế (hiệu quả kinh tế) và giảm nghèo (hiệu quả xã hội)

- Quan điểm, định hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao HQĐT công tại Việt Nam xét dưới góc độ tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo trong thời gian tới

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Các dữ liệu phục vụ trong nghiên cứu của tác giả được thu thập từ các báo cáo tổng kết hàng năm của các ngành, báo cáo tổng hợp về ĐTC của Bộ Tài Chính,

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, báo cáo tổng kết năm của Tổng cục thống kê

Đồng thời, tác giả cũng sử dụng những dữ liệu đã được công bố trên các tạp chí khoa học, các công trình nghiên cứu khoa học đã được đăng tải hoặc nghiệm thu

có liên quan đến luận án

Bên cạnh đó, sau khi phân tích những dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các nguồn dữ liệu chính thống của Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư, Tổng cục thống

kê, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu một số chuyên gia về ĐTC tại: Vụ đầu tư thuộc

Bộ tài chính và Bộ kế hoạch và đầu tư Một số nội dung tác giả thực hiện phỏng vấn sâu để có góc nhìn từ ý kiến của các chuyên gia về hiệu quả của ĐTC dưới phương diện sử dụng vốn ĐTC với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo…

Những ý kiến đánh giá và phân tích của các chuyên gia sẽ giúp tác giả có góc nhìn tổng quan hơn khi nghiên cứu về hiệu quả của ĐTC tại Việt Nam, 2 chuyên gia đã được tác giả lựa chọn để phỏng vấn sâu phục vụ cho nghiên cứu này, trong đó 01

Trang 30

chuyên gia của Bộ Tài chính và 01 chuyên gia của Bộ kế hoạch và đầu tư

1.2.2 Phương pháp xử lý tài liệu, số liệu

Sau khi các tài liệu, số liệu đã thu thập được, tác giả tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa để tính toán các chỉ tiêu phù hợp cho việc phân tích đề tài bằng cách thiết lập các bảng thống kê, sơ đồ, đồ thị thống kê

Đối với các phân tích để xem xét mức độ ảnh hưởng của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, tác giả sử dụng sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0 cho việc phân tích dữ liệu đó, mô hình tác giả lựa chọn cho nghiên cứu là mô hình VECM

1.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

Phân tích thông tin là phần quan trọng của quá trình nghiên cứu khoa học, với nhiệm vụ làm rõ các đặc trưng, xu hướng phát triển của các hiện tượng trên cơ sở số liệu đã được thu thập, xử lý và tổng hợp nhằm giải đáp các câu hỏi đặt ra đối với vấn

đề nghiên cứu Từ đó, phải xác định cụ thể được mức độ của các hiện tượng, xu hướng

và tính chất cũng như mức độ quan hệ, từ đó có thể rút ra kết luận khoa học về bản chất hoặc tính quy luật Luận án sử dụng một số phương pháp phân tích như sau:

1.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê là hệ thống các phương pháp dùng để thu nhập xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Thống

kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau

Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản

về mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiện tượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của mô tả dữ liệu Có rất nhiều kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các kỹ thuật này như sau:

Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp

so sánh dữ liệu

Trang 31

Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu

Thống kê tóm tắt (dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu

Phương pháp thống kê mô tả được tác giả sử dụng khi biểu diễn dữ liệu thể hiện cơ cấu vốn ĐTC, quy mô vốn ĐTC của Việt Nam phân theo ngành, lĩnh vực…

1.2.3.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là đối chiếu các hiện tượng kinh tế, xã hội được thể hiện định lượng có nội dung và tính chất tương tự nhau: Số lần, số phần trăm So sánh cũng được sử dụng ở các dạng như: So sánh giữa thực hiện với kế hoạch, so sánh các giai đoạn khác nhau, so sánh các đối tượng tương tự nhau, so sánh các yếu

tố hiện tượng cá biệt…

Tác giả sử dụng phương pháp so sánh để phân tích sự biến động của ĐTC qua các năm trong kỳ nghiên cứu

1.2.3.3 Phương pháp phân tích theo dãy số thời gian

Sử dụng phương pháp phân tích theo dãy số thời gian với khoảng cách theo thời kỳ trong dãy số 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm và 5 năm Các chỉ tiêu phân tích biến động quy mô ĐTC theo ngành, theo lĩnh vực, tốc độ tăng trưởng trong kỳ nghiên cứu

Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc (∆i ) với công thức:

∆i = Y i - Y 1 ; i = 1,2,3,

Tốc độ phát triển có hai loại: tốc độ phát triển liên hoàn và tốc độ phát triển định gốc

Công thức tính tốc độ phát triển liên hoàn (ti) phản ánh tốc độ phát triển của hiện tượng ở thời gian sau so với thời gian trước liền đó:

ti = Y i 8 Y i -1 ; i=2,3,4 n

Trong đó: Y i là mức độ tuyệt đối ở thời gian i

Tốc độ phát triển định gốc (Ti) dùng phản ánh tốc độ phát triển của hiện tượng trong khoảng thời gian tương đối dài:

Trang 32

Công thức tính như sau:

T = Y i 6 Y 1 ; i=2,3, n

Tốc độ phát triển bình quân (t) được dùng để phản ánh mức độ tốc độ phát triển liên hoàn

Tốc độ tăng giảm định gốc được dùng để phản ánh tốc độ tăng hoặc giảm ở thời gian i so với thời gian đầu trong dãy số

Phân tích dữ liệu thu thập được theo dãy số thời gian giúp tác giả phân tích được tốc độ thay đổi, mức độ biến động cả tương đối và tuyệt đối của quy mô ĐTC,

cơ cấu ĐTC theo ngành, theo lĩnh vực trong kỳ nghiên cứu…

1.2.3.4 Sử dụng mô hình hồi quy VECM để phân tích hiệu quả của ĐTC gắn với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế

HQĐT công xét dưới góc độ mức độ tác động của ĐTC tới tăng trưởng kinh

tế có độ trễ so với thời kỳ thực hiện hoạt động đầu tư, sau một khoảng thời gian nhất định hoạt động đầu tư mới biểu hiện kết quả, các hoạt động đầu tư thực hiện theo dự án, theo năm đầu tư, việc xem xét số liệu ĐTC và các yếu tố khác là bộ số liệu theo chuỗi thời gian, xem xét cụ thể bộ số liệu cũng như kế thừa các nghiên cứu trước, mô hình hiệu chỉnh sai số vecto VECM (Vector Error Correction Model) được tác giả lựa chọn để phân tích ảnh hưởng của ĐTC tới tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo

Là phần hiệu chỉnh sai số của mô hình; p là bậc tự tương quan (hoặc số trễ)

Mô hình (2) này được gọi là mô hình hiệu chỉnh sai số vector; sở dĩ là vì mô hình được phát triển từ mô hình VAR nêu trên nhưng lại có dạng của một mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM); bao gồm:

(i) Thể hiện các quan hệ ngắn hạn giữa delta Yt (∆ Yt) và trễ của nó là delta

Y t-j (∆ Yt j− ) thể hiện qua các tham số Ci

Trang 33

(ii) Quan hệ dài hạn thể hiện qua thành phần hiệu chỉnh sai số Π Yt 1− , thành phần hiệu chỉnh sai số này có dạng 1 vector đồng tích hợp thể hiện mối quan hệ đồng tích hợp giữa các biến (**) Vector đồng tích hợp này ràng buộc các hành vi trong dài hạn của biến nội sinh trong khi đó vẫn cho phép có sự biến động ở một mức độ nhất định trong ngắn hạn Do đó mà VECM có thể ước lượng được các chuỗi không dừng nhưng có quan hệ đồng tích hợp mà không tạo ra hồi quy giả mạo (***)

Trong đó:

(*) Tính dừng (Stationary): Một chuỗi thời gian được gọi là dừng nếu kỳ vọng, phương sai và hiệp phương sai không đổi theo thời gian; hay còn gọi là chuỗi thời gian không bao hàm các yếu tố xu thế Trong ước lượng mô hình VAR; nếu chuỗi thời gian không dừng thì các kiểm định thống kê (t, F, Khi bình phương) có thể trở lên không đáng tin cậy (hay còn gọi là hồi quy giả mạo)

(***) Hồi quy giả mạo: Hồi quy giả mạo thường xảy ra với các biến trong kinh tế; khi mà ước lượng của các hệ số hồi quy không chỉ chịu ảnh hưởng của biến độc lập đến biến phụ thuộc mà còn bao hàm xu thế Các chuỗi có cùng xu thế thông thường sẽ đẩy R-square lên rất cao; nhưng thực tế chất lượng ước lượng mô hình không thật sự tốt đến thế

(**) Quan hệ đồng tích hợp (hay còn gọi là đồng liên kết): Tiếp tục với trường hợp nếu chuỗi thời gian không dừng thì có thể gây ra hồi quy giả mạo; tuy nhiên cũng có lý thuyết (Engle và Granger (1987)) cho rằng nếu kết hợp tuyến tính các chuỗi thời gian không dừng có thể là một chuỗi dừng Các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là có quan hệ đồng tích hợp (đồng liên kết) Kết hợp này được gọi là phương trình đồng tích hợp và có thể giải thích được mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến Khi đó mô hình sẽ không còn hiện tượng hồi quy giả mạo nữa; và các kiểm định vẫn có ý nghĩa thống kê

(****) Quan hệ nhân quả: Trong các mối quan hệ giữa các biến như nêu trên; sẽ xảy ra 04 mối quan hệ (theo Granger gọi là quan hệ nhân quả - gọi tắt là Nhân quả Granger); gồm có:

- Nhân quả Granger một chiều từ X sang Y nếu các biến trễ của X có tác động lên Y; nhưng các biến trễ của Y không tác động lên X

Trang 34

- Nhân quả Granger một chiều từ Y sang X nếu các biến trễ của Y có tác động lên X; nhưng các biến trễ của X không tác động lên Y

- Nhân quả Granger hai chiều giữa X và Y nếu các biến trễ của X có tác động lên Y; và các biến trễ của Y có tác động lên X

- Không có quan hệ nhân quả Granger giữa X và Y nếu các biến trễ của X không có tác động lên Y; và các biến trễ của Y không có tác động lên X

Khi hồi quy mô hình với biến thời gian thì yêu cầu đặt ra là các biến thời gian này phải dừng; nếu không thì phải lấy sai phân của các biến này cho đến khi chuỗi là dừng Tuy nhiên việc lấy sai phân này khi được đưa vào mô hình hồi quy

sẽ có thể bỏ sót những thông tin dài hạn trong mối quan hệ các biến (do cách lấy sai phân lùi về thì càng giảm thời gian quan sát) Do đó khi hồi quy những mô hình đã lấy sai phân sẽ phải có thêm phần dư E để bổ sung những thông tin dài hạn (nếu có); ví dụ với 2 biến Y1, Y2:

Mô hình hiệu chỉnh sai số vector là một dạng mô hình tổng quát của mô hình VAR; áp dụng với trường hợp chuỗi dữ liệu là không dừng và chứa đựng mối quan

hệ đồng kết hợp giữa các biến khảo sát

Các bước để xây dựng mô hình VECM:

Bước 1: Kiểm tra tính dừng các chuỗi dữ liệu

Nếu các chuỗi cùng dừng ở chuỗi gốc, thực hiện hồi quy OLS

Nếu các chuỗi cùng dừng sau khi lấy sai phân bậc 1, chuyển qua buớc 2

Bước 2: Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger để xem xét mối quan hệ

giữa các biến trong mô hình (giả thiết được đưa ra Ho là biến X1 không có mối quan hệ nhân quả với X2 – với mức ý nghĩa 5% thì nếu p_value nhỏ hơn 5% đủ

cơ sở để bác bỏ Ho; tức là biến X1 có mối quan hệ nhân quả với X2)

Bước 3: Kiểm định quan hệ đồng liên kết giữa các chuỗi dữ liệu theo

phuong pháp Johansen với kiểm định Trace Statistics

Trang 35

Buớc 4: Xây dựng mô hình hồi quy mối quan hệ trong dài hạn và ngắn hạn

giữa các chuỗi dữ liệu với 2 trường hợp:

1 Trường hợp 1 (không có đồng liên kết ): Sử dụng mô hình VAR để ước lượng mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn của các chuỗi dữ liệu

2 Trường hợp 2 (có ít nhất 1 đồng liên kết trở lên): Sử dụng mô hình VECM

để ước lượng mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn của các chuỗi dữ liệu

Bước 5: Kiểm định mô hình VECM thông qua kiểm định tính dừng của phần dư;

hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi giữa các biến (áp dụng với phần dư)

Bước 6: Thực hiện phân tích theo phân rã phương sai

Kiểm định đồng liên kết đối với các chuỗi dữ liệu nhằm xác định số tổ hợp tuyến tính đồng liên kết giữa các chuỗi cùng dừng ở sai phân bậc 1, từ đó cho thấy tồn tại bao nhiêu mỗi quan hệ cân bằng trong dài hạn

Mô hình VECM là sự kết hợp giữa các yếu tố trong ngắn hạn và dài hạn, có

thể giải thích cho cả các tác động trong ngắn hạn và dài hạn Hệ số hiệu chỉnh sai số

từ mô hình cung cấp những thông tin liên quan đến việc hiệu chỉnh về cân bằng của các tác động này để căn cứ vào đó biết được tác động và đưa các biến kinh tế về trạng thái cân bằng

Mô hình VECM là hệ các phương trình bao gồm các phương trình ECM, trong đó các biến vừa là biến độc lập vừa là biến phụ thuộc

1.2.3.5 Phương pháp bình phương nhỏ nhất để đánh giá HQĐT công thông qua mức độ tác động của ĐTC với đầu tư tư nhân và thu nhập bình quân đầu người

Tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất để xem xét HQĐT công dưới góc độ mức độ tác động của ĐTC tới đầu tư tư nhân và GDP bình quân đầu người

+) Về đánh giá mức độ tác động của ĐTC với đầu tư tư nhân:

Biến phụ thuộc: Đầu tư tư nhân

Biến độc lập: ĐTC

+) Về đánh giá mức độ tác động của ĐTC với GDP bình quân đầu người

Biến phụ thuộc: GDP bình quân đầu người

Biến độc lập: ĐTC

Hệ số giữa các phép ước lượng cho biết mức độ tác động của biến độc lập với biến phụ thuộc

Trang 36

CHƯƠNG 2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ CÔNG

VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG

2.1 Lý luận chung về ĐTC

2.1.1 Khái niệm

Hiện nay, trong nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đều chưa có sự thống nhất về quan niệm hay khái niệm ĐTC, hiện đang tồn tại một số quan niệm cụ thể:

a) Quan điểm theo sở hữu vốn

Theo quan điểm này, ĐTC được coi là đầu tư của khu vực nhà nước hay mọi hoạt động sử dụng nguồn lực của nhà nước để đầu tư đều được coi là ĐTC Theo đó, đầu tư của Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước được coi là ĐTC Hạn chế của quan niệm này đó là không giải thích được các dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT, PPP… có phải là ĐTC hay không; trong khi đó, hiện nay đây là các hình thức phổ biến trong đầu tư phát triển CSHT kỹ thuật, kinh tế, xã hội Đồng thời, đối với đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, thực tế chỉ

có một phần là theo nhiệm vụ chính trị, còn phần lớn hoạt động đầu tư không có

gì khác biệt so với khu vực kinh tế tư nhân Bên cạnh đó, quan điểm này không thể hiện được vấn đề huy động, sử dụng các nguồn lực từ xã hội để thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội Vì thực tế, nguồn lực của Nhà nước luôn bị giới hạn trong khi nhu cầu đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội là rất lớn, nên nếu chỉ sử dụng nguồn lực của Nhà nước để đầu tư sẽ không đáp ứng được nhu cầu

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng không nên coi đầu tư của doanh nghiệp nhà nước là ĐTC, ĐTC là đầu tư của khu vực nhà nước nhưng không nhằm mục đích kinh doanh, kiếm tìm lợi nhuận Với quan niệm này, trở ngại lớn nhất đó là phân tách được “tính chất phi lợi nhuận” trong tổng thể hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và trong nhiều trường hợp điều này

là không thể rạch ròi

Trang 37

b) Quan điểm theo tài chính công

Theo quan điểm này, ĐTC là hoạt động của chi tiêu công nhằm thúc đẩy năng lực sản xuất của nền kinh tế Theo đó, ĐTC là khoản chi tiêu công giúp làm tăng thêm tích lũy vốn vật chất Tổng ĐTC bao gồm đầu tư vào CSHT vật chất do chính quyền trung ương, chính quyền địa phương và các công ty thuộc khu vực công thực hiện Nhưng không phải hoạt động chi tiêu công nào cũng

có thể được coi là ĐTC vì một trong những đặc trưng của đầu tư đó là khả năng

“hoàn trả” Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (2012), ĐTC là toàn bộ chi tiêu của khu vực công, nhưng không bao gồm chi tiêu của các doanh nghiệp nhà nước, để hình thành nên các tài sản cố định.Theo UNCTAD, ĐTC được xác định là phần chi tiêu xây dựng cơ bản trong chi tiêu công Nhưng UNCTAD cũng cho rằng, nhiều hoạt động chi tiêu của Chính phủ nếu không được coi là chi đầu tư (công) thì sẽ dẫn đến thiếu sót trong đánh giá, nhất là chi cho các vấn đề phúc lợi xã hội như: chi phí duy tu bảo dưỡng các công trình kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục, môi trường, an ninh trật tự… Vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm căn cứ vào sự phân định các khoản chi tiêu công thể hiện trong bảng cân đối tài khoản gồm chi tiêu dùng Chính phủ và chi đầu

tư để xác định đâu là ĐTC và sử dụng số liệu đó để đánh giá, phân tích Ngoài

ra, thách thức trong việc xác định phạm vi của ĐTC trở lên phức tạp hơn nhiều khi mà khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và tham gia vào các dự án đầu tư có sử dụng vốn từ NSNN

c) Quan điểm theo lý thuyết vô vị lợi

Theo quan điểm này, ĐTC là đầu tư phát triển không vì mục tiêu lợi nhuận hay có tính phi lợi nhuận trong hoạt động đầu tư Theo đó, Liên hợp quốc (2009) cho rằng ĐTC có thể được hiểu là các khoản đầu tư của nhà nước nhằm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế trong tương lai Về nguyên tắc, Nhà nước được sinh ra để phục vụ các mục tiêu chung cho toàn xã hội, không phải thực hiện chức năng kinh doanh Hoạt động của Nhà nước được tài trợ bởi thuế và một số khoản thu khác nhưng không phải là do bán hàng hóa, dịch vụ theo cơ chế thị trường Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của Nhà nước, nhiều hoạt

Trang 38

động không thể phân tách được là có tính lợi nhuận hay phi lợi nhuận Điều này được thể hiện rất rõ đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính (như tại Việt Nam) liệu có phải là ĐTC hay không Thực tế, doanh nghiệp nhà nước hay đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính như tại Việt Nam đều có sự đan xen giữa mục tiêu chính trị và mục tiêu tài chính (lợi ích kinh tế, lợi nhuận) Ngoài ra, theo quan điểm này thì không có cơ sở lý giải thỏa đáng đầu tư theo hình thức đối tác công – tư có phải là ĐTC hay không

d) Quan niệm kết hợp giữa sở hữu vốn và tính vô vị lợi

Đây là quan niệm về ĐTC theo mục tiêu Theo quan điểm này, ĐTC là việc sử dụng vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận và (hoặc) không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp (Giáo trình Kinh tế đầu tư)

Theo Luật ĐTC năm 2014 của Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), ĐTC là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự

án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự

án phát triển kinh tế xã hội Dự án ĐTC là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn ĐTC Vốn ĐTC quy định tại Luật này gồm: vốn NSNN, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư Lĩnh vực ĐTC bao gồm: đầu tư chương trình,

dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đầu tư

và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư

Khái niệm ĐTC tại Luật ĐTC có thể coi như là một sự thay đổi mang tính chất đột phát nhằm thay đổi mô hình, cách thức quản lý, nâng cao HQĐT công; gắn với tài chính công và tiệm cận hơn với quan niệm của thế giới Mặc dù vậy,

có lẽ hạn chế lớn nhất trong quan điểm, khái niệm về ĐTC tại Luật ĐTC là đã

Trang 39

không đề cập đến đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam ngoài việc được NSNN cấp vốn hoặc vốn hoạt động có nguồn gốc từ NSNN thì các doanh nghiệp này đang nắm giữ phần lớn nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế và hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, đặc biệt là phát triển CSHT kinh tế kỹ thuật- xã hội (giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện lực, nước sạch, môi trường…) phục vụ tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Do đó, khi thực hiện nghiên cứu thực nghiệm trong điều kiện của Việt Nam, nếu không đề cập đến đầu tư của doanh nghiệp nhà nước thì khó có thể đánh giá được đầy đủ tính hiệu quả của ĐTC nhất là dưới góc độ tác động của ĐTC đối với tăng trưởng kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội Ngoài ra, đầu

tư theo hình thức PPP được coi là một trong giải pháp quan trọng nhằm nâng cao HQĐT công trong bối cảnh nguồn lực của Nhà nước hạn chế cũng chưa được Luật ĐTC đề cập đến

Như vậy, các quan điểm nêu trên đều chưa giải thích, làm rõ được một số

vấn đề đó là: đầu tư có sự tham gia, kết hợp giữa nhà nước và khu vực tư nhân

có phải là ĐTC không? đầu tư của doanh nghiệp nhà nước có phải là ĐTC không hay bộ phận đầu tư nào của doanh nghiệp nhà nước thì được coi là ĐTC? Thực tế, ĐTC phải luôn gắn với chủ thể là Nhà nước, phục vụ chức năng chủ yếu của Nhà nước là cung cấp hàng hóa công cộng, thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội và hướng tới mục tiêu vì lợi ích chung của toàn xã hội Nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện không chỉ bó hẹp trong phạm vi của khu vực nhà nước và chỉ do Nhà nước thực hiện Nói cách khác, ĐTC là hướng tới các mục tiêu công cộng, không vì mục đích lợi nhuận trên cơ sở tổng hợp các nguồn lực của xã hội

Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mà việc tiêu dùng của người này không ngăn cản người khác tiêu dùng với 02 thuộc tính cơ bản: không có khả năng ngoại trừ và không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Chính vì 02 thuộc tính này mà khu vực kinh tế tư nhân không muốn cung cấp hoặc không thể cung cấp loại hàng hóa này Hàng hóa công cộng thuần túy là những hàng hóa có đủ

02 thuộc tính còn hàng hóa công cộng không thuần túy chỉ có một trong hai

Trang 40

thuộc tính nêu trên hoặc có cả hai nhưng trong một giới hạn nào đó Đối với hàng hóa công cộng thuần túy, do không có khả năng ngoại trừ và luôn tồn tại đối tượng được hưởng lợi mà không phải đóng góp gì cho xã hội, Chính phủ đảm nhiệm cung cấp, như: an ninh quốc phòng Đối với hàng hóa công cộng không có tính loại trừ hoặc có khả năng loại trừ nhưng chi phí quá lớn sẽ được cung cấp công cộng và do Chính phủ đảm nhiệm Đối với hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh nhưng có khả năng ngoại trừ (thông qua việc thu tiền) thì có thể cung cấp cá nhân và có thể do khu vực tư nhân hoặc khu vực tư nhân kết hợp với khu vực công để cung cấp

Do đó, tác giả cho rằng: “ĐTC là hoạt động đầu tư do Nhà nước chủ trì

để thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và các nguồn lực khác" Với khái niệm này khẳng định vai trò

chủ đạo của Nhà nước trong thực hiện các chương trình, dự án ĐTC và sẽ bao hàm được một bộ phận đầu tư của doanh nghiệp nhà nước trong phát triển CSHT, công ích, đầu tư theo hình thức PPP, chi tiêu công cho các chương trình mục tiêu quốc gia (có tính chất đầu tư) cũng như giải quyết được tính phi lợi nhuận (tính công cộng) của ĐTC Tuy nhiên, trong một thời gian dài, tại Việt Nam, ĐTC được đồng nhất với đầu tư của khu vực Nhà nước với 03 nguồn vốn chính là: NSNN, vốn vay, vốn của doanh nghiệp nhà nước và toàn bộ hệ thống

cơ sở dữ liệu, thống kê đều được thiết kế dựa trên quan điểm này Điều kiện của Việt Nam hiện nay cũng chưa thể phân tách được dữ liệu, số liệu về ĐTC cho phát triển CSHT, công ích trong tổng thể hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và hoạt động đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP Do đó, những chỉ tiêu tính toán trong Luận án dựa trên nguồn số liệu hiện đang được quản lý, theo dõi theo hệ thống thống kê hiện hành mặc dù đã thể hiện được thực trạng về HQĐT công tại Việt Nam nhưng cũng còn có hạn chế nhất định

2.1.2 Đặc điểm của ĐTC

2.1.2.1 ĐTC luôn gắn với chủ thể là Nhà nước

ĐTC được tài trợ từ nguồn tích lũy của khu vực kinh tế nhà nước và vay

Ngày đăng: 22/08/2017, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mối quan hệ giữa vốn ĐTC và sản lượng kinh tế - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa vốn ĐTC và sản lượng kinh tế (Trang 42)
Hình 2.2: Đóng góp của ĐTC vào GDP - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Hình 2.2 Đóng góp của ĐTC vào GDP (Trang 44)
Hình 2.3: Mối quan hệ của ĐTC đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Hình 2.3 Mối quan hệ của ĐTC đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo (Trang 49)
Bảng 3.1. Quy mô ĐTC giai đoạn 2000-2015 - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.1. Quy mô ĐTC giai đoạn 2000-2015 (Trang 78)
Bảng 3.2. Cơ cấu đầu tư giai đoạn 2000-2014 - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.2. Cơ cấu đầu tư giai đoạn 2000-2014 (Trang 79)
Bảng 3.3. Cơ cấu ĐTC thực hiện phân theo ngành kinh tế - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.3. Cơ cấu ĐTC thực hiện phân theo ngành kinh tế (Trang 80)
Bảng 3.4. Cơ cấu vốn ĐTC theo phân cấp quản lý giai đoạn 2000-201 5 - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.4. Cơ cấu vốn ĐTC theo phân cấp quản lý giai đoạn 2000-201 5 (Trang 82)
Bảng 3.5. ĐTC và tăng trưởng kinh tế - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.5. ĐTC và tăng trưởng kinh tế (Trang 85)
Bảng 3.6: Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.6 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu (Trang 88)
Bảng 3.9: Kết quả hồi quy mô hình VECM - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.9 Kết quả hồi quy mô hình VECM (Trang 91)
Bảng 3.11: Kết quả hồi quy mô hình - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.11 Kết quả hồi quy mô hình (Trang 94)
Bảng 3.12. Hệ số ICOR theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005-2014 - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.12. Hệ số ICOR theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005-2014 (Trang 95)
Bảng 3.15. Tỷ lệ nghèo của Việt Nam - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.15. Tỷ lệ nghèo của Việt Nam (Trang 101)
Bảng 3.16: Mối quan hệ tương quan giữa ĐTC với giảm nghèo - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 3.16 Mối quan hệ tương quan giữa ĐTC với giảm nghèo (Trang 104)
Bảng 4.1. Dự kiến tổng nhu cầu đầu tư phát triển CSHT - Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
Bảng 4.1. Dự kiến tổng nhu cầu đầu tư phát triển CSHT (Trang 134)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w